Áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử tại Việt Nam – thách thức và giải pháp khắc phục
ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI VIỆT NAM – THÁCH
THꢀC VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Ths. Trần Linh Huân
Nguyễn Phạm Thanh Hoa
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Việc áp dụng án lệ có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án tại
Việt Nam. Chính vì vậy, từ ngày 01/6/2015 ngày Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014 có hiệu lực thi hành, án lệ được thừa nhận là một loại nguồn chính thức của pháp
luật. Sự thừa nhận này đã tạo ra một bước phát triển mới cho hoạt động xét xử của Tòa
án nói riêng và ngành tư pháp Việt Nam nói chung. Bên cạnh những kết quả đạt được thì
việc áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức. Từ
thực tiễn này, bài viết đã làm rõ tình hình áp dụng án lệ tại Việt Nam, phân tích đánh giá
làm rõ những vấn đề còn hạn chế, bất cập và từ đó đưa ra một số đề xuất kiến nghị hoàn
thiện.
Từ khóa: Án lệ, áp dụng án lệ, hoạt động xét xử, thách thức, kiến nghị hoàn thiện.
Abstract
The application of case law has important implications in the trial activities of the
court in Vietnam. Therefore, from June 1, 2015, when the Law on Organization of the
People's Court in 2014 took effect, the case law is recognized as an official source of law.
This recognition has created a new development for the trial activities of the Court in
particular and the Vietnamese judiciary in general. In addition to the results achieved,
the application of case law in trial activities in Vietnam still faces many challenges. From
this practice, the article clarified the situation of applying case law in Vietnam, analyzed
the assessment to clarify the limited issues and inadequacies and thereby made a number
of proposals to complete.
Keyword: Case law, application of case law, trial activities, challenges, proposals for
completion.
Đặt vấn đề
Án lệ có ý nghĩa bổ sung những thiếu sót của pháp luật thành văn với chức năng
“bổ khuyết” góp phần giải thích và vận dụng pháp luật trở nên đa dạng và linh hoạt hơn.
Trong trường hợp pháp luật quy định không rõ ràng, vô lý hay đã lạc hậu so với tình hình
thực tế mà nhà lập pháp chưa có điều kiện để thay thế bằng một quy định mới thì lúc này,
án lệ có vai trò lớn trong việc tạo nguồn quy phạm cho pháp luật189. Ngoài ý nghĩa giải
quyết một vụ án cụ thể thì án lệ còn tạo ra một tiền lệ để giải quyết các vụ án tương tự
189
Hoàng Mạnh Hùng, “Án lệ trong hệ thống các loại nguồn pháp luật”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2013. tr.33.
118
sau này. Việc áp dụng án lệ tại Việt Nam trong hoạt động xét xử của Tòa án thời gian gần
đây đã đạt được nhiều kết quả tích cực, cho thấy những nổ lực của ngành tư pháp trong
việc lựa chọn, ban hành và áp dụng án lệ. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt
được thì công tác áp dụng án lệ vào hoạt động xét xử của Tòa án cũng gặp không ít khó
khăn, bất cập điều này phần nào đã có sự ảnh hưởng nhất định đến công tác xét xử trên
thực tế. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá chỉ ra những vấn đề còn hạn chế,
bất cập trong quy định và thực thi áp dụng án lệ vào hoạt động xét xử để từ đó đưa ra một
số giải pháp hoàn thiện là điều rất quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
1. Tình hình áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử tại Việt Nam
Việc lựa chọn, ban hành và áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử tại Việt Nam giai
đoạn 2016 – 2021 đã được những kết quả190. Cụ thể:
Một là, về công tác lựa chọn, công bố án lệ. Từ năm 2016 cho đến nay, Tòa án
nhân dân (TAND) tối cao đã lựa chọn, công bố được 43 án lệ về các lĩnh vực gồm hình
sự (07 án lệ), dân sự (24 án lệ), kinh doanh thương mại (08 án lệ), hôn nhân và gia đình
(01 án lệ), lao động (01 án lệ), hành chính (02 án lệ). Trong số đó có 05 án lệ được Hội
đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua theo thủ tục rút gọn. Số án lệ thuộc lĩnh vực tư
chiếm 35/43 án lệ, thuộc lĩnh vực công có 8/43 án lệ. Xét về mặt số lượng thì có thể nói
số án lệ được công bố chưa nhiều, chưa đa dạng, chưa bao quát được hết các quan hệ
pháp lý, tình huống pháp lý trong áp dụng, thi hành pháp luật mà thực tiễn đòi hỏi TAND
tối cao cần có án lệ để có sự thống nhất hơn trong xét xử, trong việc hình thành các chuẩn
mực pháp lý cho cộng đồng, xã hội và cho mỗi chủ thể191.
