Tác động của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty gia đình: Trường hợp của Việt Nam

Journal of Finance – Marketing; Vol. 65, No. 5; 2021  
ISSN: 1859-3690  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 65 - Tháng 10 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Journal of Finance – Marketing  
IMPACT OF FAMILY OWNERSHIP ON FIRM PERFORMANCE OF FAMILY  
COMPANIES: THE CASE OF VIET NAM  
Cao Tan Huy1*, Pham Duc Huy1, Phan i Huong1  
1University of Finance – Marketing  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
DOI:  
e study assesses the impact of family ownership on the performance of  
family firms on the Vietnamese stock market by a linear relationship. e  
sample includes 230 observations collected over a 10-year period (2009 –  
2019) of 23 family companies. By the GLS estimation method, the author  
uses the static multiple regression method on table data to evaluate the  
effect of family ownership on the performance of family firms. Research  
results provide an empirical evidence of the positive effect between family  
members’ shareholding rates on company business performance. Besides,  
the study also shows a negative relationship between the proportion of  
family members participating in the Board of Directors and the Board of  
Directors, which is also a new discovery of the study. e research results  
have provided additional scientific bases for senior managers in family  
companies to have more perspectives on HR management in operating the  
company towards efficiency and sustainable development.  
10.52932/jfm.vi65.209  
Received:  
August 17, 2020  
Accepted:  
September 16, 2020  
Published:  
October 25, 2021  
Keywords:  
Family firms;  
Ownership of family  
firms; Corporate  
governance; Firms  
performance.  
*Corresponding author:  
Email: caohuy@ufm.edu.vn  
47  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 65 - Tháng 10 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU GIA ĐÌNH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH  
CỦA CÁC CÔNG TY GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP CỦA VIỆT NAM  
Cao Tấn Huy1*, Phạm Đức Huy1, Phan ị Hương1  
1Trường Đại học Tài chính – Marketing  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:  
Nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng của sở hữu gia đình đến hiệu quả  
hoạt động của các công ty gia đình trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
bằng mối quan hệ tuyến tính. Mẫu nghiên cứu bao gồm 230 quan sát được  
thu thập trong giai đoạn 10 năm (2009 – 2019) của 23 công ty gia đình.  
Bằng phương pháp ước lượng GLS, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy  
bội dạng tĩnh trên số liệu bảng để đánh giá ảnh hưởng của sở hữu gia đình  
đến hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình. Kết quả nghiên cứu cung  
cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng tích cực giữa tỷ lệ  
sở hữu cổ phần của các thành viên trong gia đình đến hiệu quả kinh doanh  
của công ty. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy có mối quan hệ tiêu  
cực giữa tỷ lệ thành viên trong gia đình tham gia vào Hội đồng quản trị  
và Ban giám đốc, đây cũng là một khám phá mới của nghiên cứu. Kết quả  
nghiên cứu đã cung cấp thêm những cơ sở khoa học để các nhà quản lý cấp  
cao trong các công ty gia đình có thêm góc nhìn về quản trị nhân sự trong  
hoạt động điều hành công ty hướng tới hiệu quả và phát triển bền vững.  
10.52932/jfm.vi65.209  
Ngày nhận:  
17/08/2020  
Ngày nhận lại:  
16/09/2020  
Ngày đăng:  
25/10/2021  
Từ khóa:  
Công ty gia đình;  
Sở hữu gia đình;  
Quản trị công ty;  
Hiệu quả hoạt động  
kinh doanh.  
1. Giới thiệu  
các thành viên trong một gia đình nắm giữ tỷ lệ  
sở hữu đủ để quyết định cơ cấu thành lập Hội  
Đã từ lâu, mô hình công ty gia đình không  
còn xa lạ gì trong hoạt động kinh doanh. Hiện  
nay mô hình này đã và đang phát triển rất mạnh  
mẽ trong nền kinh tế thị trường. Các công ty  
gia đình là những nhân tố quan trọng góp phần  
cho sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.  
Công ty gia đình được hiểu là công ty trong đó  
đồng quản trị. Một trong những lợi thế của công  
ty gia đình đó là vì quyền sở hữu nằm trong tay  
một vài thành viên trong gia đình, điều này  
cho phép thống nhất quyền lực vào một người  
làm chủ. Các thành viên chủ chốt nắm quyền  
quản trị trong cùng một gia đình thường có sự  
hợp tác, phối hợp tốt hơn có thể vượt qua được  
những đối kháng của quản trị công ty thông  
thường. Quản trị công ty gia đình tạo thuận lợi  
cho việc ra quyết định, làm giảm chi phí quản  
*Tác giả liên hệ:  
Email: caohuy@ufm.edu.vn  
48  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty  
gia đình ở Việt Nam mà nhóm tác giả tiếp cận  
được còn rất hạn chế. Đa số các nghiên cứu mới  
chỉ dừng lại ở mức độ đo lường về tỷ lệ sở hữu  
cổ phần của các thành viên trong gia đình, chưa  
tính đến ảnh hưởng của nhóm yếu tố về tỷ lệ  
quản lý và tỷ lệ thành viên trong Hội đồng quản  
trị là người trong gia đình. Vì vậy, đây là một  
trong những khe hở cần phải tiếp tục nghiên  
cứu sâu thêm về vấn đề này ở Việt Nam. Dựa  
trên báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và  
báo cáo quản trị, nhóm tác giả thực hiện khảo  
sát các yếu tố gia đình tham gia vào quyền sở  
hữu, hội đồng quản trị, và quản lý ảnh hưởng  
thế nào đến hiệu quả kinh doanh của các công  
ty gia đình. Qua đó, có thể đánh giá được quyền  
sở hữu và kiểm soát gia đình có làm giảm ảnh  
hưởng đến việc định hình các lựa chọn tài chính  
của công ty hay không. Xuất phát từ tầm quan  
trọng của những vấn đề nêu trên nhóm tác giả  
chọn nghiên cứu về tác động của sở hữu gia  
đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của  
các công ty gia đình Việt Nam niêm yết trên thị  
trường chứng khoán Việt Nam để nghiên cứu.  
lý, tập trung vào phối hợp giữa các bộ phận  
trong hệ thống để tạo ra hiệu quả trong hoạt  
động kinh doanh. Từ lý thuyết khác nhau và  
từng bối cảnh nghiên cứu khác nhau mà có hay  
không mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và hiệu  
quả hoạt động kinh doanh. Nếu có mối quan hệ  
thì sở hữu gia đình cũng có thể làm tăng hoặc  
cũng có thể làm giảm hiệu quả hoạt động kinh  
doanh của công ty gia đình. Sự xung đột về lợi  
ích giữa cổ đông gia đình và các cổ đông khác,  
giữa các thành viên gia đình với những người  
quản lý, điều hành không thuộc gia đình, giữa  
các thành viên gia đình với nhau, hay khả năng  
quản trị công ty của các thành viên gia đình,  
các quyết định tài chính là các nguyên nhân ảnh  
hưởng đến hiệu quả kinh doanh.  
