Tác động của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty gia đình: Trường hợp của Việt Nam
Journal of Finance – Marketing; Vol. 65, No. 5; 2021
ISSN: 1859-3690
ISSN: 1859-3690
T ẠP CH Í
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH - MARKETING
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G
Số 65 - Tháng 10 Năm 2021
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING
Journal of Finance – Marketing
IMPACT OF FAMILY OWNERSHIP ON FIRM PERFORMANCE OF FAMILY
COMPANIES: THE CASE OF VIET NAM
Cao Tan Huy1*, Pham Duc Huy1, Phan i Huong1
1University of Finance – Marketing
ARTICLE INFO
ABSTRACT
DOI:
e study assesses the impact of family ownership on the performance of
family firms on the Vietnamese stock market by a linear relationship. e
sample includes 230 observations collected over a 10-year period (2009 –
2019) of 23 family companies. By the GLS estimation method, the author
uses the static multiple regression method on table data to evaluate the
effect of family ownership on the performance of family firms. Research
results provide an empirical evidence of the positive effect between family
members’ shareholding rates on company business performance. Besides,
the study also shows a negative relationship between the proportion of
family members participating in the Board of Directors and the Board of
Directors, which is also a new discovery of the study. e research results
have provided additional scientific bases for senior managers in family
companies to have more perspectives on HR management in operating the
company towards efficiency and sustainable development.
10.52932/jfm.vi65.209
Received:
August 17, 2020
Accepted:
September 16, 2020
Published:
October 25, 2021
Keywords:
Family firms;
Ownership of family
firms; Corporate
governance; Firms
performance.
*Corresponding author:
Email: caohuy@ufm.edu.vn
47
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
ISSN: 1859-3690
T ẠP CH Í
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH - MARKETING
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G
Số 65 - Tháng 10 Năm 2021
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU GIA ĐÌNH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC CÔNG TY GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP CỦA VIỆT NAM
Cao Tấn Huy1*, Phạm Đức Huy1, Phan ị Hương1
1Trường Đại học Tài chính – Marketing
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:
Nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng của sở hữu gia đình đến hiệu quả
hoạt động của các công ty gia đình trên thị trường chứng khoán Việt Nam
bằng mối quan hệ tuyến tính. Mẫu nghiên cứu bao gồm 230 quan sát được
thu thập trong giai đoạn 10 năm (2009 – 2019) của 23 công ty gia đình.
Bằng phương pháp ước lượng GLS, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy
bội dạng tĩnh trên số liệu bảng để đánh giá ảnh hưởng của sở hữu gia đình
đến hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình. Kết quả nghiên cứu cung
cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng tích cực giữa tỷ lệ
sở hữu cổ phần của các thành viên trong gia đình đến hiệu quả kinh doanh
của công ty. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy có mối quan hệ tiêu
cực giữa tỷ lệ thành viên trong gia đình tham gia vào Hội đồng quản trị
và Ban giám đốc, đây cũng là một khám phá mới của nghiên cứu. Kết quả
nghiên cứu đã cung cấp thêm những cơ sở khoa học để các nhà quản lý cấp
cao trong các công ty gia đình có thêm góc nhìn về quản trị nhân sự trong
hoạt động điều hành công ty hướng tới hiệu quả và phát triển bền vững.
10.52932/jfm.vi65.209
Ngày nhận:
17/08/2020
Ngày nhận lại:
16/09/2020
Ngày đăng:
25/10/2021
Từ khóa:
Công ty gia đình;
Sở hữu gia đình;
Quản trị công ty;
Hiệu quả hoạt động
kinh doanh.
