Năng lực cạnh tranh động: Nghiên cứu thực nghiệm tại công ty Cổ phần thép Thái Bình Dương

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐỘNG: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI  
CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP THÁI BÌNH DƯƠNG  
COMPETETIVE ADVANTAGE: THE EMPIRICAL RESEARCH AT THE PACIFIC  
JOINT STOCK STEEL CORPORATION  
TS. Nguyễn Phúc Nguyên, Vũ Quỳnh Anh  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang hội nhập toàn cầu, sự cạnh tranh không còn gói gọn trong phạm vi  
quốc gia mà nó vượt ra biên giới quốc tế. Các doanh nghiệp đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt chưa  
từng có. Một câu hỏi đặt ra: tại sao một số công ty lại thành công lớn mạnh đến vậy, trong khi một số khác  
không thể tồn tại quá vài tháng? Một trong những nhân tố hàng đầu quyết định sự thành bại của doanh  
nghiệp chính là năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp có được năng lực cạnh tranh cao thì tồn tại và ngược lai,  
doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thấp thì thất bại. Và trong môi trường toàn cầu thì ngày càng khẳng  
định tính đúng đắn của nó. Vì thế yêu cầu cấp bách đối với các doanh nghiệp là phải phát hiện ra các nguồn  
lực tạo ra lợi thế cạnh tranh rồi từ đó duy trì và phát triển nhằm đảm bảo lợi thế cạnh tranh bền vững trong  
tương lai trước những thay đổi nhanh chóng của thị trường. Bài báo tập trung vào nghiên cứu năng lực cạnh  
tranh động, xây dựng mô hình để đánh giá tiêu thức này. Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm tại công ty cổ  
phần thép Thái Bình Dương, bài báo gợi mở những hàm ý về mặt lý thuyết và thực tế cho các nhà quản lý  
trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.  
Từ khoá: Năng lực cạnh tranh; công ty cổ phần; nghiên cứu thực nghiệm; Cty Thép Thái Bình Dương.  
ABSTRACT  
In the context of a globally integrated economy, competition is not encapsulated within any country; it goes  
beyond international border. Enterprises are confronted with the fiercest competition ever. The question of  
why some companies succeed so strongly while others can’t survive more than a few months becomes the  
target question of this paper. One of the primary factors determining the success or failure of an enterprise is  
its competitiveness. Enterprises with high competitiveness can exist and vice versa. This fact has increasingly  
proved its accuracy in the global environment. Hence enterprises are urged to discover the resources to  
create competitive advantage and thereby maintain and develop in order to ensure sustainable competitive  
advantage in the future to cope with the rapidly changes of the market. This paper focuses on competitive  
research activities and building models to assess this criterion. On the basis of empirical research at Pacific  
steel company, the paper suggests theoretical and practical implications for managers to improve the  
competitiveness of enterprises.  
Keywords: Dynamic competitiveness; joint stock company; empirical study; The Pacific Joint Stock Steel  
Corporation.  
của các doanh nghiệp có tiềm năng xâm nhập  
thị trường), trong đó cơ cấu ngành là yếu tố  
quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh.  
1. Lý thuyết cạnh tranh truyền thống  
Lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter  
có nguồn gốc từ kinh tế học tổ chức được tổng  
quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu  
ngành, sự vận hành hay chiến lược của doanh  
nghiệp và kết quả kinh doanh của ngành.  
Porter đã ứng dụng trong xây dựng chiến lược,  
đặc biệt là mô hình năm lực cạnh tranh (bao  
gồm cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong  
cùng ngành, áp lực của khách hàng, áp lực nhà  
cung cấp, áp lực của sản phẩm thay thế, áp lực  
Lý thuyết nguồn lực với quan điểm dựa  
vào tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng một  
ngành thường sử dụng những chiến lược kinh  
doanh khác nhau vì mỗi doanh nghiệp xây  
dựng chiến lược kinh doanh dựa trên chính  
nguồn lực của doanh nghiệp đó. Theo Barney  
(1991), nguồn lực được cho là giúp thiết lập và  
duy trì lợi thế cạnh tranh miễn là nó đáp ứng  
14  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
các tiêu chuẩn: (1) có giá trị, (2) hiếm, (3) khó  
hoạt động liên tục trong một tổ chức nhất định,  
trong khi Rindova và Kotha (2001), thông qua  
nghiên cứu thực nghiệm của họ, xác định năng  
lực động bất ngờ xuất hiện và phát triển [15,  
p.p.31-35].  
bắt chước, (4) không thể thay thế, được gọi tắt  
là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Non-  
substitutable)[2].  