Trên thế giới, các tập đoàn lớn đã tồn tại và  
phát triển qua hàng chục thế hệ chủ yếu là các  
công ty gia đình. Các nghiên cứu khoa học gần  
đây cho thấy rằng công ty gia đình là một hình  
thức tổ chức phổ biến ở cả các nền kinh tế phát  
triển và mới nổi, các nghiên cứu điều tra các  
vấn đề khác nhau liên quan đến cơ cấu sở hữu  
của các công ty, tập đoàn cho thấy các công ty  
gia đình chiếm một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp  
ở các nước có đặc điểm thể chế và pháp lý rất  
2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu  
khác nhau. Chẳng hạn như Hoa Kỳ và Canada 2.1. Cơ sở lý thuyết  
có nghiên cứu của: Bhattacharya và Ravikumar  
Lý thuyết đại diện: ường được sử dụng  
(2001), Anderson và Reeb (2003), Gadhoum và  
cộng sự (2005), King và Santor (2008), ở các  
nước Châu Âu có các nghiên cứu của Franks và  
Mayer (2001); Faccio và Lang (2002); Sraer và  
esmar (2007); Andres (2008), và ở Đông Á  
có các nghiên cứu của Lam và cộng sự (1994),  
Claessens và cộng sự (2000). Hầu hết các nghiên  
cứu này đều cho thấy sự vượt trội của các công  
ty gia đình so với các công ty được niêm yết,  
điều này cho thấy rằng hình thức tổ chức này  
không chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp nhỏ  
và vừa (SMEs).  
để giải thích việc minh bạch thông tin hay gia  
tăng việc thuyết minh tự nguyện của người điều  
hành công ty (Hermanson, 2000; Bushman &  
Smith, 2001). Hành vi của người đại diện (nhà  
quản lý) trong vấn đề gia tăng mức độ công bố  
thông tin hay minh bạch thông tin khi xem xét  
cân nhắc giữa lợi ích và chi phí cho việc công bố  
thông tin. Khi hợp đồng giữa chủ sở hữu và nhà  
quản lý đạt hiệu quả, lợi ích của nhà quản lý  
được đảm bảo, họ sẽ hành động hoàn toàn vì lợi  
ích của chủ sở hữu, tăng cường sự minh bạch  
thông tin phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu.  
Cho đến nay, mặc dù trên thế giới đã có khá  
nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của sở hữu  
gia đình đến hiệu quả hoạt động của công ty  
gia đình. Nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu  
khoa học về ảnh hưởng của sở hữu gia đình đến  
Lý thuyết quản lý: Đưa ra giả thuyết rằng  
người quản lý không bị tác động bởi những  
mục đích cá nhân, mà họ có những động lực  
đồng hành với mục tiêu của chủ sở hữu. Lý  
thuyết này lập luận rằng, giám đốc điều hành có  
49  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
sở hữu và người quản lý. Tuy nhiên, Daily và  
cộng sự (2003) lại cho rằng, các giám đốc độc  
lập đóng góp vào chuyên môn, khách quan và  
dường như giảm thiểu sự nhân nhượng, vị tha  
trong quản lý. Anderson và Reeb (2003) thừa  
nhận rằng, khi thành viên gia đình đóng vai trò  
là giám đốc điều hành thì hiệu quả kinh doanh  
tốt hơn là các giám đốc điều hành thuê ngoài.  
Điều này được giải thích là do gia đình hiểu việc  
kinh doanh công ty mình và các thành viên gia  
đình đó tham gia như là những người quản lý  
của công ty. Có thành viên gia đình trong nhóm  
quản lý hàng đầu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả  
kinh doanh của công ty; tuy nhiên, hiệu quả của  
quản lý từ gia đình là khác nhau. Các nghiên  
cứu tìm thấy rằng, các nhà quản lý gia đình tác  
động tích cực đến hiệu quả kinh doanh với điều  
kiện là họ hành động như những người quản lý  
và tuân thủ tốt những thực tiễn về quản trị và  
quản lý (Andres, 2008; Miller và cộng sự, 2007).  
Các gia đình sáng lập và duy trì sự hiện diện lâu  
dài trong công ty, đặc biệt các thành viên trong  
gia đình gắn bó lâu dài với công ty sẽ có xu  
hướng có một tầm nhìn dài hạn hơn. Các thành  
viên gia đình thường có quan điểm và sẵn sàng  
thực hiện kế hoạch đầu tư dài hạn hơn các cổ  
đông khác, những nguời tập trung chủ yếu vào  
lợi nhuận ngắn hạn (James, 1999). êm vào  
đó, kiểm soát gia đình sẽ giảm thiểu mâu thuẫn  
giữa các cổ đông và chủ sở hữu, do đó giảm chi  
phí đại diện cho các công ty gia đình (Anderson  
& Reeb, 2003). Wang (2006), Ali và cộng sự  
(2007) cho thấy rằng quyền sở hữu gia đình có  
thể giảm sự bất đối xứng thông tin, có thể dẫn  
đến chi phí vốn thấp cho các công ty gia đình.  
thể vận hành một cách hiệu quả không chỉ là vì  
họ có năng lực mà còn là họ có chung mục tiêu  
với người hưởng lợi (Donalson & Davis, 1991;  
Muth & Donaldson, 1998).  
Lý thuyết về quản lý trong công ty gia đình:  
Lý thuyết này cung cấp quan điểm khác về mối  
quan hệ giữa người quản lý và chủ sở hữu. Sự  
tham gia của gia đình tạo ra các điều kiện để  
thúc đẩy hành vi quản lý. Hành vi quản lý đặc  
biệt phổ biến ở những nơi mà các nhà quản  
lý là thành viên trong gia đình hoặc các thành  
viên liên quan đến gia đình. Các nhà quản lý gia  
đình, cũng là chủ sở hữu hoặc là đồng chủ sở  
hữu, quan tâm đến sự tồn tại lâu dài, khả năng  
sinh lợi, và danh tiếng của một công ty, và giúp  
nuôi dưỡng ý thức của cộng đồng quản lý giữa  
các nhân viên trong các công ty gia đình (Miller  
& Le Breton-Miller, 2006).  
2.2. Tổng quan các nghiên cứu  
Quan điểm lý thuyết cho rằng, quyền sở hữu  
gia đình mang lại cả chi phí và lợi ích. Lợi ích  
của quyền sở hữu gia đình là cơ hội để giảm  
thiểu chi phí giám sát, chi phí quản lý vì cơ chế  
quản lý chính thức có thể không cần thiết đối  
với các gia đình, trong đó sự kiểm soát không  
tách rời quyền sở hữu (Fama & Jensen, 1983).  
