Lựa chọn các đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
LỰA CHỌN CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC  
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2021-2025 VÀ ĐẾN NĂM 2030  
Đinh Dũng Sỹ  
PGS. TS. Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Giai đoạn 5 đến 10 năm tới là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong con đường phát  
triển của Việt Nam để trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào năm  
2045 như mục tiêu đã được đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần  
thứ XIII của Đảng. Trên con đường phát triển của 25 năm tới, có nhiều thách thức  
nhưng cũng có nhiều cơ hội rất lớn; nếu tận dụng được cơ hội, có những lựa chọn  
và quyết sách đúng cho ưu tiên phát triển sẽ đưa đến thành công. Trong phạm vi  
bài viết này, tác giả chia sẻ một vài suy nghĩ về chiến lược phát triển đất nước cho  
giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030.  
Từ khóa: Đột phá chiến lược; phát  
triển kinh tế - xã hội giai đoạn  
2021-2025 và đến năm 2030; cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 26/3/2021  
: 12/4/2021  
: 14/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The period of 5 years to 10 years shall be an important milestone for Vietnam's  
development roadmap to becoming a developed and high-income country by  
2045 as it is set the goal in the Resolution of the 13th National Party Congress.  
On the development roadmap of the next 25 years, there are many challenges  
but also great opportunities; if it is to take advantage of opportunities, give out  
the right choices and decisions for development priorities, which shall lead to  
success. Within the scope of this article, the author shares some thoughts on the  
country's development strategy for the period 2021-2025 and up to 2030.  
Keywords: Strategic breakthrough;  
socio-economic development in the  
period of 2021-2025 and to 2030;  
fourth industrial revolution.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 26 Mar. 2021  
: 12 Apr. 2021  
: 14 Apr. 2021  
Approved  
Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước  
cũng như trên thế giới của 5 đến 10 năm  
tới có nhiều vấn đề, nhưng tất cả mọi thách  
thức cũng như cơ hội cho phát triển đều  
xoay quanh ba từ “CHUYỂN ĐỔI SỐ”.  
Điều đó cắt nghĩa rằng, tác động của cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN  
4.0) là nhân tố chính tạo ra cơ hội và cũng  
là thách thức cho con đường phát triển của  
chúng ta trong 5 đến 10 năm tới cũng như  
chặng đường 25 năm để trở thành một nước  
phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.  
Việc chúng ta có tận dụng, nắm bắt được  
cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư tạo ra hay không sẽ là một trong  
những nhân tố quyết định sự thành bại của  
chúng ta trên con đường phát triển đó,  
Nghị quyết Đại hội Đảng XIII nói về ba  
đột phá chiến lược, gồm: (1) Hoàn thiện  
đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể  
chế phát triển nền kinh tế thị trường định  
hướng XHCN; đổi mới quản trị quốc gia theo  
hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả; (2) Phát  
triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực  
chất lượng cao; (3) Xây dựng hệ thống kết  
cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế  
và xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, tất cả ba  
đột phá chiến lược nêu trên, nếu muốn thành  
Số 09(433) - T5/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
công đều phải xoay quanh trục chính của sự  
nghiệp “chuyển đổi số”. Với quan điểm nêu  
trên, nhiệm kỳ Quốc hội, Chính phủ 2021-  
2026, tầm nhìn 2030 cần lựa chọn trọng tâm  
để thực hiện ba đột phá chiến lược nêu trên  
(các đột phá của đột phá); đồng thời với việc  
lựa chọn trọng tâm cho ba đột phá chiến lược  
cũng cần phát huy tiềm năng, lợi thế của đất  
nước để thúc đẩy phát triển bền vững. Với  
nhận thức đó, tác giả đề xuất lựa chọn bốn  
lĩnh vực trọng tâm đột phá dưới đây:  
hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập  
môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách  
hành chính. Nghị quyết Đại hội XIII đã có  
những thay đổi quan trọng trong đột phá chiến  
lược này. Với cụm từ “hoàn thiện đồng bộ thể  
chế phát triển”, nội hàm của đột phá chiến lược  
này tại Nghị quyết Đại hội XIII đã mở rộng  
hơn, bao gồm toàn bộ hệ thống thể chế cho  
phát triển. Ở đây, đặc biệt nhấn mạnh từ “phát  
triển”, và lựa chọn này phù hợp với quan điểm  
xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển hay  
Chính phủ kiến tạo phát triển hiện nay.  
1. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển,  
tiếp tục rà soát và sửa đổi, bổ sung toàn  
diện hệ thống pháp luật để phục vụ  
chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển  
Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số  
Sau 35 năm đổi mới, chúng ta đã từng  
bước xây dựng được một hệ thống thể chế,  
pháp luật khá đầy đủ và đồng bộ trên hầu hết  
các lĩnh vực, đủ để điều chỉnh các quan hệ  
kinh tế - xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho quản  
lý nhà nước cũng như môi trường, hành lang  
pháp lý dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế -  
xã hội. Trong giai đoạn này, chúng ta có ba  
lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp2 và mỗi lần  
như vậy đánh dấu một giai đoạn mới của sự  
phát triển hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu  
cầu đổi mới, phát triển của đất nước. Giai  
đoạn thứ nhất từ 1986 đến 2001 (thời điểm  
sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp  
năm 1992), đặc trưng của hệ thống pháp luật  
giai đoạn này là hệ thống pháp luật chuyển  
đổi, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,  
quan liêu, bao cấp sang “phát triển nền  
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ  
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,  
theo định hướng XHCN”3. Giai đoạn hai  
từ năm 2002 đến năm 2013 (thời điểm ban  
hành Hiến pháp năm 2013), đặc trưng của  
hệ thống pháp luật trong giai đoạn này là  
hệ thống pháp luật chuyển đổi và hội nhập.  
Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này có  
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ  
rõ: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển,  
trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị  
trường định hướng XHCN. Đổi mới quản  
trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh  
hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng  
bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt  
hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo  
lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận  
lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành  
phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy  
động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi  
nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài  
chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân  
cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời  
tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát  
quyền lực bằng hệ thống pháp luật”1.  
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội  
2011-2020 cũng như Nghị quyết Đại hội XI và  
XII của Đảng mới chỉ xác định khâu đột phá  
này là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định  
1 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nhà xuất bản Chính  
trị quốc gia sự thật, năm 2021, tr.337.  
2 Năm 1992 ban hành Hiến pháp năm 1992 thay thế Hiến pháp năm 1980; Năm 2001 sửa đổi, bổ sung một số  
điều của Hiến pháp năm 1992 và năm 2013 ban hành Hiến pháp mới.  
3 Điều 15 Hiến pháp năm 1992.  
4
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
thể coi là thế hệ thứ hai của hệ thống pháp  
luật thời kỳ đổi mới và cũng là thế hệ thứ hai  
của hệ thống pháp luật chuyển đổi, đồng thời  
hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới.  
Giai đoạn ba từ năm 2014 đến nay và trong  
những thập kỷ tới, đặc trưng của hệ thống  
pháp luật giai đoạn này là hệ thống pháp luật  
hội nhập và kiến tạo phát triển. Có thể hiểu  
rằng, chủ ý và cũng là điểm nhấn đặc biệt  
của Nghị quyết Đại hội XIII là hoàn thiện thể  
chế cho phát triển chứ không phải là thể chế  
chung chung. Điều đó cũng có thể cắt nghĩa  
rằng, giai đoạn tới đây là giai đoạn nâng cấp,  
hoàn thiện thể chế ở một tầm cao mới, đó là  
thể chế cho phát triển gắn liền với quan điểm  
xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển trên  
nền tảng của hệ thống thể chế, pháp luật đã  
được xây dựng khá đầy đủ và đồng bộ sau 35  
năm đổi mới. Tác giả cho rằng, vấn đề cần  
ưu tiên, tập trung trong đột phá chiến lược  
của giai đoạn này là: Tiếp tục hoàn thiện hệ  
thống pháp luật để phục vụ chuyển đổi số,  
đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ số, nền  
kinh tế số, xã hội số. Sự lựa chọn này xuất  
phát từ lý do sau:  
kinh tế quy định, chi phối trình độ phát triển  
của pháp luật. Cũng có thể nói, pháp luật -  
một yếu tố của kiến trúc thượng tầng không  
bao giờ cao hơn hay đi trước hạ tầng kinh  
tế. Tuy nhiên, trong thời đại phát triển như  
vũ bão của khoa học, công nghệ ngày nay,  
đặc biệt là CMCN 4.0 thì có những lĩnh vực  
thể chế cần phải đi trước đón đầu, tạo cơ hội  
cho phát triển nhanh hơn. Chúng ta cũng đã  
có bài học và kinh nghiệm trong 35 năm đổi  
mới, khi vào thời điểm năm 1987 về cơ bản  
Việt Nam chưa có đầu tư nước ngoài, nhưng  
lần đầu tiên chúng ta đã xây dựng và ban  
hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam4.  