Cạnh tranh theo quan điểm của  
Porter(1985) đã bỏ qua sự khác nhau giữa các  
công ty và sự biến động của môi trường. Quan  
điểm RBV của Barney đã giải quyết được một  
phần nhược điểm của mô hình năm lực lượng  
cạnh tranh (sự khác nhau của các công ty)  
nhưng vẫn chưa nhận thức được sự biến động  
của môi trường kinh doanh.  
Các nghiên cứu về năng lực động của các  
học giả trên đã thể hiện rõ mối quan tâm và  
tầm quan trọng của vấn đề này. Các học giả  
nhận rõ tầm quan trọng của những thay đổi môi  
trường xung quanh bắt buộc các công ty phải  
có những thay đổi cho phù hợp. Chỉ nguồn lực  
không thì không đủ để công ty duy trì lợi thế  
cạnh tranh lâu dài, công ty cần có khả năng để  
sử dụng những nguồn lực đó một cách có hiệu  
quả nhất trong thời kỳ có sự biến đổi nhanh về  
công nghệ. Khái niệm năng lực động ra đời  
giải quyết tiếp bài toán còn vướng mắc. Tuy  
nhiên các học giả vẫn còn phải trả lời một số  
câu hỏi: Làm thế nào để phân biệt giữa nguồn  
lực của công ty và năng lực động, quy trình và  
khả năng? Có sự tương quan chuyển hóa năng  
lực động giữa các công ty hay không? Mối quan  
hệ giữa năng lực động và các biến số tổ chức  
khác? Đó chính là câu hỏi mà Wang đặt ra trong  
phần nghiên cứu của mình năm 2007.  
2. Lý thuyết năng lực động  
Lý thuyết năng lực động lấy nguồn gốc từ  
lý thuyết nguồn lực, tuy nhiên nó đã giải quyết  
điểm yếu lớn nhất của lý thuyết cũ bởi việc  
xem xét sự vận động của môi trường kinh  
doanh.  
Theo Teece D.J, Pisano G. & Shuen A.  
(1997), năng lực động được định nghĩa là “khả  
năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại  
những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng  
với thay đổi của môi trường kinh doanh”[14].  
Nguồn năng lực động là cơ sở để tạo lợi thế  
cạnh tranh và đem lại kết quả kinh doanh của  
doanh nghiệp [8].  
Đầu tiên, Wang xác định năng lực động  
như định hướng hành vi của một công ty liên  
tục tích hợp, cấu hình lại, đổi mới và tái tạo  
nguồn lực và khả năng của mình, và quan  
trọng nhất là nâng cấp và xây dựng lại năng  
lực cốt lõi của mình để đáp ứng với môi trường  
thay đổi để đạt được và duy trì lợi thế cạnh  
tranh. Theo định nghĩa này, Wang lập luận  
rằng năng lực động không chỉ đơn giản là quy  
trình, mà nó là tác nhân tạo nên quy trình. Các  
quy trình thường được biểu đạt thông qua cấu  
trúc rõ ràng và vì vậy nó cũng dễ dàng được  
chuyển từ công ty này sang công ty khác. Khả  
năng đề cập đến năng lực của một công ty để  
triển khai các nguồn lực, cách kết hợp các quá  
trình và những yếu tố ngầm (như bí quyết và sự  
lãnh đạo) tồn tại trong các quy trình đó[5]. Do  
đó, khả năng của công ty thường được tạo  
dựng và phát triển theo thời gian thông qua các  
tương tác phức tạp giữa các nguồn lực của  
công ty [1].  
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình,  
Teece D.J có sự nhập nhằng giữa hai niệm:  
năng lực và khả năng. tác giả đã xác định khả  
năng là "vai trò quan trọng của quản lý chiến  
lược trong việc thích ứng, tích hợp và cấu hình  
lại các kỹ năng tổ chức nội bộ và nguồn lực  
bên ngoài, và năng lực chức năng để phù hợp  
với các yêu cầu của một môi trường đang thay  
đổi" [10]. Điều này là hầu như không khác với  
định nghĩa của chính tác giả về năng lực động  
là "khả năng của công ty để tích hợp, xây  
dựng, và năng lực cấu hình lại nội bộ và bên  
ngoài để giải quyết môi trường thay đổi nhanh  
chóng" [24, p.p.516] . Wang đã chỉ ra sự trùng  
lặp này trong nghiên cứu của mình năm 2007  
Trong nghiên cứu của mình vào năm 2007,  
Wang đã chỉ ra sự rời rạc của các nghiên cứu  
cũ, ví dụ như nghiên cứu của Zollo và Winter  
(2002) cho rằng năng lực động có cấu trúc và  
15  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Với sự phân biệt khái niệm trên đã chỉ ra  
tôi thừa nhận rằng năng lực động là một nguồn  
nguồn lực là nền tảng và là cơ sở tạo ra khả  
năng của công ty. Nguồn lực có thể là một  
nguồn lợi thế cạnh tranh khi được thể hiện bởi  
các đặc điểm VRIN. Tuy nhiên, trong môi  
trường năng động, VRIN không tồn tại được  
qua thời gian và do đó không thể là một nguồn  
lợi thế cạnh tranh bền vững. Khả năng là điều  
cốt lõi, và khi các công ty chứng minh khả  
năng triển khai các nguồn lực để đạt được một  
mục tiêu mong muốn họ có khả năng dẫn đến  
cải thiện hiệu suất[11]. Lúc này, năng lực cốt  
lõi là tổng hợp của nguồn lực và khả năng của  
một công ty, chính là lợi thế cạnh tranh của  
công ty tại một thời điểm nhất định.  
