Năng lực cạnh tranh động: Nghiên cứu thực nghiệm tại công ty Cổ phần thép Thái Bình Dương
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐỘNG: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP THÁI BÌNH DƯƠNG
COMPETETIVE ADVANTAGE: THE EMPIRICAL RESEARCH AT THE PACIFIC
JOINT STOCK STEEL CORPORATION
TS. Nguyễn Phúc Nguyên, Vũ Quỳnh Anh
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang hội nhập toàn cầu, sự cạnh tranh không còn gói gọn trong phạm vi
quốc gia mà nó vượt ra biên giới quốc tế. Các doanh nghiệp đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt chưa
từng có. Một câu hỏi đặt ra: tại sao một số công ty lại thành công lớn mạnh đến vậy, trong khi một số khác
không thể tồn tại quá vài tháng? Một trong những nhân tố hàng đầu quyết định sự thành bại của doanh
nghiệp chính là năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp có được năng lực cạnh tranh cao thì tồn tại và ngược lai,
doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thấp thì thất bại. Và trong môi trường toàn cầu thì ngày càng khẳng
định tính đúng đắn của nó. Vì thế yêu cầu cấp bách đối với các doanh nghiệp là phải phát hiện ra các nguồn
lực tạo ra lợi thế cạnh tranh rồi từ đó duy trì và phát triển nhằm đảm bảo lợi thế cạnh tranh bền vững trong
tương lai trước những thay đổi nhanh chóng của thị trường. Bài báo tập trung vào nghiên cứu năng lực cạnh
tranh động, xây dựng mô hình để đánh giá tiêu thức này. Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm tại công ty cổ
phần thép Thái Bình Dương, bài báo gợi mở những hàm ý về mặt lý thuyết và thực tế cho các nhà quản lý
trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Từ khoá: Năng lực cạnh tranh; công ty cổ phần; nghiên cứu thực nghiệm; Cty Thép Thái Bình Dương.
ABSTRACT
In the context of a globally integrated economy, competition is not encapsulated within any country; it goes
beyond international border. Enterprises are confronted with the fiercest competition ever. The question of
why some companies succeed so strongly while others can’t survive more than a few months becomes the
target question of this paper. One of the primary factors determining the success or failure of an enterprise is
its competitiveness. Enterprises with high competitiveness can exist and vice versa. This fact has increasingly
proved its accuracy in the global environment. Hence enterprises are urged to discover the resources to
create competitive advantage and thereby maintain and develop in order to ensure sustainable competitive
advantage in the future to cope with the rapidly changes of the market. This paper focuses on competitive
research activities and building models to assess this criterion. On the basis of empirical research at Pacific
steel company, the paper suggests theoretical and practical implications for managers to improve the
competitiveness of enterprises.
Keywords: Dynamic competitiveness; joint stock company; empirical study; The Pacific Joint Stock Steel
Corporation.
của các doanh nghiệp có tiềm năng xâm nhập
thị trường), trong đó cơ cấu ngành là yếu tố
quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh.
1. Lý thuyết cạnh tranh truyền thống
Lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter
có nguồn gốc từ kinh tế học tổ chức được tổng
quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu
ngành, sự vận hành hay chiến lược của doanh
nghiệp và kết quả kinh doanh của ngành.
Porter đã ứng dụng trong xây dựng chiến lược,
đặc biệt là mô hình năm lực cạnh tranh (bao
gồm cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
cùng ngành, áp lực của khách hàng, áp lực nhà
cung cấp, áp lực của sản phẩm thay thế, áp lực
Lý thuyết nguồn lực với quan điểm dựa
vào tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng một
ngành thường sử dụng những chiến lược kinh
doanh khác nhau vì mỗi doanh nghiệp xây
dựng chiến lược kinh doanh dựa trên chính
nguồn lực của doanh nghiệp đó. Theo Barney
(1991), nguồn lực được cho là giúp thiết lập và
duy trì lợi thế cạnh tranh miễn là nó đáp ứng
14
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
các tiêu chuẩn: (1) có giá trị, (2) hiếm, (3) khó
hoạt động liên tục trong một tổ chức nhất định,
trong khi Rindova và Kotha (2001), thông qua
nghiên cứu thực nghiệm của họ, xác định năng
lực động bất ngờ xuất hiện và phát triển [15,
p.p.31-35].
bắt chước, (4) không thể thay thế, được gọi tắt
là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Non-
substitutable)[2].