Khi đó, Việt Nam chủ yếu nghiên cứu, tham  
khảo kinh nghiệm và thể chế pháp luật về  
đầu tư nước ngoài trong khu vực và trên thế  
giới, chắt lọc và cân nhắc từng nội dung để  
xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên  
của Việt Nam khi trong nước loại quan hệ  
đầu tư này còn rất hiếm hoi. Thậm chí, chỉ  
sau 10 năm, đến năm 1996 khi Việt Nam ban  
hành Luật Đầu tư nước ngoài mới thay thế  
Luật năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài năm  
1996 được đánh giá là tiến bộ nhất khu vực  
Đông Nam Á.  
- Tác động của CMCN 4.0 đến chuyển  
đổi nền kinh tế ở mọi quốc gia là rất lớn  
và cũng đã rất rõ ràng. Nếu quốc gia nào đi  
chậm trong cuộc cách mạng này thì sẽ tụt  
hậu rất xa. Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội  
trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước  
đây, nay phải nắm bắt thời cơ, không thể để  
thời cơ trôi đi và mãi vẫn chỉ là một nước  
đi sau về muộn. Để phát triển được một nền  
kinh tế số trong 5 đến 10 năm tới, việc xây  
dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật, tạo  
nền tảng, môi trường pháp lý cho kinh tế số  
phải được ưu tiên, đi trước. Về mặt nguyên  
lý, pháp luật không bao giờ đi trước điều kiện  
kinh tế - xã hội. Điều kiện, trình độ phát triển  
- Trong bối cảnh CMCN 4.0, Việt Nam  
cần chạy đua với thời gian để nghiên cứu,  
từng bước hình thành khung khổ pháp lý cho  
phát triển các nền tảng số, như mạng 5G, trí  
tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), điện  
toán đám mây (Cloud Computing), Internet  
vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain)… Chỉ  
có thể phát triển thật nhanh các nền tảng số  
mới tạo lập được cơ sở và mở ra những ứng  
dụng đa dạng cho sự phát triển của kinh tế số,  
xã hội số. Theo đó, xây dựng và hoàn thiện  
thể chế cho sự phát triển của các nền tảng số  
và sau đó là các quan hệ của nền kinh tế số,  
xã hội số là yêu cầu cấp bách của 5 đến 10  
4 Trên thực tế, từ năm 1977, Việt Nam đã có văn bản pháp lý đầu tiên về đầu tư nước ngoài là “Điều lệ đầu tư  
nước ngoài tại Việt Nam”, được ban hành bởi Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Hội đồng Bộ trưởng.  
Tuy nhiên, thực tiễn đầu tư nước ngoài theo Nghị định này hầu như không đáng kể.  
Số 09(433) - T5/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
năm tới. Trong lĩnh vực này và ở thời điểm  
hiện nay, tác giả cho rằng, thể chế phải đi tiên  
phong, vừa làm, vừa quan sát, vừa học hỏi,  
không phải đứng đợi sự xuất hiện hay hoàn  
thiện của các quan hệ kinh tế, công nghệ.  
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội, Chính phủ  
cần tập trung chỉ đạo rà soát toàn bộ hệ thống  
pháp luật để tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể  
chế phát triển, trong đó ưu tiên trọng tâm vào  
việc xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các  
luật để phục vụ xây dựng Chính phủ số, phát  
triển nền kinh tế số, xã hội số.  
trong nửa cuối của năm 2021 đến năm 2023,  
cần nghiên cứu, sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ,  
Luật Giao dịch điện tử, Luật Tần số vô tuyến  
điện, Luật Viễn thông…, đồng thời nghiên  
cứu sớm, ban hành các dự án luật mới để  
phục vụ phát triển các nền tảng số cũng như  
ứng dụng các nền tảng này trong phát triển  
kinh tế - xã hội như: Luật Công nghệ số,  
Luật về tiền số, tài sản số (thường gọi là tiền  
ảo, tài sản ảo)... Đặc biệt, trên tinh thần nghị  
quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cần  
nghiên cứu, xây dựng và ban hành cơ chế  
khuyến khích hoạt động đổi mới, sáng tạo  
như cơ chế, chính sách cho hoạt động đầu  
tư mạo hiểm, phương thức làm thí điểm, thể  
chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory  
sandbox) trong lĩnh vực công nghệ tài chính  
(Fintech); cơ chế khuyến khích và bảo vệ  
những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu  
trách nhiệm, dám đương đầu với những khó  
khăn, thử thách và quyết liệt trong hành  
động vì lợi ích chung.  