lợi thế cạnh tranh bền vững”.  
Dựa trên các kết quả thực nghiệm liên  
quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực  
động thực hiện từ năm 1995-2005, Wang đã  
xác định ba yếu tố thành phần chính của năng  
lực động, cụ thể là khả năng thích nghi, khả  
năng hấp thụ và khả năng sáng tạo.  
Tuy nhiên, ngay cả những năng lực cốt lõi  
có thể trở thành không thích hợp hoặc thậm chí  
cứng nhắc khi môi trường thay đổi[11]. Trong  
điều kiện như vậy, các công ty đã tự tạo ra một  
“cái bẫy năng lực” cho bản thân[42]. Do đó,  
năng lực động nhấn mạnh vào việc theo đuổi  
liên tục sự cấu hình lại, đổi mới và tái tạo các  
nguồn lực, khả năng và năng lực cốt lõi để giải  
quyết các thay đổi môi trường của một công  
ty[11]. Collis (1994)[7] đã chỉ rõ rằng năng lực  
động tỉ lệ thuận với sự thay đổi của các khả  
năng. Vì vậy, Wang cho rằng năng lực động  
suy cho cùng là khả năng làm cho tổ chức có  
hiệu suất dài hạn, chứ không phải chỉ đơn giản  
là “tập hợp con” trong khả năng của công ty  
như Teece (1997) đã định nghĩa.  
Hình 1.1. Mô hình năng lực động của Wang C.L  
2.1. Khả năng thích nghi  
Khả năng thích nghi là khả năng của một  
doanh nghiệp để thích ứng sản phẩm - thị  
trường của mình nhằm tận dụng được cơ hội  
bên ngoài; bao quát thị trường: giám sát khách  
hàng và đối thủ cạnh tranh, phân bổ nguồn lực  
cho các hoạt động tiếp thị; và đáp ứng để thay  
đổi điều kiện thị trường một cách nhanh chóng  
[12]. Nhất gần đây là nghiên cứu của Gibson  
và Brikinshaw đo lường khả năng thích nghi  
thông qua việc đánh giá liệu hệ thống quản lý  
của công ty có khuyến khích mọi người đổi  
mới- thách thức truyền thống lạc hậu, quản lý  
linh hoạt cho phép công ty để đáp ứng nhanh  
chóng với những thay đổi trên thị trường[9].  
Wang đã vận dụng các khái niệm trên vào mô  
hình của mình và xác định các nhân tố ảnh  
hưởng gồm:  
Wang cho rằng năng lực sử dụng các khả  
năng “sớm, nhanh chóng và bất ngờ” chính là  
linh hồn tạo nên năng lực động. Nếu một  
doanh nghiệp được xem như là tổng hợp các  
nguồn lực và khả năng thì năng lực động nhấn  
mạnh quá trình chuyển đổi các nguồn tài  
nguyên công ty và khả năng vào kết quả đầu ra  
trong sản phẩm hay dịch vụ cung cấp giá trị  
vượt trội cho khách hàng. Điều này cũng hoàn  
toàn phù hợp với lập luận của Barney và các  
cộng sự (2001a, b) [3] [4]rằng khả năng thay  
đổi nhanh chóng và sự phản ứng bất ngờ với  
những thay đổi trên thị trường là khó cho  
những người khác bắt chước và do đó có thể là  
một nguồn lợi thế cạnh tranh bền vững, “chúng  
• Phản ứng với đối thủ cạnh tranh: thể  
hiện sự theo dõi của doanh nghiệp đối với các  
hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh.  
• Đáp ứng khách hàng: thể hiện sự đáp  
ứng của doanh nghiệp theo sự thay đổi về nhu  
cầu và ước muốn của khách hàng.  
• Hệ thống quản lý khuyến khích đổi  
mới, thách thức truyền thống lạc hậu.  
16  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
định sự tồn tại và thành công của tổ chức  
• Hệ thống quản lý linh hoạt nhanh  
chóng đáp ứng thị trường.  