Nghiên cứu của Miller và Le Breton-Miller  
(2006); Sciascia và Mazzola (2008) cho rằng, sở  
hữu gia đình không có mối quan hệ với hiệu  
quả hoạt động. Tuy nhiên, rất nhiều nghiên  
cứu như: Villalonga và Amit (2009), Barontini  
và Caprio (2006), Maury (2006), Martinez và  
cộng sự (2007), Saito (2008), Chu (2009), Chu  
(2011) thì cho rằng sở hữu gia đình có mối  
quan hệ tuyến tính đồng biến với hiệu quả kinh  
doanh. Đặc biệt, Anderson và Reeb (2003),  
Kowalewski và cộng sự (2010), Shyu (2011), De  
Massis và cộng sự (2013) cho rằng, sở hữu gia  
đình có mối quan hệ phi tuyến tính bậc hai với  
hiệu quả kinh doanh và có dạng đường cong  
hình chữ “U ngược”. Jensen và Meckling (1976)  
cho rằng, công ty gia đình kiểm soát hội đồng  
quản trị và ít sử dụng giám đốc đại diện bên  
ngoài vì nhu cầu giám sát giảm, các công ty  
gia đình có thể tạo ra sự đồng thuận giữa chủ  
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về cấu trúc sở  
hữu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, hầu hết  
các nghiên cứu đều tập trung vào cấu trúc sở  
hữu của Nhà nước, sở hữu của cổ đông lớn, sở  
hữu của nước ngoài và sở hữu của tổ chức. Cụ  
thể như, nghiên cứu của Phạm Quốc Việt (2010)  
cho thấy, tỷ lệ sở hữu cổ đông lớn Nhà nước và tỷ  
lệ sở hữu tư nhân lớn trong nước không có mối  
tương quan với hiệu quả công ty. Tỷ lệ sở hữu cổ  
đông lớn nước ngoài có tương quan âm với hiệu  
quả công ty; tuy nhiên, đối với các nhóm công ty  
50  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
có hiệu quả kinh doanh cao hoặc tỷ trọng đầu tư và các vị trí quản lý. Martinez và cộng sự (2007)  
tài chính quá khứ cao thì tương quan này không  
có ý nghĩa. Đồng thời, Tran và Duong (2011)  
cho thấy hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có  
mối quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ sở hữu quản trị  
theo quan hệ bậc hai. Phung và Hoang (2013)  
cho rằng, với tỷ lệ sở hữu quản trị nhỏ hơn 59,1%  
thì khi tăng tỷ lệ sở hữu quản trị sẽ làm tăng hiệu  
quả hoạt động doanh nghiệp và khi tỷ lệ sở hữu  
quản trị lớn hơn 59,1% thì ngược lại, tăng tỷ lệ  
sở hữu quản trị sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động  
doanh nghiệp.  
định nghĩa một công ty là công ty gia đình nếu  
nó được kiểm soát bởi một gia đình thông qua  
việc sở hữu và tham gia hoạt động quản trị công  
ty và/hoặc có thành viên trong Ban giám đốc  
của công ty. Tại Việt Nam về mặt pháp lý, trong  
Luật Doanh nghiệp và trong Luật Chứng khoán  
có nhiều quy định về các hình thức sở hữu; tuy  
nhiên, các văn bản luật này vẫn chưa đưa ra các  
quy định về sở hữu gia đình. Để thực hiện mục  
tiêu nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng các khái  
niệm về công ty gia đình của các tác giả Miller  
và cộng sự (2007), Sciascia và Mazzola (2008),  
Martinez và cộng sự (2007).  
Qua lược khảo các nghiên cứu trước có thể  
thấy, các nghiên cứu về cấu trúc sở hữu của  
các công ty gia đình ở Việt Nam là chưa nhiều,  
chưa nghiên cứu sâu về mối quan hệ này. Với  
nghiên cứu này, một mặt có thể đưa đến các đề  
xuất hoàn thiện cho hoạt động quản trị công ty  
để hỗ trợ khả năng tăng trưởng cho các công  
ty gia đình, mặt khác có thể làm cơ sở cho các  
chính sách hỗ trợ cho các công ty gia đình ở  
Việt Nam. Vì vậy, nhóm tác giả kỳ vọng tiến  
hành kiểm định tác động của sở hữu gia đình  
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các  
công ty ở Việt Nam, nhằm cung cấp thêm một  
bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực nghiên  
cứu về hiệu quả hoạt động của mô hình công ty  
gia đình tại Việt Nam.  
eo Luật Chứng khoán Việt Nam có quy  
định “cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc  
gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu  
quyết của tổ chức phát hành”. Trên cơ sở đó,  
nhóm tác giả đã chọn lọc được 23 công ty gia  
đình có đầy đủ thông tin gồm báo cáo tài chính,  
báo cáo thường niên và báo cáo quản trị đã được  
kiểm toán và công bố trên sàn giao dịch chứng  
khoán HSX và HNX trong giai đoạn 10 năm từ  
2009 – 2019. Mẫu nghiên cứu bao gồm 230 quan  
sát là các công ty gia đình hoạt động trong nhiều  
lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, được sàng  
lọc theo các tiêu chí: (i) các công ty được chọn  
trong mẫu phải hoạt động liên tục trong giai đoạn  
nghiên cứu; (ii) các doanh nghiệp thuộc linh vực  
Tài chính như Ngân hàng, Bảo hiểm, Dịch vụ tài  
chính được loại ra khỏi mẫu vì cách hạch toán  
và các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của các loại  
hình công ty này có sự khác biệt tương đối so với  
nhóm công ty phi tài chính còn lại, sẽ làm tăng  
sai số của kết quả nghiên cứu. Các biến được đo  
lường trong Bảng 1.  
3. Dữ liệu và mô hình nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu nghiên cứu  
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã đưa ra  
nhiều định nghĩa khác nhau nhằm phục vụ cho  
mục tiêu nghiên cứu của mình. Nghiên cứu của  
Miller và cộng sự (2007) đã đưa ra một trong  
nhiều định nghĩa khác nhau về công ty gia đình,  
cho rằng công ty gia đình là những công ty mà  
các thành viên trong cùng một gia đình có liên  
quan với nhau đóng vai trò như là những cổ  
đông lớn hay những người quản lý lớn, hoặc  
cùng lúc hoặc qua thời gian. Một nghiên cứu  
khác của Sciascia và Mazzola (2008) định nghĩa  
công ty gia đình là công ty mà gia đình kiểm  
soát việc kinh doanh thông qua quyền sở hữu  
3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
Dựa trên mô hình tuyến tính và các biến  
được liệt kê trong Bảng 1, nhóm tác giả thực  
hiện kiểm định tác động của sở hữu gia đình đến  
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty  
gia đình niêm yết trên thị trường khoán Việt  
Nam. Kế thừa từ các nghiên cứu của Villalonga  
51  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
và Amit (2009), Wild và cộng sự (2004), nhóm Giả thuyết H : Có mối quan hệ tương quan  
dương giữa tỷ1lệ sở hữu cổ phần của các thành  
tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu như sau:  
viên trong gia đình đến hiệu quả hoạt động.  
