Tính đặc thù về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị của viện kiểm sát trong tố tụng phá sản

TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...  
CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG PHÁ SẢN  
THÁI VĂN ĐOÀN*  
Trong quá trình kiểm sát hoạt động tư pháp, quyền kháng nghị và quyền kiến nghị của  
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là những quyền pháp lý quan trọng, được ghi nhận trong  
nhiều Bộ luật, trong đó có Luật phá sản năm 2014. Bài viết đi sâu phân tích tính đặc thù  
về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng phá sản.  
Từ khóa: Quyền kiến nghị, quyền kháng nghị, Luật phá sản năm 2014, Viện kiểm sát  
nhân dân.  
Ngày nhận bài: 27/08/2020; Biên tập xong: 14/09/2020; Duyệt đăng: 28/01/2021  
In supervising judicial activities, right to petition and right to protest of the People’s  
Procuracy are important ones specified in many laws, including the 2014 Bankruptcy  
Law. This article analyzes specificity of right to petition and right to protest of the  
People’s Procuracy in bankruptcy proceedings.  
Keywords: Petition, protest, the 2014 Bankruptcy Law, the People’s Procuracy.  
1. Một số vấn đề chung về quyền quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm  
kháng nghị và quyền kiến nghị của Viện  
kiểm sát nhân dân  
pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền  
con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà  
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,  
cá nhân thì Viꢀn kiểm sát nhân dân phải kháng  
nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải  
quyết kháng nghị của Viꢀn kiểm sát nhân dân  
theo quy định của pháp luật”.  
Khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức VKSND  
năm 2014 quy định về “quyền kiến nghị”  
của Viện kiểm sát: “Trường hợp hành vi,  
quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong  
hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít  
nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng  
nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì Viꢀn  
kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá  
nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý  
nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu  
phát hiꢀn sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản  
lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc  
phục và áp dụng các biꢀn pháp phòng ngừa vi  
phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức,  
cá nhân liên quan có trách nhiꢀm xem xét, giải  
quyết, trả lời kiến nghị của Viꢀn kiểm sát nhân  
dân theo quy định của pháp luật”.  
Quyền kháng nghị và quyền kiến nghị  
của VKSND thể hiện vai trò, vị trí của  
VKSND khi phát hiện những vi phạm, thiếu  
sót của Tòa án, các cơ quan, tổ chức, cá nhân  
có liên quan nhằm khắc phục vi phạm, bảo  
đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm  
chỉnh, chính xác, thống nhất, bảo vệ quyền  
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá  
nhân, bảo vệ lợi ích Nhà nước. Các quyền  
năng này được quy định tại nhiều văn bản  
tố tụng khác nhau như tố tụng hình sự, tố  
tụng dân sự, tố tụng hành chính và trong tố  
tụng phá sản. Đặc biệt, Luật Phá sản năm  
2014 đã ghi nhận những quyền năng này  
với có những nét đặc thù rất riêng.  
Khái niệm về “quyền kháng nghị” và  
“quyền kiến nghị” của VKSND trong công  
tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong  
hoạt động tư pháp được quy định rất rõ trong  
Luật tổ chức VKSND năm 2014. Cụ thể:  
Khoản 1 Điều 5 Luật tổ chức VKSND  
năm 2014 quy định về “quyền kháng nghị”  
của Viện kiểm sát: “Trường hợp hành vi, bản  
án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm  
<?>ꢀ* Thạc sĩ, Vụ 10 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao.  
55 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...  
Như vậy, Luật tổ chức VKSND năm 2014 dân (TAND) cấp tỉnh (cấp trên trực tiếp của  
đã phân định các trường hợp Viện kiểm sát TAND cấp huyện đã ban hành quyết định  
giải quyết đề nghị, kháng nghị quyết định  
tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản).  