(Doyle (1998), Quinn (2000)). Tuy nhiên, có ít  
bằng chứng thực nghiệm về phát triển và xác  
nhận của tổ chức sáng tạo quy mô. Thông qua  
tập hợp các nghiên cứu, Wang đã thực hiện  
nghiên cứu thực nghiệm trên 200 mẫu để xác  
định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sáng  
tạo của công ty. Theo định nghĩa của Wang,  
khả năng sáng tạo đề cập đến khả năng của một  
công ty phát triển các sản phẩm mới và/hoặc  
tìm ra thị trường mới, kết hợp với hành vi sáng  
tạo và quá trình sáng tạo [13]. Bốn yếu tố ảnh  
hưởng đến khả năng sáng tạo bao gồm:  
2.2. Khả năng hấp thụ  
Khả năng hấp thụ nêu bật tầm quan trọng  
của việc tiếp thu tri thức bên ngoài, kết hợp với  
kiến thức nội bộ và hấp thụ nó để sử dụng tạo  
nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho công ty.  
Cohen và Levinthal đề cập đến khả năng hấp  
thụ là “khả năng của một công ty để nhận ra  
giá trị của thông tin bên ngoài, mới, hòa đồng,  
và áp dụng nó để thương mại” [6]. Các công ty  
có khả năng hấp thụ cao hơn chứng minh khả  
năng mạnh mẽ hơn từ việc học tập ở các đối  
tác, tích hợp thông tin đối ngoại và biến nó  
thành kiến thức của mình. Theo nghiên cứu của  
Zahra và George cho rằng khả năng hấp thụ là  
một cấu trúc đa chiều và đề xuất bốn yếu tố  
cấu thành xây dựng khả năng hấp thụ: mua lại  
kiến thức, đồng hóa, chuyển đổi và khai thác  
[16]. Mô hình sử dụng 4 yếu tố này làm nền  
tảng cho các chỉ số ảnh hưởng đến năng lực  
hấp thụ.  
• Sáng tạo sản phẩm: sự mới lạ, độc đáo  
đáp ứng yêu cầu thị trường một cách kịp thời.  
• Sáng tạo thị trường: xác định phân  
khúc thị trường mới hoặc sản phẩm cũ nhưng  
với việc áp dụng các chương trình tiếp thị mới  
để thúc đẩy các sản phẩm và dịch vụ.  
• Sáng tạo quá trình: nắm bắt sự ra đời  
của sản xuất mới phương pháp, phương pháp  
quản lý mới, công nghệ mới có thể được sử  
dụng để cải thiện sản xuất và quy trình quản lý.  
• Mua lại đề cập đến khả năng của  
doanh nghiệp để xác định và tiếp thu kiến thức  
bên ngoài mà là rất quan trọng cho các hoạt  
động của mình.  
• Sáng tạo hành vi: sự sẵn sàng quản lý  
để thay đổi, và cam kết khuyến khích những  
cách thức mới làm điều mới, cũng như sự sẵn  
sàng để thúc đẩy những ý tưởng mới, trong đó  
văn hóa đóng vai trò như một chất xúc tác của  
sự đổi mới.  
• Đồng hóa đề cập đến thói quen và quy  
trình của doanh nghiệp cho phép nó để phân  
tích, xử lý, giải thích và hiểu những thông tin  
thu được từ các nguồn bên ngoài.  
2.4. Mối quan hệ giữa ba thành phần  
• Chuyển đổi cho thấy khả năng của  
doanh nghiệp để phát triển và tinh chỉnh các  
thói quen giúp kết hợp các hiện có kiến thức  
với kiến thức mới và đồng hóa.  
Nghiên cứu thực nghiệm của Michael J.  
Rouse (2008) cho kết quả khả năng học hỏi,  
hấp thụ các kiến thức mới từ môi trường giúp  
công ty đáp ứng với các thay đổi của môi  
trường, nó được gọi là khả năng thích ứng. Khả  
năng thích ứng có thể giúp thúc đẩy và dẫn dắt  
sự đổi mới về chiến lược.  
• Khai thác đề cập đến khả năng của  
doanh nghiệp để kết hợp kiến thức mới vào  
hoạt động.  
Hay nghiên cứu thực nghiệm từ 300 công  
ty MSC, phó giáo sư tiến sĩ Khairuddin Idris đã  
kết luận khả năng sáng tạo của các công ty dự  
2.3. Khả năng sáng tạo  
Khả năng để mang lại sự đổi mới được  
công nhận là một trong những yếu tố quyết  
17  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
kiến sẽ tăng nếu họ có khả năng phát triển tốt  
3.3. Tiến trình nghiên cứu  
trong việc mua lại, phổ biến kiến thức hiểu biết  
và sử dụng kiến thức mới (khả năng hấp thụ).  
