Mối quan hệ giữa áp dụng IAS 36 và chất lượng thông tin theo quan điểm người hành nghề: Một bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam

Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Mối quan hệ giữa áp dụng IAS 36 và chất lượng thông tin theo quan  
điểm người hành nghề: Một bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam  
The relationship between the IAS 36 adoption and the quality of  
information from practitioner perspectives: An empirical evidence  
from Vietnam  
Võ Văn Hiền1, Lê Hoàng Vân Trang1*  
1Trường Đại học Tiền Giang, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: l[email protected]u.vn  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
Bài viết điều tra mối quan hệ giữa áp dụng chuẩn mực kế  
toán tổn thất tài sản và chất lượng thông tin của tài sản công bố,  
đồng thời đo lường những lợi ích mà nó mang lại theo quan điểm  
của người hành nghề nhằm thúc đẩy quá trình áp dụng chuẩn mực  
này tại Việt Nam. Các kỹ thuật phân tích định lượng được sử  
dụng với dữ liệu sơ cấp thu thập từ bảng khảo sát 93 doanh nghiệp  
trong nhóm VNR500 năm 2019. Phân tích hồi quy cho thấy áp  
dụng kế toán tổn thất tài sản cải thiện đáng kể đến chất lượng  
thông tin, xếp theo mức độ giảm dần là tính trung thực, tính so  
sánh, tính thích đáng. Đây là điều kiện tiên quyết cho khả năng  
thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán, nâng  
cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra,  
theo kết quả của kiểm định T – Test, nhóm doanh nghiệp đã áp  
dụng kế toán tổn thất tài sản cho rằng chuẩn mực này đem lại  
nhiều lợi ích hơn so với nhóm doanh nghiệp chưa áp dụng. Phát  
hiện này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp  
ứng dụng kế toán tổn thất tài sản tích cực hơn, tự nguyện hơn.  
Bên cạnh đó, nghiên cứu đưa ra các kiến nghị tạo điều kiện thuận  
lợi hơn khi áp dụng chuẩn mực này.  
Ngày nhận: 22/01/2021  
Ngày nhận lại: 14/03/2021  
Duyệt đăng: 17/03/2021  
Từ khóa:  
chất lượng thông tin, báo cáo tài  
chính, giảm giá trị tài sản, tổn  
thất tài sản, VNR500  
ABSTRACT  
This study investigates the relationship between the  
application of accounting standards about assets impairment and  
the quality of information of disclosed assets and measures it’s  
benefits from the practitioner’s perception to promote applying  
this standard in Vietnam. The quantitative analysis techniques are  
used with primary data collected from the survey of 93  
enterprises in the VNR500 group in 2019. Regression analysis  
shows that applying assets impairment accounting improves the  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
quality of information, sorted by the level of diminishing  
influence, that is faithfulness, relevance, and comparability. This  
is a prerequisite for attracting foreign investment through the  
stock market and improving the competitiveness of domestic  
enterprises. In addition, according to the results of the T-Test, the  
group of enterprises who have applied asset impairment  
accounting thinks that this standard brings more benefits than the  
group of enterprises who have not yet applied. This finding  
provides clear evidence that motivates businesses to adopt more  
Keywords:  
quality of information, financial  
reporting, assets write-downs,  
assets impairment, VNR500  
actively and more voluntarily. Moreover, this study gives  
recommendations to create more favorable conditions when  
enterprises are applying this standard.  
1. Giới thiệu  
Thông tin kế toán trình bày trên Báo Cáo Tài Chính (BCTC) rất quan trọng vì chúng  
định lượng các giao dịch kinh tế tài chính bằng con số và giá trị. Người sử dụng BCTC dựa vào  
các con số này để đưa ra quyết định liên quan (Ahmed, 2020; Jonas & Blanchet, 2000; Herath  
& Albarqi, 2017; Zhang, 2019), chẳng hạn như: (1) đầu tư, vay nợ; (2) đánh giá tính kịp thời  
và không chắc chắn của dòng tiền tương lai; (3) biết được giá trị thực sự của tài sản, nợ phải trả  
và những thay đổi của chúng.  
Chuẩn mực kế toán quốc tế về tổn thất tài sản (IAS 36) được ban hành năm 1998, hiệu  
lực từ ngày 01/07/1999. Tuy nhiên, chuẩn mực này được điều chỉnh vào các năm 2004, 2008,  
2009 và lần mới nhất vào ngày 29/05/2013 điều chỉnh nội dung “Công bố giá trị có thể thu hồi  
đối với tài sản phi tài chính”, có hiệu lực cho kỳ báo cáo năm bắt đầu trong hoặc sau ngày  
01/01/2014 (Deloitte, 2014). Chuẩn mực này đảm bảo giá trị còn lại của tài sản không vượt quá  
giá trị có thể thu hồi của nó, nghĩa là Doanh Nghiệp (DN) phải đo lường được giá trị thực sự  
của tài sản từ quá khứ đến hiện tại, tương lai và công bố chi tiết các thông tin đó trên BCTC.  
Các nghiên cứu của Mizuno (2004), AbuGhazaleh, Al-Hares, và Haddad (2012), Kanakriyah  
(2013), Bepari và Mollik (2015), Mazzi, Liberatore, và Tsalavoutas (2016), Chen, Collins,  
Kravet, và Mergenthaler (2018), Maisuradze (2019) cho thấy tuân thủ tốt chuẩn mực tổn thất  
tài sản trong đo lường và ghi nhận, hoàn nhập các khoản lỗ tổn thất sẽ nâng cao hiệu quả hoạt  
động và cải thiện đáng kể Chất Lượng Thông Tin (CLTT) của tài sản trên BCTC, thu hút vốn  
đầu tư từ nước ngoài qua thị trường chứng khoán, hỗ trợ việc ra quyết định.  
Trái lại, một số nghiên cứu cho rằng việc ghi nhận hay hoàn nhập các khoản lỗ tổn thất  
khi áp dụng IAS 36 có thể không đáng tin cậy vì nó phụ thuộc vào các ước tính, xét đoán chủ  
quan của nhà quản lý và cả hành vi quản trị lợi nhuận (Carlin & Finch, 2009; Comiskey &  
Mulford, 2010; Han, Tang, & Tang, 2020; Huikku, Mouritsen, & Silvola, 2017). Điều này làm  
cho số liệu của tài sản trên BCTC chưa phản ánh giá trị thực sự của tài sản, thậm chí là đánh  
lừa người dùng.  
Có thể nhận thấy áp dụng IAS 36 mang lại nhiều lợi ích cho DN thể hiện qua CLTT của  
tài sản được công bố trên BCTC với điều kiện nhà quản lý vận dụng chuẩn mực này một cách  
tích cực. Trong bối cảnh Việt Nam đang tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu  
tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán thì các nhà quản lý DN sẽ phải nỗ lực nhiều hơn  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
trong việc công bố BCTC có chất lượng.  
Tại Việt Nam, Truong (2014) cho thấy một số DN đã vận dụng kế toán tổn thất tài sản  
theo IAS 36 vào hoạt động sản xuất kinh doanh và nêu lên một số rào cản mà nó mang lại, tuy  
nhiên tác giả chỉ dừng lại ở phương pháp nghiên cứu định tính. Vào thời điểm khảo sát  
31/12/2016 thì Le (2019) cho thấy có 61 DN đã áp dụng IAS/IFRS để lập BCTC. Hơn nữa,  
theo quyết định số 345/QĐ-BTC ngày 16/03/2020 của Bộ Tài chính thì các DN Việt Nam sẽ tự  
nguyện áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) từ năm 2022 đến 2025. Hoà theo xu  
hướng chung đó, chúng tôi cho rằng cần thiết phải điều tra nhận thức của người hành nghề (nhà  
quản lý tài chính, kế toán) về những lợi ích của việc áp dụng IAS 36. Đồng thời đo lường mối  
quan hệ giữa áp dụng IAS 36 và CLTT trên BCTC theo nghiên cứu của Kanakriyah (2013) để  
làm rõ hơn tầm quan trọng của việc áp dụng IAS 36 ở Việt Nam.  
Kết quả nghiên cứu đóng góp cho lý thuyết áp dụng kế toán tổn thất tài sản, nâng cao  
nhận thức của người hành nghề trong việc cung cấp thông tin tài sản có chất lượng, tạo động  
lực thúc đẩy quá trình áp dụng IAS 36 cho các DN. Đây cũng là tài liệu tham khảo cho Bộ Tài  
chính ban hành các hướng dẫn liên quan IAS 36 trước khi Việt Nam chính thức áp dụng.  