Ví dụ: TAND huyện T, tỉnh Đ ra quyết định  
tuyên bố doanh nghiệp Y phá sản. Khi có  
kháng nghị của VKSND huyện T (cùng cấp),  
tỉnh Đ theo luật định, TAND cấp trên trực tiếp  
có thẩm quyền giải quyết kháng nghị đối với  
quyết định tuyên bố doanh nghiệp Y phá sản  
là TAND tỉnh Đ. Trường hợp khác, “Tòa án  
nhân dân cấp trên trực tiếp” cũng có thể là  
TAND cấp cao (cấp trên trực tiếp của TAND  
cấp tỉnh đã ban hành quyết định giải quyết  
đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố  
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của TAND  
cấp dưới). Tuy nhiên, trong mọi trường hợp,  
VKSND cấp cao đều không có quyền kiến  
nghị theo thủ tục đặc biệt mà thẩm quyền này  
đều thuộc về VKSND tối cao khi có các căn cứ  
quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 113 này.  
Trong thực tế, nhiều trường hợp VKSND các  
cấp hoặc những người tham gia tố tụng phá  
sản bị nhầm lẫn về thẩm quyền này vì cho  
rằng VKSND cấp cao là cấp trên trực tiếp có  
thẩm quyền kiến nghị theo thủ tục đặc biệt.  
VKSND cấp tỉnh hoặc đương sự gửi văn bản,  
đơn đề nghị VKSND cấp cao kiến nghị theo  
thủ tục đặc biệt đối với quyết định giải quyết  
đề nghị, kháng nghị của TAND cấp trên trực  
tiếp là chưa đúng thẩm quyền, mà phải gửi  
về VKSND tối cao theo quy định tại Điều 113  
Luật phá sản năm 2014.  
thực hiện “quyền kháng nghị” hoặc “quyền  
kiến nghị”.  
2. Quyền kháng nghị và quyền kiến  
nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố  
tụng phá sản  
Cụ thể hóa quyền kháng nghị và quyền  
kiến nghị trong tố tụng phá sản, khoản 1  
Điều 21 Luật Phá sản năm 2014 quy định:  
“Viꢀn kiểm sát nhân dân kiểm sát viꢀc tuân theo  
pháp luật trong quá trình giải quyết phá sản,  
thực hiꢀn các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng  
nghị theo quy định của Luật này”.  
2.1. Về quyền kiến nghị của Viện kiểm  
sát nhân dân  
Luật Phá sản năm 2014 quy định trong  
quá trình kiểm sát giải quyết phá sản, Viện  
kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị đối với  
vi phạm nhằm bảo đảm việc giải quyết  
vụ việc phá sản đúng pháp luật, kịp thời,  
khắc phục vi phạm. Quyền kiến nghị của  
Viện kiểm sát được thực hiện trong những  
trường hợp sau:  
- Kiến nghị theo thủ tục đꢁc biꢀt  
Khoản 1 Điều 113 Luật Phá sản năm  
2014 quy định:  
“1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa  
án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định giải  
quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của Luật  
này mà có đơn đề nghị xem xét lại của người  
tham gia thủ tục phá sản, kiến nghị của Viꢀn  
kiểm sát nhân dân tối cao hoꢁc kiến nghị của Tòa  
án nhân dân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối  
cao xem xét lại quyết định đó khi có một trong  
các căn cứ sau:  
Song, liên quan đến nội dung nêu trên,  
tại Điều 113 Luật Phá sản năm 2014 khi  
viện dẫn Điều 112 của Luật này lại thể hiện:  
“Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án  
nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định giải  
quyết đề nghị, kiến nghị theo Điều 112 của  
Luật này” là không đúng, mà đây phải là  
“quyết định giải quyết đề nghị, kháng nghị (đối  
với quyết định tuyên bố doanh nghiꢀp, hợp tác  
xã phá sản)” của TAND cấp trên trực tiếp  
bởi Điều 112 Luật Phá sản năm 2014 đã  
a) Có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về phá sản;  
b) Phát hiꢀn tình tiết mới có thể làm thay đổi  
cơ bản nội dung quyết định tuyên bố phá sản mà  
Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá  
sản không thể biết được khi Tòa án nhân dân ra  
quyết định”.  
“Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp” quy định về việc TAND cấp trên trực tiếp  
theo khoản 1 Điều này có thể là Toà án nhân “giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định  
56 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
THÁI VĂN ĐOÀN  
tuyên bố doanh nghiꢀp, hợp tác xã phá sản” của  
TAND cấp dưới. Do vậy, chúng tôi đề nghị  
cơ quan chức năng sớm sửa đổi nội dung  
này tại Điều 113 Luật Phá sản năm 2014, cụ  
thể như tại phần kiến nghị của bài viết.  
- Kiến nghị với Chánh án TAND cùng cấp  
về viꢀc trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản  
Theo quy định khoản 1 Điều 36 Luật  
Phá sản năm 2014, trong thời hạn 03 ngày  
làm việc kể từ ngày nhận được quyết định  
trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của  
TAND, “Viꢀn kiểm sát nhân dân cùng cấp có  
quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân  
đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu”.  
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ  
ngày nhận được đơn đề nghị xem xét lại,  
kiến nghị đối với quyết định trả lại đơn yêu  
Khoản 1 Điều 85 Luật Phá sản năm 2014  
quy định: Trường hợp phát hiện Nghị quyết  
của Hội nghị chủ nợ có vi phạm pháp luật,  
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày  
nhận được Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ,  
“Viꢀn kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến  
nghị với Chánh án Tòa án nhân dân đang giải  
quyết phá sản xem xét lại Nghị quyết của Hội  
nghị chủ nợ”.  
- Kiến nghị với Chánh án TAND đang  
giải quyết thủ tục phá sản về quyết định đình  
chỉ tiến hành thủ tục phá sản  
Khoản 2 Điều 86 Luật Phá sản năm  
2014 quy định: Trong thời hạn 15 ngày kể  
từ ngày nhận được quyết định, “Viꢀn kiểm  
sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị với  
Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết thủ  
cầu mở thủ tục phá sản, Chánh án TAND tục phá sản về quyết định đình chỉ tiến hành thủ  
đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu phải ra tục phá sản”. Quy định này cũng khác với  
một trong các quyết định: Giữ nguyên quyết  
định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản  
hoặc hủy quyết định trả lại đơn yêu cầu mở  
thủ tục phá sản.  
tố tụng dân sự, hành chính là Viện kiểm sát  
được quyền kháng nghị1 hoặc kiến nghị đối  
với quyết định đình chỉ tùy vào tính chất,  
mức độ vi phạm.  
- Kiến nghị với Chánh án TAND cấp trên  
trực tiếp về quyết định giải quyết đơn đề nghị  
xem xét lại, kiến nghị đối với quyết định trả lại  
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản  
Tiếp theo việc thực hiện quyền kiến nghị  
nêu trên, trong trường hợp không đồng ý  
với quyết định giải quyết đơn đề nghị xem  
xét lại, kiến nghị đối với quyết định trả lại  
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Chánh  
án Tòa án cùng cấp, VKSND cùng cấp vẫn  
có quyền kiến nghị với Chánh án TAND  
Do vậy, trong công tác kiểm sát, cần nắm  
vững những quy định riêng về 05 quyền kiến  
nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng phá sản  
để thực hiện quyền này có căn cứ, chính xác,  
đúng pháp luật, khắc phục vi phạm của Tòa  
án trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản.  
Ngoài ra, trong quá trình kiểm sát việc giải  
quyết phá sản, khi phát hiện những vi phạm  
khác (ít nghiêm trọng), những sơ hở thiếu sót  
của Toà án, cơ quan, tổ chức, cá nhân, Viện  
kiểm sát căn cứ vào khoản 1 Điều 21 Luật  
cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết đối Phá sản năm 2014 để thực hiện quyền kiến  
với quyết định của Chánh án TAND cùng nghị khắc phục vi phạm.  
cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ  
ngày nhận được quyết định (khoản 3 Điều  
36 Luật Phá sản năm 2014). Quyết định giải  
quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của  
Chánh án TAND cấp trên trực tiếp là quyết  
định cuối cùng.  