1. Giới thiệu
các thành viên trong một gia đình nắm giữ tỷ lệ
sở hữu đủ để quyết định cơ cấu thành lập Hội
Đã từ lâu, mô hình công ty gia đình không
còn xa lạ gì trong hoạt động kinh doanh. Hiện
nay mô hình này đã và đang phát triển rất mạnh
mẽ trong nền kinh tế thị trường. Các công ty
gia đình là những nhân tố quan trọng góp phần
cho sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
Công ty gia đình được hiểu là công ty trong đó
đồng quản trị. Một trong những lợi thế của công
ty gia đình đó là vì quyền sở hữu nằm trong tay
một vài thành viên trong gia đình, điều này
cho phép thống nhất quyền lực vào một người
làm chủ. Các thành viên chủ chốt nắm quyền
quản trị trong cùng một gia đình thường có sự
hợp tác, phối hợp tốt hơn có thể vượt qua được
những đối kháng của quản trị công ty thông
thường. Quản trị công ty gia đình tạo thuận lợi
cho việc ra quyết định, làm giảm chi phí quản
*Tác giả liên hệ:
Email: caohuy@ufm.edu.vn
48
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty
gia đình ở Việt Nam mà nhóm tác giả tiếp cận
được còn rất hạn chế. Đa số các nghiên cứu mới
chỉ dừng lại ở mức độ đo lường về tỷ lệ sở hữu
cổ phần của các thành viên trong gia đình, chưa
tính đến ảnh hưởng của nhóm yếu tố về tỷ lệ
quản lý và tỷ lệ thành viên trong Hội đồng quản
trị là người trong gia đình. Vì vậy, đây là một
trong những khe hở cần phải tiếp tục nghiên
cứu sâu thêm về vấn đề này ở Việt Nam. Dựa
trên báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và
báo cáo quản trị, nhóm tác giả thực hiện khảo
sát các yếu tố gia đình tham gia vào quyền sở
hữu, hội đồng quản trị, và quản lý ảnh hưởng
thế nào đến hiệu quả kinh doanh của các công
ty gia đình. Qua đó, có thể đánh giá được quyền
sở hữu và kiểm soát gia đình có làm giảm ảnh
hưởng đến việc định hình các lựa chọn tài chính
của công ty hay không. Xuất phát từ tầm quan
trọng của những vấn đề nêu trên nhóm tác giả
chọn nghiên cứu về tác động của sở hữu gia
đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
các công ty gia đình Việt Nam niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam để nghiên cứu.
lý, tập trung vào phối hợp giữa các bộ phận
trong hệ thống để tạo ra hiệu quả trong hoạt
động kinh doanh. Từ lý thuyết khác nhau và
từng bối cảnh nghiên cứu khác nhau mà có hay
không mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và hiệu
quả hoạt động kinh doanh. Nếu có mối quan hệ
thì sở hữu gia đình cũng có thể làm tăng hoặc
cũng có thể làm giảm hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty gia đình. Sự xung đột về lợi
ích giữa cổ đông gia đình và các cổ đông khác,
giữa các thành viên gia đình với những người
quản lý, điều hành không thuộc gia đình, giữa
các thành viên gia đình với nhau, hay khả năng
quản trị công ty của các thành viên gia đình,
các quyết định tài chính là các nguyên nhân ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
Trên thế giới, các tập đoàn lớn đã tồn tại và
phát triển qua hàng chục thế hệ chủ yếu là các
công ty gia đình. Các nghiên cứu khoa học gần
đây cho thấy rằng công ty gia đình là một hình
thức tổ chức phổ biến ở cả các nền kinh tế phát
triển và mới nổi, các nghiên cứu điều tra các
vấn đề khác nhau liên quan đến cơ cấu sở hữu
của các công ty, tập đoàn cho thấy các công ty
gia đình chiếm một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp
ở các nước có đặc điểm thể chế và pháp lý rất
2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu
khác nhau. Chẳng hạn như Hoa Kỳ và Canada 2.1. Cơ sở lý thuyết
có nghiên cứu của: Bhattacharya và Ravikumar
Lý thuyết đại diện: ường được sử dụng
(2001), Anderson và Reeb (2003), Gadhoum và
cộng sự (2005), King và Santor (2008), ở các
nước Châu Âu có các nghiên cứu của Franks và
Mayer (2001); Faccio và Lang (2002); Sraer và
esmar (2007); Andres (2008), và ở Đông Á
có các nghiên cứu của Lam và cộng sự (1994),
Claessens và cộng sự (2000). Hầu hết các nghiên
cứu này đều cho thấy sự vượt trội của các công
ty gia đình so với các công ty được niêm yết,
điều này cho thấy rằng hình thức tổ chức này
không chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (SMEs).