Tiếp theo, phần 2 sẽ trình bày ngắn gọn cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu được  
thể hiện ở phần 3, kết quả nghiên cứu được trình bày ở phần 4, phần 5 thảo luận kết quả và phần  
6 rút ra kết luận, kiến nghị.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Lý thuyết liên quan kế toán tổn thất tài sản  
2.1.1. Lý thuyết đại diện (Agency theory)  
Schipper (1989), quản lý thu nhập là một sự can thiệp có kế hoạch vào các phương pháp  
kế toán để cung cấp thông tin BCTC sai lệch ra bên ngoài với mục đích thu được một số lợi  
nhuận riêng. Các nhà quản lý sử dụng phán đoán của họ trong các giao dịch tài chính để sửa  
đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên liên quan về tình hình tài chính thực sự của DN (Healy &  
Wahlen, 1999).  
Zucca và Campbell (1992), Francis, Hanna, và Vincent (1996) cho rằng nhà quản lý  
điều chỉnh thu nhập để duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định vì họ đánh đồng thu nhập ổn định đi  
kèm với rủi ro thấp hơn và giá cổ phiếu sẽ cao hơn. Nhà quản lý có xu hướng điều chỉnh thu  
nhập bằng việc ghi giảm giá trị tài sản trên BCTC một cách tuỳ ý trong kỳ kế toán làm cho thu  
nhập trở nên cao hơn (Strong & Meyer, 1987). Các DN có thể tận dụng những lợi thế từ tấm  
chắn thuế nếu họ tiến hành ghi giảm giá trị tài sản và tăng thu nhập (Chunguang, 2006).  
2.1.2. Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)  
Theo Watts và Zimmerman (1986) thì điểm chính của lý thuyết tín hiệu là một bên (nhà  
quản lý) gửi một số thông tin có ý nghĩa về hiệu quả của họ cho một bên khác (cổ đông và  
người dùng thông tin đó). Theo Francis và cộng sự (1996) việc công bố giảm giá trị tài sản có  
khả năng truyền tải thông tin làm thay đổi lợi nhuận. Nhà quản lý có thể thay đổi chiến lược  
trong quản lý thu nhập để tạo ra thu nhập cao hơn trên BCTC bằng cách ghi giảm giá trị tài sản.  
Spence (1978), các DN cần phải phân biệt mình với các doanh nghiệp khác về CLTT  
trên BCTC. Họ rất mong muốn tăng mức độ công bố thông tin tự nguyện và kỳ vọng duy trì  
giá cổ phiếu. Theo kết luận của Spear và Taylor (2011) thì việc ghi giảm giá trị tài sản là một  
tín hiệu cho thấy khả năng cải thiện hiệu quả hoạt động. Việc ghi giảm này giúp giải quyết các  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
vấn đề do thông tin không cân xứng gây ra, các nhà quản lý có thể báo hiệu những thông tin  
quan trọng mà họ nắm giữ cho cổ đông bằng cách ghi giảm giá trị tài sản tuỳ theo bối cảnh thật  
sự của thị trường, đây sẽ là một tín hiệu về hiệu quả hoạt động tốt hơn trong tương lai (Aboody,  
Barth, & Kasznik, 1999). Ngoài ra, DN cũng có thể công bố khoản lỗ tổn thất để đưa ra tín hiệu  
rằng họ đang nỗ lực cung cấp BCTC trung thực trong giai đoạn hiện tại và tương lai gần. Về  
mặt logic, nếu một quyết định ghi giảm giá trị tài sản có liên quan đến việc tái cấu trúc, thì đây  
như là một tín hiệu cho thấy nhà quản lý đang làm tốt trong một môi trường kinh doanh khó  
khăn, chẳng hạn như việc loại bỏ dây chuyền sản xuất không mang lại lợi nhuận (Spear &  
Taylor, 2011).  
Hai lý thuyết trên cho thấy ghi giảm tài sản có thể mang lại hiệu quả tích cực hoặc tiêu  
cực. Nếu nhà quản lý ghi giảm tài sản một cách hợp lý và chặt chẽ thì các thông tin tài sản trình  
bày trên BCTC đảm bảo chất lượng, hỗ trợ hiệu quả việc ra quyết định của nhà quản lý và nhiều  
hơn là cổ đông, nhà đầu tư. Ngược lại, nếu nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận  
thông qua ghi giảm giá trị tài sản sẽ làm giảm CLTT tài sản công bố.  
2.2. CLTT trên BCTC  
Hội Đồng Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB) năm 2001 đã đưa ra bốn đặc trưng  
chính có liên quan đến CLTT của BCTC là: (1) có thể hiểu được; (2) thích đáng; (3) đáng tin  
cậy và (4) có khả năng so sánh. IASB (2010) khẳng định rằng thích đáng và trình bày trung  
thực là đặc tính chất lượng nền tảng của thông tin trên BCTC. Thông tin đảm bảo thích đáng  
khi nó mang giá trị dự đoán, giá trị xác nhận hay cả hai. Thông tin đảm bảo trình bày trung thực  
khi nó mang các giá trị toàn vẹn, trung lập, không sai sót. Bên cạnh đó, IASB (2010) cũng nêu  
rõ các thuộc tính làm gia tăng CLTT, bao gồm: có khả năng so sánh, có thể kiểm chứng, kịp  
thời và có thể hiểu được.  
Jonas và Blanchet (2000), xây dựng các thuộc tính CLTT theo FASB, chia làm hai nhóm  
đặc điểm bao gồm: (1) đặc điểm cơ bản gồm thích hợp và đáng tin cậy; và (2) nhóm các đặc  
điểm thứ yếu là nhất quán và có thể so sánh được. Bovee, Roberts, và Srivastava (2009), dựa  
trên quan điểm của IASB, các đặc điểm CLTT trên BCTC gồm: có thể hiểu được, thích đáng,  
đáng tin cậy và có thể so sánh được. Nghiên cứu của Kanakriyah (2013) dựa trên các nghiên  
cứu trước về CLTT, tác giả đã đúc kết CLTT gồm 6 đặc tính, trong đó có 3 đặc tính cơ bản, đó  
là: tính trung thực (kiểm chứng, trung lập, chính xác), tính thích đáng (phản hồi, kịp thời, dự  
báo) và tính so sánh khi đo lường mối quan hệ giữa CLTT và áp dụng IAS 36 tại quốc gia mới  
nổi Jordan.  
2.3. Tóm tắt nội dung IAS 36  
Phạm vi điều tiết của IAS 36 gồm những tài sản như: (1) bất động sản, nhà xưởng, máy  
móc thiết bị; (2) tài sản cố định vô hình, bao gồm lợi thế thương mại; (3) tài sản tài chính, các  
khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, liên doanh. Những tài sản này lại chiếm tỷ trọng  
lớn trên tổng tài sản.  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Tổn thất  
Yêu cầu kiểm  
Đo lường  
Ghi nhận lỗ  
tra  
Giá trị còn  
Thấp hơn  
Tất cả  
Lợi thế  
tài  
thương  
mại  
Khấu hao  
theo giá  
Giá trị có  
thể thu hồi  
gốc  
Cao hơn  
Giá trị hợp  
lý trừ chi  
phí bán  
Giá trị sử  
dụng  
Khi  
có  
dấu  
hiệu  
tổn  
Vốn chủ  
hoặc báo  
cáo thu  
nhập  
Hàng  
năm  
Hình 1. Tóm tắt nội dung chuẩn mực kế toán tổn thất tài sản  
Nguồn: Truong (2014)  
Hình 1 cho thấy tất cả tài sản khi có dấu hiệu tổn thất đều phải được kiểm tra nếu DN  
có áp dụng IAS 36. Để áp dụng hiệu quả IAS 36, DN phải xác định được giá trị có thể thu hồi  
của tài sản, so sánh nó với giá trị còn lại (giá trị tài sản được khấu hao theo giá gốc). Số lỗ tổn  
thất sẽ là số chênh lệch cao hơn giữa giá trị còn lại và giá trị có thể thu hồi của tài sản và nó  
được ghi nhận vào báo cáo thu nhập. Để xác định được giá trị có thể thu hồi, trước hết phải tính  
toán giá trị hợp lý trừ chi phí bán (đo lường tài sản theo giá trị hợp lý) và giá trị sử dụng (thông  
qua tỷ lệ chiết khấu áp dụng). Riêng đối với tài sản là lợi thế thương mại sẽ được đánh giá hàng  
năm vào cuối năm.  
