Tác động của công tác quản trị nguồn nhân lực đối với chất lượng dịch vụ trong ngành công nghiệp khách sạn, Đà Nẵng, Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI CHẤT  
LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHÁCH SẠN, ĐÀ NẴNG,  
VIỆT NAM  
THE IMPACT OF HUMAN RESOURCE MANAGEMENT PRACTICES ON SERVICE QUALITY  
IN HOTEL INDUSTRY, DANANG CITY, VIETNAM  
ThS. Trà Lục Diệp  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu sự tác động của quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) và các thành tố của nó đến chất  
lượng dịch vụ trong ngành công nghiệp khách sạn tại Đà Nẵng. Bên cạnh đó, khoảng cách trong nhận thức giữa nhân  
viên và khách hang về dịch vụ cũng được tập trung nghiên cứu. Một bộ gồm 269 câu hỏi dành cho đối tượng nhân viên  
đã được thu thập. Bộ câu hỏi bao gồm câu hỏi về nhân khẩu học và đánh giá của nhân viên về các hoạt động quản trị  
nguồn nhân lực tại nơi làm việc và nhận thức về dịch vụ mà họ đã cung cấp. Trong khi đó, 156 bảng khảo sát đã được  
thu thập từ khách hàng nhằm đánh giá nhận thức của họ về chất lượng dịch vụ trong khách sạn họ đã sử dụng dịch vụ.  
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng công tác QTNNL trong khách sạn có mối tương quan thuận với chất lượng dịch vụ.  
Nó cũng chỉ ra rằng có tồn tại khoảng cách nhận thức về chất lượng dịch vụ giữa khách hàng và nhân viên về các vấn đề  
độ phản ứng của nhân viên, sự đảm bảo, độ tin cậy và sự đồng cảm.  
Từ khóa: Quản trị nguồn nhân lực, chất lượng dịch vụ, ngành khách sạn, Đà Nẵng, khoảng cách nhận thức.  
ABSTRACT  
This study focuses on examining the impact of HRM practices and its components on the quality of service offered by  
hotels in Danang, Vietnam. Also, the perception gap between customers and employees in terms of service delivered was  
evaluated. A set of 269 complete questionnaires for employees which include demographic questions, employees’  
assessment about HRM practices in the hotel where they work, their perception of the service they delivered were  
collected while another set of 156 questionnaires were collected from customers to evaluate their perception of the  
service quality in the hotels they stayed. The research findings indicate that HRM practices have positive correlations with  
service quality. It was also shown that there are some perception gaps in service quality between customers and staff in  
terms of responsiveness, assurance, reliability and empathy. The implications for managerial decisions and research  
contribution were discussed.  
Keywords: HRM practices, service quality, hotel industry, Danang, perception gap  
1. Giới thiệu  
Với tiềm năng phát triển du lịch, ngành du lịch và khách sạn tại Đà Nẵng đang ngày càng thu  
hút được sự quan tâm của Chính phủ, các tổ chức, công ty và công dân. Số lượng khách du lịch quốc tế  
và trong nước đến với Đà Nẵng đã được tăng lên đáng kể. Trong sáu tháng đầu năm 2013, lượng khách  
du lịch đạt mức cao nhất là 1.5 triệu. Tuy nhiên, ngành công nghiệp khách sạn Đà Nẵng đã phải đối  
mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các điểm đến khác trong nước cũng như các điểm đến khác từ  
các nước Đông Nam Á. Theo kết quả tác giả thu thâp từ đánh giá của khách hàng trên các website uy  
tín như booking.com, agoda.com, đánh giá của khách hàng về dịch vụ của khách sạn tại Đà Nẵng kém  
hơn so với các khách sạn trong 2 điểm du lịch có cùng đặc diểm là Boracay (Philipin) và Bali  
(Indonesia). (200 mẫu đánh giá đã được thu thập và phương pháp T-test được áp dụng để so sánh). Để  
tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khố35c liệt đó, ngành công nghiệp khách sạn tại thành  
phố Đà Nẵng cần tìm ra nguyên nhân, những tồn tại và cách khắc phục để cải thiện chất lượng dịch vụ.  