β0 + β1FIOi,t + β2FIBi,t + β3FIMi,t  
ROAi,t = + β4COGSi,t + β5Riski,t + β6Sizei,t  
+ β7Sales Growthi,t + β8LnAgei,t + εi,t  
Giả thuyết H2 : Có mối quan hệ tương quan âm  
giữa tỷ lệ thành viên gia đình trong hội đồng  
quản trị đến hiệu quả hoạt động.  
Giả thuyết H3: Có mối quan hệ tương quan  
dương giữa tỷ lệ thành viên gia đình trong nhóm  
quản lý hàng đầu đến hiệu quả hoạt động.  
Để kiểm soát vấn đề sai lệch do thiếu biến, các  
biến kiểm soát được đưa vào mô hình hồi quy.  
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên  
quan đã được đề cập đến, trong nghiên cứu này  
nhóm tác giả kiểm định ảnh hưởng sở hữu gia  
đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của  
các công ty gia đình được niêm yết trên sàn  
chứng khoán Việt Nam như sau:  
Trong đó, i là ngân hàng, t là năm. i = 1, 2,…, n  
(với n : số lượng ngân hàng); t = 1, 2,…, T (với  
T là thời gian quan sát trong mô hình được tính  
theo năm).  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác  
giả Anderson và Reeb (2003); Andres (2008),  
Chu (2009); Barontini và Caprio (2006); Leung  
và cộng sự (2014), Basco (2013); Miller và Le  
Breton-Miller (2007); Miller và cộng sự (2006).  
Bài nghiên cứu đưa ra các giả thuyết nghiên cứu  
như sau:  
Bảng 1. Các biến nghiên cứu và đo lường các biến  
Tên biến  
Ký hiệu Kỳ vọng Đo lường  
Nguồn tham khảo  
Biến phụ thuộc  
Hiệu quả kinh doanh  
ROA  
FIO  
FIB  
Lợi nhuận sau thuế/  
Villalonga và Amit (2009), Wild  
và cộng sự (2004),  
Tổng tài sản cuối kỳ  
Chu (2009)  
Biến độc lập  
Tỷ lệ sở hữu gia đình  
+
-
Tổng tỷ lệ sở hữu của  
tất cả thành viên gia  
đình trong công ty  
Tỷ lệ thành viên gia  
đình trong hội đồng  
quản trị  
Tỷ lệ thành viên gia  
đình trong nhóm quản (2008), Miller và cộng sự (2006)  
lý hàng đầu  
Anderson và Reeb (2003), Andres  
(2008), Chu (2009)  
Barontini và Caprio (2006)  
Leung và cộng sự (2014),  
Basco (2013), Andres (2008),  
Miller và cộng sự (2007)  
ành viên gia đình  
trong hội đồng quản trị  
ành viên gia đình  
trong nhóm quản lý  
hàng đầu  
Biến kiểm soát  
Tỷ lệ giá vốn hàng bán COGS  
FIM  
+
Anderson và Reeb (2003), Andres  
-
giá vốn hàng bán/doanh Anderson và Reeb (2003),  
thu thuần  
Độ lệch chuẩn của  
EBIT/Tổng tài sản  
Độ lệch chuẩn của  
EBIT/Tổng tài sản  
Mức tăng trưởng doanh Wang (2006), Villalonga và Amit  
thu tương đối (tính theo (2009), Anderson và Reeb (2003)  
phần trăm)  
Logarit tự nhiên độ tuổi Anderson và Reeb (2003), Chu  
của công ty  
Villalonga và Amit (2009)  
Chu (2009)  
Rủi ro kinh doanh  
Quy mô công ty  
Risk  
Size  
-
+
Anderson và Reeb (2003), Chu  
(2009), Phung và Hoang (2013)  
Tăng trưởng doanh thu Growth +  
Tuổi công ty  
LnAge  
+
(2009), Wang (2006)  
52  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
4. Phương pháp nghiên cứu  
5. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Để thực hiện kiểm định các giả thuyết đã 5.1. Kết quả thống kê mô tả dữ liệu  
đưa ra, nhóm tác giả sử dụng phương pháp  
Bảng 2 cho thấy, kết quả đo lường hiệu quả  
định lượng để hồi quy bội dạng tĩnh trên số  
liệu bảng để đánh giá ảnh hưởng của sở hữu gia  
đình đến hiệu quả hoạt động của các công ty gia  
đình. Các kỹ thuật hồi quy trên số liệu bảng bao  
gồm hồi quy Pooled OLS, FEM, REM được áp  
dụng. Để kiểm soát vấn đề thiếu biến trong mô  
hình, nhóm tác giả đã khảo sát các nghiên cứu  
trong và ngoài nước, từ đó quyết định các biến  
kiểm soát sẽ được đưa vào mô hình. Ngoài ra,  
việc ước lượng hệ số hồi quy bằng dữ liệu bảng  
chéo có thể dẫn đến hiện tượng sai lệch do hiện  
tượng tự tương quan hoặc hiện tượng phương  
sai thay đổi. Do đó, để đảm bảo thu được kết quả  
ước lượng vững, không chệch và chính xác hơn.  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp của Arellano  
và Bond (1991) phương pháp ước lượng GLS  
để khắc phục hiện tượng khuyết tật của hai mô  
hình này. Do đó, kiểm định Breusch & Pagan  
test và Wooldridge test được sử dụng để kiểm  
định tính phù hợp của mô hình cũng như tính  
hiệu lực của các biến độc lập và biến kiểm soát.  
Đồng thời, trên cơ sở kế thừa và vận dụng có  
chọn lọc các kết quả nghiên cứu lý thuyết và  
thực nghiệm của các công trình đã công bố  
nhằm xác định luận cứ đánh giá hiệu quả cũng  
như xác định những nhân tố ảnh hưởng đến  
hiệu quả kinh doanh của công ty gia đình.  
hoạt động qua số liệu kế toán bằng tỷ số Lợi  
nhuận/tổng tài sản (ROA) trong mẫu quan sát  
trung bình đạt 4,1% với công ty thấp nhất là  
-169,3%, công ty cao nhất đạt 39,4% và độ lệch  
chuẩn 0,139. Điều này cho thấy, có sự dao động  
đáng kể giữa các công ty gia đình qua các năm.  
