Những hạn chế trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)

Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
NHỮNG HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM  
PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA  
(1955-1975)  
Nguyễn Thị Ly(1), Hà Minh Minh Đức(1), Mai Thanh Xuân(1)  
(1) Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (VNU-HCM)  
Ngày nhận bài 10/01/2021; Ngày gửi phản biện 20/01/2021; Chấp nhận đăng 30/03/2021  
Liên hệ Email: [email protected]  
Tóm tắt  
Trong nghiên cứu lịch sử, mảng vấn đề liên quan đến chính quyền Việt Nam Cộng  
hòa vẫn còn những “khoảng trống” nhất định cần được nghiên cứu để làm rõ. Hoạt  
động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là một  
trong số những “khoảng trống” đó. Vấn đề này cần được nghiên cứu dưới nhiều khía  
cạnh khác nhau để có sự nhìn nhận khách quan và tổng thể. Tiếp cận từ góc độ nghiên  
cứu về những hạn chế; bài viết sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và  
phép nghiên cứu liên ngành để chỉ ra và phân tích những thiếu sót cơ bản mà hoạt động  
xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa  
giai đoạn 1955-1975 đã mắc phải. Kết quả nghiên cứu của bài viết sẽ góp thêm một góc  
nhìn về chính quyền Việt Nam Cộng hòa nói chung cũng như hoạt động xây dựng văn  
bản quy phạm pháp luật của chính thể này nói riêng. Trong một chừng mực nhất định,  
những kết quả nghiên cứu của bài viết sẽ là những kinh nghiệm tham chiếu cho hoạt  
động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hiện nay.  
Từ khóa: Việt Nam Cộng hòa, văn bản lập pháp, lập quy, văn bản quy phạm pháp luật  
Abstract  
LIMITATIONS IN CONSTRUCTION OF LEGAL DOCUMENTS OF THE  
REPUBLIC OF VIETNAM GOVERNMENT (1955-1975)  
In historical research, issues related to the government of the Republic of Vietnam  
Government still have remained certain gaps that need studying clearly. The legal  
document development activity of the Republic of Vietnam government is one of the  
above-mentioned gaps. This issue should be studied under a large number of  
perspectives in order to have an objective and overall view. Using only one research  
method will maintain certain limitations; The article uses historical methods, logical  
methods and interdisciplinary research to point out and analyze the basic shortcomings  
that the construction of the legal document system of the Republic of Vietnam  
91  
government during the period from 1955 to 1975 period. The research results of this  
article will provide a novel perspective on the government of the Republic of Vietnam,  
in general, as well as, its legal document development activities, in particular. To a  
certain extents, the research results of the article could be considered a reference for  
current legal document development activities.  
1. Đặt vấn đề  
Sau khi hiệp định Genève ký kết, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Ở  
miền Nam Việt Nam, Mỹ đã hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền Việt  
Nam Cộng hòa. Ngay từ khi ra đời, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phụ thuộc vào  
Mỹ và chịu sự chi phối sâu sắc của người Mỹ. Do đó, sau khi Mỹ rút quân khỏi Việt  
Nam (1973), Việt Nam Cộng hòa rơi vào khủng hoảng, suy yếu và cuối cùng sụp đổ  
trước sự tấn công của lực lượng cách mạng Miền Nam. Trong thời gian tồn tại (1955-  
1975), chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng đã có những nỗ lực trong việc quản lý  
miền Nam Việt Nam thông qua việc ban hành hệ thống văn bản pháp quy (ngày nay gọi  
là VBQPPL) trên các lĩnh vực cụ thể. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính  
quyền Việt Nam Cộng hòa bao gồm: Văn bản lập pháp (hiến pháp, luật, sắc luật, dụ) và  
văn bản lập quy (sắc lệnh, nghị định, quyết định). Bên cạnh những ưu điểm như: Hình  
thành một hệ thống văn bản tương đối hoàn thiện về loại hình để quản lý thực hiện  
nhiệm vụ quản lý và điều hành của chính quyền; định hình một quy trình ban hành và  
triển khai văn bản quy phạm pháp luật ngày càng chặt chẽ; chất lượng đội ngũ nhân sự  
trong các lĩnh vực chuyên môn liên quan đến xây dựng hệ thống văn bản quy phạm  
pháp luật từng bước được nâng lên cả về số lượng và chất lượng… thì quá trình xây  
dựng văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế. Những hạn chế bất cập này ảnh  
hưởng đến hiệu lực của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt  
Nam Cộng hòa trong quản lý và điều hành xã hội.  