457  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
Một trong những nguyên nhân được báo chí nhắc tới trong thời gian gần đây là tình trạng thiếu  
nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành du lịch- khách sạn tại Đà Nẵng (baodanang.vn, 2016;  
laodong.com.vn, 2016). Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh được tầm quan trọng của mối  
tương tác giữa nhân viên và khách hàng trong việc xây dựng chất lượng dịch vụ tốt (Bitner, & Booms,  
1990; Zeithaml, Parasuraman, & Berry, 1985). Bên cạnh đó, tác động của thực tiễn quản lý nguồn  
nhân lực đối với chất lượng dịch vụ đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu (Morrison, 1996; bi et  
al, 1986; Dienhart, 1993; Lawrence, 1992). Tuy nhiên, tổ chức khảo sát để kiểm chứng lại mối quan hệ  
giữa các hoạt động nguồn nhân lực trong tổ chức và chất lượng dịch vụ trong công nghiệp khách sạn  
tại thành phố Đà Nẵng là cần thiết.  
Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ xác nhận những thành tố liên quan đến công tác QTNNL  
có ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ trong ngành khách sạn tại thành phố Đà Nẵng. Những thông tin từ  
bài nghiên cứu này sẽ là một nguồn tư liệu giúp các nhà quản lý khách sạn tìm ra những thiếu sót trong  
chính sách nguồn nhân lực của họ và tìm ra cách để cải thiện các chính sách, nhờ đó cải thiện dịch vụ  
của khách sạn.  
Bài nghiên cứu gồm có 3 mục tiêu nghiên cứu:  
Mục tiêu nghiên cứu 1: Xác định mối quan hệ giữa công tác QTNNL và chất lượng dịch vụ theo  
đánh giá của khách hang trong ngành khách sạn tại Đà Nẵng  
Mục tiêu nghiên cứu 2: Xác định mối quan hệ giữa các thành tố trong QTNNL (Tuyển dụng,  
Đào tạo và phát triển, Đánh giá thành tích, Sự tham gia, Điều kiện làm việc, Lương thưởng) và chất  
lượng dịch vụ và tìm ra thành tố nào có tác động lớn nhất đến chất lượng dịch vụ.  
Mục tiêu nghiên cứu 3: Xác định khoảng cách nhận thức giữa nhân viên và khách hang về chất  
lượng dịch vụ.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Mối quan hệ giữa thực tiễn QTNNL và chất lượng dịch vụ  
Khi nhân viên tương tác với khách hàng, họ truyền nhận thức của họ về thực tiễn quản lý nhân  
sự qua mối tương tác đó(Ulrich, Halbroock, Meder, Stuchlick &Thorpe, 1991). Do đó thực tiễn quản  
trị nhân sự đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa tổ chức và nguồn nhân lực, trong việc  
quản lý hoạt động và phát triển của tổ chức. Đã có nhiều nghiên cứu phân tích mối quan hệ trực tiếp  
giữa QTNNL và các khía cạch của chất lượng dịch vụ (Schneider & Bowen, 1993; Peccei &  
Rosenthal, 2001; Humphrey, Ehrich, Kelly, Sandall, Redfern, Morgan & Guest, 2003). Những nghiên  
cứu này đã đưa ra kết luận rằng QTNNL thực sự có mối liên quan trực tiếp đến chất lượng dịch vụ.  
