Tính đặc thù về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị của viện kiểm sát trong tố tụng phá sản
TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...
CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG PHÁ SẢN
THÁI VĂN ĐOÀN*
Trong quá trình kiểm sát hoạt động tư pháp, quyền kháng nghị và quyền kiến nghị của
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là những quyền pháp lý quan trọng, được ghi nhận trong
nhiều Bộ luật, trong đó có Luật phá sản năm 2014. Bài viết đi sâu phân tích tính đặc thù
về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng phá sản.
Từ khóa: Quyền kiến nghị, quyền kháng nghị, Luật phá sản năm 2014, Viện kiểm sát
nhân dân.
Ngày nhận bài: 27/08/2020; Biên tập xong: 14/09/2020; Duyệt đăng: 28/01/2021
In supervising judicial activities, right to petition and right to protest of the People’s
Procuracy are important ones specified in many laws, including the 2014 Bankruptcy
Law. This article analyzes specificity of right to petition and right to protest of the
People’s Procuracy in bankruptcy proceedings.
Keywords: Petition, protest, the 2014 Bankruptcy Law, the People’s Procuracy.
1. Một số vấn đề chung về quyền quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm
kháng nghị và quyền kiến nghị của Viện
kiểm sát nhân dân
pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền
con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân thì Viꢀn kiểm sát nhân dân phải kháng
nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải
quyết kháng nghị của Viꢀn kiểm sát nhân dân
theo quy định của pháp luật”.
Khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức VKSND
năm 2014 quy định về “quyền kiến nghị”
của Viện kiểm sát: “Trường hợp hành vi,
quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít
nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng
nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì Viꢀn
kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý
nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu
phát hiꢀn sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản
lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc
phục và áp dụng các biꢀn pháp phòng ngừa vi
phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức,
cá nhân liên quan có trách nhiꢀm xem xét, giải
quyết, trả lời kiến nghị của Viꢀn kiểm sát nhân
dân theo quy định của pháp luật”.
Quyền kháng nghị và quyền kiến nghị
của VKSND thể hiện vai trò, vị trí của
VKSND khi phát hiện những vi phạm, thiếu
sót của Tòa án, các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan nhằm khắc phục vi phạm, bảo
đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm
chỉnh, chính xác, thống nhất, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân, bảo vệ lợi ích Nhà nước. Các quyền
năng này được quy định tại nhiều văn bản
tố tụng khác nhau như tố tụng hình sự, tố
tụng dân sự, tố tụng hành chính và trong tố
tụng phá sản. Đặc biệt, Luật Phá sản năm
2014 đã ghi nhận những quyền năng này
với có những nét đặc thù rất riêng.
Khái niệm về “quyền kháng nghị” và
“quyền kiến nghị” của VKSND trong công
tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tư pháp được quy định rất rõ trong
Luật tổ chức VKSND năm 2014. Cụ thể:
Khoản 1 Điều 5 Luật tổ chức VKSND
năm 2014 quy định về “quyền kháng nghị”
của Viện kiểm sát: “Trường hợp hành vi, bản
án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm
<?>ꢀ* Thạc sĩ, Vụ 10 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
55 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...
Như vậy, Luật tổ chức VKSND năm 2014 dân (TAND) cấp tỉnh (cấp trên trực tiếp của
đã phân định các trường hợp Viện kiểm sát TAND cấp huyện đã ban hành quyết định
giải quyết đề nghị, kháng nghị quyết định
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản).
Ví dụ: TAND huyện T, tỉnh Đ ra quyết định
tuyên bố doanh nghiệp Y phá sản. Khi có
kháng nghị của VKSND huyện T (cùng cấp),
tỉnh Đ theo luật định, TAND cấp trên trực tiếp
có thẩm quyền giải quyết kháng nghị đối với
quyết định tuyên bố doanh nghiệp Y phá sản
là TAND tỉnh Đ. Trường hợp khác, “Tòa án
nhân dân cấp trên trực tiếp” cũng có thể là
TAND cấp cao (cấp trên trực tiếp của TAND
cấp tỉnh đã ban hành quyết định giải quyết
đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của TAND
cấp dưới). Tuy nhiên, trong mọi trường hợp,
VKSND cấp cao đều không có quyền kiến
nghị theo thủ tục đặc biệt mà thẩm quyền này
đều thuộc về VKSND tối cao khi có các căn cứ
quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 113 này.