Trên cơ sở các án lệ đã được ban hành, TAND tối cao đã tổ chức nghiên cứu, xây
dựng được 03 cuốn sách “Án lệ và Bình luận” – Quyển I, II, III với nội dung tập hợp các
án lệ đã được ban hành và những bình luận của các Thẩm phán TAND tối cao, các
chuyên gia, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn về nội dung của từng án lệ. Tuy án
lệ chỉ mới được thừa nhận tại Việt Nam và muộn hơn nhiều so với các quốc gia như Hoa
Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản… nhưng ngành tư pháp cũng đã nổ lực trong việc đề xuất và
ban hành án lệ trong giai đoạn từ năm 2016 – 2021. Bên cạnh đó, TAND tối cao đã kịp
thời tiếp cận xây dựng án lệ ở khía cạnh bình luận án lệ, tạo điều kiện thẩm phán tham
khảo và nâng cao kỹ năng trong việc áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Trong trường hợp này, TAND tối cao đã linh hoạt kết hợp phương pháp thực tế bằng việc
đề xuất và ban hành án lệ song song với hoạt động bình luận các án lệ đã ban hành. Đây
là hoạt động có sự phối hợp mang lại hiệu quả tích cực, vừa đưa án lệ áp dụng vào công
tác xét xử các vụ việc thực tế ở địa phương, vừa tăng cường các kỹ năng về hiểu và vận
dụng án lệ của thẩm phán.
190
Ngô Văn Nhạc, “Thực tiễn công tác phát triển án lệ hiện nay và một số hướng phát triển”,
truy cập ngày 14/11/2021.
191 Nguyễn Hồng Hải, “Một số đánh giá về thành công trong phát triển án lệ tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 và
một
số
khuyến
nghị
cho
định
hướng
giai
đoạn
2021
–
2030”,
ngày
truy cập
14/11/2021.
119
Hai là, về kết quả viện dẫn, áp dụng án lệ. Theo số liệu thống kê đến ngày
30/9/2021, đã có gần 1200 bản án, quyết định của các Tòa án đã viện dẫn, áp dụng án lệ.
Có thể thấy rằng, đây là một số liệu đáng khích lệ đối với hoạt động xét xử của ngành tòa
án nước ta. Bởi nếu như trước đây, khi án lệ chưa được thừa nhận thì khi phát sinh một
vấn đề pháp lý mới hoặc một vấn đề pháp lý chưa rõ ràng với những cách hiểu khác nhau
giữa các Tòa án thì thông thường, Tòa án sẽ đợi các cơ quan quản lý nhà nước đề xuất
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới để tạo cơ sở giải quyết.
Tuy nhiên, điều này rất mất thời gian, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi, nghĩa vụ
của các bên trong một vụ việc. Chính vì vậy, khi án lệ được áp dụng, vụ việc đó sẽ được
giải quyết một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, số liệu này cũng chứng minh được rằng,
án lệ đã thực sự đi vào đời sống pháp lý trong việc áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử,
đồng thời tạo bước ngoặt quan trọng trong cải cách tư pháp.
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy rằng những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý
tương tự như tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ đã được các thẩm phán giải quyết theo
đúng đường lối xét xử mà án lệ đưa ra. Gần đây nhất là quyết định số 06/2021/QĐ-PT
ngày 17/09/2021 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất có áp dụng
án lệ số 38/2020/AL về việc không thụ lý yêu cầu đòi tài sản đã được phân chia bằng bản
án có hiệu lực pháp luật. Theo đó, tình huống án lệ là sau khi tài sản là quyền sở hữu nhà
và quyền sử dụng đất đã được phân chia bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án thì có người khác (không phải là đương sự trong vụ án đó) khởi kiện đòi
quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đó và giải pháp pháp lý sẽ là Tòa án không thụ lý
vụ án mới. Người có yêu cầu đòi quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thông báo bằng
văn bản cho người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của pháp luật. Quyết
định số 06 này đã áp dụng tương tự như án lệ số 38, cụ thể, phần đất bà H khởi kiện bà L
đã được giải quyết bằng bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật192 và đã được thi hành
án giao cho bà L từ năm 2016 nên Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định đình chỉnh giải
quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện cho bà H. Có thể thấy, trong trường hợp này, án lệ đã
được áp dụng tương tự để giải quyết.