2.4. Lợi ích khi áp dụng IAS 36  
Áp dụng IAS 36 giúp ích cho các nhà đầu tư, những người dự định mua lại các DN và  
cho cả cơ quan quản lý. Chen, Chen, Su, và Wang (2004) cho rằng việc áp dụng IAS 36 tự  
nguyện ở thị trường mới nổi Trung Quốc giúp cho nhà đầu tư có thể định giá DN tốt hơn, kết  
luận này phù hợp với AbuGhazaleh và cộng sự (2012) với mẫu nghiên cứu 500 DN niêm yết ở  
Anh, giai đoạn 2005 – 2006. Ahmed và Guler (2007) cho rằng các DN niêm yết ở Mỹ giai đoạn  
1994 – 2004 nhận được nhiều niềm tin hơn từ phía nhà đầu tư khi họ tiến hành đo lường và ghi  
nhận các khoản giảm giá trị tài sản. Cơ quan nhà nước có thể đánh giá được chính xác tình hình  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
tài chính và có biện pháp hỗ trợ cần thiết nếu DN ghi nhận tổn thất tài sản theo giá trị hợp lý  
(Mazzi et al., 2016).  
Việc ghi nhận và hoàn nhập các khoản lỗ tổn thất sẽ giúp DN xác định tình hình tài  
chính thực sự vì tài sản được phản ánh theo giá trị thực sự của nó, từ đó nâng cao hiệu suất sử  
dụng tài sản, cải thiện hiệu quả hoạt động (Chen et al., 2004; Mazzi et al., 2016). Kết quả nghiên  
cứu của Vasile-Cristian-Ioachim và Vasile (2015) cho thấy ghi nhận, hoàn nhập lỗ tổn thất có  
ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động của các DN năng lượng ở Romania, giai đoạn 2010 – 2013.  
Hơn nữa, với đối tượng là 37 DN niêm yết trên sàn chứng khoán Colombo (Sri – Lanka),  
Sooriyakumaran và Thirunavukkarasu (2013) chứng minh các khoản lỗ tổn thất có tương quan  
mật thiết với ROA, ROCE, NPM, OPR, EPS. Điều này cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho nhà  
quản lý đưa ra các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như giá cổ phiếu trên thị  
trường. Ngoài ra, công bố số lỗ tổn thất trên báo cáo thu nhập làm cho các DN công nghiệp  
niêm yết trên sàn chứng khoán Amman (Jordan) nhận được nhiều nguồn tài trợ hơn từ các nhà  
đầu tư nước ngoài trong năm 2015. Phát hiện này khuyến khích các nhà quản lý tạo ra các  
BCTC có CLTT cao hơn (Nawaiseh, 2016).  
Điển hình nhất phải kể đến nghiên cứu của Kanakriyah (2013). Tác giả điều tra nhận  
thức của các DN ở Jordan khi áp dụng IAS 36 trong mối quan hệ với CLTT. Nghiên cứu thực  
hiện hồi quy đơn biến, kết quả cho thấy áp dụng IAS 36 cải thiện đáng kể CLTT trên BCTC.  
Trong đó, CLTT được đo lường bởi các đặc tính đại diện là tính trung thực (kiểm chứng, trung  
lập), tính thích đáng (dự báo, phản hồi, kịp thời), tính so sánh, tính phù hợp, tính dễ hiểu, tính  
đáng tin cậy. Ngoài ra, tác giả đã đưa ra một số lợi ích từ áp dụng IAS 36 như cải thiện hiệu  
quả ra quyết định, phản ánh giá trị thực sự của tài sản, tạo ra một chỉ báo nâng cao hiệu quả  
hoạt động trong hiện tại lẫn tương lai, thu hút vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán,… Thang  
đo lợi ích áp dụng IAS 36 được Kanakriyah đo lường bởi 6 biến quan sát (Phụ lục 1).  
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu các lợi ích mà IAS 36 mang lại theo quan điểm  
người hành nghề giữa nhóm DN đã áp dụng và chưa áp dụng chuẩn mực nhằm tìm ra bằng  
chứng thúc đẩy quá trình áp dụng IAS 36 ở Việt Nam. Chúng tôi đề xuất giả thuyết sau:  
Giả thuyết H1: Có sự khác biệt về lợi ích áp dụng IAS 36 theo quan điểm giữa nhóm  
DN đã áp dụng và chưa áp dụng chuẩn mực.  
2.5. Mối quan hệ giữa áp dụng IAS 36 và CLTT trình bày trên BCTC  
2.5.1. Áp dụng IAS 36 và tính trung thực  
Dahmash, Durand, và Watson (2009) đã điều tra mức độ phù hợp của giá trị và độ tin  
cậy trong báo cáo lợi thế thương mại và tài sản cố định vô hình của các DN ở Úc. Kết quả chỉ  
ra rằng các DN Úc trình bày thông tin về lợi thế thương mại và các tài sản vô hình có giá trị  
phù hợp nhưng không trung thực. Lhaopadchan (2010) cho rằng các DN ở Châu Âu đã cải thiện  
đáng kể tính trung thực và sự phù hợp của thông tin tài sản được công bố trên BCTC hợp nhất  
khi áp dụng kế toán theo giá trị hợp lý để đo lường, ghi nhận các khoản tổn thất tài sản. Với đối  
tượng thu thập dữ liệu là 2.611 DN tuân thủ theo nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung  
(GAAP) của Úc, giai đoạn 1994 – 2003, Duangploy, Shelton, và Omer (2005) chứng minh rằng  
thông tin tổn thất lợi thế thương mại và tài sản vô hình được công bố trên BCTC phản ánh trung  
thực giá trị của các tài sản này.  
Với mẫu là 911 DN niêm yết ở Úc, Bepari và Mollik (2015) kiểm tra sự tuân thủ IAS  
36 khi ghi nhận lỗ tổn thất, dữ liệu thu thập từ S&P/ASX 500, giai đoạn 2006 – 2009. Nhóm  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
tác giả cho thấy các DN có đội ngũ kế toán được đào tạo sâu về IAS 36 tuân thủ tốt hơn các  
quy định liên quan, nhà quản lý có xu hướng hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu  
cũng cho thấy sự thực thi mạnh mẽ của kiểm toán viên cùng với năng lực quản trị công ty tốt  
sẽ khiến quá trình chuyển đổi từ kế toán theo giá gốc sang giá trị hợp lý nhanh hơn, dẫn đến đo  
lường và ghi nhận các khoản lỗ tổn thất tin cậy hơn, thông tin tài sản trên BCTC công bố có  
tính trung thực cao hơn.  
Giả thuyết H2: Áp dụng IAS 36 có quan hệ thuận chiều đến tính trung thực của thông  
tin tài sản trên BCTC.  
2.5.2. Áp dụng IAS 36 và tính thích đáng  
Trong bối cảnh DN có sự thay đổi nhà quản lý, những người mới có xu hướng báo cáo  
khoản lỗ tổn thất nhiều hơn nhằm thực hiện chiến lược quản lý thu nhập trong tương lai (Zang,  
2008). Tác giả trích xuất dữ liệu từ hệ thống Compustat của 969 DN niêm yết năm 2000. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy thông tin các khoản lỗ tổn thất cũng như giá trị tài sản công bố trên  
BCTC là không đáng tin cậy, có một sự tiêu cực trong các hợp đồng nợ và khó dự đoán thu  
nhập trong tương lai. Huikku và cộng sự (2017) cũng đưa ra nhận định tương tự, các khoản tổn  
thất trình bày trên BCTC không phản ánh giá trị thực sự của tài sản dẫn đến những tiên đoán  
sai lệch thu nhập tương lai, ảnh hưởng đến hiệu quả ra quyết định.  
Khi điều tra việc trì hoãn ghi nhận lỗ tổn thất tài sản của 4.300 DN niêm yết ở Mỹ, giai  
đoạn 2003–2011, Filip, Jeanjean, và Paugam (2015) cho thấy các nhà quản lý cố tình trì hoãn  
ghi nhận lỗ tổn thất lợi thế thương mại để thao túng dòng tiền trong tương lai. Họ không công  
bố khoản lỗ tổn thất trong báo cáo thu nhập, hành động thao túng đó ảnh hưởng tiêu cực đến  
hiệu suất tương lai.  
Yang (2003) điều tra mối quan hệ giữa ghi nhận số lỗ tổn thất và hiệu quả ra quyết định  
của nhà đầu tư dựa trên dữ liệu thu thập từ 320 DN niêm yết trên sàn giao dịch Thượng Hải và  
Thẩm Quyến, giai đoạn 1998–2001. Tác giả cho rằng khi DN phản ánh giá trị tài sản quá mức  
thì họ phải ghi nhận số lỗ tổn thất kịp thời, điều này sẽ giúp nhà đầu tư dự báo được sự biến  
động lợi nhuận tương lai. Tương tự, Thompson, Fang, Schmidt, Knowles, và Musani (2010)  
cho rằng ghi nhận lỗ tổn thất tài sản là chỉ báo hàng đầu cho sự suy giảm lợi nhuận trong tương  
lai. DN có thể dự đoán được liệu có sự suy giảm lợi thế thương mại tương lai hay không khi  
thực hiện hoạt động mua lại. Nhóm tác giả thu thập dữ liệu từ hệ thống Compustat của 1.584  
DN, giai đoạn 1996–2006.  