Trong thực tế, nhiều trường hợp VKSND các
cấp hoặc những người tham gia tố tụng phá
sản bị nhầm lẫn về thẩm quyền này vì cho
rằng VKSND cấp cao là cấp trên trực tiếp có
thẩm quyền kiến nghị theo thủ tục đặc biệt.
VKSND cấp tỉnh hoặc đương sự gửi văn bản,
đơn đề nghị VKSND cấp cao kiến nghị theo
thủ tục đặc biệt đối với quyết định giải quyết
đề nghị, kháng nghị của TAND cấp trên trực
tiếp là chưa đúng thẩm quyền, mà phải gửi
về VKSND tối cao theo quy định tại Điều 113
Luật phá sản năm 2014.
thực hiện “quyền kháng nghị” hoặc “quyền
kiến nghị”.
2. Quyền kháng nghị và quyền kiến
nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng phá sản
Cụ thể hóa quyền kháng nghị và quyền
kiến nghị trong tố tụng phá sản, khoản 1
Điều 21 Luật Phá sản năm 2014 quy định:
“Viꢀn kiểm sát nhân dân kiểm sát viꢀc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết phá sản,
thực hiꢀn các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng
nghị theo quy định của Luật này”.
2.1. Về quyền kiến nghị của Viện kiểm
sát nhân dân
Luật Phá sản năm 2014 quy định trong
quá trình kiểm sát giải quyết phá sản, Viện
kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị đối với
vi phạm nhằm bảo đảm việc giải quyết
vụ việc phá sản đúng pháp luật, kịp thời,
khắc phục vi phạm. Quyền kiến nghị của
Viện kiểm sát được thực hiện trong những
trường hợp sau:
- Kiến nghị theo thủ tục đꢁc biꢀt
Khoản 1 Điều 113 Luật Phá sản năm
2014 quy định:
“1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa
án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định giải
quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của Luật
này mà có đơn đề nghị xem xét lại của người
tham gia thủ tục phá sản, kiến nghị của Viꢀn
kiểm sát nhân dân tối cao hoꢁc kiến nghị của Tòa
án nhân dân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao xem xét lại quyết định đó khi có một trong
các căn cứ sau:
Song, liên quan đến nội dung nêu trên,
tại Điều 113 Luật Phá sản năm 2014 khi
viện dẫn Điều 112 của Luật này lại thể hiện:
“Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án
nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định giải
quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của
Luật này” là không đúng, mà đây phải là
“quyết định giải quyết đề nghị, kháng nghị (đối
với quyết định tuyên bố doanh nghiꢀp, hợp tác
xã phá sản)” của TAND cấp trên trực tiếp
bởi Điều 112 Luật Phá sản năm 2014 đã
a) Có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về phá sản;
b) Phát hiꢀn tình tiết mới có thể làm thay đổi
cơ bản nội dung quyết định tuyên bố phá sản mà
Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá
sản không thể biết được khi Tòa án nhân dân ra
quyết định”.
“Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp” quy định về việc TAND cấp trên trực tiếp
theo khoản 1 Điều này có thể là Toà án nhân “giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định
56 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
THÁI VĂN ĐOÀN
tuyên bố doanh nghiꢀp, hợp tác xã phá sản” của
TAND cấp dưới. Do vậy, chúng tôi đề nghị
cơ quan chức năng sớm sửa đổi nội dung
này tại Điều 113 Luật Phá sản năm 2014, cụ
thể như tại phần kiến nghị của bài viết.
- Kiến nghị với Chánh án TAND cùng cấp
về viꢀc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Theo quy định khoản 1 Điều 36 Luật
Phá sản năm 2014, trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được quyết định
trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của
TAND, “Viꢀn kiểm sát nhân dân cùng cấp có
quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân
đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu”.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại,
kiến nghị đối với quyết định trả lại đơn yêu
Khoản 1 Điều 85 Luật Phá sản năm 2014
quy định: Trường hợp phát hiện Nghị quyết
của Hội nghị chủ nợ có vi phạm pháp luật,
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ,
“Viꢀn kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến
nghị với Chánh án Tòa án nhân dân đang giải
quyết phá sản xem xét lại Nghị quyết của Hội
nghị chủ nợ”.