để giải thích việc minh bạch thông tin hay gia
tăng việc thuyết minh tự nguyện của người điều
hành công ty (Hermanson, 2000; Bushman &
Smith, 2001). Hành vi của người đại diện (nhà
quản lý) trong vấn đề gia tăng mức độ công bố
thông tin hay minh bạch thông tin khi xem xét
cân nhắc giữa lợi ích và chi phí cho việc công bố
thông tin. Khi hợp đồng giữa chủ sở hữu và nhà
quản lý đạt hiệu quả, lợi ích của nhà quản lý
được đảm bảo, họ sẽ hành động hoàn toàn vì lợi
ích của chủ sở hữu, tăng cường sự minh bạch
thông tin phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu.
Cho đến nay, mặc dù trên thế giới đã có khá
nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của sở hữu
gia đình đến hiệu quả hoạt động của công ty
gia đình. Nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu
khoa học về ảnh hưởng của sở hữu gia đình đến
Lý thuyết quản lý: Đưa ra giả thuyết rằng
người quản lý không bị tác động bởi những
mục đích cá nhân, mà họ có những động lực
đồng hành với mục tiêu của chủ sở hữu. Lý
thuyết này lập luận rằng, giám đốc điều hành có
49
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
sở hữu và người quản lý. Tuy nhiên, Daily và
cộng sự (2003) lại cho rằng, các giám đốc độc
lập đóng góp vào chuyên môn, khách quan và
dường như giảm thiểu sự nhân nhượng, vị tha
trong quản lý. Anderson và Reeb (2003) thừa
nhận rằng, khi thành viên gia đình đóng vai trò
là giám đốc điều hành thì hiệu quả kinh doanh
tốt hơn là các giám đốc điều hành thuê ngoài.
Điều này được giải thích là do gia đình hiểu việc
kinh doanh công ty mình và các thành viên gia
đình đó tham gia như là những người quản lý
của công ty. Có thành viên gia đình trong nhóm
quản lý hàng đầu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh doanh của công ty; tuy nhiên, hiệu quả của
quản lý từ gia đình là khác nhau. Các nghiên
cứu tìm thấy rằng, các nhà quản lý gia đình tác
động tích cực đến hiệu quả kinh doanh với điều
kiện là họ hành động như những người quản lý
và tuân thủ tốt những thực tiễn về quản trị và
quản lý (Andres, 2008; Miller và cộng sự, 2007).
Các gia đình sáng lập và duy trì sự hiện diện lâu
dài trong công ty, đặc biệt các thành viên trong
gia đình gắn bó lâu dài với công ty sẽ có xu
hướng có một tầm nhìn dài hạn hơn. Các thành
viên gia đình thường có quan điểm và sẵn sàng
thực hiện kế hoạch đầu tư dài hạn hơn các cổ
đông khác, những nguời tập trung chủ yếu vào
lợi nhuận ngắn hạn (James, 1999). êm vào
đó, kiểm soát gia đình sẽ giảm thiểu mâu thuẫn
giữa các cổ đông và chủ sở hữu, do đó giảm chi
phí đại diện cho các công ty gia đình (Anderson
& Reeb, 2003). Wang (2006), Ali và cộng sự
(2007) cho thấy rằng quyền sở hữu gia đình có
thể giảm sự bất đối xứng thông tin, có thể dẫn
đến chi phí vốn thấp cho các công ty gia đình.
thể vận hành một cách hiệu quả không chỉ là vì
họ có năng lực mà còn là họ có chung mục tiêu
với người hưởng lợi (Donalson & Davis, 1991;
Muth & Donaldson, 1998).