ông qua số liệu kế toán giá trị trung vị cho  
thấy, tỷ lệ 50% các công ty gia đình có ROA đạt  
mức 3,3%. Như vậy, có thể thấy rằng, hiệu quả  
hoạt động của các công ty gia đình có sự chênh  
lệch đáng kể. Đánh giá về mức độ sở hữu gia  
đình cho thấy, tỷ lệ sở hữu gia đình trung bình  
là 39,2%; trong đó, công ty có tỷ lệ sở hữu gia  
đình cao nhất 81,4% công ty có tỷ lệ sở hữu thấp  
nhất là 6,7%. Mẫu quan sát cho thấy, 50% các  
công ty gia đình có tỷ lệ sở hữu đạt 35,6% xấp xỉ  
giá trị trung bình của mẫu nghiên cứu. Kết quả  
thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ trung bình 44,7%  
các thành viên trong gia đình tham gia vào Hội  
đồng quản trị, công ty có tỷ lệ cao nhất là 100%  
thành viên trong gia đình tham gia, công ty có  
tỷ lệ thấp nhất là 16,7%. Tương tự tỷ lệ trung  
bình 54,3% thành viên tham gia quản lý thuộc  
Ban giám đốc của công ty. Tỷ lệ 50% các công ty  
có 40% thành viên trong gia đình tham gia Hội  
đồng quản trị và 50% thành viên trong gia đình  
có tham gia vào Ban giám đốc điều hành.  
Bảng 2. ống kê mô tả các biến  
Đại lượng  
Trung bình  
Giá trị lớn nhất  
Giá trị nhỏ nhất  
Trung vị  
ROA  
0,041  
0,394  
FIO  
FIB  
FIM  
COGS Risk  
Size  
12,070 0,190  
14,606 6,771  
10,704 -0,915 2,000  
11,922 0,100  
0,807 0,630  
Growth Age  
0,392  
0,814  
-1,693 0,067  
0,447  
1,000  
0,167  
0,400  
0,166  
0,543  
1,000  
0,111  
0,500  
0,285  
0,837  
2,502  
0,239  
0,834  
0,207  
0,029  
0,808  
0,001  
0,015  
0,061  
7,630  
14,000  
0,033  
0,139  
0,356  
0,175  
8,000  
3,060  
Độ lệch chuẩn  
Kết quả thống kê mô tả cũng cho thấy, mức động của hiệu quả kinh doanh (ROA) của một  
độ biến động của tỷ lệ sở hữu gia đình (FIO), số mã như BED, SPP, TTF có khoảng dao động  
thành viên gia đình trong hội đồng quản trị mạnh; còn lại, đa số các mã chứng khoán trong  
(FIB), thành viên gia đình trong nhóm quản mẫu nghiên cứu có hiệu quả kinh doanh khá  
lý hàng đầu (FIM) không cao. Xu hướng biến ổn định.  
53  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
5.2. Ma trận hệ số tương quan  
biến không có tương quan mạnh (|corr| < 0,6).  
Kết quả này chứng tỏ không xảy ra hiện tượng  
đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô  
hình hồi quy. Các biến có tương quan mạnh với  
biến phụ thuộc đó là: Tỷ lệ giá vốn hàng bán  
(COGS) và rủi ro kinh doanh (Risk). Điều này  
cho thấy, 2 biến công cụ được lựa chọn đưa vào  
mô hình sẽ làm tăng tính hiệu quả của mô hình  
ước lượng.  
Kết quả kiểm định hệ số tương quan Bảng  
3 cho thấy, không có cặp biến độc lập và biến  
kiểm soát nào có hệ số tương quan lớn hơn 0,6.  
eo Gujarati (2004), nếu VIF < 10 thì không  
có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra, kết quả của  
nghiên cứu cho thấy VIF đều nhỏ hơn 5. Ma  
trận hệ số tương quan cho thấy đa số giữa các  
Bảng 3. Ma trận hệ số tương quan  
Biến  
ROA  
FIO  
FIB  
FIM  
COGS  
Risk  
Size  
Growth  
ROA  
FIO  
1
0,1564  
-0,1112  
-0,0602  
-0,6072  
-0,7158  
-0,0015  
0,176  
1
FIB  
0,2155  
0,2614  
-0,1043  
-0,096  
0,0024  
-0,0231  
1
FIM  
0,5354  
0,1672  
0,0567  
-0,3561  
0,0538  
1
COGS  
Risk  
0,0197  
0,0011  
-0,2094  
0,0743  
1
0,5454  
-0,2085  
-0,1419  
1
Size  
-0,0402  
-0,0733  
1
Growth  
0,1325  
1
LnAge  
-0,0878  
0,0725  
0,0793  
0,0842  
0,1538  
0,1189  
0,1656  
0,0245  
5.3. Kết quả hồi quy và thảo luận  
tuyến tính theo phương pháp ước lượng OLS,  
ước lượng ảnh hưởng cố định – Fixed Effects  
(FEM), ước lượng ngẫu nhiên – Random Effects  
(REM) và ước lượng GLS.  
Bảng 4 trình bày kết quả hồi quy ảnh hưởng  
của vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động của  
các công ty gia đình. Dựa trên phương trình  
Bảng 4. Kết quả hồi quy tuyến tính với hiệu quả kinh doanh (ROA)  
Các biến độc lập  
OLS  
FEM  
REM  
GLS  
FIO  
0,089**  
(0,012)  
-0,059  
-0,020  
0,045  
0,089***  
(0,010)  
-0,059*  
(0,170)  
-0,045*  
(0,063)  
-0,212***  
(0,000)  
-1,223***  
(0,000)  
-0,027***  
(0,001)  
0,028***  
(0,003)  
0,035  
(0,795)  
-0,076  
(0,415)  
-0,065  
FIB  
(0,180)  
-0,045*  
(0,070)  
-0,212***  
(0,000)  
-1,223***  
(0,000)  
-0,027***  
(0,001)  
0,028**  
(0,004)  
0,035  
(0,222)  
-0,050*  
(0,144)  
-0,183***  
(0,000)  
-1,275***  
(0,000)  
0,004  
(0,229)  
-0,045*  
(0,128)  
-0,184***  
(0,000)  
-1,287***  
(0,000)  
-0,024*  
(0,124)  
0,032***  
(0,000)  
0,039*  
FIM  
COGS  
Risk  
Size  
(0,927)  
0,033***  
(0,000)  
0,029  
Growth  
LnAge  
(0,229)  
(0,394)  
(0,146)  
(0,219)  
Hằng số  
0,566***  
0,224  
0,519**  
0,566***  
(0,000)  
(0,647)  
(0,007)  
(0,000)  
R-squared  
0,621  
0,679  
0,677  
Ghi chú: Sai số chuẩn trong dấu ngoặc đơn. Ký hiệu: *** là p<0,01, ** là p<0,05, * là p<0,1.  