2.1.2. Mô hình đo lường nhận thức về thực tiễn QTNNL và chất lượng dịch vụ  
Để đánh giá nhận thức của nhân viên về thực tiễn quản lý nhân sự trong khách sạn họ làm việc,  
tác giả sử dụng thang đo HRMPPS được phát triển bởi Demo, G., Neiva, E. R., Nunes, I., & Rozzett,  
K. (2012). Sáu yếu tố của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực sẽ được đánh giá là: Tuyển dụng và lựa  
chọn, sư tham gia, Đào tạo và Phát triển, Lương thưởng, Đánh giá thành tích dựa theo năng lực, điều  
kiện làm việc,  
Để đo lường chất lượng dịch vụ của các khách sạn ở Thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu này sử  
dụng thang đo được phát triển bởi Parasuraman (1988) có tên là Thang đo SERVQUAL. Mặc dù mô  
hình này đã tồn tại rất lâu, nó được sử dụng rộng rãi để kiểm tra mức độ chất lượng dịch vụ. Các câu  
458  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
hỏi được phát triển từ quy mô này sẽ được sử dụng cho cả bảng câu hỏi dành cho khách hàng và nhân  
viên.  
2.1.3. Khung khái niệm  
Khung khái niệm dưới đây bao gồm các biến chính của bài nghiên cứu này. Quản trị nguồn nhân  
lực và các thành tố của nó là các biến độc lập trong khi chất lượng dịch vụ theo nhận thức của nhân  
viên và khách hàng là các biến phụ thuộc. Khoảng cách nhận thức giữa chất lượng dịch vụ theo nhân  
viên và khách hang nhận xét được đo bằng cách so sánh sự khác biệt trong khảo sát.  
Chất lượng dịch  
vụ ( đánh giá của  
nhân viên  
Khoàng  
cách nhận  
thức  
Chất lượng dịch  
vụ ( đánh giá  
của khách hàng  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Bảng câu hỏi  
Dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu này được thu thập bằng các câu hỏi bảng câu hỏi nhân viên và  
khách hàng tại các khách sạn trong khu vực thành phố Đà Nẵng và khu nghỉ dưỡng.  
Một bộ gồm 10 bảng khảo sát cho nhân viên và 7 cho khách hàng đã được gửi đến 30 khách sạn  
ngẫu nhiên tại Thành phố Đà Nẵng. Trong bảng câu hỏi, nhân viên được hỏi về nhận thức của họ về  
thực tiễn quản trị nhân sự của khách sạn và chất lượng dịch vụ họ cung cấp cho khách hàng, trong khi  
đó, khách hàng được hỏi về đánh giá chủ quan của họ về chất lượng dịch vụ.  
2.2.2. Phương pháp phân tích dữ liệu  
a) Phân tích đô tin cậy của dữ liệu  
Chronbach alpha  
Saunders, Lewis và Thornhill (2012) cho rằng một nghiên cứu có đủ điều kiện để được tin cậy  
khi nó mang lại những kết quả tương tự khi tiến hành khảo sát vào thời điểm khác nhau với người trả  
lời khác nhau. Do đó, việc kiểm tra lại thử nghiệm là cách lý tưởng nhất để xác nhận độ tin cậy của kết  
quả (Field, 2012). Tuy nhiên, do hạn chế về ngân sách và thời gian, bài nghiên cứu chỉ có thể được  
thực hiện một lần khảo sát. Trong số các phương pháp tiếp cận có sẵn, nghiên cứu này sử dụng  
Chronbach alpha để kiểm tra độ tin cậy. Giá trị của Chronbach alpha nằm trong khoảng 0-1 và giá trị  
thấp nhất có thể chấp nhận được thường 0.67. Tuy nhiên, một số lập luận rằng giá trị của Chronbach  
phải lớn hơn 0,70. Các hệ số Alpha càng cao, độ tin cậy của khảo sát càng cao.  
b) Phân tích mối quan hệ giữa hai biến  
459  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
Để phân tích mối tương quan giữa QTNNL và chất lượng dịch vụ, nghiên cứu này sử dụng Phân  
tích tương quan và phân tích hồi quy  
Phân tích tương quan  
Field (2005) cho rằng hệ số tương quan (r) chỉ ra sự kết nối giữa các biến. Trong nghiên cứu này,  
các hệ số tương quan được xác định bằng cách sử dụng SPSS và mức độ tương quan giữa các hoạt  
động quản lý nhân sự và chất lượng dịch vụ. Thêm vào đó, phân tích tương quan cũng được tiến hành  
cho các thành tố trong công tác QTNNL và chất lượng dịch vụ. Cuối cùng, phân tích tương quan được  
áp dụng cho các thang đo thành tố trong cùng một thang đo để kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu và các  
công cụ, cụ thể là HRMPPS và thang đo SERVQUAL.  