2. Một số thách thức trong áp dụng án lệ vào hoạt động xét xử ở Việt Nam hiện nay
Việc áp dụng án lệ vào hoạt động xét xử ở Việt Nam mặc dù đã đạt được một số
thành tựu nhất định nhưng cũng phải thừa nhận rằng, ngành Tòa án đang phải đối mặt với
không ít những thách thức, khó khăn trong vấn đề áp dụng án lệ. Cụ thể:
Thứ nhất, bất cập trong quy định pháp luật về án lệ. Đến nay, các vấn đề về án lệ
đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, gần đây nhất là
Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về
quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan
192 Phần đất bà H đang khởi kiện tranh chấp với bà L hiện nay có diện tích là 6m x15m nằm trong diện tích phần đất
240m2 (ngang 6m× dài 40m) đã được giải quyết tại Bản án phúc thẩm số 296/2016/DSPT ngày 16/12/2016 của
TAND tỉnh Tây Ninh đối với vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết L với bị đơn
ông Phan Văn V và người có quyền lợi liên quan trong vụ án là bà Nguyễn Thị H.
120
thì Nghị quyết này vẫn còn tồn tại một số hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
quả áp dụng của án lệ trong thực tiễn xét xử.
Một là, thẩm quyền lựa chọn án lệ. Theo Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP
thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sẽ có thẩm quyền lựa chọn từ những lập
luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ
việc cụ thể làm án lệ. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc chỉ giao cho TAND tối
cao mới có thẩm quyền lựa chọn án lệ là chưa thật sự phù hợp. Bởi thực tế, những án lệ
do TAND tối cao lựa chọn thường không bao quát. Án lệ được lựa chọn từ những lập
luận, phán quyết trong một bản án, quyết định của một địa phương cụ thể nên khi án lệ đó
được ban hành thì sẽ có thể xảy ra trường hợp, Tòa án của địa phương này áp dụng được
còn Tòa án của địa phương kia thì không. Chính vì sự khác biệt giữa kinh tế, xã hội, tư
tưởng đã tạo ra khoảng cách giữa việc áp dụng một án lệ cho cùng một vụ việc tại các địa
phương khác nhau và điều này đã gây khó khăn không ít đến hoạt động xét xử của Tòa
án.
Hai là, quy định về công bố án lệ. Thời gian từ khi đề xuất án lệ đến khi án lệ có
hiệu lực có thể mất gần một năm (bao gồm: rà soát đề xuất án lệ mất sáu tháng, lấy ý kiến
mất hai tháng; Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học báo cáo Chánh án TAND tối cao mất
một tháng; tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn mất 15 ngày; án lệ có hiệu lực sau 45 ngày
kể từ ngày công bố án lệ)193. Việc quy định về khoảng thời gian này là khá lâu và đi
ngược lại với ý nghĩa ban đầu của việc áp dụng án lệ. Có nghĩa là, án lệ sẽ là nguồn bổ
trợ khi vấn đề pháp lý đang đề cập trong vụ việc mà văn bản quy phạm pháp luật không
có quy định hoặc quy định không rõ ràng, không thể áp dụng được. Vì vậy, khi quy định
một khoảng thời gian dài như vậy thì hoạt động xét xử của Tòa án sẽ bị gián đoạn, phải
chờ án lệ được công bố có hiệu lực hoặc văn bản quy phạm pháp luật có sự sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành mới.