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Một số khái niệm có liên quan  
Thuật ngữ “văn bản” có gốc từ tiếng Latin là “documentum” có nghĩa là sự chứng  
minh, chứng nhận.  òn theo Đại từ điển tiếng  iệt thì “văn” được hiểu là “chữ nghĩa,  
hình thức ngôn ngữ được trau chuốt cho hay, đẹp” (Trung tâm Từ điển học, 1999); còn  
“bản” được hiểu là “tờ giấy, tập giấy có hình chữ chứa đựng nội dung nhất định” (Viện  
Ngôn ngữ học, 1998). Theo Từ điển tiếng Việt, văn bản “là bản viết hoặc in, mang một  
nội dung nhất định, thường để lưu lại” (Viện Ngôn ngữ học, 1998) hay là “chuỗi ký  
hiệu ngôn ngữ hay nói chung những ký hiệu thuộc hệ thống nào đó, làm thành một  
chỉnh thể mang một nội dung, ý nghĩa trọn vẹn” (Trung tâm Từ điển học, 1999). Dưới  
góc độ hành chính học, “văn bản dùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt  
92  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
động quản lý của các cơ quan tổ chức” ( ương Đình Quyền, 2005). Theo đó, “công văn  
giấy tờ được gọi chung là văn bản gồm các loại chính sau đây: Luật, sắc luật, sắc lệnh,  
nghị định, nghị quyết, quyết định, điều lệ, thông tư, chỉ thị, báo cáo, thư công, công  
điện, công lệnh, phiều gửi, giấy giới thiệu, giấy đi đường” (Thủ tướng  hính phủ, 1957)  
được hình thành trong hoạt động hằng ngày của các cơ quan, tổ chức. Những loại văn  
bản này đều hoàn chỉnh về thể thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc, độc  
lập về giao tiếp.  
Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật chính thức định nghĩa lần đầu tiên tại Điều  
1 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996: “ ăn bản quy phạm pháp  
luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật  
định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều  
chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Quốc hội, 1996). Sau đó,  
thuật ngữ này tiếp tục được quy định với một số điểm thay đổi trong những bộ luật liên  
quan về sau. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm văn bản quy phạm  
pháp luật, song các quan điểm đều chỉ ra những đặc điểm chung nhất về văn bản quy  
phạm pháp luật, đó là:  hứa đựng các quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc và được  
ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định. Đây cũng là cách  
hiểu phổ biến hiện nay và cũng là cách hiểu của nhóm nghiên cứu sử dụng trong bài viết.  
Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là quá trình ban hành và triển  
khai các loại hình văn bản quy phạm pháp luật theo một trình tự thủ tục luật định để  
hình thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho quản lý điều hành  
của nhà nước. Hiện nay, luật số 80/2015/QH13 của Quốc hội Khóa 13 về ban hành văn  
bản quy phạm pháp luật đã quy định rất rõ quy trình xây dựng các loại hình văn bản cụ  
thể trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Đối với chính quyền Việt Nam Cộng  
hòa, hoạt động này bao gồm các công việc, soạn thảo, biểu quyết, ban hành và công bố  
văn bản quy phạm pháp luật.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử là phương  
pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện lại quá  
trình xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.  
Sử dụng phương pháp lịch sử sẽ giúp làm rõ về tiến trình hình thành và vận động của quá  
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trên cơ  
sở đó, bài viết sẽ dùng phương pháp logic để khái quát và chỉ ra những hạn chế trong hoạt  
động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài có sự liên quan mật thiết đến nhiều ngành và lĩnh vực khác  
nhau như: Sử học,  ăn bản học,  ăn thư học, Luật học, Hành chính học, Lưu trữ học,…  ì  
vậy, để tăng sức thuyết phục cho những luận điểm nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng phép  
nghiên cứu liên ngành để làm rõ bản chất của những hạn chế trong xây dựng văn bản quy  
phạm pháp luật của chính quyền quyền Việt Nam Cộng hòa.  