54  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
Kết quả kiểm định tự tương quan cho giá trị tính không xác định được có một ngưỡng nào  
Prob > F = 0,0031 < α (α = 0,05), kết quả này cho mối quan hệ đồng biến này hay không. Đây  
cho thấy, có hiện tượng tự tương quan trong cũng là điểm hạn chế của bài nghiên cứu.  
mô hình. Để khắc phục hiện tượng tự tương  
Biến tỷ lệ thành viên gia đình trong hội  
quan, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình  
đồng quản trị (FIB) và nhóm quản lý hàng  
phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) bằng cách  
đầu (FIM): Khi nghiên cứu sâu hơn về bộ  
thêm AR(1), AR(2) vào mô hình hồi quy để  
máy nhân sự của các công ty gia đình, kết quả  
thỏa điều kiện là không có hiện tượng tự tương  
nghiên cứu khám phá ra rằng: Tỷ lệ các thành  
quan khi tiến hành kiểm định Durbin-Watson.  
viên trong gia đình tham gia vào Hội đồng  
Tương tự, kiểm định Breusch-Pagan Lagrange  
quản trị và Ban giám đốc có ảnh hưởng tiêu  
Multiplier (Breusch và Pagan, 1979) được thực  
cực đến hiệu quả hoạt động của công ty. Như  
hiện để kiểm tra phương sai thay đổi. Kết quả  
vậy, giả thuyết H bị bác bỏ và giả thuyết H  
được khẳng định.3Kết quả này tương đồng vớ2i  
cho thấy, có hiện tượng phương sai thay đổi  
(Prob > Chibar2 = 0,000 < α), như vậy, phương  
nghiên cứu của Basco (2013), Miller và cộng  
sai của sai số ngẫu nhiên trong mô hình thay  
sự (2007), nhưng ngược lại với các nghiên  
đổi. Khi có phương sai thay đổi sẽ làm cho các  
cứu của Leung và cộng sự (2014), Anderson  
ước lượng OLS không hiệu quả. Vì vậy, ước  
và Reeb (2003), Andres (2008), Miller và Le  
lượng GLS sẽ khắc phục được những khuyết  
Breton-Miller (2006). Điều này cho thấy, khi  
tật của OLS, FEM, REM và cho kết quả đáng  
tỷ lệ các thành viên gia đình tham gia nhóm  
tin cậy. Từ ước lượng GLS mô hình nghiên cứu  
quản lý hàng đầu của công ty càng tăng thì sẽ  
được xây dựng như sau:  
càng làm giảm hiệu quả hoạt động của công ty.  
ROA  
i,t = 0,566 + 0,089FIOi,t – 0,045 FIMi,t  
Chúng ta biết rằng, vận mệnh của một công ty  
gắn liền với năng lực của người đứng đầu nắm  
quyền quản trị. Qua đó, có thể thấy rằng, việc  
lạm dụng quyền sở hữu để đưa nhiều thành  
viên trong gia đình không có năng lực tham  
gia vào nhóm quản lý hàng đầu sẽ có tác động  
tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh. Điều này  
hoàn toàn đúng khi nhiều thành viên không  
có năng lực tham gia quản lý sẽ làm giảm lòng  
tin của nhân viên, của các nhà đầu tư và dẫn  
đến giảm hiệu quả kinh doanh của công ty. Tại  
Việt Nam, do giới hạn về mặt thông tin, nhóm  
tác giả chưa tìm được nghiên cứu trước nào có  
nghiên cứu và tìm hiểu sâu về tỷ lệ các thành  
viên tham gia nhóm quản lý hàng đầu trong  
các công ty gia đình. Đây cũng chính là điểm  
mới của nghiên cứu.  
– 0,059 FIBi,t – 1,223 Risk – 0,212 COGSi,t  
+0,028Growthi,t – 0,0i2,t7Sizei,t + εi,t  
Biến tỷ lệ sở hữu cổ phần (FIO): Với mức  
ý nghĩa 1%, kết quả nghiên cứu cho thấy, có  
mối quan hệ tương quan dương giữa tỷ lệ sở  
hữu cổ phần và hiệu quả hoạt động. Đúng như  
kỳ vọng của nhóm tác giả, giả thuyết H được  
khẳng định. Kết quả này ủng hộ cho lý 1thuyết  
đại diện và lý thuyết về quản lý công ty gia đình,  
và tương đồng với các kết quả nghiên cứu của  
Anderson và Reeb (2003), Andres (2008), Chu  
(2009), Barontini và Caprio (2006). Kết quả này  
cho thấy, trong bối cảnh của nền kinh tế mới  
nổi tại Việt Nam và cơ chế quản trị chưa hoàn  
chỉnh thì tỷ lệ sở hữu cổ phần có tác động tích  
cực đến hiệu quả hoạt động là do các thành viên  
gia đình góp phần giảm bớt nhiệm vụ giám sát.  
Biến rủi ro kinh doanh (Risk): Đây là biến  
Ngoài ra, các thành viên gia đình có tỷ lệ sở hữu kiểm soát có tác động mạnh nhất đến hiệu  
cổ phần trong công ty sẽ giúp việc huy động dễ quả hoạt động (Coef: 1,223, mức ý nghĩa 1%).  
dàng các tài sản vật chất và tài sản tài chính cho Rủi ro kinh doanh hay còn gọi là tính bất ổn  
công ty. Với mục tiêu nghiên cứu mối quan hệ trong thu nhập được đo lường bằng phương  
tuyến tính giữa tỷ lệ sở hữu gia đình đến hiệu sai của EBIT theo thời gian. Công ty có rủi ro  
quả hoạt động của các công ty gia đình tại thị kinh doanh cao khi tính bất ổn trong thu nhập  
trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu của công ty cao, rủi ro trong kinh doanh càng  
cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về lớn thì hiệu quả hoạt động sẽ càng giảm. Rủi ro  
việc tỷ lệ sở hữu gia đình cao sẽ làm tăng hiệu trong kinh doanh cũng ảnh hưởng tiêu cực đến  
quả hoạt động. Tuy nhiên, phương trình tuyến hiệu quả kinh doanh của các công ty gia đình.  
55  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
Phần lớn các công ty gia đình thuộc lĩnh vực và Reeb (2003), Phung và Hoang (2013) nhưng  
sản suất kinh doanh, khi các công ty sử dụng lại trái ngược với các kết quả nghiên cứu của  
đòn bẩy tài chính cao, nợ vay chiếm tỷ trọng Chu (2009). Có thể thấy rằng không phải giai  
lớn trong cơ cấu nguồn vốn, khi thị trường biến đoạn nào việc tăng qui mô cũng có ảnh hưởng  
động, các công ty sẽ gặp khó khăn trong việc không tốt đến hiệu quả hoạt động.  
trả lãi và nợ gốc. Đối với các ngành có độ rủi  
ro kinh doanh cao sẽ có tác động tiêu cực đến  
hiệu quả kinh doanh của công ty. Kết quả này  
hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của  
Chu (2009).  