Phân tích hồi quy  
Trong bài nghiên cứu này, phân tích hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm tra lại mối quan hệ giữa  
thực tiễn QTNNL và chất lượng dịch vụ (đã được chứng minh bằng phân tích tương quan). Bên cạnh  
đó, sự tác động của thực tiễn QTNNL và các thành tố của nó đối với chất lượng dịch vụ cũng được  
kiểm tra. Bằng cách sử dụng phương pháp stepwise, nghiên cứu còn có thể chỉ ra thành tố nào trong  
công tác QTNNL có tác động nhiều nhất vào sự thay đổi của chất lượng dịch vụ.  
3. Kết quả và đánh giá  
3.1. Kết quả  
Trong số 300 câu hỏi phân phát cho nhân viên của các khách sạn, 269 câu hỏi hoàn chỉnh đã  
được thu thập, chiếm 89,6% tổng số bảng câu hỏi. Trong số 270 câu hỏi đã được phân phối cho khách  
hàng sử dụng dịch vụ tại các khách sạn, 156 bảng câu hỏi hoàn chỉnh đã được thu thập, chiếm 62,4%.  
3.1.1. Phân tích độ tin cậy và hiệu lực  
Bảng 1 Cronbach’s Alpha  
Cronbach’s alpha-  
Cronbach’s -  
Khách hang  
Biến  
Số lượng  
Nhân viên  
Chiêu mộ và lựa chọn  
Sự tham gia  
6
7
0.897  
0.851  
Đào tạo & Phát triển  
Điề
u ki
ệ
n làm vi
ệ
c  
Đánh giá thành tích  
6
6
5
0.830  
0.840  
0.738  
Lương thưởng  
5
0.821  
Yếu tố hữu hình  
Sự tin cậy  
Sự đáp ứng  
Sự đảm bảo  
Sự đồng cảm  
4
5
4
4
5
0.728  
0.753  
0.662  
0.763  
0.788  
0.878  
0.847  
0.809  
0.819  
0.825  
Theo Bảng 1, giá trị hệ số alpha đều lớn hơn 0,7, dao động từ 0,738-0,897 đối với 6 thành tố của  
mô hình HRM và từ 0,728 đến 0.7.88 cho 4 yếu tố của mô hình SERVQUAL, trừ trường hợp 0,662  
của subscale Sự đáp ứng (Employee Survey). Theo Field (2005), subscale Sự đáp ứng cần phải được  
xem xét vì mức độ tin cậy thấp (0,662 <0,7). Tuy nhiên, cũng theo bảng 1, trong mô hình tương tự đã  
được sử dụng để khảo sát ý kiến của khách hàng, giá trị alpha là 0,809, cho thấy rằng thiết bị này là  
đáng tin cậy. Do đó, thang đo Sự đáp ứng vẫn bị giữ lại trong nghiên cứu này.  
460  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Những giá trị Cronbach Alpha đã chứng minh rằng các công cụ được sử dụng trong nghiên cứu  
này là đáng tin cậy  
Để kiểm tra tính hợp lý của công cụ và của dữ liệu, bài nghiên cứu áp dụng phân tích tương  
quan. Mối tương quan giữa mỗi câu hỏi và thang đo thành tố được kiểm tra (ví dụ, câu hỏi 1, 2, 3, 4, 5,  
6 với thang đo Chiêu mộ & Lựa chọn). Sau đó, mỗi câu hỏi đều được kiểm tra với thang đo tổng thể để  
xem có cần thiết phải loại bỏ câu hỏi hay không. Theo nghiên cứu, mối tương quan giữa các thành tố  
trong thang đo HRMPSS đều tương quan với thang đo thành tố. Tương tự, các thang đo thành tố của  
thang đo SERVQUAL đều tương quan với thang đo tổng thể với P<=0.01. Có thể khẳng định rằng 2  
thang đo này là hợp lệ.  