Ba là, tiêu chí lựa chọn án lệ. Tại Điều 2 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, án lệ
được lựa chọn phải đáp ứng ba tiêu chí sau: “Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn
có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên
tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể
hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; Có tính chuẩn
mực; Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”. So với quy định
của Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 04 đã có sự sửa đổi khi bổ sung tiêu
chí về “lẽ công bằng” và lượt bỏ tiêu chí “bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện
pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau”. Đây được xem là những sửa đổi
phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn và ban hành một án lệ, tức là có
sự tôn trọng và nâng cao giá trị công bằng trong công tác xét xử cũng như nới lỏng sự
ràng buộc trong việc áp dụng án lệ vào việc xét xử một vụ án cụ thể, giúp cho hoạt động
này được thực hiện một cách linh hoạt và chủ động hơn. Tuy nhiên, tiêu chí lựa chọn án
lệ trong nghị quyết hiện hành vẫn còn gặp một số hạn chế. Tiêu biểu là tiêu chí “tính
193
Nguyễn Thị Hoài Thương, “Bất cập trong hoạt động áp dụng án lệ của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 130, số 6C, 2021, tr. 5-14.
121
chuẩn mực” của một án lệ chưa được quy định cụ thể và khiến cho người áp dụng có
nhiều cách hiểu khác nhau, chưa có sự thống nhất trong việc xem xét thế nào là tính
chuẩn mực của một án lệ cũng như có những yếu tố nào đánh giá một án lệ có tính chuẩn
mực.
Thứ hai, công tác lựa chọn án lệ. Theo đó, mặc dù Chánh án TAND tối cao đã ban
hành Chỉ thị 04/2016 về việc tăng cường phát triển và công bố, áp dụng án lệ trong xét xử
nhưng thực tế việc đóng góp trong việc rà soát, nghiên cứu, đề xuất nguồn để phát triển
thành án lệ còn rất hạn chế194. Mặc dù đã có những hướng dẫn cụ thể về hoạt động phát
triển, công bố, áp dụng án lệ nhưng Tòa án, các cá nhân vẫn chưa tham gia nhiều bởi phía
Tòa án gặp nhiều áp lực khi một ngày phải xét xử với số lượng rất nhiều các vụ việc và
việc lựa chọn ra một trong số đó những bản án, quyết định tiêu biểu, có sức ảnh hưởng,
nội dung có tính bao quát thì rất khó khăn, chưa kể hoạt động này mất nhiều thời gian
trong khi nhân lực ngành Tòa án không đủ để đáp ứng. Về phía cá nhân người dân, các
nhà nghiên cứu, việc lựa chọn một bản án, quyết định để đề xuất xây dựng một án lệ lại
càng khó khăn hơn vì họ không trực tiếp tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án hoặc
có chăng chỉ là những vụ việc đơn lẻ, mang tính chủ quan của cá nhân và không có sự
bao quát giữa các bản án, quyết định khác có nội dung vụ việc tương tự. Chính những rào
cản này đã khiến cho hoạt động đề xuất và công bố án lệ trở nên khó khăn hơn bao giờ
hết.
Thứ ba, nguồn nhân lực viết án chưa đảm bảo trong công tác tạo nguồn phát triển
án lệ. Thực tế hiện nay, nhiều thẩm phán chưa được nâng cao chất lượng viết án, dẫn đến
một số bản án, quyết định được ban hành chưa bảo đảm tính chuẩn mực, không đáp ứng
được yêu cầu làm nguồn án lệ195. Theo công văn số 136/TANDTC-PC, lý giải thực trạng
này thì nguyên nhân chính xuất phát từ nhận thức của Thẩm phán, tức là nhiều thẩm phán
chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác nâng cao chất lượng các bản án, quyết
định dẫn đến việc số lượng án lệ được công bố trong thời gian qua chưa đáp ứng được
yêu cầu thực tiễn. Ngoài nguyên nhân mà công văn đã đề cập thì theo quan điểm của tác
giả, một nguyên nhân khác có thể xuất phát từ công tác đào tạo Thẩm phán còn nhiều hạn
chế dẫn đến việc Thẩm phán chưa hoàn thiện các kỹ năng liên quan đến việc viết án. Các
bản án, quyết định được viết ra trong nhiều trường hợp vẫn còn khá sơ sài, chưa bao quát
hết được nội dung của vụ việc, hay chưa đúc kết lại vấn đề pháp lý của vụ việc đang giải
quyết, cùng một vụ việc có nội dung tranh chấp giống nhau nhưng quyết định của bản án
Tòa này lại khác với quyết định của bản án Tòa kia và điều này sẽ ảnh hưởng đến việc
xác định liệu đâu là quyết định sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn trong việc lựa chọn án lệ.