Biến Tỷ lệ giá vốn hàng bán/doanh thu thuần  
(COGS): Có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt  
động kinh doanh của công ty. Điều này hoàn  
toàn phù hợp trong nguyên tắc tài chính khi  
Doanh thu thuần sẽ bằng Doanh thu trừ giá vốn  
hàng bán. Giá vốn hàng bán càng cao sẽ làm cho  
Doanh thu thuần giảm và làm giảm lợi nhuận.  
Với mức ý nghĩa 1%, kết quả này hoàn toàn  
tương đồng với các nghiên cứu của Anderson và  
Reeb (2003), Villalonga và Amit (2009).  
Biến Mức tăng trưởng doanh thu (Growth):  
Tốc độ tăng trưởng của doanh thu tăng sẽ có  
tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh  
doanh của công ty. Kết quả này hoàn toàn phù  
hợp với những nguyên tắc trong tài chính.  
Với mức ý nghĩa 1%, kết quả của nhóm tương  
đồng với kết quả của các nghiên cứu của Wang  
(2006), Villalonga và Amit (2009), Anderson và  
Reeb (2003).  
Qui mô của công ty (Size): Với độ tin cậy  
99%, kết quả của nghiên cứu cho thấy qui mô  
công ty có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh  
doanh. Kết hợp với Bảng 3, ma trận hệ số tương  
quan cho thấy, qui mô công ty có tương quan  
dương với tỷ lệ sở hữu gia đình (FIO). Kết quả  
của nghiên cứu có thể thấy rằng, trong giai  
đoạn 2009 – 2019 các công ty gia đình bằng  
cách phát hành thêm cổ phiếu để mở rộng qui  
mô. Việc phát hành này có thể làm tăng tỷ lệ sở  
hữu của các thành viên trong gia đình. Điều này  
làm cho các cổ đông khác, các nhân viên và các  
quản lý không phải là thành viên trong gia đình  
thấy rằng, sự kiểm soát công ty của nhóm thành  
viên trong gia đình ngày càng tăng và họ sẽ ít  
được hưởng nhiều quyền lợi bằng các thành  
viên trong gia đình. Điều này có thể dẫn tới  
tiêu cực trong công việc và làm giảm hiệu quả  
hoạt động kinh doanh của công ty. Kết quả này  
tương đồng với các nghiên cứu của Anderson  
6. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự ảnh  
hưởng tích cực rất lớn của sở hữu gia đình đến  
hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình  
niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong  
giai đoạn 2009 – 2019. Tuy nhiên, khi đi sâu vào  
khai thác cơ cấu bộ máy của Hội đồng quản trị  
và Ban giám đốc cho thấy, tỷ lệ các thành viên  
trong gia đình tham gia quản lý có một tác động  
tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty.  
Điều này cho thấy rằng, việc lạm dụng quyền  
sở hữu để đưa các thành viên trong gia đình  
không có năng lực tham gia vào bộ máy quản lý  
của công ty sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của  
công ty. Qua việc đánh giá mức độ tác động của  
quyền sở hữu gia đình trên 3 yếu tố, nghiên cứu  
đưa ra 3 khuyến nghị như sau:  
ứ nhất, về tỷ lệ sở hữu cổ phần, các công ty  
có tỷ lệ sở hữu gia đình cao sẽ làm tăng hiệu quả  
hoạt động trong sản xuất kinh doanh. Dựa trên  
nền tảng lý thuyết thì phần lớn các công ty gia  
đình mà nhóm nghiên cứu thu thập được trong  
dữ liệu đều đang được quản lý bởi số đông các  
thành viên trong gia đình thuộc thế hệ đầu tiên  
sáng lập. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ các công ty gia  
đình đang được quản lý bởi các thế hệ sau. Cho  
nên hiệu quả hoạt động của công ty đang có  
dấu hiệu chịu sự ảnh hưởng bởi trình độ của  
các thành viên thế hệ sau chưa nhiều. Đây cũng  
là một trong những điểm mới của nghiên cứu.  
Kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với lý  
thuyết đại diện, lý thuyết về quản lý trong công  
ty gia đình.  
ứ hai, về tỷ lệ thành viên của gia đình  
tham gia Hội đồng quản trị, nếu tỷ lệ thành viên  
trong gia đình tham gia vào Hội đồng quản trị  
hay Ban giám đốc của công ty sẽ làm giảm hiệu  
quả hoạt động của công ty. Kết quả này có hàm  
ý cho thấy, các công ty gia đình nên tập trung  
quyền lực cho một số thành viên có năng lực  
để nắm giữ những vị trí quan trọng trong Hội  
đồng quản trị. Gia đình không nên lạm dụng  
56  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
quyền sở hữu để đưa quá nhiều thành viên số thành viên có năng lực tốt. Việc phân tán  
không có năng lực tham gia vào Hội đồng quản quyền vào Ban giám đốc cho quá nhiều thành  
trị. Nhiều thành viên không có năng lực nắm viên trong gia đình sẽ có tác động tiêu cực đến  
giữ vị trí cao sẽ có tác động tiêu cực đến hiệu hiệu quả hoạt động kinh doanh.  
quả hoạt động của công ty.  
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm một  
ứ ba, về tỷ lệ thành viên của gia đình tham bằng chứng thực nghiệm cho thấy ảnh hưởng  
gia Ban giám đốc, tương tự như việc các thành của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động  
viên trong gia đình tham gia quá nhiều vào hoạt của các công ty đang niêm yết trên thị trường  
động điều hành sẽ không có chỗ để tạo điều kiện chứng khoán Việt Nam trong 10 năm từ 2009-  
cho các cá nhân có năng lực bên ngoài tham gia 2019. Đây là một trong những cơ sở khoa học  
mạnh mẽ hơn vào ban điều hành. Quá nhiều để các nhà quản trị trong các công ty gia đình  
thành viên tham gia ban điều hành sẽ dễ dẫn có thêm góc nhìn về mặt quản trị để tạo ra hiệu  
đến chủ quan trong quản lý. Không nên phân quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm  
tán quyền quản lý cho quá nhiều người trong hướng tới sự phát triển bền vững.  
gia đình mà chỉ nên tập trung quyền cho một  
Tài liệu tham khảo  
Ali, A., Chen, T. Y., & Radhakrishnan, S. (2007). Corporate disclosures by family firms. Journal of accounting and  
economics, 44(1-2), 238-286.  
Anderson, R. C., & Reeb, D. M. (2003). Founding‐family ownership and firm performance: evidence from the  
S&P 500. e journal of finance, 58(3), 1301-1328.  