Cạnh tranh theo quan điểm của
Porter(1985) đã bỏ qua sự khác nhau giữa các
công ty và sự biến động của môi trường. Quan
điểm RBV của Barney đã giải quyết được một
phần nhược điểm của mô hình năm lực lượng
cạnh tranh (sự khác nhau của các công ty)
nhưng vẫn chưa nhận thức được sự biến động
của môi trường kinh doanh.
Các nghiên cứu về năng lực động của các
học giả trên đã thể hiện rõ mối quan tâm và
tầm quan trọng của vấn đề này. Các học giả
nhận rõ tầm quan trọng của những thay đổi môi
trường xung quanh bắt buộc các công ty phải
có những thay đổi cho phù hợp. Chỉ nguồn lực
không thì không đủ để công ty duy trì lợi thế
cạnh tranh lâu dài, công ty cần có khả năng để
sử dụng những nguồn lực đó một cách có hiệu
quả nhất trong thời kỳ có sự biến đổi nhanh về
công nghệ. Khái niệm năng lực động ra đời
giải quyết tiếp bài toán còn vướng mắc. Tuy
nhiên các học giả vẫn còn phải trả lời một số
câu hỏi: Làm thế nào để phân biệt giữa nguồn
lực của công ty và năng lực động, quy trình và
khả năng? Có sự tương quan chuyển hóa năng
lực động giữa các công ty hay không? Mối quan
hệ giữa năng lực động và các biến số tổ chức
khác? Đó chính là câu hỏi mà Wang đặt ra trong
phần nghiên cứu của mình năm 2007.
2. Lý thuyết năng lực động
Lý thuyết năng lực động lấy nguồn gốc từ
lý thuyết nguồn lực, tuy nhiên nó đã giải quyết
điểm yếu lớn nhất của lý thuyết cũ bởi việc
xem xét sự vận động của môi trường kinh
doanh.
Theo Teece D.J, Pisano G. & Shuen A.
(1997), năng lực động được định nghĩa là “khả
năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại
những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng
với thay đổi của môi trường kinh doanh”[14].
Nguồn năng lực động là cơ sở để tạo lợi thế
cạnh tranh và đem lại kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp [8].
Đầu tiên, Wang xác định năng lực động
như định hướng hành vi của một công ty liên
tục tích hợp, cấu hình lại, đổi mới và tái tạo
nguồn lực và khả năng của mình, và quan
trọng nhất là nâng cấp và xây dựng lại năng
lực cốt lõi của mình để đáp ứng với môi trường
thay đổi để đạt được và duy trì lợi thế cạnh
tranh. Theo định nghĩa này, Wang lập luận
rằng năng lực động không chỉ đơn giản là quy
trình, mà nó là tác nhân tạo nên quy trình. Các
quy trình thường được biểu đạt thông qua cấu
trúc rõ ràng và vì vậy nó cũng dễ dàng được
chuyển từ công ty này sang công ty khác. Khả
năng đề cập đến năng lực của một công ty để
triển khai các nguồn lực, cách kết hợp các quá
trình và những yếu tố ngầm (như bí quyết và sự
lãnh đạo) tồn tại trong các quy trình đó[5]. Do
đó, khả năng của công ty thường được tạo
dựng và phát triển theo thời gian thông qua các
tương tác phức tạp giữa các nguồn lực của
công ty [1].
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình,
Teece D.J có sự nhập nhằng giữa hai niệm:
năng lực và khả năng. tác giả đã xác định khả
năng là "vai trò quan trọng của quản lý chiến
lược trong việc thích ứng, tích hợp và cấu hình
lại các kỹ năng tổ chức nội bộ và nguồn lực
bên ngoài, và năng lực chức năng để phù hợp
với các yêu cầu của một môi trường đang thay
đổi" [10]. Điều này là hầu như không khác với
định nghĩa của chính tác giả về năng lực động
là "khả năng của công ty để tích hợp, xây
dựng, và năng lực cấu hình lại nội bộ và bên
ngoài để giải quyết môi trường thay đổi nhanh
chóng" [24, p.p.516] . Wang đã chỉ ra sự trùng
lặp này trong nghiên cứu của mình năm 2007
Trong nghiên cứu của mình vào năm 2007,
Wang đã chỉ ra sự rời rạc của các nghiên cứu
cũ, ví dụ như nghiên cứu của Zollo và Winter
(2002) cho rằng năng lực động có cấu trúc và
15
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Với sự phân biệt khái niệm trên đã chỉ ra
tôi thừa nhận rằng năng lực động là một nguồn
nguồn lực là nền tảng và là cơ sở tạo ra khả
năng của công ty. Nguồn lực có thể là một
nguồn lợi thế cạnh tranh khi được thể hiện bởi
các đặc điểm VRIN. Tuy nhiên, trong môi
trường năng động, VRIN không tồn tại được
qua thời gian và do đó không thể là một nguồn
lợi thế cạnh tranh bền vững. Khả năng là điều
cốt lõi, và khi các công ty chứng minh khả
năng triển khai các nguồn lực để đạt được một
mục tiêu mong muốn họ có khả năng dẫn đến
cải thiện hiệu suất[11]. Lúc này, năng lực cốt
lõi là tổng hợp của nguồn lực và khả năng của
một công ty, chính là lợi thế cạnh tranh của
công ty tại một thời điểm nhất định.