3. Một số giải pháp khắc phục
194 Công văn số 136/TANDTC-PC về tăng cường hơn nữa công tác phát triển, áp dụng án lệ trong Tòa án nhân dân
ngày 13 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tối cao.
195
Yến Châu, “Thẩm phán phải viết án tốt để tạo nguồn phát triển án lệ”, https://plo.vn/phap-luat/tham-phan-phai-
viet-an-tot-de-tao-nguon-phat-trien-an-le-1008843.html, truy cập ngày 16/11/2021.
122
Để nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng án lệ vào hoạt động xét xử tại Việt Nam,
xuất phát từ những bất cập đã phân tích, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục như
sau:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về án lệ. Việc hoàn thiện các quy định về
án lệ được xem là điều cần thực hiện đầu tiên bởi lẽ, những hướng dẫn về án lệ sẽ là cơ
sở thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao việc áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử. Bên
cạnh đó, quy định pháp luật về án lệ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc tuân thủ pháp luật
về án lệ. Theo đó để hoàn thiện quy định pháp luật về án lệ thì cần phải:
Một là, mở rộng thẩm quyền lựa chọn án lệ. Như đã đề cập, việc lựa chọn án lệ
theo pháp luật Việt Nam chỉ thuộc về Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Tuy nhiên,
theo quan điểm tác giả thì việc quy định như vậy sẽ làm hạn chế đi quyền lựa chọn án lệ
của các cấp Tòa án còn lại. So sánh với pháp luật Hoa Kỳ, nước này có quy định tương
đối khác với Việt Nam. Cụ thể, ở Hoa Kỳ, Tòa án sẽ có thẩm quyền ban hành án lệ trên
cơ sở xem xét các bản án của Tòa cấp dưới với điều kiện đáp ứng các tiêu chí lựa chọn,
đề xuất, phát triển án lệ196. Có nghĩa là, thẩm quyền lựa chọn, ban hành án lệ không chỉ
duy nhất thuộc về Tòa án tối cao Hoa Kỳ mà thẩm quyền này còn có thể thuộc về Tòa án
liên bang, phán quyết của Tòa án tiểu bang. Pháp luật Hoa Kỳ đã quy định theo hướng
linh hoạt, Tòa án cấp dưới vẫn có cơ hội được lựa chọn, ban hàng án lệ nhưng với điều
kiện là phạm vi áp dụng chỉ thuộc về Tòa án của tiểu bang đó. Vì vậy, để tăng tính chủ
động và giảm áp lực cho TAND tối cao tại Việt Nam đối với vấn đề lựa chọn án lệ, thì
việc mở rộng thẩm quyền là điều cần thiết, nên trao cho TAND cấp tỉnh vẫn có thẩm
quyền lựa chọn án lệ. Tuy nhiên, việc thực hiện hóa điều này trên thực tế là điều không
phải dễ dàng. Theo quan điểm của tác giả, tại Điều 1 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP có
thể quy định lại như sau: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ
để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Trường hợp vì điều kiện đặc thù của
từng địa phương và đáp ứng các tiêu chí lựa chọn án lệ, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể
có thẩm quyền lựa chọn án lệ và việc áp dụng chỉ được thực hiện trong phạm vi của địa
phương đó”.
Hai là, hoàn thiện quy định về thời gian công bố án lệ. Theo Nghị quyết số
04/2019/NQ-HĐTP thì thời gian công bố án lệ có thể mất gần một năm. Chính vì điều
này đã khiến cho việc áp dụng án lệ vào hoạt động xét xử của Tòa án gặp nhiều khó khăn
khi Tòa án phải chờ án lệ có hiệu lực thì mới có thể áp dụng được. Tuy nhiên, theo pháp
luật Hoa Kỳ, nước này lại có quy định khá linh hoạt khi không đặt nặng về thời gian từ
khâu đề xuất đến thông qua án lệ197. Có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam đang đặt nặng
vấn đề tuân thủ hình thức hơn so với Hoa Kỳ. Chính vì sự khác biệt này mà nguồn án lệ
196
Trần Thị Diệu Hương, “Xây dựng án lệ trong thông luật Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệp cho Việt Nam”,
truy cập ngày 16/11/2021.