Để thực hiện được nhiệm vụ nêu trên,  
ở khía cạnh tổ chức thực hiện, tác giả  
cho rằng:  
- Quốc hội khóa XV, tại kỳ họp thứ nhất,  
cần ban hành nghị quyết (hoặc thể hiện  
trong Nghị quyết kỳ họp của Quốc hội) về  
rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật, dự kiến  
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản  
luật, tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số,  
phát triển nền kinh tế, xã hội số.  
- Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo triển  
khai sâu rộng với những giải pháp thiết  
thực, hiệu quả “Chương trình chuyển đổi  
số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến  
năm 2030”, được ban hành theo Quyết định  
số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ  
tướng Chính phủ. Đồng thời, Bộ Thông tin  
và Truyền thông cũng sớm hoàn thiện, trình  
Chính phủ ban hành trong năm 2021 “Đề  
án phát triển kinh tế số Việt Nam đến năm  
2025, định hướng đến năm 2030” đã được  
giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày  
01/01/2021 của Chính phủ, tạo cơ sở, định  
hướng chính sách cho việc xây dựng, hoàn  
thiện lĩnh vực pháp luật này.  
- Chính phủ tiếp tục chỉ đạo tổng rà soát  
hệ thống pháp luật giai đoạn hai ngay trong  
năm 2021. Tháng 2/2020, Thủ tướng Chính  
phủ đã thành lập Tổ công tác của Thủ tướng  
về rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật trên 10  
lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành.  
Kết quả rà soát bước đầu đã được Chính  
phủ báo cáo Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp  
thứ 10 Quốc hội khóa XIV. Tuy nhiên, kết  
quả rà soát chủ yếu đánh giá về những mâu  
thuẫn, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ của  
hệ thống pháp luật, chưa thực sự toàn diện,  
và đặc biệt là chưa đi sâu nghiên cứu nhằm  
mục tiêu đổi mới hệ thống pháp luật trong  
bối cảnh của CMCN 4.0, chưa cập nhật đầy  
đủ những định hướng trong hoàn thiện đồng  
bộ thể chế phát triển của Nghị quyết Đại hội  
Đảng lần thứ XIII. Kết quả rà soát giai đoạn  
hai tiếp theo sẽ là cơ sở để đề xuất chương  
trình xây dựng luật, pháp lệnh cho các năm  
2022 đến 2026 và nhiệm kỳ tiếp theo. Ngay  
2. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng  
đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội  
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ:  
“Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ,  
hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát  
triển một số công trình trọng điểm quốc gia  
6
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu;  
chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn  
thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia,  
từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”5.  
Từ những định hướng này, tác giả cho rằng,  
Việt Nam cần tập trung đầu tư phát triển hai  
lĩnh vực sau:  
từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; đến  
2030 mới phổ cập dịch vụ mạng di động  
5G. Tác giả cho rằng, các mục tiêu nêu trên  
là khá khiêm tốn, tốc độ phổ cập mạng 5G  
cũng như kinh tế số như vậy là chậm. Nếu  
chúng ta quyết tâm thực hiện chuyển đổi số  
nền kinh tế nhanh hơn, thì cần tập trung đầu  
tư xây dựng mạng 5G nhanh hơn nữa, đến  
năm 2026 có thể phổ cập dịch vụ mạng 5G,  
đặc biệt là phải phổ cập ở tất cả các thành  
phố và các trung tâm kinh tế, các khu kinh  
tế, khu công nghiệp trên cả nước.  
1) Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng  
công nghệ thông tin, các nền tảng số như:  
mạng 5G, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu  
lớn (Big data), điện toán đám mây (Cloud  
Computing), Internet vạn vật (IoT), chuỗi  
khối (Blockchain)… thậm chí chúng ta  
cũng phải bắt đầu nghiên cứu ngay về mạng  
6G và điện toán lượng tử... là những công  
nghệ có thể nói là tất yếu của nhân loại trong  
tương lai gần. Bởi lẽ, việc phát triển nhanh  
các nền tảng số nêu trên và ứng dụng rộng  
rãi trong chuyển đổi số mới là tiền đề cho  
nền kinh tế Việt Nam có bước nhảy vọt, thay  
đổi về chất, để đi nhanh hơn trong sự nghiệp  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc  
biệt, trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, cần tập  
trung đầu tư phát triển mạng 5G nhanh hơn  
nữa, tạo cơ sở nền tảng cho việc chuyển đổi  
số các ngành kinh tế, các cơ quan, doanh  
nghiệp cũng như các lĩnh vực của đời sống  
xã hội. Hiện nay, tốc độ phát triển mạng  
5G của Việt Nam được cho là không chậm  
hơn so với các nước trên thế giới, nhưng  
chúng ta vẫn đang thua một số nước ở Đông  
Nam Á như Thái Lan (các nhà mạng của  
Việt Nam đang tiến hành thử nghiệm và dự  
kiến sẽ khai thác thương mại từ giữa năm  
2021). Theo Chương trình chuyển đổi số  
quốc gia đến năm 2025, định hướng đến  
năm 2030 được phê duyệt bởi Quyết định  
số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ  
tướng Chính phủ, đến năm 2025, kinh tế số  
chiếm 20% GDP; trong đó, tỷ trọng kinh tế  
số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu  
10%; đến 2030 kinh tế số chiếm 30% GDP,  
2) Tập trung nguồn lực cả đầu tư công,  
cả đầu tư tư nhân xây dựng tuyến đường sắt  
Bắc - Nam tốc độ cao trong 10 năm (2021-  
2030). Theo tác giả, xây dựng tuyến đường  
sắt Bắc - Nam mới tốc độ cao cần được coi  
là bước đột phá về hạ tầng giao thông trong  
10 năm tới (cùng với việc hoàn thành tuyến  
đường bộ cao tốc phía Đông). Đường sắt  
Việt Nam là một trong những ngành công  
nghiệp lâu đời nhất Việt Nam. Tuy nhiên,  
trong 140 năm kể từ năm 1881, khi người  
Pháp đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đầu  
tiên ở Việt Nam và sau 75 năm thành lập  
nước Việt Nam mới đến nay, đường sắt Việt  
Nam vẫn gần như giẫm chân tại chỗ. Đất  
nước Việt Nam trải dài từ Bắc tới Nam, hệ  
thống sân bay và các cảng biển cũng như  
các trung tâm, các vùng kinh tế trọng điểm  
được phân bổ suốt dọc chiều dài đất nước.  
Vì vậy, nhu cầu vận chuyển hành khách  
cũng như hàng hóa, kết nối các vùng kinh tế  
trong cả nước là rất lớn. Chúng ta đã chậm  
trong đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao  
tốc phía Đông nhưng đã quá chậm trong  
đầu tư thêm một tuyến đường sắt Bắc - Nam  
tốc độ cao.  
Hiện nay, Bộ Giao thông Vận tải đang  
xây dựng dự thảo quy hoạch đường sắt thời  
kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, trong đó dự  
5 Xem: sách đã dẫn, tr. 338.  
Số 09(433) - T5/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
kiến sẽ xây dựng hai đoạn đường sắt tốc độ  
cao là Hà Nội - Vinh và Nha Trang - TP.  
Hồ Chí Minh và đưa vào khai thác vào năm  
2030-2032; đoạn Vinh - Nha Trang sẽ xây  
dựng trong thời kỳ 2030-2050. Nếu đến  
năm 2050 Việt Nam mới có tuyến đường  
sắt tốc độ cao hoàn chỉnh thì thực sự là quá  
chậm trễ, không đáp ứng được yêu cầu phát  
triển cũng như đột phá chiến lược về kết cấu  
hạ tầng theo Nghị quyết đại hội XIII.  
độ cao. Chia thành các đoạn, các gói thầu  
khác nhau để gọi thầu tư nhân đầu tư theo  
phương thức đối tác công tư (PPP). Trong  
đó, Nhà nước bỏ vốn đầu tư công để giải  
phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, sau đó tư  
nhân bỏ vốn đầu tư, xây dựng nhà ga, tuyến  
đường và quản lý vận hành (hoặc Nhà nước  
quản lý vận hành), bảo đảm thu hồi vốn của  
chủ đầu tư tư nhân (thậm chí bảo đảm thu  
hồi vốn của chủ đầu tư tư nhân trước rồi mới  
đến Nhà nước). Những đoạn nào tư nhân  
không đầu tư thì Nhà nước tập trung nguồn  
vốn đầu tư công để có thể 10 đến 15 năm  
hoàn thành toàn bộ tuyến đường sắt này.  