461  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
3.1.2. Mối tương quan giữa QTNNL, các thành tố của nó và CLDV  
Bài nghiên cứu sử dụng phân tích tương quan để phân tích mối quan hệ giữa công tác QTNNL  
và chất lượng dịch vụ. Theo bảng 4, tương quan giữa QTNNL và Chất lượng dịch vụ là đáng kể (β=  
0.819, P<0.01).  
Đối với các thành tố của QTNNL, Chiêu mộ và lựa chọn có tương quan đáng kể tới Chất lượng  
dịch vụ (CLDV)(β= 0.543, P<0.01). Tương tự, Sự tham gia (β= 0.697, P<0.01), Đào tạo và phát triển  
(β= 0.702, P<0.01), Điều kiện làm việc (β= 0.689, P<0.01), Đánh giá thành tích (β= 0.727, P<0.01)  
and Lương thưởng (β= 0.778, P<0.01) chứng minh rằng có mối quan hệ tích cực giữa những thành tố  
này và chất lượng dịch vụ trong khách sạn.  
Bảng 4 Tương quan giữa QTNNL và CLDV  
QTNNL  
1
CLDV  
1
QTNNL  
CLDV  
.819**  
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).  
Bảng 5: Tương quan giữa các thành tố QTNNL và CLDV  
CLDV  
1
CLDV  
Tuyển dụng  
.543**  
.697**  
.702**  
.689**  
.727**  
.778**  
Sự tham gia  
Đào tạo và phát triển  
Điều kiện làm việc  
Đánh giá thành tích  
Lương thưởng  
Để có kết luận chắc chắn hơn, phân tích hồi quy cũng đã được sử dụng để kiểm tra lại mối quan  
hệ giữa các hoạt động quản lý nhân sự và chất lượng dịch vụ. Bảng 6 khẳng định giá trị R (0,819) - hệ  
số tương quan giữa các hoạt động QTNNL và CLDV. R2 là 0,671, có nghĩa là các hoạt động  
QTNNLquyết định 67,1% sự thay đổi trong CLDV trong khi 32,9% phụ thuộc vào các yếu tố khác.  
Nói cách khác, QTNNL liên quan chặt chẽ đến CLDV.  
Bảng 6 Phân tích hồi quyBiến độc lập: QTNNL; Biến phụ thuộc: CLDV  
Change Statistics  
Adjusted  
R
Model  
1
R
R
R
Square  
F
Sig. F  
Change  
Square  
Square  
Change  
df1  
1
df2  
Change  
.819a  
0.671  
0.669  
0.671  
543.439  
267  
0
Phương pháp Stepwiseđã được sử dụng trong nghiên cứu này để giúp tìm ra những yếu tố có tác  
động lớn hơn đến biến phụ thuộc (CLDV). Nhân tố không có ý nghĩa được tự động loại khỏi mô hình  
(Bảng 7).  
463  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB 2016  
Tuyển dụng và lựa chọn được tự động loại ra khỏi mô hình hồi quy, điều đó có nghĩa rằng yếu tố  
này có tác dụng không đáng kể đến CLDV. Ngoài ra, Adjusted R2thể hiện mức độ quyết định sự thay  
đổi của CLDV của các biến độc lập sau khi loại bỏ một số biến không cần thiết. Ví dụ, trong mô hình  
1 (chỉ có Lương thưởng là yếu tố dự báo), Adjusted R2 tương đương với 0,604, có nghĩa là Lương  
thưởng chiếm 60,4% của sự thay đổi trong CLDV. Hơn nữa, khi đào tạo và phát triển được thêm vào,  
R vuông tăng lên đến 69,1%. Điều này có nghĩa là đào tạo và phát triển chiếm thêm 8,7%. Tương tự,  
có thể giải thích rằng Đánh giá thành tích, Sự tham gia, Điều kiện làm việc quyết định 2,6%, 1,2% và  
0,5% sự thay đổi trong CLDV tương ứng.  