André, Dionysiou, và Tsalavoutas (2018) thu thập dữ liệu từ S&P Europe 350 Index của  
373 DN ở 16 nước Châu Âu, giai đoạn 2010–2011 với mục tiêu nghiên cứu tầm quan trọng của  
việc công bố các khoản lỗ tổn thất theo IAS 36. Số lỗ tổn thất công bố đáp ứng tính kịp thời,  
hỗ trợ nhà đầu tư ra quyết định kinh tế tương lai. Nhà quản lý tuân thủ yêu cầu công bố theo  
IAS 36 giúp cải thiện tình hình tài chính và cung cấp thông tin dự báo khả quan hơn cho nhà  
đầu tư.  
Giả thuyết H3: Áp dụng IAS 36 có quan hệ thuận chiều đến tính thích đáng của thông  
tin tài sản trên BCTC.  
2.5.3. Áp dụng IAS 36 và tính so sánh  
Comiskey và Mulford (2010) phân tích dữ liệu thu thập từ 150 DN niêm yết ở Mỹ, tác  
giả cung cấp bằng chứng cho thấy có sự hạn chế thông tin so sánh giữa các DN khi họ đo lường  
tổn thất lợi thế thương mại. Hiệu quả của tính so sánh bị ảnh hưởng bởi các quốc gia sử dụng  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
mô hình định giá đa dạng và tỷ lệ chiết khấu chưa phù hợp. Một số DN phớt lờ đo lường tổn  
thất để ưu tiên nâng cao giá trị thị trường qua việc tăng thu nhập. Phát hiện thêm cho thấy nhà  
quản lý đưa ra các ước tính chủ quan để thay đổi phương thức đo lường, tránh ghi nhận khoản  
lổ tổn thất. Carlin và Finch (2009) cung cấp kết quả tương tự, việc xác định số lỗ tổn thất bị ảnh  
hưởng nghiêm trọng bởi tỷ lệ chiết khấu dòng tiền để tính toán giá trị có thể thu hồi của tài sản.  
Tuy nhiên, cơ sở xác định tỷ lệ chiết khấu do nhà quản lý lựa chọn và ước tính, điều này có khả  
năng làm giảm đáng kể tính so sánh của thông tin trình bày.  
Chen và Gong (2020) điều tra việc ghi nhận tổn thất lợi thế thương mại theo SFAS 142.  
Dữ liệu thu thập từ hệ thống Compustat của 104.532 DN niêm yết, giai đoạn 2000–2003. Tác  
giả chỉ ra rằng sử dụng SFAS 142 làm giảm tính so sánh giữa các DN có tần suất ghi nhận lỗ  
tổn thất cao và các DN chưa ghi nhận. Việc ghi nhận khoản suy giảm lợi thế thương mại sẽ ít  
nghiêm trọng hơn khi mà khả năng xác định tài sản thuần trong DN cao hơn. Hơn nữa, các tiêu  
chuẩn ghi nhận tổn thất lợi thế thương mại theo SFAS 142 làm ảnh hưởng tiêu cực đến khả  
năng so sánh của thông tin đối với các khoản mục có độ không chắc chắn cao và khó xác minh.  
Chen và cộng sự (2018) thu thập từ cơ sở dữ liệu mua lại & sáp nhập – SDC của 1.307  
DN niêm yết Mỹ, giai đoạn 1983–2009 để tìm hiểu mối quan hệ giữa lỗ tổn thất tài sản và quyết  
định mua lại. Kết quả cho thấy khoản lỗ tổn thất lợi thế thương mại được báo cáo hỗ trợ đáng  
kể cho quyết định mua lại trong bối cảnh nhà đầu tư cần thông tin so sánh mức độ báo cáo lỗ  
giữa các DN. Phát hiện thêm rằng các khoản lỗ tổn thất và hoạt động thoái vốn ít xảy ra hơn  
sau mua lại đối với DN báo cáo thông tin có tính so sánh cao hơn.  
Giả thuyết H4: Áp dụng IAS 36 có quan hệ thuận chiều đến tính so sánh của thông tin  
tài sản trên BCTC.  
Trung thực  
Chất lượng  
Áp dụng  
IAS 36  
thông tin trên  
báo cáo tài  
chính  
Thích đáng  
So sánh  
Hình 2. Mô hình nghiên cứu lý thuyết  
Nguồn: Kanakriyah (2013)  
3. Phương phꢀp nghiên cứu  
3.1. Mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu  
Chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện, mẫu khảo sát ngẫu nhiên là 400 DN  
DN có quy mô lớn, có niêm yết thông thường có giá trị tài sản lớn, đây là một trong những tiêu  
chuẩn cơ bản để áp dụng IAS 36. Mặc dù các DN niêm yết tại Việt Nam không nhiều nhưng hệ  
thống quản trị tài chính - kế toán được giả định theo thông lệ toàn cầu (Vo, 2017). Dữ liệu sơ  
cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi (Phụ lục 1) gửi đến email nhà quản trị tài chính/kế  
toán bởi ứng dụng google docs forms. Trường hợp DN không cung cấp email nhân sự trên  
website riêng, chúng tôi liên hệ qua điện thoại để tìm địa chỉ email và gửi bảng hỏi.  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
3.2. Biến nghiên cứu  
Bảng 1  
Các biến dùng trong nghiên cứu  
Ký hiệu  
Tên biến  
Đo lường  
Nguồn  
Sooriyakumaran và  
Thirunavukkarasu (2013);  
Nawaiseh (2016);  
Dummy  
Áp dụng IAS  
Biến giả (“0”: đã  
áp dụng; “1”: chưa  
áp dụng)  
AD  
36  
Maisuradze (2019)  
Lợi ích áp  
dụng  
IAS 36  
AbuGhazaleh và cộng sự (2012);  
Kanakriyah (2013); Mazzi và  
cộng sự (2016)  
Likert  
LIAD  
6 biến quan sát  
Likert  
Tính trung  
TTT  
TTD  
TSS  
thực  
4 biến quan sát  
Likert  
Tính thích  
Kanakriyah (2013)  
đáng  
4 biến quan sát  
Likert  
Tính so sánh  
4 biến quan sát  
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp  
3.3. Phân tích dữ liệu  
Đầu tiên, chúng tôi thống kê mô tả dữ liệu, kiểm định Cronbach’s Alpha để đảm bảo độ  
tin cậy cho các bước sau.  
Chúng tôi tiếp tục thực hiện kiểm định Independent Samples T – Test giữa biến AD và  
LIAD để điều tra liệu có sự khác biệt đáng kể trong cảm nhận về những lợi ích mà IAS 36 mang  
lại hay không.  
Tiếp theo, phân tích tương quan Pearson các biến AD, TTT, TTD và TSS để tìm hiểu  
mối quan hệ giữa AD và CLTT. Sau cùng, để làm rõ hơn mối quan hệ đó, chúng tôi phân tích  
hồi quy đơn biến (Simple Linear Regression Analysis) theo nghiên cứu của Kanakriyah (2013)  
nhằm tìm ra bằng chứng cụ thể cho nghiên cứu này.  
Phương trình hồi quy đơn biến có dạng:  
Y = + xX +  
(1)  
Y
X
Trong đó, : biến phụ thuộc (CLTT); : biến độc lập (AD); : tham số ước lượng;  
: sai số.  
CLTT được đo lường bởi ba biến là TTT, TTD, TSS (Bảng 1), chúng tôi đưa ra ba  
phương trình hồi quy đơn biến cụ thể sau:  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
TTT =  
TTD =  
TSS =  
+
+
+
xAD +  
xAD+  
(Mô hình 1)  
(Mô hình 2)  
(Mô hình 3)  
xAD +  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu  
Bảng 2  
Thống kê mô tả người trả lời bảng hỏi  
N = 93  
Số lượng  
Tỷ lệ  
63.4  
36.6  
3.2  
Nữ  
Nam  
59  
34  
3
Giới tính  
Khác  
Trình độ  
Đại học  
Sau đại học  
Dưới 10 năm  
Trên 10 năm  
81  
9
32  
61  
87.1  
9.7  
34.4  
65.6  
Kinh nghiệm  
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu  
Bảng câu hỏi được gửi qua ứng dụng google docs forms đến 400 DN nhưng chỉ có 93  
bảng hỏi được phản hồi, tỷ lệ 23.2% (danh sách DN phản hồi đươc trình bày tại Phụ lục 2). Kế  
toán trưởng/giám đốc tài chính có trình độ đại học khá cao (87.1%), sau đại học (9.7%). Có  
65.6% đối tượng khảo sát công tác trên 10 năm và 63.4% là nữ.  