- Kiến nghị với Chánh án TAND cùng cấp  
đang giải quyết phá sản xem xét lại Nghị quyết  
của Hội nghị chủ nợ  
2.2. Về quyền kháng nghị của Viện kiểm  
sát nhân dân  
Tính đặc thù trong tố tụng phá sản thể  
hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát  
như sau:  
- Về tên gọi: Tố tụng phá sản quy định  
1ꢀ Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 143  
Luật tố tụng hành chính năm 2015  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 57  
TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...  
quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhưng - Về thẩm quyền kháng nghị: Khác  
không nêu cụ thể là “kháng nghị phúc thẩm” với tố tụng hình sự, dân sự, hành chính  
màchỉquyđịnhquyềnkhángnghịnóichung  
và cũng không có thủ tục “kháng nghị giám  
đốc thẩm” hay “kháng nghị tái thẩm” như  
trong tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.  
- Về đối tượng kháng nghị: Trong tố tụng  
phá sản, Tòa án không ban hành bản án mà  
chỉ ban hành quyết định giải quyết vụ việc.  
Song không phải quyết định nào cũng bị  
kháng nghị mà chỉ có 03 quyết định Viện  
kiểm sát được quyền kháng nghị là.  
+ Quyết định mở thủ tục phá sản  
(Điều 44);  
+ Quyết định không mở thủ tục phá  
sản (Điều 44);  
quy định Viện kiểm sát cùng cấp, Viện  
kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền  
kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định  
của Tòa án theo luật định3, trong tố tụng  
phá sản chỉ quy định Viện kiểm sát cùng  
cấp mới có thẩm quyền kháng nghị đối  
với 03 loại quyết định nêu trên của Tòa  
án cùng cấp. Và việc kháng nghị dừng  
lại ở đây, Luật Phá sản năm 2014 không  
quy định thủ tục kháng nghị giám đốc  
thẩm, tái thẩm nên Viện kiểm sát cấp trên  
cũng không có các quyền này (chỉ có thẩm  
quyền kiến nghị theo thủ tục đặc biệt tại  
Điều 113 Luật Phá sản năm 2014 và được  
phân tích như trên).  
+ Quyết định tuyên bố phá sản doanh  
nghiệp, hợp tác xã (Điều 111).  
3. Thực tiễn áp dụng quyền kiến nghị,  
quyềnkhángnghịcủaViệnkiểmsátnhândân  
Một điểm lưu ý là việc kháng nghị của  
Viện kiểm sát được thực hiện đối với các  
quyết định này đều đã có hiệu lực thi hành  
kể từ ngày ra quyết định (khoản 6 Điều  
42 và khoản 2 Điều 108 Luật Phá sản năm  
2014), không như thủ tục kháng nghị phúc  
thẩm đối với các bản án, quyết định chưa có  
hiệu lực trong các loại tố tụng hình sự, dân  
sự, hành chính.  