- Kiến nghị với Chánh án TAND đang
giải quyết thủ tục phá sản về quyết định đình
chỉ tiến hành thủ tục phá sản
Khoản 2 Điều 86 Luật Phá sản năm
2014 quy định: Trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được quyết định, “Viꢀn kiểm
sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị với
Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết thủ
cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án TAND tục phá sản về quyết định đình chỉ tiến hành thủ
đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu phải ra tục phá sản”. Quy định này cũng khác với
một trong các quyết định: Giữ nguyên quyết
định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
hoặc hủy quyết định trả lại đơn yêu cầu mở
thủ tục phá sản.
tố tụng dân sự, hành chính là Viện kiểm sát
được quyền kháng nghị1 hoặc kiến nghị đối
với quyết định đình chỉ tùy vào tính chất,
mức độ vi phạm.
- Kiến nghị với Chánh án TAND cấp trên
trực tiếp về quyết định giải quyết đơn đề nghị
xem xét lại, kiến nghị đối với quyết định trả lại
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Tiếp theo việc thực hiện quyền kiến nghị
nêu trên, trong trường hợp không đồng ý
với quyết định giải quyết đơn đề nghị xem
xét lại, kiến nghị đối với quyết định trả lại
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Chánh
án Tòa án cùng cấp, VKSND cùng cấp vẫn
có quyền kiến nghị với Chánh án TAND
Do vậy, trong công tác kiểm sát, cần nắm
vững những quy định riêng về 05 quyền kiến
nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng phá sản
để thực hiện quyền này có căn cứ, chính xác,
đúng pháp luật, khắc phục vi phạm của Tòa
án trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản.
Ngoài ra, trong quá trình kiểm sát việc giải
quyết phá sản, khi phát hiện những vi phạm
khác (ít nghiêm trọng), những sơ hở thiếu sót
của Toà án, cơ quan, tổ chức, cá nhân, Viện
kiểm sát căn cứ vào khoản 1 Điều 21 Luật
cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết đối Phá sản năm 2014 để thực hiện quyền kiến
với quyết định của Chánh án TAND cùng nghị khắc phục vi phạm.
cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được quyết định (khoản 3 Điều
36 Luật Phá sản năm 2014). Quyết định giải
quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của
Chánh án TAND cấp trên trực tiếp là quyết
định cuối cùng.
- Kiến nghị với Chánh án TAND cùng cấp
đang giải quyết phá sản xem xét lại Nghị quyết
của Hội nghị chủ nợ
2.2. Về quyền kháng nghị của Viện kiểm
sát nhân dân
Tính đặc thù trong tố tụng phá sản thể
hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát
như sau:
- Về tên gọi: Tố tụng phá sản quy định
1ꢀ Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 143
Luật tố tụng hành chính năm 2015
Số 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 57
TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...
quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhưng - Về thẩm quyền kháng nghị: Khác
không nêu cụ thể là “kháng nghị phúc thẩm” với tố tụng hình sự, dân sự, hành chính
màchỉquyđịnhquyềnkhángnghịnóichung
và cũng không có thủ tục “kháng nghị giám
đốc thẩm” hay “kháng nghị tái thẩm” như
trong tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.
- Về đối tượng kháng nghị: Trong tố tụng
phá sản, Tòa án không ban hành bản án mà
chỉ ban hành quyết định giải quyết vụ việc.
Song không phải quyết định nào cũng bị
kháng nghị mà chỉ có 03 quyết định Viện
kiểm sát được quyền kháng nghị là.
+ Quyết định mở thủ tục phá sản
(Điều 44);
+ Quyết định không mở thủ tục phá
sản (Điều 44);
quy định Viện kiểm sát cùng cấp, Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền
kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định
của Tòa án theo luật định3, trong tố tụng
phá sản chỉ quy định Viện kiểm sát cùng
cấp mới có thẩm quyền kháng nghị đối
với 03 loại quyết định nêu trên của Tòa
án cùng cấp. Và việc kháng nghị dừng
lại ở đây, Luật Phá sản năm 2014 không
quy định thủ tục kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm nên Viện kiểm sát cấp trên
cũng không có các quyền này (chỉ có thẩm
quyền kiến nghị theo thủ tục đặc biệt tại
Điều 113 Luật Phá sản năm 2014 và được
phân tích như trên).