93  
3. Kết quả  
3.1. Khái quát về hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính  
quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)  
3.1.1. Đối với văn bản luật  
Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa,  
luật là loại hình văn bản được quy định khá chi tiết về quy trình ban hành.  ì đây là văn bản  
có giá trị cao nhất trong hệ thống pháp luật của mọi chính thể nói chung và Việt Nam Cộng  
hòa nói riêng. Nhiệm vụ quan trọng này được đề cập trong nội dung của hiến pháp Việt  
Nam Cộng hòa ban hành ngày 26/10/1956, Luật 5/59 và Thông tri số 07. Nghiên cứu nội  
dung các quy định trong ba văn bản nêu trên, tác giả nhận thấy quy trình ban hành luật của  
chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955-1963 bao gồm các bước:  
Soạn thảo: “Bản dự thảo luật có thể do dân biểu có thể đưa ra quốc hội xét các dự  
án luật, tổng thống có thể đưa ra quốc hội xét các dự thảo luật” (Quốc hội Việt Nam  
Cộng hòa, 1956).  
Biểu quyết: “Trong thời hạn ban hành, tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn  
lý do yêu cầu quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận. Khi  
phúc nghị, nếu quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp tổng thống thì quốc hội  
sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số dân  
biểu quốc hội” (Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, 1956).  
Ban hành: “ ác dự án và dự thảo luật được quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến  
tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn. Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong  
thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do quốc  
hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn” (Quốc hội Việt Nam  
Cộng hòa, 1956).  
 ông bố:  ông bố luật là công việc cuối cùng của thủ tục lập pháp. Trong giai  
đoạn Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), nhiệm vụ này thuộc đặc quyền của tổng thống,  
“các dự án và dự thảo luật được quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến tổng thống trong  
thời hạn bảy ngày tròn. Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi  
ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do quốc hội tuyên bố, thời  
hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn” (Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, 1956).  
3.1.2. Đối với các loại hình văn bản quy phạm pháp luật khác  
 ác loại hình văn bản còn lại trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do chính  
quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành thường được gắn chặt với nhiệm vụ của các bộ  
phận chuyên trách như:  ăn phòng Phủ Tổng thống (đối với các văn bản do tổng thống  
ban hành), Nha Pháp chế (đối với cấp bộ) và Sở Pháp chế (đối với Đô thành Sài Gòn).  
Theo thông lệ, quy trình ban hành các văn bản dưới luật được thực hiện như sau:  
Dự thảo văn bản thuộc thẩm quyền của tổng thống, các bộ, tổng trưởng và đô trưởng từ  
các cơ quan chuyên môn gửi lên cần phải thông qua  iện Bảo an và Tòa Thư ký trực  
94  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
thuộc  ăn phòng Tổng thống (đối với các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của tổng  
thống); Nha Pháp chế (đối với văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của tổng trưởng) và  
Sở Pháp chế (Đối với văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của đô trưởng) các bộ phận  
này để thẩm tra tính hợp hiến và hợp pháp của văn bản trước khi trình tổng thống, tổng  
trưởng và đô trưởng ban hành.  
3.2. Những hạn chế trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính  
quyền Việt Nam Cộng hòa (1955–1975)  
3.2.1. Số lượng văn bản ban hành chỉ tập trung vào một số lĩnh vực then chốt,  
chưa bao phủ mọi hoạt động trong đời sống xã hội Việt Nam Cộng hòa  
Trong 20 năm tồn tại, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã ban hành hơn 8000 văn  
bản quy phạm pháp luật. Trung bình mỗi năm chính quyền ban hành 430 văn bản. Số lượng  
văn bản này quản lý 8 nhóm lĩnh vực với gần 19 triệu dân là con số quá khiêm tốn (bảng 1).  
Bảng 1. Các lĩnh vực điều chỉnh trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính  
quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975).  