Andres, C. (2008). Large shareholders and firm performance–An empirical examination of founding-family  
ownership. Journal of corporate finance, 14(4), 431-445.  
Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an  
application to employment equations. e Review of Economic Studies, 58(2), 277-297.  
Barontini, R., & Caprio, L. (2006). e effect of family control on firm value and performance: Evidence from  
continental Europe. European Financial Management, 12(5), 689-723.  
Bhattacharya, U., & Ravikumar, B. (2001). Capital markets and the evolution of family businesses. e Journal of  
Business, 74(2), 187-219.  
Bushman, R. M., & Smith, A. J. (2001). Financial accounting information and corporate governance. Journal of  
accounting and Economics, 32(1-3), 237-333.  
Basco, R. (2013). e family’s effect on family firm performance: A model testing the demographic and essence  
approaches. Journal of Family Business Strategy, 4(1), 42-66.  
Chu, W. (2009). e influence of family ownership on SME performance: evidence from public firms in Taiwan.  
Small Business Economics, 33(3), 353-373.  
Chu, W. (2011). Family ownership and firm performance: Influence of family management, family control, and  
firm size. Asia Pacific Journal of Management, 28(4), 833-851.  
Claessens, S., Djankov, S., & Lang, L. H. (2000). e separation of ownership and control in East Asian  
corporations. Journal of financial Economics, 58(1-2), 81-112.  
Daily, C. M., Dalton, D. R., & Rajagopalan, N. (2003). Governance through ownership: Centuries of practice,  
decades of research. Academy of Management Journal, 46(2), 151-158.  
De Massis, A., Kotlar, J., Campopiano, G., & Cassia, L. (2013). Dispersion of family ownership and the performance  
of small-to-medium size private family firms. Journal of Family Business Strategy, 4(3), 166-175.  
Donaldson, L., & Davis, J. H. (1991). Stewardship theory or agency theory: CEO governance and shareholder  
returns. Australian Journal of management, 16(1), 49-64.  
Faccio, M., & Lang, L. H. (2002). e ultimate ownership of Western European corporations. Journal of financial  
economics, 65(3), 365-395.  
Fama, E. F., & Jensen, M. C. (1983). Agency problems and residual claims. e Journal of Law and Economics,  
26(2), 327-349.  
57  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 65 – áng 10 Năm 2021  
Franks, J., & Mayer, C. (2001). Ownership and control of German corporations. e Review of Financial  
Studies, 14(4), 943-977.  
Gadhoum, Y., Lang, L. H., & Young, L. (2005). Who controls US?. European Financial Management, 11(3), 339-363.  
Gujarati, D. N. (2004). Basic Econometrics, the McGraw-HillCompanies. New York, NY, USA.  
Hermanson, H. M. (2000). Ananalysisofthedemandforreportingoninternalcontrol. AccountingHorizons, 14(3),  
325-341.  
James, H. S. (1999). Owner as manager, extended horizons and the family firm. International journal of the  
economics of business, 6(1), 41-55.  
Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). eory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership  
structure. Journal of financial economics, 3(4), 305-360.  
King, M. R., & Santor, E. (2008). Family values: Ownership structure, performance and capital structure of  
Canadian firms. Journal of Banking & Finance, 32(11), 2423-2432.  
Kowalewski, O., Talavera, O., & Stetsyuk, I. (2010). Influence of family involvement in management and  
ownership on firm performance: Evidence from Poland. Family Business Review, 23(1), 45-59.  
Lam, K., Mok, H. M., Cheung, I., & Yam, H. C. (1994). Family groupings on performance of portfolio selection  
in the Hong Kong stock market. Journal of banking & finance, 18(4), 725-742.  
Leung, S., Richardson, G., & Jaggi, B. (2014). Corporate board and board committee independence, firm  
performance, and family ownership concentration: An analysis based on Hong Kong firms. Journal of  
Contemporary Accounting & Economics, 10(1), 16-31.  
Martínez, J. I., Stöhr, B. S., & Quiroga, B. F. (2007). Family ownership and firm performance: Evidence from  
public companies in Chile. Family Business Review, 20(2), 83-94.  
Maury, B. (2006). Family ownership and firm performance: Empirical evidence from Western European  
corporations. Journal of Corporate Finance, 12(2), 321-341.  
Miller, D., & Le Breton-Miller, I. (2006). Family governance and firm performance: Agency, stewardship, and  
capabilities. Family business review, 19(1), 73-87.  
Miller, D., Le Breton-Miller, I., Lester, R. H., & Cannella Jr, A. A. (2007). Are family firms really superior  
performers?. Journal of Corporate Finance, 13(5), 829-858.  
Muth, M., & Donaldson, L. (1998). Stewardship theory and board structure: A contingency approach. Corporate  
Governance: An International Review, 6(1), 5-28.  
Phung, D. N., & Hoang, T. P. T. (2013). Corporate ownership and firm performance in emerging market: a study  
of Vietnamese listed firms. In Proceedings of World Business and Social Science Research Conference, 24-25  
October 2013, Hotel Novotel Bangkok on Siam Square, Bangkok, ailand (1-16).  
Phạm Quốc Việt (2010). Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố điều hành công ty đến hiệu quả hoạt động của  
công ty cổ phần: Luận án tiến si (Doctoral dissertation, Trường Đại học Kinh tế ành phố Hồ Chí Minh).  
Saito, T. (2008). Familyfirmsandfirmperformance:EvidencefromJapan. JournaloftheJapaneseandInternational  
Economies, 22(4), 620-646.  
Sciascia, S., & Mazzola, P. (2008). Family involvement in ownership and management: Exploring nonlinear  
effects on performance. Family Business Review, 21(4), 331-345.  
Shyu, J. (2011). Family ownership and firm performance: evidence from Taiwanese firms. International Journal  
of Managerial Finance, 7(4), 397-411.  
Sraer, D., & esmar, D. (2007). Performance and behavior of family firms: Evidence from the French stock  
market. Journal of the european economic Association, 5(4), 709-751.  
Tran, T. M., & Duong, H. N. (2011). Managerial ownership and the performance of firms: Evidence from  
Vietnamese firm listed on HOSE. Science and Technology Development Journal, 14(2), 116-124.  
Wild, J. J., Bernstein, L. A., Subramanyam, K. R., & Halsey, R. F. (2004). Financial statement analysis. McGraw-Hill.  
Villalonga, B., & Amit, R. (2009). How are US family firms controlled?. Review of Financial Studies, 22(8),  
3047-3091.  
Wang, D. (2006). Founding family ownership and earnings quality. Journal of accounting research, 44(3), 619-656.  
58  
pdf 12 trang Thùy Anh 17880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty gia đình: Trường hợp của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfimpact_of_family_ownership_on_firm_performance_of_family_com.pdf