lợi thế cạnh tranh bền vững”.
Dựa trên các kết quả thực nghiệm liên
quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực
động thực hiện từ năm 1995-2005, Wang đã
xác định ba yếu tố thành phần chính của năng
lực động, cụ thể là khả năng thích nghi, khả
năng hấp thụ và khả năng sáng tạo.
Tuy nhiên, ngay cả những năng lực cốt lõi
có thể trở thành không thích hợp hoặc thậm chí
cứng nhắc khi môi trường thay đổi[11]. Trong
điều kiện như vậy, các công ty đã tự tạo ra một
“cái bẫy năng lực” cho bản thân[42]. Do đó,
năng lực động nhấn mạnh vào việc theo đuổi
liên tục sự cấu hình lại, đổi mới và tái tạo các
nguồn lực, khả năng và năng lực cốt lõi để giải
quyết các thay đổi môi trường của một công
ty[11]. Collis (1994)[7] đã chỉ rõ rằng năng lực
động tỉ lệ thuận với sự thay đổi của các khả
năng. Vì vậy, Wang cho rằng năng lực động
suy cho cùng là khả năng làm cho tổ chức có
hiệu suất dài hạn, chứ không phải chỉ đơn giản
là “tập hợp con” trong khả năng của công ty
như Teece (1997) đã định nghĩa.
Hình 1.1. Mô hình năng lực động của Wang C.L
2.1. Khả năng thích nghi
Khả năng thích nghi là khả năng của một
doanh nghiệp để thích ứng sản phẩm - thị
trường của mình nhằm tận dụng được cơ hội
bên ngoài; bao quát thị trường: giám sát khách
hàng và đối thủ cạnh tranh, phân bổ nguồn lực
cho các hoạt động tiếp thị; và đáp ứng để thay
đổi điều kiện thị trường một cách nhanh chóng
[12]. Nhất gần đây là nghiên cứu của Gibson
và Brikinshaw đo lường khả năng thích nghi
thông qua việc đánh giá liệu hệ thống quản lý
của công ty có khuyến khích mọi người đổi
mới- thách thức truyền thống lạc hậu, quản lý
linh hoạt cho phép công ty để đáp ứng nhanh
chóng với những thay đổi trên thị trường[9].
Wang đã vận dụng các khái niệm trên vào mô
hình của mình và xác định các nhân tố ảnh
hưởng gồm:
Wang cho rằng năng lực sử dụng các khả
năng “sớm, nhanh chóng và bất ngờ” chính là
linh hồn tạo nên năng lực động. Nếu một
doanh nghiệp được xem như là tổng hợp các
nguồn lực và khả năng thì năng lực động nhấn
mạnh quá trình chuyển đổi các nguồn tài
nguyên công ty và khả năng vào kết quả đầu ra
trong sản phẩm hay dịch vụ cung cấp giá trị
vượt trội cho khách hàng. Điều này cũng hoàn
toàn phù hợp với lập luận của Barney và các
cộng sự (2001a, b) [3] [4]rằng khả năng thay
đổi nhanh chóng và sự phản ứng bất ngờ với
những thay đổi trên thị trường là khó cho
những người khác bắt chước và do đó có thể là
một nguồn lợi thế cạnh tranh bền vững, “chúng
• Phản ứng với đối thủ cạnh tranh: thể
hiện sự theo dõi của doanh nghiệp đối với các
hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh.
• Đáp ứng khách hàng: thể hiện sự đáp
ứng của doanh nghiệp theo sự thay đổi về nhu
cầu và ước muốn của khách hàng.
• Hệ thống quản lý khuyến khích đổi
mới, thách thức truyền thống lạc hậu.
16
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
định sự tồn tại và thành công của tổ chức
• Hệ thống quản lý linh hoạt nhanh
chóng đáp ứng thị trường.