- Về thời hạn kháng nghị: Luật Phá sản  
không quy định thời hạn kháng nghị giống  
nhau (như các luật tố tụng hình sự, dân sự,  
hành chính quy định chung về thời hạn  
kháng nghị của VKSND cùng cấp là 15  
ngày đối với bản án, 07 ngày đối với quyết  
định2) mà tùy từng loại quyết định trong  
quá trình giải quyết phá sản. Theo đó, thời  
hạn kháng nghị đối với quyết định mở hay  
không mở thủ tục phá sản là 07 ngày kể từ  
ngày nhận được quyết định (khoản 1 Điều  
44), thời hạn kháng nghị đối với quyết định  
tuyên bố phá sản là 15 ngày kể từ ngày nhận  
Theo Báo cáo số 89/BC-VKSTC ngày  
08/6/2020 của VKSND tối cao về việc tổng  
kết 05 năm thi hành Luật Phá sản năm 2014  
trong ngành Kiểm sát nhân dân (từ năm  
2015 đến năm 2019), trong 05 năm kể từ  
khi thi hành Luật Phá sản năm 2014, toàn  
ngành Kiểm sát nhân dân ban hành 53 kiến  
nghị, 24 kháng nghị (kháng nghị quyết  
định không mở thủ tục phá sản: 04 vụ việc;  
kháng nghị quyết định mở thủ tục phá sản:  
07 vụ việc; kháng nghị quyết định tuyên bố  
doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản: 13 vụ  
việc), kết quả Tòa án chấp nhận 18/19 vụ  
việc, không chấp nhận kháng nghị 01 vụ  
việc, Viện kiểm sát rút kháng nghị 01 vụ  
việc, 04 vụ việc chưa giải quyết. Một số vi  
phạm có thể kể đến như:  
- Tòa án không chấp nhận yêu cầu mở thủ  
tục phá sản do xác định doanh nghiꢀp, hợp tác  
xã chưa mất khả năng thanh toán  
Ví dụ: Công ty H.A nợ của bà Nh số tiền  
được quyết định hoặc được thông báo hợp 3.793.000.000 đồng. Bà Nh đã nhiều lần yêu  
lệ quyết định (khoản 2 Điều 11).  
cầu công ty thanh toán nhưng không được  
2ꢀ Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 3ꢀ Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều  
280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 213 Luật 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 213 Luật  
tố tụng hành chính năm 2015.  
tố tụng hành chính năm 2015.  
58 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
THÁI VĂN ĐOÀN  
nên đã có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản  
Khi kiểm sát trường hợp này, cần lưu  
đối với công ty H.A. Trong quá trình giải ý trường hợp chủ nợ lạm dụng quyền nộp  
quyết, Tòa án nhân dân tỉnh Q đã ban hành đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với  
quyết định không mở thủ tục phá sản.  
doanh nghiệp, hợp tác xã đang gặp khó  
khăn tạm thời, nhằm đẩy doanh nghiệp,  
hợp tác xã vào tình trạng bị “ép phá sản”,  
làm ảnh hưởng đến môi trường kinh  
doanh lành mạnh và uy tín của doanh  
nghiệp, hợp tác xã, thậm chí có thể là  
nguyên nhân chính khiến cho doanh  
nghiệp, hợp tác xã làm ăn thua lỗ sau đó  
và phải “phá sản thật”.  
Qua xem xét thấy rằng: Tính đến ngày  
13/4/2017, Công ty H.A còn nợ thuế số  
tiền 2.743.000.000 đồng, nợ các nhà đầu tư  
88.576.000.000 đồng, nợ doanh nghiệp, cá  
nhân khác 19.139.000.000 đồng. Tổng cộng  
110.458.000.000 đồng. Trong khi đó, toàn  
bộ tài sản của công ty H.A được định giá là  
40.681.000.000 đồng, từ đó có đủ cơ sở xác  
định Công ty H.A mất khả năng thanh toán.  
Do đó, việc bà Nh yêu cầu mở thủ tục phá  
sản là có căn cứ. VKSND tỉnh Q đã kháng  
nghị đối với quyết định không mở thủ  
tục phá sản của TAND tỉnh Q và đã được  
TAND cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận hủy  
quyết định không mở thủ tục phá sản của  
TAND tỉnh Q.4  
- Xảy ra vi phạm về viꢀc áp dụng Bộ luật tố  
tụng dân sự để giải quyết tố tụng phá sản  
Ví dụ: Ngày 16/01/2018, TAND huyện  
Đ, tỉnh L thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục  
phá sản đối với Công ty I. Trong quá trình  
giải quyết, TAND huyện Đ ban hành  
Quyết định tuyên bố phá sản số 01/2018/  
QĐ-TBPS ngày 26/4/2018 tuyên bố Công  
ty I phá sản. Quyết định này không bị  
khiếu nại của người tham gia phá sản có  
quyền khiếu nại, không bị kháng nghị của  
VKSND huyện Đ, tỉnh L. Ngày 18/6/2018,  
VKSND tỉnh L có Công văn số 199/BC-  
VKS đề nghị VKSND cấp cao kháng nghị  
theo thủ tục giám đốc thẩm. VKSND cấp  
cao ban hành thông báo không kháng  
nghị giám đốc thẩm6.  