+ Quyết định tuyên bố phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã (Điều 111).
3. Thực tiễn áp dụng quyền kiến nghị,
quyềnkhángnghịcủaViệnkiểmsátnhândân
Một điểm lưu ý là việc kháng nghị của
Viện kiểm sát được thực hiện đối với các
quyết định này đều đã có hiệu lực thi hành
kể từ ngày ra quyết định (khoản 6 Điều
42 và khoản 2 Điều 108 Luật Phá sản năm
2014), không như thủ tục kháng nghị phúc
thẩm đối với các bản án, quyết định chưa có
hiệu lực trong các loại tố tụng hình sự, dân
sự, hành chính.
- Về thời hạn kháng nghị: Luật Phá sản
không quy định thời hạn kháng nghị giống
nhau (như các luật tố tụng hình sự, dân sự,
hành chính quy định chung về thời hạn
kháng nghị của VKSND cùng cấp là 15
ngày đối với bản án, 07 ngày đối với quyết
định2) mà tùy từng loại quyết định trong
quá trình giải quyết phá sản. Theo đó, thời
hạn kháng nghị đối với quyết định mở hay
không mở thủ tục phá sản là 07 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định (khoản 1 Điều
44), thời hạn kháng nghị đối với quyết định
tuyên bố phá sản là 15 ngày kể từ ngày nhận
Theo Báo cáo số 89/BC-VKSTC ngày
08/6/2020 của VKSND tối cao về việc tổng
kết 05 năm thi hành Luật Phá sản năm 2014
trong ngành Kiểm sát nhân dân (từ năm
2015 đến năm 2019), trong 05 năm kể từ
khi thi hành Luật Phá sản năm 2014, toàn
ngành Kiểm sát nhân dân ban hành 53 kiến
nghị, 24 kháng nghị (kháng nghị quyết
định không mở thủ tục phá sản: 04 vụ việc;
kháng nghị quyết định mở thủ tục phá sản:
07 vụ việc; kháng nghị quyết định tuyên bố
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản: 13 vụ
việc), kết quả Tòa án chấp nhận 18/19 vụ
việc, không chấp nhận kháng nghị 01 vụ
việc, Viện kiểm sát rút kháng nghị 01 vụ
việc, 04 vụ việc chưa giải quyết. Một số vi
phạm có thể kể đến như:
- Tòa án không chấp nhận yêu cầu mở thủ
tục phá sản do xác định doanh nghiꢀp, hợp tác
xã chưa mất khả năng thanh toán
Ví dụ: Công ty H.A nợ của bà Nh số tiền
được quyết định hoặc được thông báo hợp 3.793.000.000 đồng. Bà Nh đã nhiều lần yêu
lệ quyết định (khoản 2 Điều 11).
cầu công ty thanh toán nhưng không được
2ꢀ Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 3ꢀ Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều
280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 213 Luật 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 213 Luật
tố tụng hành chính năm 2015.
tố tụng hành chính năm 2015.
58 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
THÁI VĂN ĐOÀN
nên đã có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Khi kiểm sát trường hợp này, cần lưu
đối với công ty H.A. Trong quá trình giải ý trường hợp chủ nợ lạm dụng quyền nộp
quyết, Tòa án nhân dân tỉnh Q đã ban hành đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với
quyết định không mở thủ tục phá sản.
doanh nghiệp, hợp tác xã đang gặp khó
khăn tạm thời, nhằm đẩy doanh nghiệp,
hợp tác xã vào tình trạng bị “ép phá sản”,
làm ảnh hưởng đến môi trường kinh
doanh lành mạnh và uy tín của doanh
nghiệp, hợp tác xã, thậm chí có thể là
nguyên nhân chính khiến cho doanh
nghiệp, hợp tác xã làm ăn thua lỗ sau đó
và phải “phá sản thật”.