464  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB2016  
3.1.3. Sự khác biệt trong nhận thức về CLDV của nhân viên và khách hàng  
Phân tích T-test đã chỉ ra rằng sự khác biệt trong nhận thức về CLDV của nhân viên và khách  
hàng là đáng kể. Khi tiến hành áp dụng T-test cho 22 câu hỏi trong CLDV, các thử nghiệm của câu hỏi  
(1, 2, 4, 8, 9, 11, 12, 15, 16, 20 trong bảng câu hỏi cho khách hàng) có ý nghĩa với p <= 0,05. Nói cách  
khác, trong 10 câu hỏi này, sự chênh lêch là đáng kể. Đối với các câu hỏi khác, vì T-test không đáng  
kể (p> 0,05), không có đủ bằng chứng để kết luận rằng có một sự khác biệt đáng kể giữa nhận thức của  
khách hàng và nhận thức của nhân viên liên quan đến những câu hỏi này.  
The difference in question 20 (“The employees consider the individual needs of the customers  
and offer them personalized service.”) was the most significant (t=--4.624, p<0.01), followed by  
question 11 (t =-4.297, p<0.01), question 8 (t =-3.720, p<0.01) and question 6 (t =-3.701, P<0.01). The  
rest of the list were also significantly different at P<0.05. In conclusion, there are a significant  
difference in the perception of employees and that of customer about the quality of service delivered.  
Sự khác biệt ở câu hỏi 20 (‘’ Các nhân viên xem xét các nhu cầu cá nhân của khách hàng và  
cung cấp cho họ dịch vụ cá nhân") là đáng kể nhất (t = - 4,624, p <0,01), tiếp theo là câu hỏi 11 (t = -  
4,297, p <0,01), câu hỏi 8 (t = -3,720, p <0,01) và câu 6 (t = -3,701, P <0,01). Phần còn lại cũng khác  
nhau đáng kể ở mức P <0,05. Kết luận, có sự khác biệt đáng kể trong nhận thức của người lao động và  
của khách hàng về chất lượng dịch vụ.  
3.2. Đánh giá  
Nghiên cứu này đã chứng minh rằng thực tiễn quản lý nhân sự trong ngành công nghiệp khách  
sạn có tác đông tích cực đến nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ, xác nhận các kết quả từ  
các nghiên cứu thực nghiệm trong quá khứ. Có thể thấy rằng, chính sách quản lý nhân sự tốt hơn có  
thể giúp cải thiện chất lượng dịch vụ trong ngành công nghiệp khách sạn.  
Trả lời câu hỏi về thành tố nào có tác động mạnh nhất tới chất lượng dịch vụ, nghiên cứu cho  
thấy rằnglương thưởng tác động nhiều nhất tới chất lượng dịch vụ. Điều này cũng được khẳng định bởi  
Schlesinger & Heskett, (1991). Ngoài ra, Đào tạo và Phát triển (ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN) là yếu  
tố có ảnh hưởng lớn thứ hai đối với chất lượng dịch vụ. Đánh giá thành tích, sư tham gia và điều kiện  
làm việc cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến SQ. Cuối cùng, tuyển dụng và lựa chọn dường như có  
không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất nhỏ đối với chất lượng dịch vụ trong ngành công nghiệp  
khách sạn tại thành phố Đà Nẵng.  
Nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng có sự khác biệt trong nhận thức của khách hàng và nhân viên về  
chất lượng dịch vụ. Đối với tất cả các khía cạnh, chất lượng dịch vụ được nhân viên đánh giá cao hơn  
so với nhận thức của khách hàng. Đầu tiên, khoảng cách lớn nhất trong nhận thức của nhân viên và  
khách hàng là mức độ của Dịch vụ cá nhân (Câu hỏi mục 20). Nhân viên nghĩ rằng họ đã đáp ứng dịch  
vụ cá nhan a hóa cho khách hàng nhưng khách hàng lại cho rằng nó không đạt đúng kì vọng của họ.  