Bảng 3  
Mô tả đặc điểm của DN phản hồi khảo sát  
N = 93  
Dịch vụ  
Số lượng  
Tỷ lệ  
15.1  
2.1  
14  
2
Lĩnh vực  
Nông nghiệp  
Công nghiệp – xây dựng  
Chưa niêm yết  
77  
19  
74  
82.8  
20.4  
79.6  
Tình trạng niêm yết  
Đã niêm yết  
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu  
Bảng 3 cho thấy trong 93 DN phản hồi, có 14 DN hoạt động lĩnh vực dịch vụ, 77 DN  
thuộc lĩnh vực công nghiệp xây dựng (82.8%) và chỉ có hai DN nông nghiệp. Ngoài ra, có 19  
DN chưa niêm yết và 74 DN đã niêm yết (79.6%).  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Bảng 3  
Mô tả biến nghiên cứu  
Biến định tính (dummy)  
Số lượng  
Tỷ lệ  
Ký  
hiệu  
Áp dụng IAS 36 Chưa áp dụng Áp dụng IAS 36  
Chưa áp dụng  
AD  
11  
82  
11.8%  
88.2%  
Biến định lượng (thang đo Likert)  
Ký  
hiệu  
Giꢀ trị nhỏ  
nhất  
Giꢀ trị lớn  
nhất  
Hệ số  
Cronbach's Alpha  
Trung bình  
LIAD  
TTT  
TTD  
TSS  
1.67  
2.00  
2.25  
2.00  
5.00  
5.00  
5.00  
5.00  
3.4265  
2.6962  
3.0215  
2.8280  
0.913  
0.912  
0.830  
0.896  
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu  
Bảng 4 cho thấy chỉ có 11 DN Việt Nam tính đến 31/12/2019 đã áp dụng kế toán tổn  
thất tài sản, chiếm tỷ lệ khá thấp (11.8%). Các biến định lượng có giá trị trung bình thang đo  
đều từ 2.6 trở lên nghĩa là phần lớn các đối tượng trả lời đồng ý với các phát biểu trong bảng  
hỏi, riêng LIAD có giá trung bình khá cao (3.4). Hệ số Cronbach’s Alpha khá cao từ 0.8 trở  
lên, các thang đo này đều đạt yêu cầu để phân tích ở các bước sau (Nunnally & Bernstein, 1994;  
Nguyen, 2012).  
4.2. Kiểm định Independent Samples T – Test  
Bảng 4  
Thống kê dữ liệu theo nhóm  
AD  
N
Mean  
3.2622  
4.6515  
Std. Deviation  
0.90002  
Std. Error Mean  
0.09939  
0.08243  
Chưa áp dụng  
Đã áp dụng  
82  
11  
LIAD  
0.27340  
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu  
Bảng 5  
Kiểm định giả thuyết trung bình của mẫu  
Levene's Test  
for Equality of  
Variances  
t-test for Equality of Means  
95% Confidence  
Interval of the  
Difference  
Sig. (2-  
tailed)  
F
Sig.  
T
Df  
Lower  
Upper  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Equal  
variances  
assumed  
Equal  
variances  
not  
34.26  
0.00  
-5.07  
91  
0.00  
-1.93  
-1.65  
-0.85  
-1.13  
LIAD  
-10.76  
47.75  
0.00  
assumed  
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu  
Bảng 6 cho thấy kiểm định Levene có Sig. = 0.00 < 0.05, phương sai của hai tổng thể  
khác nhau nên chúng tôi sử dụng kết quả kiểm định t ở dòng Equal variances not assumed. Giá  
trị Sig. (2-tailed) = 0.00 < 0.05, điều này cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong cảm nhận về  
những lợi ích mà IAS 36 mang lại giữa nhóm DN đã áp dụng và chưa áp dụng chuẩn mực. Cụ  
thể, theo Bảng 5, nhóm DN đã áp dụng IAS 36 cho rằng chuẩn mực này mang lại nhiều lợi ích  
hơn nhóm DN chưa áp dụng (giá trị trung bình 4.6515 so với 3.2622).  
4.3. Phân tích tương quan Pearson  
Bảng 6  
Ma trận hệ số tương quan  
AD  
1
TTT  
0.966**  
0.000  
1
TTD  
0.935**  
0.000  
0.951**  
0.000  
1
TSS  
0.963**  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
Pearson Correlation  
Sig. (2-tailed)  
AD  
0.000  
0.968**  
0.000  
0.966**  
0.000  
TTT  
TTD  
TSS  
0.935**  
0.000  
0.951**  
0.000  
0.931**  
0.000  
0.963**  
0.000  
0.968**  
0.000  
0.931**  
0.000  
1
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).  
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu  
Kết quả từ Bảng 7 cho thấy các Sig. (2-tailed) = 0.000 < 0.01, điều này chứng minh biến  
độc lập AD có tương quan chặt chẽ với các biến phụ thuộc, lần lượt là TTT, TTD và TSS. Hệ  
số tương quan giữa AD và TTT, TTD, TSS khá cao, lần lượt là 0.966; 0.935 và 0.963.  
4.4. Phân tích hồi quy đơn biến  
Bảng 7  
Kết quả hồi quy đơn biến  
Biến độc lập  
AD  
Beta chuẩn hoá  
Std. Error  
R square  
Adjusted R Square  
Biến phụ thuộc  
TTT (Mô hình 1) TTD (Mô hình 2)  
TSS (Mô hình 3)  
0.963  
0.966  
0.069  
0.932  
0.932  
0.935  
0.083  
0.874  
0.872  
0.068  
0.927  
0.927  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Biến độc lập  
Biến phụ thuộc  
Durbin-Watson  
N
1.626  
93  
1.449  
93  
1.734  
93  
Nguồn: Phân tích từ dữ liệu nghiên cứu  
Bảng 8 cho thấy cả ba Mô hình hồi quy đơn biến đều có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, hệ số  
Adjusted R Square của Mô hình 1 (TTT) là 0.932, Mô hình 2 (TTD) là 0.872 và Mô hình 3  
(TSS) là 0.927. Hơn nữa, hệ số Beta chuẩn hoá của Mô hình 1 là 0.966, Mô hình 2 là 0.935 và  
0.963 đối với Mô hình 3 trong khi cả 3 giá trị Std. Error đều < 0.1 (Mô hình có ý nghĩa ở mức  
10%). Kết quả này sẽ được chúng tôi tiếp tục thảo luận sâu trong phần tiếp theo.  
5. Thảo luận  
Nghiên cứu kế toán tổn thất tài sản là khá mới mẻ và nó càng quan trọng hơn với bối  
cảnh nước ta hiện nay. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm kiếm một minh chứng cụ thể  
cung cấp cho các DN cái nhìn đầy đủ hơn về những lợi ích có thể đạt được khi họ ứng dụng  
IAS 36 và thúc đẩy quá trình áp dụng chuẩn mực này tại Việt Nam.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy các DN Việt Nam còn hạn chế áp dụng IAS 36 vì họ chưa  
nhận thức được những lợi ích mà nó mang lại (có đến 82 DN chưa áp dụng trong khi số lượng  
mẫu là 93), thang đo LIAD có giá trị nhỏ nhất 1.67 (Bảng 3) là khá thấp. Một số DN cho rằng  
họ khó dự doán sự suy giảm giá trị tài sản trong tương lai cũng như phủ nhận khả năng cải thiện  
thông tin cho kế toán quản trị, cải thiện nội dung thông tin kế toán. Cao, Shaari, và Donnelly  
(2018), Han và cộng sự (2020) cũng cho kết quả tương tự khi nghiên cứu chủ đề này ở các nước  
mới nổi. Tuy nhiên, phần lớn DN còn lại không phủ nhận những lợi ích mà họ có thể đạt được  
khi áp dụng chuẩn mực thể hiện qua giá trị trung bình thang đo LIAD là 3.4265. Số ít DN đã  
áp dụng cho rằng IAS 36 rõ ràng cải tiến hiệu suất sử dụng tài sản, định giá trị DN chính xác  
hơn, cung cấp thông tin tài sản trung thực cho nhà quản lý, nhà đầu tư và nâng cao khả năng  
thu hút vốn từ nước ngoài. Phát hiện này là khá quan trọng ở nước mới nổi như Việt Nam, chỉ  
có thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài qua thị trường chứng khoán mới hỗ trợ phát triển DN trong  
nước, thúc đẩy quá trình áp dụng các chuẩn mực kế toán tiên tiến của thế giới. Điều này được  
ủng hộ bởi Mazzi và cộng sự (2016), Nawaiseh (2016).  