Đơn vị tính: văn bản  
Thời kỳ 1955-  
Thời kỳ  
1967-1975  
Tổng  
hợp  
STT  
Các lĩnh vực ban hành VB  
1967  
01  
 hính trị  
1207  
34  
3932  
39  
5139  
73  
Nội chính  
Nội vụ  
1094  
79  
3839  
54  
4933  
133  
1614  
922  
346  
346  
861  
361  
73  
Ngoại giao  
02  
Kinh tế  
984  
594  
195  
195  
284  
191  
56  
630  
328  
151  
151  
577  
170  
17  
Tài chính, ngân hành, dầu lửa, đầu tư…  
Nông nghiệp  
Giao thông công chánh - Bưu điện  
 ăn hóa - Giáo dục  
Quân sự - Quốc phòng  
Thông tin truyền thông  
Tư pháp  
03  
04  
05  
06  
07  
08  
140  
109  
128  
3099  
78  
218  
166  
159  
8591  
Lao động - Xã hội  
Y dược  
57  
30  
Tổng  
5491  
Nguồn: Số liệu tổng hợp của nhóm tác giả từ Quy phạm vựng tập, tập 1,2,3,4  
Thông qua bảng thống kê nêu trên cho thấy: Số lượng quy định thông qua văn bản  
chỉ tập trung vào một số lĩnh vực được coi là then chốt như: Chính trị (5139 văn bản)  
chiếm đến 60%, kinh tế (1614 văn bản) chiếm 18,8%, văn hóa - giáo dục (861) chiếm  
10% tổng số văn bản điều chỉnh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.  ác mặt hoạt động  
còn lại số lượng văn bản ban hành còn khiêm tốn. Mặc dù hạn chế này đã được chính  
quyền nhìn nhận và khắc phục trong giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975) song vẫn  
chưa đáp ứng hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.  
95  
3.2.2. Hoạt động kiểm hiến chưa hiệu quả, văn bản vi hiến còn hiệu lực  
Ngay sau khi thành lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã trao nhiệm vụ xem xét  
tính cách hợp pháp của các đạo luật, sắc luật và quy tắc hành chính cho Viện bảo hiến.  
Điều 85 hiến pháp năm 1956 quy định: Viện Bảo hiến là cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ  
hiến pháp bằng cách phán quyết về tính cách hợp hiến của các đạo luật và quy tắc hành  
chính và  iện bảo hiến phán quyết về tính cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật và quy  
tắc hành chính. Nhưng bốn năm sau, kể từ khi hiến pháp được ban hành, đạo luật 7/60  
ngày 30/12/1960 mới được ban hành về cách thức tổ chức và vận hành của Viện Bảo  
hiến. Do đó, Viện Bảo hiến thực hiện nhiệm vụ của mình rất mờ nhạt và không hiệu quả.  
Trong giai đoạn 1967-1975, Tối cao Pháp viện được hình thành với vị trí và vai  
trò ngang hàng với cơ quan lập pháp và hành pháp. Tối cao Pháp viện không chỉ là cơ  
quan tài phán mà còn là cơ quan bảo hiến thay thế Viện Bảo hiến trước đây với thẩm  
quyền kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi lập pháp và hành pháp. Khoản 1, Điều 82  
Hiến pháp năm 1967 quy định rõ: Tối cao Pháp viện có thẩm quyền giải thích hiến  
pháp, phán quyết về tánh cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tánh  
cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh. Tuy  
nhiên, nội dung quy định này còn sơ lược và hiến pháp cần luật hướng dẫn về cách thức  
hoạt động độc lập và cơ cấu tổ chức của cơ quan này. Tuy nhiên, đến năm 1968, Luật số  
7/68 ban hành ngày 3/9/1968 ấn định tổ chức và điều hành của Tối cao Pháp viện mới  
ra đời và đến năm 1971 cơ quan này lại điều chỉnh chức năng bởi luật số 10/71 ban  
hành ngày 29 tháng 6 năm 1971 về sửa đổi và bổ túc luật số 007/68 ấn định tổ chức và  
điều hành của Tối cao pháp viện. Như vậy, việc ban hành chậm các văn bản hướng dẫn  
luật khiến công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam  
Cộng hòa còn chậm và hoạt động chưa hiệu quả.  