(Doyle (1998), Quinn (2000)). Tuy nhiên, có ít
bằng chứng thực nghiệm về phát triển và xác
nhận của tổ chức sáng tạo quy mô. Thông qua
tập hợp các nghiên cứu, Wang đã thực hiện
nghiên cứu thực nghiệm trên 200 mẫu để xác
định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sáng
tạo của công ty. Theo định nghĩa của Wang,
khả năng sáng tạo đề cập đến khả năng của một
công ty phát triển các sản phẩm mới và/hoặc
tìm ra thị trường mới, kết hợp với hành vi sáng
tạo và quá trình sáng tạo [13]. Bốn yếu tố ảnh
hưởng đến khả năng sáng tạo bao gồm:
2.2. Khả năng hấp thụ
Khả năng hấp thụ nêu bật tầm quan trọng
của việc tiếp thu tri thức bên ngoài, kết hợp với
kiến thức nội bộ và hấp thụ nó để sử dụng tạo
nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho công ty.
Cohen và Levinthal đề cập đến khả năng hấp
thụ là “khả năng của một công ty để nhận ra
giá trị của thông tin bên ngoài, mới, hòa đồng,
và áp dụng nó để thương mại” [6]. Các công ty
có khả năng hấp thụ cao hơn chứng minh khả
năng mạnh mẽ hơn từ việc học tập ở các đối
tác, tích hợp thông tin đối ngoại và biến nó
thành kiến thức của mình. Theo nghiên cứu của
Zahra và George cho rằng khả năng hấp thụ là
một cấu trúc đa chiều và đề xuất bốn yếu tố
cấu thành xây dựng khả năng hấp thụ: mua lại
kiến thức, đồng hóa, chuyển đổi và khai thác
[16]. Mô hình sử dụng 4 yếu tố này làm nền
tảng cho các chỉ số ảnh hưởng đến năng lực
hấp thụ.
• Sáng tạo sản phẩm: sự mới lạ, độc đáo
đáp ứng yêu cầu thị trường một cách kịp thời.
• Sáng tạo thị trường: xác định phân
khúc thị trường mới hoặc sản phẩm cũ nhưng
với việc áp dụng các chương trình tiếp thị mới
để thúc đẩy các sản phẩm và dịch vụ.
• Sáng tạo quá trình: nắm bắt sự ra đời
của sản xuất mới phương pháp, phương pháp
quản lý mới, công nghệ mới có thể được sử
dụng để cải thiện sản xuất và quy trình quản lý.
• Mua lại đề cập đến khả năng của
doanh nghiệp để xác định và tiếp thu kiến thức
bên ngoài mà là rất quan trọng cho các hoạt
động của mình.
• Sáng tạo hành vi: sự sẵn sàng quản lý
để thay đổi, và cam kết khuyến khích những
cách thức mới làm điều mới, cũng như sự sẵn
sàng để thúc đẩy những ý tưởng mới, trong đó
văn hóa đóng vai trò như một chất xúc tác của
sự đổi mới.
• Đồng hóa đề cập đến thói quen và quy
trình của doanh nghiệp cho phép nó để phân
tích, xử lý, giải thích và hiểu những thông tin
thu được từ các nguồn bên ngoài.
2.4. Mối quan hệ giữa ba thành phần
• Chuyển đổi cho thấy khả năng của
doanh nghiệp để phát triển và tinh chỉnh các
thói quen giúp kết hợp các hiện có kiến thức
với kiến thức mới và đồng hóa.
Nghiên cứu thực nghiệm của Michael J.
Rouse (2008) cho kết quả khả năng học hỏi,
hấp thụ các kiến thức mới từ môi trường giúp
công ty đáp ứng với các thay đổi của môi
trường, nó được gọi là khả năng thích ứng. Khả
năng thích ứng có thể giúp thúc đẩy và dẫn dắt
sự đổi mới về chiến lược.
• Khai thác đề cập đến khả năng của
doanh nghiệp để kết hợp kiến thức mới vào
hoạt động.
Hay nghiên cứu thực nghiệm từ 300 công
ty MSC, phó giáo sư tiến sĩ Khairuddin Idris đã
kết luận khả năng sáng tạo của các công ty dự
2.3. Khả năng sáng tạo
Khả năng để mang lại sự đổi mới được
công nhận là một trong những yếu tố quyết
17
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
kiến sẽ tăng nếu họ có khả năng phát triển tốt
3.3. Tiến trình nghiên cứu
trong việc mua lại, phổ biến kiến thức hiểu biết
và sử dụng kiến thức mới (khả năng hấp thụ).