Như vậy, chỉ có VKSND huyện Đ, tỉnh  
L (VKSND cùng cấp với TAND huyện  
Đ) mới có quyền kháng nghị Quyết định  
tuyên bố phá sản số 01/2018/QĐ-TBPS ngày  
26/4/2018 của TAND huyện Đ theo Điều  
111 Luật Phá sản năm 2014. Tuy nhiên,  
VKSND huyện Đ đã không kháng nghị  
và người tham gia phá sản cũng không  
khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản nêu  
trên. Việc đề nghị VKSND cấp cao kháng  
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy  
định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  
- Tòa án chấp nhận yêu cầu mở thủ tục  
phá sản khi doanh nghiꢀp, hợp tác xã chưa mất  
khả năng thanh toán  
Ví dụ: Công ty G nộp đơn yêu cầu mở thủ  
tục phá sản đối với Công ty C. TAND thành  
phố H căn cứ tài liệu chứng minh công ty C  
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, từ đó  
nhận định Công ty C mất khả năng thanh  
toán và đã ban hành quyết định mở thủ tục  
phá sản đối với Công ty C. Trong khi đó,  
Báo cáo tài chính 06 tháng đầu năm 2017 của  
Công ty C thể hiện tổng tài sản của công ty  
là 2.232.000.000 đồng, nợ 1.739.000.000 đồng  
nên Công ty C tuy có chậm thanh toán cho  
Công ty G nhưng không mất khả năng thanh  
toán. Vì vậy, Tòa án ban hành quyết định mở  
thủ tục phá sản đối với Công ty C là không  
đúng. TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí  
Minh đã xét xử hủy quyết định mở thủ tục  
phá sản của TAND Thành phố H theo đề  
nghị của VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ  
Chí Minh.5  
07/3/2018 của VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.  
4ꢀ Thông báo rút kinh nghiệm số 26/TB-VC2-V3 ngày 6ꢀ Thông báo rút kinh nghiệm số 22/TB-VC3-V4  
16/7/2018 của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng.  
ngày 24/7/2018 của VKSND cấp cao tại Thành phố  
5ꢀ Thông báo rút kinh nghiệm số 06/TB-VC3-V4 ngày Hồ Chí Minh.  
Số 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 59  
TÍNH ĐẶC THÙ VỀ QUYỀN KIẾN NGHỊ, QUYỀN KHÁNG NGHỊ...  
là không đúng phạm vi điều chỉnh của Bộ Thêm vào đó, cần bổ sung quy định  
luật. Thủ tục đặc biệt quy định tại Điều 113 thẩm quyền kháng nghị của VKSND cấp  
Luật Phá sản năm 2014 chỉ được thực hiện  
sau khi đã thực hiện Điều 112 Luật này,  
xác định thẩm quyền thuộc về VKSND tối  
cao và TAND tối cao.  
trên trực tiếp đối với 03 loại quyết định  
như đã nêu ở phần trên của Tòa án với  
thời hạn gấp đôi thời hạn VKSND cấp  
dưới kháng nghị để bảo đảm khắc phục  
triệt để vi phạm và khắc phục tình trạng  
đã hết thời hạn kháng nghị của VKSND  
cấp dưới do có nhiều vụ việc phá sản hồ  
sơ rất dày, liên quan đến nhiều đối tượng,  
nhiều tài sản, nhiều khoản nợ ở nhiều tỉnh  
thành khác nhau và ở nước ngoài cũng  
ngày càng nhiều.  