Những hạn chế trong công tác kiểm hiến dẫn đến thực trạng có những văn bản bị  
sửa đổi bổ sung rất nhiều lần trong quá trình thực thi.  í dụ: Ngày 19 tháng 7 năm 1965  
chính quyền ban hành “Sắc luật số 004/65 về trừng trị các tội đầu cơ, chuyển ngân phi  
pháp, buôn lậu, hối lộ, hối mại, quyền thế, biển thủ, công ủy, phản nghịch, phá rối trị an,  
côn đồ thân cộng và trung lập” (Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa, 1965). Đến ngày 15  
tháng 2 năm 1966, chính quyền lại ban hành “Sắc luật số 004/66 bổ túc Sắc luật số 4/65  
ngày 19 tháng 7 năm 1965 trừng trị các tội đầu cơ, chuyển ngân phi pháp, buôn lậu, hối  
lộ, hối mại, quyền thế, biển thủ, công ủy, phản nghịch, phá rối trị an, côn đồ thân cộng  
và trung lập” ( hính phủ Việt Nam Cộng hòa, 1965). Việc sửa đổi chưa dừng lại ở đó,  
đến ngày 12 tháng 2 năm 1967, chính quyền lại ban hành “Sắc luật 001-a/67 nhằm bổ  
túc điều 21 sắc luật số 004 ngày 15 tháng 2 năm 1966 trừng trị các tội đầu cơ, chuyển  
ngân phi pháp, buôn lậu, hối lộ, hối mại, quyền thế, biển thủ, công ủy, phản nghịch, phá  
rối trị an, côn đồ thân cộng và trung lập” ( hính phủ Việt Nam Cộng hòa, 1967). Cuối  
cùng, ngày 31/7/1967, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành “Sắc luật số 029/67  
nhằm hủy bỏ điều 7, thêm điều 8, thêm điều 9 và thêm điều thứ nhất sắc luật số 004/66  
96  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
ngày 15 tháng 2 năm 1966 và sửa đổi các điều 7, 8,9 của sắc luật số 004/65 ngày 19  
tháng 7 năm 1965 trừng trị các tội đầu cơ, chuyển ngân phi pháp, buôn lậu, hối lộ, hối  
mại, quyền thế, biển thủ, công ủy, phản nghịch, phá rối trị an, côn đồ thân cộng và trung  
lập.” ( hính phủ Việt Nam Cộng hòa, 1967). Trường hợp Sắc luật số 2/63 cũng tương  
tự, cụ thể là: Ngày 14 tháng 2 năm 1963, chính quyền ban hành “Sắc luật số 2/63 quy  
định về đầu tư tại Việt Nam” ( ông báo  iệt Nam, 1963, 1964)... Tuy nhiên, sau hai  
tháng, ngày 26/4/1963, chính quyền ban hành Sắc luật số 10/63 để bổ túc sắc luật số  
2/63 ngày 14 tháng 2 năm 1963 quy định về đầu tư tại Việt Nam” ( hính phủ Việt Nam  
Cộng hòa, 1963). Ba năm sau, chính quyền ban hành “Sắc luật số 011/66 ngày  
29/3/1966 nhằm sửa đổi điều 27 của Sắc luật 2/63 ngày 14 tháng 2 năm 1963 quy định  
về đầu tư tại Việt Nam” ( hính phủ Việt Nam Cộng hòa, 1966) và một năm sau đó,  
“Sắc luật số 026/67 ra đời nhằm bãi bỏ điều 24 của Sắc luật 2/63 ngày 14 tháng 2 năm  
1963 và Sắc luật 10/63 ngày 26 tháng 4 năm 1963 quy định về chế độ đầu tư tại Việt  
Nam và thay thế bằng điều 24 mới ấn định lại thành phần Uỷ ban đầu tư” ( hính phủ  
Việt Nam Cộng hòa, 1967). Như vậy, một văn bản mà có đến 4 lần sửa đổi bổ sung thì  
khó khăn trong thực thi là vấn đề không thể tránh khỏi.  