3. Ứng dụng mô hình năng lực động của  
Wang vào công ty cổ phần thép Thái Bình  
Dương  
3.1. Mô hình nghiên cứu  
Hình 3.1. Mô hình đề xuất ban đầu  
3.2. Giả thuyết nghiên cứu  
Hình 3.2. Tiến trình nghiên cứu  
Nhóm giả thuyết về quan hệ giữa các  
khả năng tạo nên năng lực động  
3.3.1. Nghiên cứu định tính  
Tác giả sử dụng phương pháp thảo luận với  
nhân viên kinh doanh của công ty và kết quả  
cho thấy có thêm 15 item được đưa vào biến  
thích nghi để phù hợp với đặc điểm của công  
ty.  
•
H1: Khi khả năng thích nghi được  
đánh giá tăng hoặc giảm thì năng lực động của  
công ty sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.  
•
H2: Khi khả năng hấp thụ được đánh  
Nghiên cứu tiền kiểm định  
giá tăng hoặc giảm thì năng lực động của công  
ty sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng  
Tác giả đã thực hiện tiền kiểm định với 15  
mẫu, các đối tượng ngẫu nhiên ở các công ty  
khác nhau trong ngành thép. Thực hiện nghiên  
cứu Cronbach Alpha để tiến để xác định độ tin  
cậy của nhóm biến đưa vào. Kết quả độ tin cậy  
Cronbach Alpha cho thấy có 11 item mới được  
đưa vào mô hình. Vậy, tác giả vẫn sử dụng ba  
nhóm yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh  
động như mô hình của Wang (khả năng thích  
nghi, khả năng hấp thụ, khả năng sáng tạo).  
Tuy nhiên, các item tác động đến 3 nhóm yếu  
tố đã có sự thay đổi để phù hợp với đặc điểm  
của ngành và công ty.  
• H3: Khi khả năng sáng tạo được đánh giá  
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty  
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng  
Nhóm giả thuyết sự khác biệt trong  
đánh giá các nhân tố tạo nên năng lực động  
với các nhóm khách hàng khác nhau  
•
H4: Có sự khác biệt về đánh giá khả  
năng thích nghi của công ty theo nhóm khách  
hàng  
• H5: Có sự khác biệt về đánh giá khả năng  
sáng tạo của công ty theo nhóm khách hàng  
18  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
3.3.2. Nghiên cứu định lượng  
động là 67.237%. Kết quả thay đổi về biến  
quan sát so với mô hình nghiên cứu ban đầu.  
Bảng câu hỏi điều tra cho hai đối tượng:  
nhân viên và khách hàng. Trong mô hình có 3  
nhóm: khả năng thích nghi, khả năngg hấp thụ  
và khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, nếu chỉ thực  
hiện nghiên cứu cho đối tượng khách hàng thì  
không thể đánh giá được khả năng hấp thụ của  
công ty. Và nếu chỉ thực hiện cho đối tượng  
nhân viên thì tính khách quan khi đánh giá về  
các khả năng trên của công ty không cao. Vì  
vậy việc thiết kế hai bảng câu hỏi dành cho hai  
đối tượng là cần thiết.  
Nhân tố số 1 gồm: DTCT2, DTCT3,  
DTCT5, KH1, KH2, KH3, KH5, KH8,  
QLLH2, QLLH3, QLLH4.  
Nhân tố số 2 gồm: SP2, SP3,TT1, TT2,  
QT2, QT3, QT4.  
Đối với thang đo năng lực động, EFA trích  
được 1 yếu tố có KMO là 0.682 và phương sai  
trích được là 78.2%.  
Giả thuyết cho mô hình được hiệu chỉnh  
H1: Khi khả năng thích nghi được đánh giá  
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty  
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.  
3.4. Kết quả nghiên cứu đối với đối tượng  
khách hàng  
3.4.1. Thông tin mẫu  
H3: Khi khả năng sáng tạo được đánh giá  
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty  
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.  
Theo loại hình doanh nghiệp: Công ty  
TNHH chiếm tỉ lệ lớn nhất trong cơ cấu khách  
hàng của công ty với 53.2%, đối tượng khách  
hàng lớn thứ hai là công ty tư nhân chiếm  
19.2%, công ty cổ phần 16.3%, công ty liên  
doanh chiếm 5.9%, hai đối tượng khách hàng  
nhà nước và công ty nước ngoài chỉ chiếm hơn  
5%.  
H4: Có sự khác biệt về đánh giá khả năng  
thích nghi của công ty theo nhóm khách hàng.  
H5: Có sự khác biệt về đánh giá khả năng  
sáng tạo của công ty theo nhóm khách hàng.  