197 Công văn số 136/TANDTC-PC về tăng cường hơn nữa công tác phát triển, áp dụng án lệ trong Tòa án nhân dân
ngày 13 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tối cao.
123
Hoa Kỳ vô cùng phong phú và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án
nước này. Theo quan điểm của tác giả, thời gian công bố án lệ nên được rút ngắn lại hoặc
án lệ đang trong quá trình chờ có hiệu lực thì vẫn có thể có hiệu lực áp dụng trong những
trường hợp đặc biệt và việc áp dụng những án lệ này phải có sự giám sát của Tòa án nhân
dân cấp trên trực tiếp trong suốt quá trình xét xử của Tòa án.
Ba là, hoàn thiện tiêu chí “tính chuẩn mực” trong việc lựa chọn án lệ. Đây được
xem là tiêu chí vẫn còn khá mơ hồ vì không xác định được tiêu chuẩn nào để đánh giá
mức độ chuẩn mực của một bản án, quyết định được chọn làm án lệ. Theo quan điểm của
tác giả thì tính chuẩn mực của một bản án, quyết định có thể gắn liền với các tiêu chuẩn
sau:
(i) Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ sử dụng trong bản án, quyết định phải phù hợp với
thuần phong mỹ tục, tập quán, văn hóa của Việt Nam.
(ii) Về hình thức: Hình thức của bản án, quyết định phải đạt chuẩn theo hướng dẫn
của Tòa án nhân dân tối cao về thể thức và kỹ thuật trình bày của một bản án, quyết định
(Công văn 155/TANDTC-PC về việc áp dụng thống nhất về thể thức và kỹ thuật trình
bày các văn bản tố tụng).
(iii) Về nội dung: Đây được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá tính
chuẩn mực của một bản án, quyết định. Nội dung của bản án, quyết định phải chứa đựng
những vấn đề pháp lý mấu chốt với lập luận chặt chẽ, dể hiểu, không sử dụng từ đa nghĩa
dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau198.
Thứ hai, về công tác lựa chọn án lệ. Để khắc phục tình trạng hạn chế số lượng án
lệ được lựa chọn thì TAND tối cao cần quán triệt TAND các cấp, các đơn vị thuộc
TAND tối cao có liên quan thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ rà soát, phát hiện, bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật để đề xuất phát triển thành án lệ. Theo đó,
Công văn số 136/TANDTC-PC đã đặt ra các chỉ tiêu về việc đề xuất bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật là nguồn để phát triển thành án lệ. Cụ thể, các TAND cấp cao,
TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mỗi đơn vị phải đề xuất ít nhất 05 bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật là nguồn để phát triển thành án lệ/01 năm. Các Vụ
Giám đốc kiểm tra I, II, III mỗi đơn vị phải đề xuất ít nhất 03 bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật là nguồn để phát triển thành án lệ/01 năm. Các Tòa án quận sự quân khu và
tương đương mỗi đơn vị phải đề xuất ít nhất 02 bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
là nguồn để phát triển thành án lệ/01 năm. Quy định này được xem là tiêu chí đánh giá
nhằm thúc đẩy hoạt động thi đua trong ngành Tòa án, tạo cơ hội tăng số lượng bản án,
quyết định được lựa chọn án lệ trong một năm. Nếu nhìn một cách tổng thể thì số lượng
tối thiểu có 10 chỉ tiêu đề xuất bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là nguồn để phát
triển thành án lệ trong một năm và liệu rằng chỉ tiêu này có quá thấp so với tổng số bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật trong vòng một năm hay không. Theo quan điểm tác
giả, cần tăng số chỉ tiêu tối thiểu bản án, quyết định có hiệu lực được đề xuất. Ý nghĩa
198 Trần Thị Minh Châu, “Về tiêu chí lựa chọn, rà soát, phát hiện các bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành
án lệ”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/an-le/ve-tieu-chi-lua-chon-va-ra-soat-phat-hien-cac-ban-an-quyet-dinh-de-de-
xuat-phat-trien-thanh-an-le, truy cập ngày 16/11/2021.
124
của kiến nghị này là nhằm thúc đẩy hoạt động đề xuất và công bố án lệ, vận dụng và rà
soát lại số lượng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trong một năm (đương nhiên,
việc lựa chọn phải dựa trên các tiêu chí lựa chọn án lệ theo quy định pháp luật). Ngoài ra,
cần bổ sung quy định về khen thưởng, khiển trách để tạo động lực trong quá trình lựa
chọn và công bố án lệ.