Sau biến cố Mậu Thân 1968 và Xuân hè 1972, cuộc chiến tranh mà chính quyền  
Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) tham gia gặp rất nhiều khó khăn bởi sự tấn công mạnh  
mẽ của lực lượng cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Sự gia tăng của cuộc chiến,  
khiến cho hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bị phá vỡ các  
nguyên tắc, các quy định chính quyền đã ban hành. Do đó, ngày 25 tháng 11 năm 1972  
Tổng thống Nguyễn  ăn Thiệu đã ký lần lượt ba sắc luật ban hành tình trạng báo động  
(Sắc luật số 017/72), khẩn trương (Sắc luật số 018/72) và giới nghiêm (Sắc luật số  
019/72) trên toàn lãnh thổ, hạn chế rất nhiều quyền tự do của dân chúng và mặc nhiên  
được chấp nhận. Đặc biệt hơn là việc quốc hội đã biểu quyết chấp thuận đạo Luật số  
005/72 ngày 28 tháng 6 năm 1972 đồng ý ủy quyền cho tổng thống cai trị bằng sắc luật  
về các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế và tài chính trong thời hạn 6 tháng mặc dù  
Hiến pháp năm 1967 không có quy định quyền hạn này của Tổng thống Việt Nam Cộng  
hòa. Nội dung đạo luật này là vi hiến và cũng đã bị trích nhưng chính quyền cũng không  
đặt vấn đề kiểm hiến đạo luật này cho Tối cao Pháp viện. Hệ quả sau đó là sau luật ủy  
quyền 005/72 được ban hành, tổng thống đã ban hành trên 60 sắc luật trong thời hạn 6  
tháng và chi phối mạnh mẽ mọi hoạt động của quốc gia.  
Những ví dụ trên đã cho thấy sự hạn chế trong công tác kiểm hiến văn bản quy  
phạm pháp luật của chính quyền  iệt Nam  ộng hòa. Điều đó đã dẫn đến một hệ quả là  
vẫn tồn tại nhiều văn bản vi hiến nhưng vẫn có hiệu lực.  
3.2.3. Văn bản quy phạm pháp luật chưa theo kịp những biến đổi của đời sống xã hội  
Năm 1955, chính thể Việt Nam Cộng hòa ra đời, phát triển theo hướng Cộng hòa  
Tổng thống. Sự ra đời một chính thể mới đòi hỏi phải thay đổi đồng loạt các quy định  
về điều hành quản lý quốc gia trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, chính quyền vẫn quy định  
97  
trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1956: Tất cả những luật lệ của thời Quốc gia  
Việt Nam không trái với Hiến pháp vẫn còn hiệu lực. Bên cạnh khía cạnh tích cực là kế  
thừa được những cái hay của giai đoạn trước thì điều đó đã tạo cơ hội cho sự tồn tại của  
nhiều quy định ra đời trước năm 1955 đã trở nên lạc hậu song vẫn còn hiệu lực trong  
hoạt động quản lý của chính thể này. Điển hình như quy định của Tòa hòa giải rộng  
quyền trong tổ chức tư pháp từ năm 1949 vẫn còn có hiệu lực trong hoạt động quản lý  
nhà nước của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1971. Đến năm 1971, Tòa Hòa  
giải rộng quyền bị bãi bỏ theo Luật số 008/71. Tại Điều 3, Luật số 008/71 có ghi “mọi  
việc thiết lập tòa sơ thẩm và cải biến tòa hòa giải rộng quyền thành tòa sơ thẩm được  
quy định bởi các dụ và sắc lệnh của quốc trưởng hay tổng thống chiếu điều 41 Dụ số 4  
ngày 18 tháng 10 năm 1949 và có trước ngày ban hành luật này vẫn giữ nguyên hiệu  
lực.” (Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa, 1971). Như vậy, những thủ tục liên quan đến hoạt  
động của tòa sơ thẩm và tòa hòa giải được quy định từ thời kỳ Quốc gia Việt Nam đến  
giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975) vẫn còn có hiệu lực trong quản lý của chính  
quyền Việt Nam Cộng hòa dù trên thực tế những thủ tục này đã không còn phù hợp với  
tình hình thực tế. Chức năng loại bỏ những bất cập này thuộc về thẩm quyền của Tối  
cao Pháp viện. Tuy nhiên, hoạt động của Tối cao Pháp viện hiệu quả không cao vì “Tối  
cao Pháp viện chỉ giải thích hiến pháp khi được yêu cầu, chỉ phán xét các hành vi lập  
pháp, lập quy khi có sự truy tố” (Nguyễn Duy Thanh và nnk, 1970).  
Quá trình xây dựng và hoàn thiện chính quyền nói chung và hoạt động xây dựng  
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói riêng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nhân tố chiến  
tranh. Mỗi khi mức độ chiến tranh dâng cao là mỗi lần xã hội Miền Nam chao đảo, loạn  
lạc.  ì vậy, việc triển khai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bị chi phối rất lớn,  
nhiều lúc không còn tuân theo những trình tự quy định của pháp luật. Hiệu quả triển  
khai các văn bản quy phạm pháp luật vào đời sống của nhân dân Miền Nam gặp nhiều  
hạn chế. Điều đó đã khiến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Miền Nam thường ở trong  
tình trạng bất ổn và hoạt động triển khai văn bản quy phạm pháp luật khó đạt được mục  
tiêu của nhà cầm quyền.  