3. Ứng dụng mô hình năng lực động của
Wang vào công ty cổ phần thép Thái Bình
Dương
3.1. Mô hình nghiên cứu
Hình 3.1. Mô hình đề xuất ban đầu
3.2. Giả thuyết nghiên cứu
Hình 3.2. Tiến trình nghiên cứu
Nhóm giả thuyết về quan hệ giữa các
khả năng tạo nên năng lực động
3.3.1. Nghiên cứu định tính
Tác giả sử dụng phương pháp thảo luận với
nhân viên kinh doanh của công ty và kết quả
cho thấy có thêm 15 item được đưa vào biến
thích nghi để phù hợp với đặc điểm của công
ty.
•
H1: Khi khả năng thích nghi được
đánh giá tăng hoặc giảm thì năng lực động của
công ty sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.
•
H2: Khi khả năng hấp thụ được đánh
Nghiên cứu tiền kiểm định
giá tăng hoặc giảm thì năng lực động của công
ty sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng
Tác giả đã thực hiện tiền kiểm định với 15
mẫu, các đối tượng ngẫu nhiên ở các công ty
khác nhau trong ngành thép. Thực hiện nghiên
cứu Cronbach Alpha để tiến để xác định độ tin
cậy của nhóm biến đưa vào. Kết quả độ tin cậy
Cronbach Alpha cho thấy có 11 item mới được
đưa vào mô hình. Vậy, tác giả vẫn sử dụng ba
nhóm yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh
động như mô hình của Wang (khả năng thích
nghi, khả năng hấp thụ, khả năng sáng tạo).
Tuy nhiên, các item tác động đến 3 nhóm yếu
tố đã có sự thay đổi để phù hợp với đặc điểm
của ngành và công ty.
• H3: Khi khả năng sáng tạo được đánh giá
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng
Nhóm giả thuyết sự khác biệt trong
đánh giá các nhân tố tạo nên năng lực động
với các nhóm khách hàng khác nhau
•
H4: Có sự khác biệt về đánh giá khả
năng thích nghi của công ty theo nhóm khách
hàng
• H5: Có sự khác biệt về đánh giá khả năng
sáng tạo của công ty theo nhóm khách hàng
18
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
3.3.2. Nghiên cứu định lượng
động là 67.237%. Kết quả thay đổi về biến
quan sát so với mô hình nghiên cứu ban đầu.
Bảng câu hỏi điều tra cho hai đối tượng:
nhân viên và khách hàng. Trong mô hình có 3
nhóm: khả năng thích nghi, khả năngg hấp thụ
và khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, nếu chỉ thực
hiện nghiên cứu cho đối tượng khách hàng thì
không thể đánh giá được khả năng hấp thụ của
công ty. Và nếu chỉ thực hiện cho đối tượng
nhân viên thì tính khách quan khi đánh giá về
các khả năng trên của công ty không cao. Vì
vậy việc thiết kế hai bảng câu hỏi dành cho hai
đối tượng là cần thiết.
Nhân tố số 1 gồm: DTCT2, DTCT3,
DTCT5, KH1, KH2, KH3, KH5, KH8,
QLLH2, QLLH3, QLLH4.
Nhân tố số 2 gồm: SP2, SP3,TT1, TT2,
QT2, QT3, QT4.
Đối với thang đo năng lực động, EFA trích
được 1 yếu tố có KMO là 0.682 và phương sai
trích được là 78.2%.
Giả thuyết cho mô hình được hiệu chỉnh
H1: Khi khả năng thích nghi được đánh giá
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.
3.4. Kết quả nghiên cứu đối với đối tượng
khách hàng
3.4.1. Thông tin mẫu
H3: Khi khả năng sáng tạo được đánh giá
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.
Theo loại hình doanh nghiệp: Công ty
TNHH chiếm tỉ lệ lớn nhất trong cơ cấu khách
hàng của công ty với 53.2%, đối tượng khách
hàng lớn thứ hai là công ty tư nhân chiếm
19.2%, công ty cổ phần 16.3%, công ty liên
doanh chiếm 5.9%, hai đối tượng khách hàng
nhà nước và công ty nước ngoài chỉ chiếm hơn
5%.
H4: Có sự khác biệt về đánh giá khả năng
thích nghi của công ty theo nhóm khách hàng.
H5: Có sự khác biệt về đánh giá khả năng
sáng tạo của công ty theo nhóm khách hàng.
3.4.4. Kiểm định sự phù hợp của mô hình
bằng hồi quy bội
Theo loại hình kinh doanh: 56.7% là nhà
phân phối, 36.9% là nhà thầu thi công và 6.4%
với là chủ đầu tư.