Về giải pháp tổ chức thực hiện, tác giả  
đề xuất:  
Thứ nhất, muốn xây dựng được tuyến  
đường sắt này, trước hết đỏi hỏi phải có một  
quyết tâm chính trị cao, sự đồng lòng của  
mọi cấp, mọi ngành và các địa phương cùng  
nhân dân cả nước như chúng ta đã quyết tâm  
và thành công trong xây dựng tuyến đường  
điện 500kv Bắc - Nam thời Cố Thủ tướng  
Võ Văn Kiệt. Cần phải có giải pháp để huy  
động cho công trình này một lực lượng lao  
động đông đảo, nhất là thanh niên, quân  
đội, thậm chí cần phải có các phong trào  
thanh niên như chúng ta đã từng làm trước  
đây trong các công trình xây dựng Thủy  
điện Hòa Bình, Thủy điện Trị An, Hồ Kẻ  
Gỗ… Tất nhiên, trong điều kiện hiện nay,  
các phong trào động viên, khơi dậy lòng  
yêu nước và cống hiến của lực lượng lao  
động, nhất là thanh niên phải đi liền với chế  
độ đãi ngộ, thù lao xứng đáng.  
Thứ ba, việc đầu tư đòi hỏi nguồn vốn rất  
lớn, câu hỏi đặt ra là vốn đầu tư ở đâu? Đối  
với đầu tư tư nhân, nếu triển khai các gói  
thầu theo phương thức PPP như nêu trên,  
tính toán có lợi thì chắc chắn các nhà đầu  
tư tư nhân, bao gồm cả các nhà đầu tư nước  
ngoài sẽ làm. Về nguồn vốn đầu tư công,  
chắc chắn là phải đi vay. Theo đó, tác giả  
đề nghị Quốc hội nên chấp nhận điều chỉnh  
tỷ lệ nợ công cao hơn so với mức hiện nay6.  
Mức cụ thể là bao nhiêu thì cần phải tính  
toán trên cơ sở các cân đối vĩ mô của nền  
kinh tế. Tác giả khuyến nghị nên hạn chế  
vay ODA, vay từ nước ngoài mà cần tập  
trung phát hành trái phiếu Chính phủ để vay  
trong nước là chính. Theo tác giả, hiện nay  
cũng như trong những năm tới mặt bằng lãi  
suất huy động cũng như cho vay tín dụng  
của hệ thống ngân hàng có xu hướng giảm7,  
nếu Chính phủ phát hành trái phiếu dài hạn  
Thứ hai, cần sớm khảo sát, đánh giá và  
xây dựng dự án tuyến đường sắt mới tốc  
6 Theo Báo cáo đánh giá nợ công giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ, năm 2019 nợ công/GDP là 55,0%; năm  
2020 ước đạt 56,8%. Nợ Chính phủ/GDP năm 2019 là 48,0%; năm 2020 ước 50,8%. Nợ nước ngoài Quốc  
gia/GDP năm 2019 là 47,1%; năm 2020 ước 47,9%. Xem bài viết “Tỷ lệ nợ công /GDP của Việt Nam không  
ngừng giảm”, Tạp chí vneconomy.vn, ngày 22/10/2020.  
7 Báo cáo của Ngân hàng nhà nước cho biết, từ năm 2016 đến thời điểm cuối tháng 10/2020, cơ quan này đã điều chỉnh  
giảm 2-2,5% các mức lãi suất điều hành. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam là giảm mạnh nhất (Philippines  
giảm 1,75%; Thái Lan giảm 0,75%; Indonesia giảm 1%; Malaysia giảm 1,25%). Tuy nhiên, theo thống kê của Quỹ tiền  
tệ quốc tế (IMF) ở thời điểm tháng 7/2020, lãi suất cho vay bình quân của ASEAN-6 khoảng 5,7%/năm; ASEAN-4  
khoảng 4,82%/năm; Việt Nam vẫn còn khá cao với 7,2%/năm. Mặc dù vậy, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với  
các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam là 4,5%/năm, thấp hơn mức bình quân của ASEAN-4 (Xem bài viết: “Lãi suất cho  
vay của Việt Nam cao hay thấp so với khu vực”, Tạp chí điện tử VnEconomy ngày 31/10/2020). Theo quan sát của tác  
giả, từ thời điểm đó đến nay lãi suất huy động cũng như cho vay của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm.  