Trong quá trình kiểm sát giải quyết  
phá sản, cần nắm vững các quy định của  
Luật Phá sản để thực hiện chức năng,  
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát  
về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị để  
áp dụng được chính xác, đúng pháp luật  
(tránh nhầm lẫn với các loại tố tụng khác),  
nhằm khắc phục vi phạm của Tòa án, bảo  
đảm pháp luật được thực hiện nghiêm  
chỉnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của các chủ thể tham gia phá sản, bảo vệ  
lợi ích Nhà nước.  
4. Một số nhận xét và kiến nghị  
Căn cứ số liệu và thực tiễn kiểm sát  
việc giải quyết vụ việc phá sản cho thấy,  
việc thực hiện các quyền kiến nghị, quyền  
kháng nghị của Viện kiểm sát trên thực tế  
còn khiêm tốn. Nguyên nhân là do số vụ  
việc phá sản thời gian qua chưa nhiều.  
Cũng theo Báo cáo số 89/BC-VKSTC,  
tổng số vụ việc trong 05 năm yêu cầu Tòa  
án mở thủ tục tuyên bố doanh nghiệp,  
hợp tác xã phá sản và Tòa án ra quyết  
định mở hoặc không mở thủ tục phá sản  
là 1.221 vụ việc; số vụ việc giải quyết sau  
khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá  
sản là 248 vụ việc. Bên cạnh đó, nhiều  
Kiểm sát viên còn thiếu kinh nghiệm đối  
với công tác này.  
Mặt khác, do phạm vi thực hiện quyền  
kiến nghị, quyền kháng nghị của Viện  
kiểm sát hẹp hơn so với các loại tố tụng  
khác nên cần kiến nghị Quốc hội sửa đổi,  
bổ sung Luật Phá sản theo hướng quy  
định bổ sung mở rộng thẩm quyền của  
Viện kiểm sát trong hoạt động này như  
bổ sung quyền kháng nghị của Viện kiểm  
sát cấp trên trực tiếp; sửa đổi thuật ngữ  
“kiến nghị” thành “kháng nghị” tại Điều  
Cuối cùng, cần không ngừng nâng cao  
nhận thức và chất lượng công tác kiểm sát  
các vụ việc phá sản. Điều này càng cần  
thiết hơn trong bối cảnh tình hình hiện nay  
khi có nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã rơi  
vào tình trạng khó khăn do bị ảnh hưởng  
nặng nề của dịch bệnh Covid-19, việc sản  
xuất, kinh doanh bị ngưng trệ, đình đốn,  
113 Luật Phá sản năm 2014 như đã phân không đủ tiền trả lương cho công nhân,  
tích ở trên cụ thể như sau:  
người lao động, nợ lãi tăng cao… dẫn đến  
nguy cơ phá sản cao. Trong khi đó, không  
ít đơn vị trong ngành Kiểm sát cũng chưa  
thực sự quan tâm đến mảng công tác kiểm  
sát này nên khi xảy ra vụ việc còn nhiều bị  
động lúng túng, chất lượng công tác kiểm  
sát chưa cao. Do vậy, rất cần thiết phải tập  
trung khắc phục tình trạng này để nâng  
cao chất lượng công tác kiểm sát trong  
giải quyết các vụ việc phá sản./.  
1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa  
án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định giải  
quyết đề nghị, kháng nghị theo Điều 112 của  
Luật này …  
2. Trường hợp có căn cứ quy định tại khoản  
1 Điều này, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Tòa  
án nhân dân đã ra quyết định giải quyết đề nghị,  
kháng nghị theo Điều 112 của Luật này chuyển  
hồ sơ vụ viꢀc phá sản cho Tòa án nhân dân tối  
cao để xem xét giải quyết.  
60 Khoa học Kiểm sát  
Số 01 - 2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 15040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tính đặc thù về quyền kiến nghị, quyền kháng nghị của viện kiểm sát trong tố tụng phá sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_dac_thu_ve_quyen_kien_nghi_quyen_khang_nghi_cua_vien_ki.pdf