Lý thuyết về quản lý trong công ty gia đình:
Lý thuyết này cung cấp quan điểm khác về mối
quan hệ giữa người quản lý và chủ sở hữu. Sự
tham gia của gia đình tạo ra các điều kiện để
thúc đẩy hành vi quản lý. Hành vi quản lý đặc
biệt phổ biến ở những nơi mà các nhà quản
lý là thành viên trong gia đình hoặc các thành
viên liên quan đến gia đình. Các nhà quản lý gia
đình, cũng là chủ sở hữu hoặc là đồng chủ sở
hữu, quan tâm đến sự tồn tại lâu dài, khả năng
sinh lợi, và danh tiếng của một công ty, và giúp
nuôi dưỡng ý thức của cộng đồng quản lý giữa
các nhân viên trong các công ty gia đình (Miller
& Le Breton-Miller, 2006).
2.2. Tổng quan các nghiên cứu
Quan điểm lý thuyết cho rằng, quyền sở hữu
gia đình mang lại cả chi phí và lợi ích. Lợi ích
của quyền sở hữu gia đình là cơ hội để giảm
thiểu chi phí giám sát, chi phí quản lý vì cơ chế
quản lý chính thức có thể không cần thiết đối
với các gia đình, trong đó sự kiểm soát không
tách rời quyền sở hữu (Fama & Jensen, 1983).
Nghiên cứu của Miller và Le Breton-Miller
(2006); Sciascia và Mazzola (2008) cho rằng, sở
hữu gia đình không có mối quan hệ với hiệu
quả hoạt động. Tuy nhiên, rất nhiều nghiên
cứu như: Villalonga và Amit (2009), Barontini
và Caprio (2006), Maury (2006), Martinez và
cộng sự (2007), Saito (2008), Chu (2009), Chu
(2011) thì cho rằng sở hữu gia đình có mối
quan hệ tuyến tính đồng biến với hiệu quả kinh
doanh. Đặc biệt, Anderson và Reeb (2003),
Kowalewski và cộng sự (2010), Shyu (2011), De
Massis và cộng sự (2013) cho rằng, sở hữu gia
đình có mối quan hệ phi tuyến tính bậc hai với
hiệu quả kinh doanh và có dạng đường cong
hình chữ “U ngược”. Jensen và Meckling (1976)
cho rằng, công ty gia đình kiểm soát hội đồng
quản trị và ít sử dụng giám đốc đại diện bên
ngoài vì nhu cầu giám sát giảm, các công ty
gia đình có thể tạo ra sự đồng thuận giữa chủ
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về cấu trúc sở
hữu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, hầu hết
các nghiên cứu đều tập trung vào cấu trúc sở
hữu của Nhà nước, sở hữu của cổ đông lớn, sở
hữu của nước ngoài và sở hữu của tổ chức. Cụ
thể như, nghiên cứu của Phạm Quốc Việt (2010)
cho thấy, tỷ lệ sở hữu cổ đông lớn Nhà nước và tỷ
lệ sở hữu tư nhân lớn trong nước không có mối
tương quan với hiệu quả công ty. Tỷ lệ sở hữu cổ
đông lớn nước ngoài có tương quan âm với hiệu
quả công ty; tuy nhiên, đối với các nhóm công ty
50
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
có hiệu quả kinh doanh cao hoặc tỷ trọng đầu tư và các vị trí quản lý. Martinez và cộng sự (2007)
tài chính quá khứ cao thì tương quan này không
có ý nghĩa. Đồng thời, Tran và Duong (2011)
cho thấy hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có
mối quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ sở hữu quản trị
theo quan hệ bậc hai. Phung và Hoang (2013)
cho rằng, với tỷ lệ sở hữu quản trị nhỏ hơn 59,1%
thì khi tăng tỷ lệ sở hữu quản trị sẽ làm tăng hiệu
quả hoạt động doanh nghiệp và khi tỷ lệ sở hữu
quản trị lớn hơn 59,1% thì ngược lại, tăng tỷ lệ
sở hữu quản trị sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp.