8
Số 09(433) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
5 đến 10 năm, với lãi suất hợp lý thì vẫn có  
thể huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ  
dân cư hiện còn rất lớn. Kinh nghiệm nhiều  
nước phát triển có tỷ lệ nợ công rất cao,  
thậm chí lên đến 200%/GDP nhưng chủ yếu  
là từ vay trong nước (ví dụ như Nhật Bản8),  
nên họ vẫn bảo đảm an toàn các cân đối vĩ  
mô của nền kinh tế.  
phục vụ chuyển đổi số nền kinh tế. Theo  
đó, cần tập trung vào xây dựng cơ chế và  
giải pháp đồng bộ cho cả ba lĩnh vực: giáo  
dục, đào tạo nghề và đào tạo đại học. Đặc  
biệt là đào tạo nghề, cần đổi mới chương  
trình, nội dung, tập trung đào tạo các nghề  
đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số nền kinh tế.  
Trong đó, cần đặc biệt chú ý đến việc liên  
kết trong đào tạo nghề với sử dụng lao động  
giữa các cơ sở đào tạo nghề với các doanh  
nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp. Đồng thời,  
với việc cập nhật bổ sung tư duy, kiến thức  
của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho  
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, để  
nâng cao nhận thức cũng như chất lượng  
trong nghiên cứu, hoạch định chính sách và  
quản lý nhà nước thời CMCN 4.0 của đội  
ngũ này, Bộ Thông tin và Truyền thông cần  
sớm hoàn thiện trình Chính phủ ban hành  
“Đề án nâng cao nhận thức, đào tạo và phát  
triển nguồn nhân lực chuyển đổi số đến năm  
2025, định hướng đến năm 2030” đã được  
giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của  
Chính phủ, ngày 01/01/2021. Mục tiêu cần  
đạt là trong 10 năm tới, nguồn nhân lực Việt  
Nam phải đủ về số lượng và năng lực, từng  
bước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế  
số, xã hội số.  
Trong giai đoạn 10 đến 15 năm tới, theo  
tác giả, nếu có cơ chế kêu gọi được đầu tư  
tư nhân và dành nguồn lực đầu tư công để  
hoàn thành tuyến đường sắt tốc độ cao (cùng  
với tuyến đường bộ cao tốc phía đông) thì  
mục tiêu đột phá về kết cấu hạ tầng kinh tế  
theo Nghị quyết của Đại hội Đảng XII và  
XIII cơ bản là thành công, góp phần thúc  
đẩy phát triển kinh tế - xã hội cả nước.  
3. Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực  
Nghị quyết Đại hội Đảng XIII ghi: “Phát  
triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân  
lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn  
nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và  
các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao,  
tạo bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện, cơ  
bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với  
cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân  
tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và  
ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới  
sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất  
nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá  
trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam,  
tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự  
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”9  
4. Đầu tư, tạo bước phát triển đột phá,  
bền vững về nông nghiệp trong 10 năm tới  
Vấn đề này không nằm trong ba đột phá  
chiến lược của Nghị quyết Đại hội XIII,  
nhưng tác giả cho rằng, nông nghiệp là lĩnh  
vực có nhiều tiềm năng và dư địa phát triển,  
cần khai thác cho phát triển bền vững đất  
nước, cải thiện đời sống người dân. Việc  
chọn trọng tâm phát triển nông nghiệp vì  
lý do sau:  
Tác giả cho rằng, chiến lược phát triển  
nguồn nhân lực trong 5 đến 10 năm tới  
vẫn xoay quanh việc đào tạo, bồi dưỡng  
nguồn nhân lực để cập nhật các thành tựu  
khoa học, công nghệ của CMCN 4.0 và  
8 Theo thống kê của IMF, nợ công của Nhật Bản là 237,6%/GDP; Singapore là 111,1%/DGP; Mỹ là 105,2%/  
GDP. Xem bài viết “Những quốc gia vay nợ nhiều nhất”, Tạpchitaichinh.vn ngày 27/10/2019. Theo khảo sát  
của tác giả, ở thời điểm hiện nay nợ công của Nhật Bản có thể đã lên đến 250%/GDP.  