Qua xem xét thấy rằng: Tính đến ngày
13/4/2017, Công ty H.A còn nợ thuế số
tiền 2.743.000.000 đồng, nợ các nhà đầu tư
88.576.000.000 đồng, nợ doanh nghiệp, cá
nhân khác 19.139.000.000 đồng. Tổng cộng
110.458.000.000 đồng. Trong khi đó, toàn
bộ tài sản của công ty H.A được định giá là
40.681.000.000 đồng, từ đó có đủ cơ sở xác
định Công ty H.A mất khả năng thanh toán.
Do đó, việc bà Nh yêu cầu mở thủ tục phá
sản là có căn cứ. VKSND tỉnh Q đã kháng
nghị đối với quyết định không mở thủ
tục phá sản của TAND tỉnh Q và đã được
TAND cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận hủy
quyết định không mở thủ tục phá sản của
TAND tỉnh Q.4
- Xảy ra vi phạm về viꢀc áp dụng Bộ luật tố
tụng dân sự để giải quyết tố tụng phá sản
Ví dụ: Ngày 16/01/2018, TAND huyện
Đ, tỉnh L thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản đối với Công ty I. Trong quá trình
giải quyết, TAND huyện Đ ban hành
Quyết định tuyên bố phá sản số 01/2018/
QĐ-TBPS ngày 26/4/2018 tuyên bố Công
ty I phá sản. Quyết định này không bị
khiếu nại của người tham gia phá sản có
quyền khiếu nại, không bị kháng nghị của
VKSND huyện Đ, tỉnh L. Ngày 18/6/2018,
VKSND tỉnh L có Công văn số 199/BC-
VKS đề nghị VKSND cấp cao kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm. VKSND cấp
cao ban hành thông báo không kháng
nghị giám đốc thẩm6.
Như vậy, chỉ có VKSND huyện Đ, tỉnh
L (VKSND cùng cấp với TAND huyện
Đ) mới có quyền kháng nghị Quyết định
tuyên bố phá sản số 01/2018/QĐ-TBPS ngày
26/4/2018 của TAND huyện Đ theo Điều
111 Luật Phá sản năm 2014. Tuy nhiên,
VKSND huyện Đ đã không kháng nghị
và người tham gia phá sản cũng không
khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản nêu
trên. Việc đề nghị VKSND cấp cao kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Tòa án chấp nhận yêu cầu mở thủ tục
phá sản khi doanh nghiꢀp, hợp tác xã chưa mất
khả năng thanh toán
Ví dụ: Công ty G nộp đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản đối với Công ty C. TAND thành
phố H căn cứ tài liệu chứng minh công ty C
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, từ đó
nhận định Công ty C mất khả năng thanh
toán và đã ban hành quyết định mở thủ tục
phá sản đối với Công ty C. Trong khi đó,
Báo cáo tài chính 06 tháng đầu năm 2017 của
Công ty C thể hiện tổng tài sản của công ty
là 2.232.000.000 đồng, nợ 1.739.000.000 đồng
nên Công ty C tuy có chậm thanh toán cho
Công ty G nhưng không mất khả năng thanh
toán. Vì vậy, Tòa án ban hành quyết định mở
thủ tục phá sản đối với Công ty C là không
đúng. TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh đã xét xử hủy quyết định mở thủ tục
phá sản của TAND Thành phố H theo đề
nghị của VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ
Chí Minh.5
07/3/2018 của VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4ꢀ Thông báo rút kinh nghiệm số 26/TB-VC2-V3 ngày 6ꢀ Thông báo rút kinh nghiệm số 22/TB-VC3-V4
16/7/2018 của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng.
ngày 24/7/2018 của VKSND cấp cao tại Thành phố
5ꢀ Thông báo rút kinh nghiệm số 06/TB-VC3-V4 ngày Hồ Chí Minh.