3.4.4. Kiểm định sự phù hợp của mô hình  
bằng hồi quy bội  
Theo loại hình kinh doanh: 56.7% là nhà  
phân phối, 36.9% là nhà thầu thi công và 6.4%  
với là chủ đầu tư.  
Hệ số R2 điều chỉnh (Adjusted R Square) =  
0.712, Sig. = 0.000 < 0. cho thấy mô hình hồi  
quy bội vừa xây dựng là phù hợp với tổng thể  
nghiên cứu và có thể được sử dụng.  
3.4.2. Kiểm định bằng độ tin cậy Cronbach  
Alpha  
Căn cứ vào kết quả trên bảng Model  
Summaryb có hệ số Durbin – Watson = 1.845  
kết luận mô hình hồi quy vừa xây dựng không  
có hiện tượng tương quan. Hệ số VIF đều nhỏ  
hơn 5 có thể kết luận không có hiện tượng đa  
cộng tuyến xảy ra. Và phân phối này có Mean  
≈ 0, Std. Dev. = 0.995 tức gần bằng 1, do đó ta  
có thể kết luận mô hình phân phối chuẩn.  
Kết quả kiểm định thang đo thành phần  
năng lực động cho thấy có 8 biến bị loại đó là  
biến DTCT1, DTCT4, KH4, KH6, KH7,  
QLLH1, SP1, QT1. Vì vậy chỉ còn lại 18 biến  
quan sát được sử dụng trong phân tích EFA  
tiếp theo. Hệ số Cronbach Alpha của thang đo  
năng lực động đạt giá trị khá cao, đạt điều kiện  
thực hiện phân tích EFA.  
Cũng từ kết quả hồi quy trên, các giả  
thuyết H1 và H3 được chấp nhận:  
3.4.3. Phân tích EFA  
Sau khi rút trích nhân tố, tổng phương sai  
trích được của thang đo thành phần năng lực  
19  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
- Khả năng thích nghi có mối quan hệ  
dương với năng lực động hay khả năng thích  
nghi tăng thì năng lực động tăng và ngược lại.  
Nhân tố số 2 gồm các biến ML2, ML3,  
DH1, DH2, DH3, CD2, CD3, KT1, KT2, KT3.  
Nhân tố số 3 gồm các biến SP2, SP3, TT1,  
TT2, QT2, QT3, QT4, HV1, HV2, HV3, HV4.  
- Khả năng sáng tạo có mối quan hệ dương  
với năng lực động. Khi khả năng sang tạo càng  
cao thì càng năng lực động của công ty.  
Đối với thang đo năng lực động, EFA trích  
được 1 yếu tố có KMO là .720 và phương sai  
trích được là 79.858%.  
Từ những nhận xét trên ta có thể kết luận  
mô hình xây dựng phù hợp.  
Giả thuyết điều chỉnh  
H1: Khi khả năng thích nghi được đánh giá  
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty  
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.  
- Phương trình hồi quy có dạng như sau:  
Y= - 0.136 + 0.519 khả năng thích nghi +  
0.499 khả năng sáng tạo  
H2: Khi khả năng hấp thụ được đánh giá  
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty  
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.  
3.4.5. Phân tích ANOVA  
Mục đích: kiểm định có sự khác biệt của  
yếu tố loại hình kinh doanh đến việc đánh giá  
các khả năng ảnh hưởng đến năng lực động?  
H3: Khi khả năng sáng tạo được đánh giá  
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty  
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.  
Kết quả phân tích cho thấy: không có sự  
khác biệt giữa các nhóm khách hàng trong việc  
đánh giá nhân tố khả năng thích nghi và đánh  
giá nhân tố sáng tạo (sig. > 0.05). Như vậy, tất  
cả các giả thuyết H4, 54 đều bị bác bỏ.  
3.5.3. Kiểm định sự phù hội của mô hình bằng  
hồi quy bội  
Hệ số R2 điều chỉnh = 0.655, Sig. = 0.000  
< 0.01 nên cho thấy vừa xây dựng là phù hợp  
với tổng thể nghiên cứu. Căn cứ vào kết quả  
trên bảng Model Summaryb có hệ số Durbin –  
Watson = 1.717, có thể kết luận mô hình không  
bị hiện tượng tự tương quan. Hệ số VIF đều  
nhỏ hơn 5 có thể kết luận không có hiện tượng  
đa cộng tuyến xảy ra. Và phâ phối chuẩn có  
Mean ≈ 0, Std. Dev. = 0.992 tức gần bằng 1, do  
đó ta có thể kết luận giả định phân phối chuẩn  
không bị vi phạm.  