Hệ số R2 điều chỉnh (Adjusted R Square) =
0.712, Sig. = 0.000 < 0. cho thấy mô hình hồi
quy bội vừa xây dựng là phù hợp với tổng thể
nghiên cứu và có thể được sử dụng.
3.4.2. Kiểm định bằng độ tin cậy Cronbach
Alpha
Căn cứ vào kết quả trên bảng Model
Summaryb có hệ số Durbin – Watson = 1.845
kết luận mô hình hồi quy vừa xây dựng không
có hiện tượng tương quan. Hệ số VIF đều nhỏ
hơn 5 có thể kết luận không có hiện tượng đa
cộng tuyến xảy ra. Và phân phối này có Mean
≈ 0, Std. Dev. = 0.995 tức gần bằng 1, do đó ta
có thể kết luận mô hình phân phối chuẩn.
Kết quả kiểm định thang đo thành phần
năng lực động cho thấy có 8 biến bị loại đó là
biến DTCT1, DTCT4, KH4, KH6, KH7,
QLLH1, SP1, QT1. Vì vậy chỉ còn lại 18 biến
quan sát được sử dụng trong phân tích EFA
tiếp theo. Hệ số Cronbach Alpha của thang đo
năng lực động đạt giá trị khá cao, đạt điều kiện
thực hiện phân tích EFA.
Cũng từ kết quả hồi quy trên, các giả
thuyết H1 và H3 được chấp nhận:
3.4.3. Phân tích EFA
Sau khi rút trích nhân tố, tổng phương sai
trích được của thang đo thành phần năng lực
19
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
- Khả năng thích nghi có mối quan hệ
dương với năng lực động hay khả năng thích
nghi tăng thì năng lực động tăng và ngược lại.
Nhân tố số 2 gồm các biến ML2, ML3,
DH1, DH2, DH3, CD2, CD3, KT1, KT2, KT3.
Nhân tố số 3 gồm các biến SP2, SP3, TT1,
TT2, QT2, QT3, QT4, HV1, HV2, HV3, HV4.
- Khả năng sáng tạo có mối quan hệ dương
với năng lực động. Khi khả năng sang tạo càng
cao thì càng năng lực động của công ty.
Đối với thang đo năng lực động, EFA trích
được 1 yếu tố có KMO là .720 và phương sai
trích được là 79.858%.
Từ những nhận xét trên ta có thể kết luận
mô hình xây dựng phù hợp.
Giả thuyết điều chỉnh
H1: Khi khả năng thích nghi được đánh giá
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.
- Phương trình hồi quy có dạng như sau:
Y= - 0.136 + 0.519 khả năng thích nghi +
0.499 khả năng sáng tạo
H2: Khi khả năng hấp thụ được đánh giá
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.
3.4.5. Phân tích ANOVA
Mục đích: kiểm định có sự khác biệt của
yếu tố loại hình kinh doanh đến việc đánh giá
các khả năng ảnh hưởng đến năng lực động?
H3: Khi khả năng sáng tạo được đánh giá
tăng hoặc giảm thì năng lực động của công ty
sẽ được tăng hoặc giảm tương ứng.
Kết quả phân tích cho thấy: không có sự
khác biệt giữa các nhóm khách hàng trong việc
đánh giá nhân tố khả năng thích nghi và đánh
giá nhân tố sáng tạo (sig. > 0.05). Như vậy, tất
cả các giả thuyết H4, 54 đều bị bác bỏ.
3.5.3. Kiểm định sự phù hội của mô hình bằng
hồi quy bội
Hệ số R2 điều chỉnh = 0.655, Sig. = 0.000
< 0.01 nên cho thấy vừa xây dựng là phù hợp
với tổng thể nghiên cứu. Căn cứ vào kết quả
trên bảng Model Summaryb có hệ số Durbin –
Watson = 1.717, có thể kết luận mô hình không
bị hiện tượng tự tương quan. Hệ số VIF đều
nhỏ hơn 5 có thể kết luận không có hiện tượng
đa cộng tuyến xảy ra. Và phâ phối chuẩn có
Mean ≈ 0, Std. Dev. = 0.992 tức gần bằng 1, do
đó ta có thể kết luận giả định phân phối chuẩn
không bị vi phạm.