Số 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 59
TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...
là không đúng phạm vi điều chỉnh của Bộ Thêm vào đó, cần bổ sung quy định
luật. Thủ tục đặc biệt quy định tại Điều 113 thẩm quyền kháng nghị của VKSND cấp
Luật Phá sản năm 2014 chỉ được thực hiện
sau khi đã thực hiện Điều 112 Luật này,
xác định thẩm quyền thuộc về VKSND tối
cao và TAND tối cao.
trên trực tiếp đối với 03 loại quyết định
như đã nêu ở phần trên của Tòa án với
thời hạn gấp đôi thời hạn VKSND cấp
dưới kháng nghị để bảo đảm khắc phục
triệt để vi phạm và khắc phục tình trạng
đã hết thời hạn kháng nghị của VKSND
cấp dưới do có nhiều vụ việc phá sản hồ
sơ rất dày, liên quan đến nhiều đối tượng,
nhiều tài sản, nhiều khoản nợ ở nhiều tỉnh
thành khác nhau và ở nước ngoài cũng
ngày càng nhiều.
Trong quá trình kiểm sát giải quyết
phá sản, cần nắm vững các quy định của
Luật Phá sản để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị để
áp dụng được chính xác, đúng pháp luật
(tránh nhầm lẫn với các loại tố tụng khác),
nhằm khắc phục vi phạm của Tòa án, bảo
đảm pháp luật được thực hiện nghiêm
chỉnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể tham gia phá sản, bảo vệ
lợi ích Nhà nước.
4. Một số nhận xét và kiến nghị
Căn cứ số liệu và thực tiễn kiểm sát
việc giải quyết vụ việc phá sản cho thấy,
việc thực hiện các quyền kiến nghị, quyền
kháng nghị của Viện kiểm sát trên thực tế
còn khiêm tốn. Nguyên nhân là do số vụ
việc phá sản thời gian qua chưa nhiều.
Cũng theo Báo cáo số 89/BC-VKSTC,
tổng số vụ việc trong 05 năm yêu cầu Tòa
án mở thủ tục tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã phá sản và Tòa án ra quyết
định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
là 1.221 vụ việc; số vụ việc giải quyết sau
khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá
sản là 248 vụ việc. Bên cạnh đó, nhiều
Kiểm sát viên còn thiếu kinh nghiệm đối
với công tác này.
Mặt khác, do phạm vi thực hiện quyền
kiến nghị, quyền kháng nghị của Viện
kiểm sát hẹp hơn so với các loại tố tụng
khác nên cần kiến nghị Quốc hội sửa đổi,
bổ sung Luật Phá sản theo hướng quy
định bổ sung mở rộng thẩm quyền của
Viện kiểm sát trong hoạt động này như
bổ sung quyền kháng nghị của Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp; sửa đổi thuật ngữ
“kiến nghị” thành “kháng nghị” tại Điều
Cuối cùng, cần không ngừng nâng cao
nhận thức và chất lượng công tác kiểm sát
các vụ việc phá sản. Điều này càng cần
thiết hơn trong bối cảnh tình hình hiện nay
khi có nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã rơi
vào tình trạng khó khăn do bị ảnh hưởng
nặng nề của dịch bệnh Covid-19, việc sản
xuất, kinh doanh bị ngưng trệ, đình đốn,
113 Luật Phá sản năm 2014 như đã phân không đủ tiền trả lương cho công nhân,
tích ở trên cụ thể như sau:
người lao động, nợ lãi tăng cao… dẫn đến
nguy cơ phá sản cao. Trong khi đó, không
ít đơn vị trong ngành Kiểm sát cũng chưa
thực sự quan tâm đến mảng công tác kiểm
sát này nên khi xảy ra vụ việc còn nhiều bị
động lúng túng, chất lượng công tác kiểm
sát chưa cao. Do vậy, rất cần thiết phải tập
trung khắc phục tình trạng này để nâng
cao chất lượng công tác kiểm sát trong
giải quyết các vụ việc phá sản./.
1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa
án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định giải
quyết đề nghị, kháng nghị theo Điều 112 của
Luật này …
2. Trường hợp có căn cứ quy định tại khoản
1 Điều này, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Tòa
án nhân dân đã ra quyết định giải quyết đề nghị,
kháng nghị theo Điều 112 của Luật này chuyển
hồ sơ vụ viꢀc phá sản cho Tòa án nhân dân tối
cao để xem xét giải quyết.
60 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Tính đặc thù về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị của viện kiểm sát trong tố tụng phá sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_dac_thu_ve_quyen_kien_nghi_quyen_khang_nghi_cua_vien_ki.pdf