Kiểm định T - Test cho thấy có sự khác biệt khá lớn về những lợi ích mà IAS 36 mang  
lại giữa nhóm DN Việt Nam đã áp dụng và chưa áp dụng chuẩn mực. Đây là bằng chứng rõ nét  
nhất mà chúng tôi tin rằng nó sẽ hỗ trợ các DN tự nguyện áp dụng IAS/IFRS theo quyết định  
345/QĐ-BTC. Bảng 5 chứng minh các DN đã áp dụng IAS 36 đánh giá những lợi ích mà chuẩn  
mực này mang lại cao hơn đáng kể so với các DN còn lại (giá trị trung bình 4.6515 so với  
3.2622). Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Chen và cộng sự (2004),  
Ahmed và Guler (2007), Mazzi và cộng sự (2016). Ngoài ra, Kanakriyah (2013) còn cho thấy  
có sự khác biệt trong lợi ích của áp dụng IAS 36 giữa nhà quản lý tài chính/kế toán của DN với  
đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư, kiểm toán.  
Mặt khác, áp dụng IAS 36 mang lại nhiều lợi ích cho DN thể hiện qua CLTT của tài sản  
được công bố trên BCTC (Chen et al., 2018; Mazzi et al., 2016; Maisuradze, 2019). Với thực  
trạng của các DN Việt Nam, nhà quản lý cần nỗ lực nâng cao CLTT liên quan đến tài sản nhằm  
thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán, nâng cao năng lực tài chính, năng  
lực cạnh tranh toàn cầu. Vì lẽ đó, chúng tôi thực hiện hồi quy mối quan hệ giữa việc áp dụng  
IAS 36 (AD) và CLTT (TTT, TTD, TSS) theo Kanakriyah (2013) qua Bảng 8. Những phát hiện  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
của chúng tôi lá khá quan trọng và rất phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Thứ nhất, các DN được  
khảo sát cho rằng việc áp dụng IAS 36 sẽ nâng cao tính trung thực của thông tin tài sản trình  
bày trên BCTC, AD tăng 01 điểm thì TTT tăng 0.966 điểm. DN có thể đánh giá chính xác giá  
trị của tài sản, phản ánh một cách chân thật nhất tình hình tài chính, các khoản lỗ tổn thất được  
nhấn mạnh, giải thích rõ ràng trên bảng thuyết minh. Các nghiên cứu khác cũng cho kết quả  
tương tự, áp dụng IAS 36 sẽ cải thiện hiệu quả tài chính DN, đảm bảo thông tin về lợi thế  
thương mại, tài sản vô hình được trình bày trung thực (Duangploy et al., 2005), các khoản lỗ  
lợi thế thương mại được tính toán chính xác, trung thực khi áp dụng IAS 36 (Lhaopadchan,  
2010). Các DN Việt Nam cho rằng TTT còn đề cập đến việc áp dụng IAS 36 một cách hợp lệ  
và chặt chẽ, khách quan để tạo ra thông tin tài chính đảm bảo tính chính xác. Phát hiện này ủng  
hộ nghiên cứu của Kanakriyah (2013), Bepari và Mollik (2015) khi cho rằng DN tuân thủ các  
hướng dẫn IAS 36 sẽ hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận, DN có đội ngũ kế toán có trình độ cao  
hơn và được kiểm toán bởi Big 4 sẽ nâng cao tính trung thực của thông tin lợi thế thương mại.  
Trái lại, Dahmash và cộng sự (2009) nhận định các khoản lỗ tổn thất và tài sản vô hình được  
báo cáo chỉ có giá trị phù hợp nhưng không trung thực. Strong và Meyer (1987) dựa trên lý  
thuyết đại diện để giải thích có dấu hiệu không trung thực khi người quản lý điều chỉnh ghi  
giảm giá trị tài sản nhằm báo cáo lợi nhuận cao hơn, vấn đề cũng được tìm thấy bởi Francis và  
cộng sự (1996) nhưng nó được giải thích dựa trên lý thuyết tín hiệu.  
Thứ hai, tính thích đáng sẽ được cải thiện khi các DN áp dụng IAS 36, AD tăng 01 điểm  
thì TTD tăng thêm 0.935 điểm. Đối tượng khảo sát cho rằng vấn đề phân bổ giá trị tài sản sẽ  
được chấp nhận rộng rãi hơn khi DN áp dụng IAS 36 thay vì theo kế toán Việt Nam, điều này  
đáp ứng tính thích đáng (kịp thời) của thông tin. Hơn nữa, áp dụng IAS 36 cung cấp thông tin  
phản hồi tốt hơn khi có sự biến động giá trị tài sản và biến động của thị trường, từ đó giúp nhà  
quản lý có thể đưa ra quyết định hiệu quả hơn dựa trên số tổn thất, kết quả này được ủng hộ  
mạnh mẽ bởi Kanakriyah (2013), André và cộng sự (2018). Xu, Anandarajan, và Curatola  
(2011) cho rằng nhà quản lý tuân thủ ghi nhận tổn thất mặc dù nó làm giảm lợi nhuận nhưng  
bù lại, nó cung cấp thông tin tài sản có giá trị, dự đoán được dòng tiền tương lai, mang lại niềm  
tin cho cổ đông, điều này cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Yang (2003), Thompson  
và cộng sự (2010), Spear và Taylor (2011), Aboody và cộng sự (1999). Bên cạnh đó, kết quả  
của chúng tôi trái lại với nghiên cứu của Huikku và cộng sự (2017) khi cho rằng thông tin tài  
sản được báo cáo là thông tin của quá khứ, rất khó hỗ trợ cho các quyết định tương lai. Filip và  
cộng sự (2015) cho rằng nhà quản lý trì hoãn ghi nhận lỗ tổn thất lợi thế thương mại để thao  
túng dòng tiền, ảnh hưởng tiêu cực đến tính kịp thời của thông tin, làm giảm hiệu suất tài sản  
tương lai. Ngoài ra, các DN cho rằng họ gặp khó khăn trong áp dụng IAS 36 do Việt Nam dùng  
kế toán theo giá gốc thay vì giá trị hợp lý và ở nước ta vẫn chưa có thị trường hoạt động chính  
của tài sản. Song song đó, Lapointe-Antunes, Cormier, và Magnan (2009) cho thấy một khoản  
lỗ tổn thất được ghi nhận theo giá trị hợp lý có thể có sai số nhưng cổ đông chấp nhận sự thật  
này vì họ đề cao tính trung thực hơn là tính chính xác của thông tin.  