3.5. Kết quả nghiên cứu đối với đối tượng
nhân viên
3.5.1. Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach
Alpha
Kết quả kiểm định thang đo thành phần
năng lực động cho thấy có 15 biến bị loại
(DT1, DT4, KH4, DM1, DM3, LH1, LH2,
LH6, ML1, ML4, DH4, CD1, CD4, SP1,
QT1), còn lại 37 biến quan sát được sử dụng
trong phân tích EFA tiếp theo. Hệ số Cronbach
Alpha của thang đo năng lực động đạt giá trị
khá cao phù hợp cho phân tích EFA tiếp theo.
Từ kết quả hồi quy trên ta kết luận Giả
thuyết H1, H2, H3 được chấp nhận.
- Khả năng thích nghi có mối quan hệ dương
với năng lực động hay khả năng thích nghi tăng
thì năng lực động tăng và ngược lại.
3.5.2. Phân tích EFA
Tổng phương sai trích được của thành phần
năng lực động là 78.510%, đạt yêu cầu. Kết
quả cũng cho thấy có một số thay đổi so với
mô hình ban đầu.
- Khả năng hấp thụ có mối quan hệ dương
với năng lực động hay khả năng thích nghi
tăng thì năng lực động tăng và ngược lại.
Nhân tố số 1 gồm các biến DTCT2,
DTCT3, DTCT5, KH1, KH2, KH3, KH5,
KH6, KH7, KH8, DM2, DM4, DM5, LH3,
LH4, LH5.
- Khả năng sáng tạo có mối quan hệ dương
với năng lực động. Khi khả năng sáng tạo càng
cao thì càng năng lực động của công ty.
Phương trình hồi quy có dạng như sau:
20
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Y= -0.52 + 0.451 khả năng thích nghi + 0.336
khả năng hấp thụ + 0.216 khả năng sáng tạo.
cho các cấp nhân viên của công ty hiểu rõ.
Công ty phải lập kế hoạch các bước sau:
-
Thứ nhất: nhận thức vấn đề hiện tại.
-Thứ hai: lập kế hoạch mua lại kiến thức
cần thiết
3.6. Kiến nghị cho công ty
3.6.1. Khả năng thích nghi
a) Đối thủ cạnh tranh
-Thứ ba: tiến hành kế hoạch mua lại,
chuẩn bị tinh thần hợp tác cho nhân viên.
-Thứ tư: thực hiện điều chuyển cán bộ.
Tăng cường giám sát đối thủ cạnh tranh
bằng việc huấn luyện cho nhân viên sử dụng
các công cụ: SpyFu, công cụ Google Trends để
quản lý hoạt động của khách hàng và đối thủ
cạnh tranh.
- Thứ năm: khai thác các năng lực từ
SBU mới.
3.6.3. Khả năng sáng tạo
Công ty cũng cần tham khảo các báo cáo
của đối thủ cạnh tranh, tham gia các hội chợ,
hội nghị khách hàng và tằng cường lấy thông
tin của đối thủ cạnh tranh từ khách hàng của
mình.
Sáng tạo phải bắt đầu từ hành vi của các
nhà lãnh đạo. Tạo môi trường khuyến khích
sự sáng tạo, phá bỏ truyền thống bằng cách
chấp nhận thử nghiệm và chấp nhận thất bại.
Ban lãnh đạo phải chia sẻ tầm nhìn với
các thành viên trong công ty tức là cùng nhau
quán triệt mục tiêu mà toàn công ty phải theo
đuổi. Tăng cường sự trao đổi các ý kiến đánh
giá giữa các nhân viên với cấp quản lý.
b) Khách hàng
Nhanh chóng giả quyết các phàn nàn từ
khách hàng, tăng cường hoạt động sau bán
bằng các chính sách ưu đãi cho khách hàng
trung thành, các sản phẩm khuyến mãi cho các
khách hàng lâu năm. Khuyến khích thêm các
khoản trợ cấp tương ứng khi khách hàng có các
hành động quảng bá sản phẩm, dịch vụ của
Pacificsteel.
Để sáng tạo ra sản phẩm và thị trường
mới công ty cần tập trung vào hai nội dung cơ
bản:
- Nâng cao kiến thức và kỹ năng nhân
viên công ty.
c) Quản lý linh hoạt
- Thực hiện liên doanh liên kết với các tổ
chức khác nhằm đi tắt, đón đầu công nghệ
mới.
Linh hoạt trong các chính sách hỗ trợ
khách hàng: đối với nhà thầu thi công,ngoài
vấn đề về giá cả công ty phải chú trọng đến
vận chuyển, kế hoạch mua hàng thay đổi,...
Đối với nhà phân phối phải linh hoạt trong việc
thu nợ, mở rộng chính sách tín dụng cho các
đối tượng này.