9 Xem: Sách đã dẫn, tr.338.  
Số 09(433) - T5/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
- Chúng ta có tiềm năng về phát triển  
nông nghiệp: tài nguyên đất đai, khí hậu cơ  
bản có nhiều lợi thế, sản phẩm đa dạng và  
giàu tiềm năng xuất khẩu, người nông dân  
cần cù, chịu khó, có khả năng sáng tạo và  
khao khát làm giàu;  
thế Luật Hợp tác xã hiện hành; (2) nông  
dân cho doanh nghiệp thuê đất; (3) góp vốn  
bằng đất để cùng đầu tư thành lập doanh  
nghiệp nông nghiệp hoặc thực hiện dự án;  
(4) ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm để  
chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu;  
- Dư địa cho phát triển nông nghiệp còn  
rất lớn: nếu khai thác được các tiềm năng  
nêu trên, đặc biệt, nếu sản phẩm nông nghiệp  
của Việt Nam được sản xuất theo đúng tiêu  
chuẩn, quy chuẩn theo mô hình nông nghiệp  
hữu cơ thì khả năng xuất khẩu nông sản là rất  
lớn từ lợi thế của 16 hiệp định thương mại tự  
do mang lại; đồng thời thị trường trong nước  
với gần 100 triệu dân đang khao khát thực  
phẩm sạch cũng là dư địa lớn cho phát triển  
nông nghiệp bền vững;  
- Đưa khoa học, công nghệ cao vào  
nông nghiệp.  
Để hiện thực hóa được ba việc trên, Nhà  
nước cần có chính sách mạnh mẽ hỗ trợ  
phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sạch,  
hướng mạnh vào xuất khẩu. Cụ thể, trong  
10 năm tới mỗi năm Nhà nước cần đầu tư  
khoảng 30 đến 35 nghìn tỷ đồng (khoảng  
trên dưới 2% chi ngân sách), tập trung cho  
ba việc sau: (1) chuyển đổi cơ cấu sản xuất  
nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu;  
(2) thực hiện điều tra, khảo sát, thống kê  
để thông tin, dự báo cho người dân về sản  
phẩm, về thị trường; tăng cường xúc tiến  
thương mại, giúp người dân, doanh nghiệp  
tìm kiếm thị trường xuất khẩu, khắc phục  
tình trạng được mùa mất giá, tình trạng “giải  
cứu” nông sản, người nông dân mù mờ về  
thông tin thị trường; (3) thực hiện khuyến  
nông mạnh mẽ bằng cách hỗ trợ chuyển  
giao khoa học, công nghệ cho doanh nghiệp  
nông nghiệp, nông dân. Trong đó, đặc biệt  
chú trọng hỗ trợ nghiên cứu và cung cấp  
giống cây trồng, vật nuôi mới có năng  
suất, chất lượng cao; hỗ trợ nghiên cứu và  
chuyển giao quy trình công nghệ về nuôi  
trồng hiện đại, sạch, đáp ứng yêu cầu xuất  
khẩu sang các thị trường khó tính, tận dụng  
tối đa lợi thế của các hiệp định thương mại  
tự do đang còn rất nhiều dư địa cho xuất  
khẩu nông sản.  
- Phát triển được nông nghiệp thì tức  
khắc sẽ giải quyết được vấn đề nông dân  
và nông thôn - khu vực mà Nhà nước cần  
quan tâm cải thiện và thay đổi; người nông  
dân cần được quan tâm hơn để nâng cao thu  
nhập và chất lượng cuộc sống. GDP tăng  
cao phải đi liền với thu nhập của người nông  
dân tăng cao, đó mới là phát triển bền vững.  
Để tạo bước phát triển đột phá, bền vững  
trong nông nghiệp, tác giả cho rằng, cần  
phải xử lý ba vấn đề sau:  
- Sớm sửa đổi Luật Đất đai (trong năm  
2022) để mở rộng hạn điền, cho phép tích  
tụ đất đai nhiều hơn, đồng thời với việc điều  
chỉnh mục đích sử dụng đất nông nghiệp  
linh hoạt, phù hợp, bảo đảm cân đối, hài hòa  
giữa an ninh lương thực của quốc gia với  
hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất;  
- Phải kết nối được các doanh nghiệp,  
nhà đầu tư với nông dân để sản xuất nông  
nghiệp quy mô lớn theo các phương thức  
chính như sau: (1) Phát triển đa dạng các  
mô hình kinh tế hợp tác ngoài mô hình hợp  
tác xã hiện nay. Theo đó, cần phải xây dựng  
và ban hành Luật về kinh tế hợp tác thay  
Nếu làm được như trên, theo tác giả,  
sau 10 năm, đến 2030, nông nghiệp Việt  
Nam chắc chắn sẽ cất cánh. Đây là thế  
mạnh mà Việt Nam cần khai thác cho phát  
triển bền vững  
10  
Số 09(433) - T5/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 10700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lựa chọn các đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflua_chon_cac_dot_pha_chien_luoc_trong_phat_trien_kinh_te_xa.pdf