Thứ ba, thông tin trên BCTC có khả năng so sánh cao hơn khi DN áp dụng IAS 36, AD  
tăng 01 điểm thì TSS tăng 0.963 điểm. Có thể so sánh thông tin tổn thất tài sản hàng năm trên  
BCTC của các DN nếu họ dùng chung phương pháp đo lường, ghi nhận khoản lỗ tổn thất, kết  
quả này khá tương đồng với Kanakriyah (2013). Chen và cộng sự (2018) trong bối cảnh mua  
lại, bên mua có thể so sánh số lỗ tổn thất lợi thế thương mại được công bố bởi các DN trước  
khi ra quyết định mua lại. Thực trạng thoái vốn và lỗ tổn thất ít xảy ra hơn trong các DN được  
mua lại nếu họ báo cáo thông tin tài sản có tính so sánh cao hơn. Tiếp theo, các DN Việt Nam  
cho rằng tính khách quan khi dùng tỷ lệ chiết khấu để xác định giá trị sử dụng của tài sản là nền  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
tảng cơ bản cải thiện tính so sánh. Phát hiện này trái ngược với nghiên cứu của Comiskey và  
Mulford (2010) khi cho rằng các quốc gia khác nhau sẽ dùng tỷ lệ chiết khấu khác nhau cho  
từng ngành, nghề, làm giảm đáng kể khả năng so sánh số lỗ tổn thất công bố. Carlin và Finch  
(2009) cho rằng tỷ lệ chiết khấu là trọng yếu trong các mô hình định giá tài sản, cơ sở lựa chọn  
tỷ lệ chiết khấu do nhà quản lý ước tính và lựa chọn. Họ có thể dựa vào đó để thực hiện hành  
vi quản trị lợi nhuận và không ghi nhận số lỗ tổn thất thực tế với mục đích báo cáo lợi nhuận  
cao hơn, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến tính so sánh thông tin của tài sản. Hơn nữa, kết quả  
nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng khả năng so sánh sẽ không cao khi đối chiếu giữa DN có  
tuần suất ghi nhận lỗ tổn thất thường xuyên và DN chưa từng ghi nhận hoặc ghi nhận với tần  
suất rất thấp, điều này được tán thành khá cao bởi các DN được khảo sát. Phát hiện này phù  
hợp với Chen và Gong (2020), áp dụng IAS 36 không cải thiện tính so sánh thông tin tài sản  
giữa DN có tần suất ghi nhận lỗ tổn thất cao và DN chưa ghi nhận. Đồng thời, nhóm tác giả cho  
rằng các tiêu chuẩn ghi nhận, đo lường lỗ tổn thất tài sản gián tiếp làm giảm khả năng so sánh  
của thông tin được công bố bởi các tiêu chuẩn đưa ra là không chắc chắn và khó xác minh.  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là khá khác biệt so với Truong (2014). Nghiên cứu  
của Truong chỉ dừng lại ở phương pháp định tính. Tác giả quan tâm đến những rào cản hơn là  
những lợi ích mà IAS 36 mang lại, điều này có thể làm giảm khả năng vận dụng chuẩn mực kế  
toán tổn thất trong các DN. Trong khi đó, nghiên cứu này quan tâm nhiều hơn đến các lợi ích  
của việc áp dụng IAS 36, thúc đẩy quá trình áp dụng chuẩn mực. Chúng tôi đã cung cấp một  
cơ sở khoa học tích cực khi đo lường được lợi ích và mối quan hệ giữa AD và CLTT liên quan  
IAS 36, điều mà chúng tôi tin rằng sẽ giúp DN đẩy nhanh tiến độ tự nguyện áp dụng kế toán  
tổn thất tài sản, công bố giá trị thực sự của tài sản trên BCTC và quan trọng hơn là thu hút vốn  
đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán, hoà vào thị trường tài chính toàn cầu, nâng cao  
năng lực cạnh tranh.  
Ngoài những kết quả quan trọng nêu trên, nghiên cứu này còn tồn tại những hạn chế.  
Nhóm tác giả sử dụng phương pháp định lượng nhưng do điều kiện khách quan, số lượng mẫu  
thu thập được chỉ là 93, hơn nữa các DN chưa áp dụng IAS 36 chiếm tỷ lệ đến 88.2%, phần lớn  
các DN trong mẫu nghiên cứu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng (82.8%). Đối  
tượng trả lời bảng hỏi chủ yếu bên trong DN, giám đốc tài chính/kế toán, chưa thực hiện khảo  
sát ý kiến của các đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư, tổ chức tín dụng, kiểm toán. Hơn nữa,  
chúng tôi chưa thực hiện phương pháp định tính để điều chỉnh, xây dựng, bổ sung thang đo  
nhằm hỗ trợ tốt hơn cho phần nghiên cứu định lượng. Những hạn chế nêu trên cũng chính là  
hướng cho các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.  
6. Kết luận và kiến nghị  
6.1. Kết luận  
Nghiên cứu này đi sâu vào phân tích, đo lường những lợi ích của việc áp dụng IAS 36  
dựa trên những đặc tính của CLTT theo Kanakriyah (2013). Kết quả nghiên cứu cho thấy một  
số DN chưa quan tâm nhiều đến các lợi ích khi áp dụng IAS 36 trong khi số ít DN đã áp dụng  
chuẩn mực này đánh giá rất cao những lợi ích kinh tế mà nó mang lại. Chẳng hạn như cải thiện  
thông tin liên quan tài sản, định giá chính xác giá trị của tài sản và giá trị DN, dự đoán được sự  
suy giảm hiệu suất tài sản tương lai, công bố giá trị thực của tài sản trên BCTC. Có thể nói đây  
là bằng chứng khá quan trọng thúc đẩy quá trình áp dụng chuẩn mực kế toán này ở Việt Nam.  
Hơn nữa, kết quả hồi quy đơn biến cho thấy việc áp dụng IAS 36 góp phần cải thiện đáng kể  
các đặc tính của CLTT, cụ thể là tính trung thực, tính thích đáng và tính so sánh. Đây là điều  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
kiện tiên quyết để các DN trong nước thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng  
khoán, hoà nhập vào thị trường vốn, nâng cao nâng lực tài chính – kế toán, khả năng cạnh tranh,  
góp phần phát triển kinh tế xã hội.  
6.2. Kiến nghị  
6.2.1. Bộ Tài chính  
Ban hành các văn bản hướng dẫn cách xác định tỷ lệ chiết khấu để tính toán khoản mục  
giá trị sử dụng của tài sản.  
Ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng kế toán theo giá trị hợp lý để tính toán khoản  
mục giá trị hợp lý trừ chi phí bán của tài sản.  
Ban hành các quy định và tổ chức hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ yêu cầu  
công bố của IAS 36.  
Ban hành thông tư hướng dẫn đánh giá lại lợi thế thương mại hàng năm để xác định  
khoản lỗ tổn thất (nếu có) và ghi nhận vào khoản lãi (lỗ) trên báo cáo kinh doanh theo IAS 36  
thay vì phân bổ không quá 10 năm như kế toán Việt Nam hiện nay.  
Hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi trong áp dụng IAS 36: khảo sát nhu cầu,  
khả năng sẵn sàng của DN để có những điều chỉnh về đối tượng, lộ trình và phương án áp dụng.  
Tổ chức tập huấn, trao đổi và tìm các biện pháp tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn trong  
quá trình áp dụng kế toán tổn thất tài sản.  
Đào tạo nguồn nhân lực: xây dựng kế hoạch tổng thể và triển khai đào tạo nguồn nhân  
lực phù hợp với yêu cầu của IAS 36.  
6.2.2. Doanh nghiệp  
Nhóm DN chưa áp dụng IAS 36: cần quan tâm hơn và áp dụng IAS 36 khi hội đủ các  
điều kiện vì đây là chuẩn mực quan trọng liên quan đến bất động sản, nhà xưởng, máy móc, tài  
sản vô hình gồm lợi thế thương mại, các khoản đầu tư tài chính mà những loại tài sản lại chiếm  
một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của DN.  
Nhóm DN đã áp dụng IAS 36: đảm bảo cung cấp thông tin của tài sản với chất lượng  
cao nhất có thể và giải trình rõ ràng, minh bạch với cơ quan thuế, cơ quan quản lý, giám sát.  
Tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đo lường, ghi nhận, hoàn nhập và công bố các khoản lỗ tổn thất  
theo quy định.  
Tài liệu tham khảo  
Aboody, D., Barth, M. E., & Kasznik, R. (1999). Revaluations of fixed assets and future firm  
performance: Evidence from the UK. Journal of Accounting and Economics, 26(1-3), 149-  
178.  
AbuGhazaleh, N. M., Al-Hares, O. M., & Haddad, A. E. (2012). The value relevance of goodwill  
impairments: UK evidence. International Journal of Economics and Finance, 4(4), 206-  
216.  
Ahmed, A. S., & Guler, L. (2007). Evidence on the effects of SFAS 142 on the reliability of  
goodwill  
write-offs.  
Retrieved  
November  
15,  
2020,  
from  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Ahmed, I. (2020). The qualitative characteristics of accounting information, earnings quality, and  
islamic banking performance: Evidence from the Gulf Banking Sector. International  
Journal of Financial Studies, 8(2), 1-16.  
André, P., Dionysiou, D., & Tsalavoutas, I. (2018). Mandated disclosures under IAS 36  
impairment of assets and IAS 38 intangible assets: Value relevance and impact on analysts’  
forecasts. Applied Economics, 50(7), 707-725.  
Bepari, M. K., & Mollik, A. T. (2015). Effect of audit quality and accounting and finance  
backgrounds of audit committee members on firms’ compliance with IFRS for goodwill  
impairment testing. Journal of Applied Accounting Research, 16(2), 196-220.  
Bovee, M. W., Roberts, T. L., & Srivastava, R. P. (2009). Decisison useful financial reporting  
information characteristics: An empirical validation of the proposed FASB/IASB  
international accounting model. Proceedings of the Fifteenth Americas Conference on  
Information Systems, San Francisco, California, 6-9 August 2009, 368-468.  
Cao, T., Shaari, H., & Donnelly, R. (2018). Impairment reversals: Unbiased reporting or earnings  
management. International Journal of Accounting & Information Management, 26(2),  
245-271.  
Carlin, T. M., & Finch, N. (2009). Discount rates in disarray: Evidence on flawed goodwill  
impairment testing. Australian Accounting Review, 19(4), 326-336.  