Ngoài những hạn chế mang tính khách quan, nhân sự Việt Nam Cộng hòa cũng  
bộc lộ nhiều bất cập. Mặc dù chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã triển khai nhiều biện  
pháp để cải thiện về số lượng và chất lượng đội ngũ này song bên cạnh một số ít được  
cải thiện thì đa phần “công chức Việt Nam Cộng hòa được coi là lực lượng “luộm  
thuộm nhất” vì thiếu mọi phương diện từ lãnh đạo, tổ chức, điều hành...” (Phủ Thủ  
tướng, 1973). Hiện trạng này khiến cho luật pháp không được tôn trọng và không thực  
thi nghiêm minh. Tình trạng coi thường luật pháp, bất công giữa các công chức trong cơ  
quan công quyền trở nên phổ biến.  
Tình trạng tham nhũng diễn ra trầm trọng và phổ biến trong bộ máy chính quyền  
Việt Nam Cộng hòa làm cản trở quá trình thực thi các quy định thông qua hệ thống văn  
bản quy phạm pháp luật. Thực trạng này làm cho việc triển khai và thực thi những quy  
98  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 2(51)-2021  
định của chính quyền thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bị chậm hoặc cố  
tình bị làm trái. Cụ thể như “ở nhiều địa phương viên chức xã, ấp, phường, khóm các  
cán bộ công chức làm việc lơ là, uể oải nên vẫn còn có tệ trạng người đến xin một  
chứng thư hành chánh sao lục một khai sanh, xin một chứng chỉ cư trú, thị thực một bản  
sao... nạp tại cơ quan liên hệ từ thứ Năm mà mãi đến ngày thứ Hai tuần tới vẫn chưa  
được cấp phát hoặc giải quyết thỏa đáng. Tệ trạng trên đã cản trở đến công ăn việc làm  
của dân chúng, gây bất mãn giữa người dân và chánh quyền” (Phủ Thủ tướng, 1973).  
Thêm vào đó, nhiều công sở, công chức vẫn giữ lề lối làm việc theo khuôn khổ  
của chế độ thực dân, chậm cập nhật các quy định mới nên nhiều thủ tục hành chính  
không còn thích hợp vẫn còn được duy trì. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban  
hành song không được đảm bảo thực thi hiệu quả, khiến cho người dân chán ghét và uy  
tín của chính quyền bị giảm sút nghiêm trọng.  
4. Kết luận  
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn  
tồn tại nhiều hạn chế, đơn cử như: Số lượng văn bản ban hành còn quá ít lại, chỉ tập  
trung vào một số lĩnh vực then chốt, chưa bao phủ mọi hoạt động trong đời sống người  
dân; văn bản hướng dẫn chậm ban hành lại thiếu sự cập nhật các quy định mới khi có sự  
thay đổi thể chế và tính chất xã hội; quy trình ban hành, sửa đổi, bãi bỏ chỉ dừng ở luật,  
thiếu quy định điều chỉnh hoạt động này ở các loại hình văn bản quy phạm pháp luật  
khác… Các yếu tố nêu trên khiến cho việc triển khai hệ thống văn bản quy phạm pháp  
luật vào thực tế còn nhiều hạn chế, bất cập nên hiệu quả đạt được chưa cao. Một trong  
những nguyên nhân đưa đến hiện tượng trên là do tính phức tạp của tình hình xã hội lúc  
bấy giờ như: Đất nước có chiến tranh, chính thể cầm quyền phải đối phó với sự tấn công  
của phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản và sự chống đối  
của các thế lực đối lập trên chính trường chính trị. Nhìn lại khoảng thời gian tồn tại của  
Việt Nam Cộng hòa, thể chế này đã trải qua ba giai đoạn và trong từng giai đoạn cũng  
có rất nhiều bất ổn về chính trị. Đây là một trở lực rất lớn cho sự thực thi các chính sách  
của chính quyền thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cũng là một trong  
những yếu tố khiến hiệu lực thi hành các văn bản quy phạm pháp luật không phát huy  
hiệu quả như mong muốn.  