Điều này có thể cho thấy rằng nhân viên cần phải được đào tạo tốt hơn để đáp ứng nhu cầu cá nhân của  
khách hàng. Hơn nữa, các nhân viên đánh giá ngoại hình của họ chuyên nghiệp hơn những gì khách  
hàng đánh giá về họ. Điều này dẫn đến nhu cầu cải thiện mức độ chuyên nghiệp và sự thống nhất. Đây  
là một yếu tố quan trọng đối với khách hàng để đánh giá giá trị của dịch vụ. Thêm vào đó, khách  
không đồng ý rằng nhân viên đã đưa đủ thông tin mà họ cần. Nó. Ngoài ra, về ý kiến rằng các dịch vụ  
được cung cấp là chính xác và thích hợp, mức độ đồng ý của khách hàng cũng thấp hơn so với các  
nhân viên. Những lỗ hổng này có thể khuyến cáo các nhà quản lý để suy nghĩ về định nghĩa tính đúng  
đắn của dịch vụ n và cố gắng cung cấp các dịch vụ mà khách hàng mong đợi.  
466  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
4. Kết luận  
Bài nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng cho mối quan hệ giữa thực tiễn QTNNL với chất lượng  
dịch vụ trong ngành công chỉ ra rằng một hệ thống quản lý nhân sự tổ chức tốt sẽ tạo động lực cho  
nhân viên, giúp cải thiện hiệu suất của họ và qua đó tăng chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu cũng chỉ ra  
rằng các nhà quản lý khách sạn nên chú ý hơn đến quản trị tưởng thưởng để mang đến tác động tích  
cực nhất cho nhân viên và tác động tích cực đến sự hài lòng của khách hàng. Ngoài ra, nó cũng cho  
thấy các chương trình đào tạo hiệu quả cho nhân viên là rất cần thiết để họ có thể được đào tạo tốt về  
cách thức để cung cấp dịch vụ có giá trị. Điều kiện làm việc, Đánh giá thành tích và sự tham gia cũng  
cần phải được xem xét để tạo động lực cho người lao động và giúp đáp ứng nhu cầu của khách hàng.  
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng chứng minh rằngcósự khác nhau trong nhận thức giữa khách  
hàng và nhân viên về chất lượng dịch vụ tại khách sạn họ làm việc/ sử dụng dịch vụ. Trong trường hợp  
này, các nhà quản lý cần phải kiểm tra lại dịch vụ mà họ cung cấp để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn của  
họ phù hợp với những tiêu chuẩn của khách hàng. Khách sạn nên tiến hành môt số nghiên cứu để  
khám phá các dịch vụ mà có thể khiến cho khách hàng hài lòng để họ có thể giảm thiểu khoảng cách  
nhận thức trong chất lượng dịch vụ. Hơn thế nữa, đội ngũ nhân viên cần được đào tạo kỹ càng để họ có  
thể cung cấp dịch vụ một cách chính xác và thích hợp cho khách hàng. Để có thể làm được điều này,  
hệ thống đào tạo và hệ thống thông tin liên lạc phải được tổ chức tốt.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Barney, J. B., & Wright, P. M. (1998). On becoming a strategic partner: The role of human  
resources in gaining competitive advantage. Human Resource Management (1986-1998), 37(1), 31.  
[2] Bitner, M. J., Booms, B. H., & Tetreault, M. S. (1990). The service encounter: diagnosing  
favorable and unfavorable incidents. The Journal of Marketing, 71-84.  
[3] Bowen, D., & Schneider, B. (1985). Boundary-spanning-role employees and the service  
encounter: Some guidelines for future management and research. New York: Lexington Books.  
[4] Delery, J. E., & Doty, D. H. (1996). Modes of theorizing in strategic human resource  
management: Tests of universalistic, contingency, and configurational performance  
predictions. Academy of management Journal, 39(4), 802-835.  