Comiskey, E. E., & Mulford, C. W. (2010). Goodwill, triggering events, and impairment  
accounting. Managerial Finance, 36(9), 746-767.  
Chen, A., & Gong, J. J. (2020). The effect of principles-based standards on financial statement  
comparability: The case of SFAS-142. Advances in Accounting, 49(C), 1-22.  
Chen, C. J., Chen, S., Su, X., & Wang, Y. (2004). Incentives for and consequences of initial  
voluntary asset write-downs in the emerging Chinese market. Journal of International  
Accounting Research, 3(1), 43-61.  
Chen, C. W., Collins, D. W., Kravet, T. D., & Mergenthaler, R. D. (2018). Financial statement  
comparability and the efficiency of acquisition decisions. Contemporary Accounting  
Research, 35(1), 164-202.  
Chunguang, Z. (2006). Asset impairments and earnings management. Accounting Research,  
3(003), 345-357.  
Dahmash, F. N., Durand, R. B., & Watson, J. (2009). The value relevance and reliability of  
reported goodwill and identifiable intangible assets. The British Accounting Review, 41(2),  
120-137.  
Deloitte. (2014). History of IAS 36. Retrieved November 15, 2020, from  
Duangploy, O., Shelton, M., & Omer, K. (2005). The value relevance of goodwill impairment  
loss: While the market discounts the importance of goodwill amortization, it does not  
disregard goodwill impairment loss as irrelevant. Bank Accounting & Finance, 18(5), 23-  
29.  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Filip, A., Jeanjean, T., & Paugam, L. (2015). Using real activities to avoid goodwill impairment  
losses: Evidence and effect on future performance. Journal of Business Finance &  
Accounting, 42(3/4), 515-554.  
Francis, J., Hanna, J. D., & Vincent, L. (1996). Causes and effects of discretionary asset write-  
offs. Journal of Accounting Research, 34(1996), 117-134.  
Han, H., Tang, J. J., & Tang, Q. (2020). Goodwill impairment, securities analysts, and  
information  
transparency.  
European  
Accounting  
Review,  
1-33.  
doi:10.1080/09638180.2020.1791725  
Healy, P. M., & Wahlen, J. M. (1999). A review of the earnings management literature and its  
implications for standard setting. Accounting horizons, 13(4), 365-383.  
Herath, S. K., & Albarqi, N. (2017). Financial reporting quality: A literature review. International  
Journal of Business Management and Commerce, 2(2), 1-14.  
Huikku, J., Mouritsen, J., & Silvola, H. (2017). Relative reliability and the recognisable firm:  
Calculating goodwill impairment value. Accounting, Organizations and Society, 56(2017),  
68-83.  
IASB, E. D. (2010). The conceptual framework for financial reporting. Retrieved November 15,  
2020, from International Accounting Standards Board (IASB) website:  
draft/ifrs_ed_conceptual_framework.pdf?sfvrsn=b513ac04_2  
IASB. (2001). Framework for the preparation and presentation of financial statements. Retrieved  
November  
15,  
2020,  
from  
IFRS  
website:  
Jonas, G. J., & Blanchet, J. (2000). Assessing quality of financial reporting. Accounting Horizons,  
14(3), 353-363.  
Kanakriyah, R. (2013). The effect of asset impairment (IAS 36) in improving the quality of  
accounting information according to users’ perspective: evidence from Jordan (Doctoral  
dissertation, Durham University). Retrieved November 17, 2020, from from  
Lapointe-Antunes, P., Cormier, D., & Magnan, M. (2009). Value relevance and timeliness of  
transitional goodwill-impairment losses: Evidence from Canada. The International Journal  
of Accounting, 44(1), 56-78.  
Le, T.H.P. (2019). Các nhân tố tác động đến áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) tại  
Việt Nam – Nghiên cứu ở phạm vi quốc gia và doanh nghiệp [Factors affecting the  
application of International Accounting Standards (IAS/IFRS) in Vietnam - Research at  
national and corporate level] (Doctoral disertation, University of Economics Ho Chi Minh  
City,  
Vietnam).  
Retrieved  
November  
25,  
2020,  
from  
Lhaopadchan, S. (2010). Fair value accounting and intangible assets: Goodwill impairment and  
managerial choice. Journal of Financial Regulation and Compliance, 18(2), 120-130.  
Maisuradze, M. (2019). Basic aspects of measurement of impairment of long-term assets of an  
entity. Ecoforum Journal, 8(3), 1-5.  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Mazzi, F., Liberatore, G., & Tsalavoutas, I. (2016). Insights on CFOs’ perceptions about  
impairment testing under IAS 36. Accounting in Europe, 13(3), 353-379.  
Ministry of finance (2020). Quyết định số 345/QD-BTC ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Bộ Tài  
Chính về phê duyệt đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam [Decision No.  
345/QD-BTC, March 16, 2020 of the Ministry of Finance approving the project on the  
application of financial reporting standards in Vietnam). Retrieved October 12, 2020, from  
phe-duyet-De-an-ap-dung-chuan-muc-bao-cao-tai-chinh-tai-Viet-Nam-437190.aspx  
Mizuno, M. (2004). The impact of new accounting standards on Japanese companies. Pacific  
Economic Review, 9(4), 357-369.  
Nawaiseh, M. E. (2016). Can impairment recognition under IAS 36 be improved by financial  
performance?. International Journal of Economics and Finance, 8(12), 163-174.  
Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory (3rd ed.). New York, NY:  
McGraw-Hill.  
Nguyen, D. T. (2012). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh [Scientific research  
method in business]. Hanoi, Vietnam: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.  
Schipper, K. (1989). Commentary on earnings management. Accounting Horizons, 3(4), 91-102  
Sooriyakumaran, L., & Thirunavukkarasu, V. (2013). Disclosures and impacts of impairment of  
non-current assets in the financial statements: A study on listed manufacturing companies  
in Colombo Stock Exchange (CSE) in Sri Lanka. Merit Research Journal of Accounting,  
Auditing, Economics and Finance, 1(6), 122-133.  
Spear, N. A., & Taylor, A. M. (2011). Asset write-downs: Evidence from 2001-2008. Australian  
Accounting Review, 21(1), 14-21.  
Spence, M. (1978). Job market signaling. The Quarterly Journal of Economics, 87(3), 355-374.  
Strong, J. S., & Meyer, J. R. (1987). Asset writedowns: Managerial incentives and security  
returns. The Journal of Finance, 42(3), 643-661.  
Thompson, R., Fang, V., Schmidt, S., Knowles, G., & Musani, S. (2010). Goodwill impairment  
loss: Causes and consequences. Review of Accounting Studies, 16(4), 745-778.  
Truong, T. H. D. (2014). Phương hướng và giải pháp vận dụng chuẩn mực kế toán tổn thất tài  
sản trong các doanh nghiệp Việt Nam [Orientation and solutions to apply accounting  
standards for assets impairment in Vietnamese enterprises] (Master’s thesis, University  
of Economics Ho Chi Minh City, Vietnam).  
Vasile-Cristian-Ioachim, M., & Vasile, B. (2015). Reversible impairment of assets and the impact  
on economic performance. Annals of’ Constantin Brancusi'University of Targu-Jiu.  
Economy Series, 2(1), 19-24.  
Vo, X. V. (2017). Determinants of capital structure in emerging markets: Evidence from Vietnam.  
Research in International Business and Finance, 40(2017), 105-113.  
Watts, R. L., & Zimmerman, J. L. (1986). Positive accounting theory. Hoboken, NJ: Prentice  
Hall, Inc.  
Xu, W., Anandarajan, A., & Curatola, A. (2011). The value relevance of goodwill impairment.  
Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(1), ...-...  
Research in Accounting Regulation, 23(2), 145-148.  
Yang, Z. (2003). The value-relevance of asset write-down regulations in China: the roles of  
information relevance and measurement reliability (Master of thesis, Lingnan University,  
Zang, Y. (2008). Discretionary behavior with respect to the adoption of SFAS no. 142 and the  
behavior of security prices. Review of Accounting and Finance, 7(1), 38-68.  
Zhang, D. (2019). Top management team characteristics and financial reporting quality. The  
Accounting Review, 94(5), 349-375.  
Zucca, L. J., & Campbell, D. R. (1992). A closer look at discretionary writedowns of impaired  
assets. Accounting Horizons, 6(3), 30-41.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang Thùy Anh 9880 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mối quan hệ giữa áp dụng IAS 36 và chất lượng thông tin theo quan điểm người hành nghề: Một bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_ap_dung_ias_36_va_chat_luong_thong_tin_theo.pdf