Thêm vào đó, bộ máy nhà nước của chính thể Việt Nam Cộng hòa bộc lộ nhiều  
bất cập và yếu kém. Tình trạng “bè phái” tồn tại trong đội ngũ công chức Việt Nam  
Cộng hòa từ cấp trung ương đến địa phương. Hiện tượng đưa người thân của các quan  
chức vào các vị trí then chốt trở nên phổ biến. Thực trạng này khiến cho luật pháp  
không được tôn trọng và không thực thi nghiêm minh. Bên cạnh đó, chính quyền Việt  
Nam Cộng hòa chưa có điều kiện để chọn lọc và bồi dưỡng một cách toàn diện hệ thống  
đội ngũ công chức.  ì vậy, trong đội ngũ công chức Việt Nam Cộng hòa có sự chênh  
lệch rất lớn giữa cán bộ chuyên môn và cán bộ cấp thừa hành. Đội ngũ thừa hành bị hạn  
99  
chế về mặt trình độ nên khả năng hiểu và triển khai chính sách thường chưa đến nơi.  
Ngoài ra, nạn tham nhũng diễn ra trầm trọng và phổ biến trong bộ máy khiến cho nhiều  
văn bản của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế không được triển khai  
hoặc cố tình bị làm trái. Đó là nguyên nhân khách quan đưa đến việc dù hệ thống văn  
bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa dù có khoa học, bài bản,  
chặt chẽ và hiện đại thì cũng không phát huy được vai trò và hiệu lực của nó trong thực  
tế Miền Nam Việt Nam.  hính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ cũng có một phần  
nguyên nhân xuất phát từ hiện thực nêu trên.  
Nghiên cứu được tài trợ bởi Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia  
thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ đề tài mã số T2020-16.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (1963). Sắc luật quy định về đầu tư tại Việt Nam. Số 2/63,  
ngày 14/2/1963.  
[2]  hính phủ Việt Nam Cộng hòa (1967). Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967, ngày  
1/4/1967.  
[3] Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (1967). Sắc luật bổ túc điều 21 Sắc luật số 004 ngày  
15/2/1966 trừng trị các tội chuyển ngân phi pháp, buôn lậu, hối lộ, hối mại, quyền thế, biển  
thù, phản nghịch, phá rối trị an côn đồ thân cộng và trung lập. Số 001-a/67, ngày  
12/2/1967.  
[4] Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (1971). Luật thành lập tòa hòa giải. Số 008/7, ngày  
27/8/1971.  
[5] Nguyễn Duy Thanh, Phan  ăn Tám. (1972).  ấn đề kiểm soát sự tôn trọng Hiến pháp của  
Tổng thống. Tạp chí nghiên cứu Hành chính, 04. Sài Gòn.  
[6] Phủ Thủ tướng (1973). Công chức Việt Nam cộng hòa. Sài Gòn. 1973.  
[7] Phủ Thủ tướng (1957). Nghị định ban hành bản điều lệ quy định chế độ chung về công văn  
giấy tờ ở các cơ quan. Số 527TTg, ngày 2/11/1957.  
[8] Quốc hội (1996). Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Số 52-L/ TN, ngày  
12/11/1996.  
[9] Quốc hội Việt Nam Cộng hòa (1956). Hiến Pháp Việt Nam cộng hòa 1956. Số 60, ngày  
16/10/1956.  
[10] Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (1965). Sắc luật về trừng trị các tội đầu cơ, chuyển ngân  
phi pháp, buôn lậu, hối lộ, hối mại, quyền thế, biển thù, phản nghịch, phá rối trị an côn đồ  
thân cộng và trung lập. Sắc luật số 004/65, ngày 19/7/1965.  
[11] Trung tâm Từ điển học (2009). Đại từ điển tiếng Việt. NXB Từ điển Bách Khoa.  
[12] Viện Ngôn ngữ học (2010). Từ điển tiếng Việt. NXB Từ điển Bách Khoa  
[13]  ương Đình Quyền (2005). Lý luận và phương pháp công tác văn thư. NXB  hính Trị  
Quốc gia.  
100  
pdf 10 trang Thùy Anh 15240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những hạn chế trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_han_che_trong_xay_dung_van_ban_quy_pham_phap_luat_cua.pdf