3.5. Kết quả nghiên cứu đối với đối tượng  
nhân viên  
3.5.1. Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach  
Alpha  
Kết quả kiểm định thang đo thành phần  
năng lực động cho thấy có 15 biến bị loại  
(DT1, DT4, KH4, DM1, DM3, LH1, LH2,  
LH6, ML1, ML4, DH4, CD1, CD4, SP1,  
QT1), còn lại 37 biến quan sát được sử dụng  
trong phân tích EFA tiếp theo. Hệ số Cronbach  
Alpha của thang đo năng lực động đạt giá trị  
khá cao phù hợp cho phân tích EFA tiếp theo.  
Từ kết quả hồi quy trên ta kết luận Giả  
thuyết H1, H2, H3 được chấp nhận.  
- Khả năng thích nghi có mối quan hệ dương  
với năng lực động hay khả năng thích nghi tăng  
thì năng lực động tăng và ngược lại.  
3.5.2. Phân tích EFA  
Tổng phương sai trích được của thành phần  
năng lực động là 78.510%, đạt yêu cầu. Kết  
quả cũng cho thấy có một số thay đổi so với  
mô hình ban đầu.  
- Khả năng hấp thụ có mối quan hệ dương  
với năng lực động hay khả năng thích nghi  
tăng thì năng lực động tăng và ngược lại.  
Nhân tố số 1 gồm các biến DTCT2,  
DTCT3, DTCT5, KH1, KH2, KH3, KH5,  
KH6, KH7, KH8, DM2, DM4, DM5, LH3,  
LH4, LH5.  
- Khả năng sáng tạo có mối quan hệ dương  
với năng lực động. Khi khả năng sáng tạo càng  
cao thì càng năng lực động của công ty.  
Phương trình hồi quy có dạng như sau:  
20  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Y= -0.52 + 0.451 khả năng thích nghi + 0.336  
khả năng hấp thụ + 0.216 khả năng sáng tạo.  
cho các cấp nhân viên của công ty hiểu rõ.  
Công ty phải lập kế hoạch các bước sau:  
-
Thứ nhất: nhận thức vấn đề hiện tại.  
-Thứ hai: lập kế hoạch mua lại kiến thức  
cần thiết  
3.6. Kiến nghị cho công ty  
3.6.1. Khả năng thích nghi  
a) Đối thủ cạnh tranh  
-Thứ ba: tiến hành kế hoạch mua lại,  
chuẩn bị tinh thần hợp tác cho nhân viên.  
-Thứ tư: thực hiện điều chuyển cán bộ.  
Tăng cường giám sát đối thủ cạnh tranh  
bằng việc huấn luyện cho nhân viên sử dụng  
các công cụ: SpyFu, công cụ Google Trends để  
quản lý hoạt động của khách hàng và đối thủ  
cạnh tranh.  
- Thứ năm: khai thác các năng lực từ  
SBU mới.  
3.6.3. Khả năng sáng tạo  
Công ty cũng cần tham khảo các báo cáo  
của đối thủ cạnh tranh, tham gia các hội chợ,  
hội nghị khách hàng và tằng cường lấy thông  
tin của đối thủ cạnh tranh từ khách hàng của  
mình.  
Sáng tạo phải bắt đầu từ hành vi của các  
nhà lãnh đạo. Tạo môi trường khuyến khích  
sự sáng tạo, phá bỏ truyền thống bằng cách  
chấp nhận thử nghiệm và chấp nhận thất bại.  
Ban lãnh đạo phải chia sẻ tầm nhìn với  
các thành viên trong công ty tức là cùng nhau  
quán triệt mục tiêu mà toàn công ty phải theo  
đuổi. Tăng cường sự trao đổi các ý kiến đánh  
giá giữa các nhân viên với cấp quản lý.  
b) Khách hàng  
Nhanh chóng giả quyết các phàn nàn từ  
khách hàng, tăng cường hoạt động sau bán  
bằng các chính sách ưu đãi cho khách hàng  
trung thành, các sản phẩm khuyến mãi cho các  
khách hàng lâu năm. Khuyến khích thêm các  
khoản trợ cấp tương ứng khi khách hàng có các  
hành động quảng bá sản phẩm, dịch vụ của  
Pacificsteel.  
Để sáng tạo ra sản phẩm và thị trường  
mới công ty cần tập trung vào hai nội dung cơ  
bản:  
- Nâng cao kiến thức và kỹ năng nhân  
viên công ty.  
c) Quản lý linh hoạt  
- Thực hiện liên doanh liên kết với các tổ  
chức khác nhằm đi tắt, đón đầu công nghệ  
mới.  
Linh hoạt trong các chính sách hỗ trợ  
khách hàng: đối với nhà thầu thi công,ngoài  
vấn đề về giá cả công ty phải chú trọng đến  
vận chuyển, kế hoạch mua hàng thay đổi,...  
Đối với nhà phân phối phải linh hoạt trong việc  
thu nợ, mở rộng chính sách tín dụng cho các  
đối tượng này.  