4. Kết luận
Qua nghiên cứu cho thấy, các nguồn lực
vô hình mà luận văn nghiên cứu là khả năng
thích nghi, khả năng hấp thụ, khả năng sáng
tạo đã chứng minh sức ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh động của doanh nghiệp trên
thị trường Việt Nam. Trong đó, nhân tố khả
năng thích nghi trở thành nguồn lực quan
trọng nhất hiện giờ đòi hỏi sự quan tâm rất
lớn của công ty. Tuy nhiên, công ty cũng
không được lơ là trong việc quan tâm đến
khả năng sáng tạo vì đó là yếu tố quyết định
nên sự thành công của doanh nghiệp.
d) Quản lý đổi mới
Thực hiện các chính sách thăng tiến khi
nhân viên đạt thành tích xuất sắc xứng đáng
với những gì họ đã cố gắng vì công ty.
3.6.2. Khả năng hấp thụ
Nâng cao tinh thần kinh doanh của ban
lãnh đạo.
Ban lãnh đạo Pacificsteel phải nhận thức rõ
tầm quan trọng của việc mua lại, hiểu rõ mục
đích của việc mua lại và truyền bá tư tưởng đó
Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu và quy
mô mẫu chưa đủ rộng nên vấn đề mà nghiên
21
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
cứu đưa ra chỉ giải quyết một mặt của nguồn
lực vô hình, cần nghiên cứu cả nguồn lực hữu
hình để có thể đánh giá tổng quát năng lực
cạnh tranh hiện tại của công ty. Đây cũng là
hướng mở cho những nghiên cứu sau này./
.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Amit R., Choemaker P.(1993), “Strategic assets and organizational rent”, Strategic
Management Journal, 14 (1), pp. 33-46.
[2] Barney J.B(1991), “Firm resources and sustained competitive advantage”, Journal of
Management, 17(1), p.p.99-120.
[3] Barney J.B(2001a), “Is the resource-based ‘view’ a useful perspective for strategic
management research? Yes”, Academy of Management Review, 26 (1), 41-56.
[4] Barney J.B(2001b), “Resource-based theories of competitive advantage: a ten-year
retrospective on the resource-based view”, Journal of Management, 27 (6), 643-650.
[5] Barney J. B, Wright M., Ketchen D. Jr.(2001), “The resource-based view of the firm: ten
years after 1991”, Journal of Management, 27 (6), p.p.625-641.
[6] Cohen M.D, Levinthal D.A(1990), “Absorptive capacity: a new perspective on learning and
innovation”, Administrative Science Quarterly, 35, p.p.128-152.
[7] Collis D.J(1994), “Research note: how valuable are organizational capabilities?”, Strategic
Management Journal, 15, p.p.143-152.
[8] Eisenhardt K.M, Martin J.A(2000), “Dynamic capabilities: what are they?”, Strategic
Management Journal, 21, p.p.1105-1121.
[9] Gibson C.B, Birkinshaw J.(2004), “The antecedents, consequences, and mediating role of
organizational ambidexterity”, Academy of Management Journal, 47(2), p.p.209-226.
[10] Hult GTM, Hurley RF & Knight GA.(2004), I”nnovativeness: Its antecedents and impact on
business performance”, Industrial Marketing anagement,33, 429-438.
[11] Leonard, Barton D.(1992), “Core capabilities and core rigidities: a paradox in managing new
product development”, Strategic Management Journal, Summer Special Issue, 13, p.p.111-
125.
[12] Oktemgil M., Gordon G.(1997), “Consequences of high and low adaptive capability in UK
Companie”, European Journal of Marketing, 31(7), p.p.445-466.
[13] Teece D.J.(1986b), “Proiting from technological innovation”, Research Policy, 15 (6),
pp.285-305.
[14] Teece D.J, Gary Pisano, Amy Shuen(1997), "Dynamic Capabilities and Strategic
Management", Strategic Management Journal, 18(7), p.p.509-533.
[15] Wang C.L. (2007), "Dynamic Capabilities: A Review and Research Agenda", The
International Journal of Management Reviews, 9(1), p.p.31-51.
[16] Zahra S.A., George G.(2002), “Absorptive capacity: a review, reconceptualization, and
extension”, Academy of Management Review, 27 (2), p.p.185-203.
22
Bạn đang xem tài liệu "Năng lực cạnh tranh động: Nghiên cứu thực nghiệm tại công ty Cổ phần thép Thái Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_luc_canh_tranh_dong_nghien_cuu_thuc_nghiem_tai_cong_ty.pdf