[5] Demo, G., Neiva, E. R., Nunes, I., & Rozzett, K. (2012). Human resources management policies  
and practices scale (HRMPPS): Exploratory and confirmatory factor analysis. BAR-Brazilian  
Administration Review, 9(4), 395-420.  
[6] Dietz, G., Wilkinson, A., & Redman, T. (2010). Involvement and participation. The SAGE  
handbook of human resource management, 245-268.  
[7] Huselid, M. A. (1995). The impact of human resource management practices on turnover,  
productivity, and corporate financial performance. Academy of management journal, 38(3), 635-672.  
[8] Kalleberg, A. L., & Moody, J. W. (1994). Human resource management and organizational  
performance. American Behavioral Scientist, 37(7), 948-962.  
[9] Kalleberg, A. L., & Moody, J. W. (1994). Human resource management and organizational  
performance. American Behavioral Scientist, 37(7), 948-962.  
[10] Morrison, D. R., & Vafa, C. (1996). Compactifications of F-theory on Calabi-Yau threefolds  
(II). Nuclear Physics B, 476(3), 437-469.  
[11] Mondy, R. W. (2008). Human resource management (10th ed.). Prentice Hall, NJ: Pearson  
467  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH – COMB2016  
[12] Morrison, E. W. (1996). Organizational citizenship behavior as a critical link between HRM  
practices and service quality. Human Resource Management (1986-1998), 35(4), 493.  
[13] Parasuraman, A., Zeithaml, V. A., & Berry, L. L. (1985). A conceptual model of service quality  
and its implications for future research. the Journal of Marketing, 41-50.  
[14] Pfeffer, J. (1994). Competitive advantage through people. California management review, 36(2),  
9-28.  
[15] Pugh, S. D., Dietz, J., Wiley, J. W., & Brooks, S. M. (2002). Driving service effectiveness  
through employee-customer linkages. The Academy of Management Executive, 16(4), 73-84.  
[16] Schneider, B., & Bowen, D. E. (1985). Employee and customer perceptions of service in banks:  
Replication and extension. Journal of applied Psychology, 70(3), 423.  
[17] Schlesinger, L. A., & Heskett, J. L. (1991). The service-driven service company Harvard Business  
Review Case Services.  
[18] Schneider, B., & Bowen, D. E. (1993). The service organization: Human resources management is  
crucial. Organizational Dynamics, 21(4), 39-52.  
[19] Schuler, R. S., & Jackson, S. E. (1987). Linking competitive strategies with human resource  
management practices. The Academy of Management Executive (1987-1989), 207-219.  
[20] Tan, C, L and Nasurdin, A, M. ―Human Resource Management Practices and Organizational  
Innovation: Assessing the Mediating Role of Knowledge Management Effectiveness‖ The Electronic  
Journal of Knowledge Management Volume 9 Issue 2 (pp155-167), available online at  
[21] Tzafrir, S. S., & Gur, A. B. (2007). HRM practices and perceived service quality: The role of trust  
as a mediator. Research and Practice in Human Resource Management, 15(2), 1-20.  
[22] Ulrich, D., Halbrook, R., Meder, D., Stuchlik, M., & Thorpe, S. (1991). Employee and customer  
attachment: Synergies for competitive advantage.Human resource planning, 14(2), 89-103.  
[23] Ubeda-Garcia, M., Marco-Lajara, B., Sabater-Sempere, V., & Garcia-Lillo, F. (2013). Does  
training influence organizational performance? Analysis of the Spanish hotel sector. EuropeanJournal  
of Training and Development, 37, 380-413.  
[24] Zeithaml, V. A., Berry, L. L., & Parasuraman, A. (1988). Communication and control processes  
in the delivery of service quality. The Journal of Marketing, 35-48.  
468  
pdf 12 trang Thùy Anh 15860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của công tác quản trị nguồn nhân lực đối với chất lượng dịch vụ trong ngành công nghiệp khách sạn, Đà Nẵng, Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_cong_tac_quan_tri_nguon_nhan_luc_doi_voi_chat_l.pdf