4. Kết luận  
Qua nghiên cứu cho thấy, các nguồn lực  
vô hình mà luận văn nghiên cứu là khả năng  
thích nghi, khả năng hấp thụ, khả năng sáng  
tạo đã chứng minh sức ảnh hưởng đến năng  
lực cạnh tranh động của doanh nghiệp trên  
thị trường Việt Nam. Trong đó, nhân tố khả  
năng thích nghi trở thành nguồn lực quan  
trọng nhất hiện giờ đòi hỏi sự quan tâm rất  
lớn của công ty. Tuy nhiên, công ty cũng  
không được lơ là trong việc quan tâm đến  
khả năng sáng tạo vì đó là yếu tố quyết định  
nên sự thành công của doanh nghiệp.  
d) Quản lý đổi mới  
Thực hiện các chính sách thăng tiến khi  
nhân viên đạt thành tích xuất sắc xứng đáng  
với những gì họ đã cố gắng vì công ty.  
3.6.2. Khả năng hấp thụ  
Nâng cao tinh thần kinh doanh của ban  
lãnh đạo.  
Ban lãnh đạo Pacificsteel phải nhận thức rõ  
tầm quan trọng của việc mua lại, hiểu rõ mục  
đích của việc mua lại và truyền bá tư tưởng đó  
Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu và quy  
mô mẫu chưa đủ rộng nên vấn đề mà nghiên  
21  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
cứu đưa ra chỉ giải quyết một mặt của nguồn  
lực vô hình, cần nghiên cứu cả nguồn lực hữu  
hình để có thể đánh giá tổng quát năng lực  
cạnh tranh hiện tại của công ty. Đây cũng là  
hướng mở cho những nghiên cứu sau này./  
.
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Amit R., Choemaker P.(1993), “Strategic assets and organizational rent”, Strategic  
Management Journal, 14 (1), pp. 33-46.  
[2] Barney J.B(1991), “Firm resources and sustained competitive advantage”, Journal of  
Management, 17(1), p.p.99-120.  
[3] Barney J.B(2001a), “Is the resource-based ‘view’ a useful perspective for strategic  
management research? Yes”, Academy of Management Review, 26 (1), 41-56.  
[4] Barney J.B(2001b), “Resource-based theories of competitive advantage: a ten-year  
retrospective on the resource-based view”, Journal of Management, 27 (6), 643-650.  
[5] Barney J. B, Wright M., Ketchen D. Jr.(2001), “The resource-based view of the firm: ten  
years after 1991”, Journal of Management, 27 (6), p.p.625-641.  
[6] Cohen M.D, Levinthal D.A(1990), “Absorptive capacity: a new perspective on learning and  
innovation”, Administrative Science Quarterly, 35, p.p.128-152.  
[7] Collis D.J(1994), “Research note: how valuable are organizational capabilities?”, Strategic  
Management Journal, 15, p.p.143-152.  
[8] Eisenhardt K.M, Martin J.A(2000), “Dynamic capabilities: what are they?”, Strategic  
Management Journal, 21, p.p.1105-1121.  
[9] Gibson C.B, Birkinshaw J.(2004), “The antecedents, consequences, and mediating role of  
organizational ambidexterity”, Academy of Management Journal, 47(2), p.p.209-226.  
[10] Hult GTM, Hurley RF & Knight GA.(2004), I”nnovativeness: Its antecedents and impact on  
business performance”, Industrial Marketing anagement,33, 429-438.  
[11] Leonard, Barton D.(1992), “Core capabilities and core rigidities: a paradox in managing new  
product development”, Strategic Management Journal, Summer Special Issue, 13, p.p.111-  
125.  
[12] Oktemgil M., Gordon G.(1997), “Consequences of high and low adaptive capability in UK  
Companie”, European Journal of Marketing, 31(7), p.p.445-466.  
[13] Teece D.J.(1986b), “Proiting from technological innovation”, Research Policy, 15 (6),  
pp.285-305.  
[14] Teece D.J, Gary Pisano, Amy Shuen(1997), "Dynamic Capabilities and Strategic  
Management", Strategic Management Journal, 18(7), p.p.509-533.  
[15] Wang C.L. (2007), "Dynamic Capabilities: A Review and Research Agenda", The  
International Journal of Management Reviews, 9(1), p.p.31-51.  
[16] Zahra S.A., George G.(2002), “Absorptive capacity: a review, reconceptualization, and  
extension”, Academy of Management Review, 27 (2), p.p.185-203.  
22  
pdf 9 trang Thùy Anh 17840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Năng lực cạnh tranh động: Nghiên cứu thực nghiệm tại công ty Cổ phần thép Thái Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_luc_canh_tranh_dong_nghien_cuu_thuc_nghiem_tai_cong_ty.pdf