Thứ ba, nâng cao kỹ năng cho đội ngũ Thẩm phán. Cụ thể, TAND tối cao cần mở
các khóa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho các thẩm phán trong hoạt động viết
án cũng như việc xác định vấn đề pháp lý khi lựa chọn bản án, quyết định trở thành án lệ.
Tính đến thời điểm hiện tại thì chỉ có 03 cuốn sách “Án lệ và Bình luận” – Quyển I, II, III
với nội dung tập hợp các án lệ đã được ban hành và những bình luận của các thẩm phán
TAND tối cao, các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn về nội dung
của từng án lệ. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho các thẩm phán trong quá trình
nghiên cứu, áp dụng án lệ vào thực tiễn xét xử thì TAND tối cao cần phối hợp với các
chuyên gia pháp lý và những người có nhiều kinh nghiệm trong công tác xét xử tiến hành
bình luận đối với án lệ đã ban hành để tạo tư liệu tham khảo cho thẩm phán.
Kết luận
Hiện nay, việc áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án đã đạt nhiều kết
quả tích cực và cho thấy được những nỗ lực của ngành Tư pháp Việt Nam. Tuy nhiên,
thực tế đã cho thấy rằng việc áp dụng này vẫn còn gặp nhiều hạn chế cần khắc phục để
việc vận dụng án lệ vào công tác xét xử được thực hiện hiệu quả hơn. Theo đó, để nâng
cao hiệu quả việc áp dụng án lệ thì điều tiên quyết là phải sửa đổi, bổ sung những quy
định về án lệ trong các văn bản pháp luật có liên quan để việc áp dụng được dễ dàng và
thuận tiện hơn. Mặt khác, cần nâng cao các kỹ năng về việc viết án cho thẩm phán, tăng
cường công tác vận động, khuyến khích hoạt động đề xuất và ban hành án lệ; những việc
này cần được phối hợp và thực hiện song song thì vấn đề áp dụng án lệ trong hoạt động
xét xử của tòa án mới có khởi sắc hơn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18-6-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
2. Công văn số 136/TANDTC-PC về tăng cường hơn nữa công tác phát triển, áp dụng án
lệ trong Tòa án nhân dân ngày 13 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trần Thị Minh Châu, “Về tiêu chí lựa chọn, rà soát, phát hiện các bản án, quyết định
để đề xuất phát triển thành án lệ”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/an-le/ve-tieu-chi-lua-
chon-va-ra-soat-phat-hien-cac-ban-an-quyet-dinh-de-de-xuat-phat-trien-thanh-an-le, truy
cập ngày 16/11/2021.
4. Yến Châu, “Thẩm phán phải viết án tốt để tạo nguồn phát triển án lệ”,
1008843.html, truy cập ngày 16/11/2021.
125
5. Nguyễn Hồng Hải, “Một số đánh giá về thành công trong phát triển án lệ tại Việt Nam
giai đoạn 2016 – 2020 và một số khuyến nghị cho định hướng giai đoạn 2021 – 2030”,
=TAND171834, truy cập ngày 14/11/2021.
6. Hoàng Mạnh Hùng, “Án lệ trong hệ thống các loại nguồn pháp luật”, Luận văn Thạc
sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013.
7. Trần Thị Diệu Hương, “Xây dựng án lệ trong thông luật Hoa Kỳ và bài học kinh
nghiệp cho Việt Nam”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/an-le/xay-dung-an-le-trong-thong-
luat-hoa-ky-va-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-viet-nam, truy cập ngày 16/11/2021.
8. Ngô Văn Nhạc, “Thực tiễn công tác phát triển án lệ hiện nay và một số hướng phát
va-mot-so-dinh-huong-phat-trien, truy cập ngày 14/11/2021.
9. Nguyễn Thị Hoài Thương, “Bất cập trong hoạt động áp dụng án lệ của tòa án nhân dân
ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Tập 130, số 6C.2021.
126
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử tại Việt Nam – thách thức và giải pháp khắc phục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ap_dung_an_le_trong_hoat_dong_xet_xu_tai_viet_nam_thach_thuc.pdf