định nghĩa một công ty là công ty gia đình nếu
nó được kiểm soát bởi một gia đình thông qua
việc sở hữu và tham gia hoạt động quản trị công
ty và/hoặc có thành viên trong Ban giám đốc
của công ty. Tại Việt Nam về mặt pháp lý, trong
Luật Doanh nghiệp và trong Luật Chứng khoán
có nhiều quy định về các hình thức sở hữu; tuy
nhiên, các văn bản luật này vẫn chưa đưa ra các
quy định về sở hữu gia đình. Để thực hiện mục
tiêu nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng các khái
niệm về công ty gia đình của các tác giả Miller
và cộng sự (2007), Sciascia và Mazzola (2008),
Martinez và cộng sự (2007).
Qua lược khảo các nghiên cứu trước có thể
thấy, các nghiên cứu về cấu trúc sở hữu của
các công ty gia đình ở Việt Nam là chưa nhiều,
chưa nghiên cứu sâu về mối quan hệ này. Với
nghiên cứu này, một mặt có thể đưa đến các đề
xuất hoàn thiện cho hoạt động quản trị công ty
để hỗ trợ khả năng tăng trưởng cho các công
ty gia đình, mặt khác có thể làm cơ sở cho các
chính sách hỗ trợ cho các công ty gia đình ở
Việt Nam. Vì vậy, nhóm tác giả kỳ vọng tiến
hành kiểm định tác động của sở hữu gia đình
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
công ty ở Việt Nam, nhằm cung cấp thêm một
bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực nghiên
cứu về hiệu quả hoạt động của mô hình công ty
gia đình tại Việt Nam.
eo Luật Chứng khoán Việt Nam có quy
định “cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc
gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu
quyết của tổ chức phát hành”. Trên cơ sở đó,
nhóm tác giả đã chọn lọc được 23 công ty gia
đình có đầy đủ thông tin gồm báo cáo tài chính,
báo cáo thường niên và báo cáo quản trị đã được
kiểm toán và công bố trên sàn giao dịch chứng
khoán HSX và HNX trong giai đoạn 10 năm từ
2009 – 2019. Mẫu nghiên cứu bao gồm 230 quan
sát là các công ty gia đình hoạt động trong nhiều
lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, được sàng
lọc theo các tiêu chí: (i) các công ty được chọn
trong mẫu phải hoạt động liên tục trong giai đoạn
nghiên cứu; (ii) các doanh nghiệp thuộc linh vực
Tài chính như Ngân hàng, Bảo hiểm, Dịch vụ tài
chính được loại ra khỏi mẫu vì cách hạch toán
và các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của các loại
hình công ty này có sự khác biệt tương đối so với
nhóm công ty phi tài chính còn lại, sẽ làm tăng
sai số của kết quả nghiên cứu. Các biến được đo
lường trong Bảng 1.
3. Dữ liệu và mô hình nghiên cứu
3.1. Dữ liệu nghiên cứu
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã đưa ra
nhiều định nghĩa khác nhau nhằm phục vụ cho
mục tiêu nghiên cứu của mình. Nghiên cứu của
Miller và cộng sự (2007) đã đưa ra một trong
nhiều định nghĩa khác nhau về công ty gia đình,
cho rằng công ty gia đình là những công ty mà
các thành viên trong cùng một gia đình có liên
quan với nhau đóng vai trò như là những cổ
đông lớn hay những người quản lý lớn, hoặc
cùng lúc hoặc qua thời gian. Một nghiên cứu
khác của Sciascia và Mazzola (2008) định nghĩa
công ty gia đình là công ty mà gia đình kiểm
soát việc kinh doanh thông qua quyền sở hữu
3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên mô hình tuyến tính và các biến
được liệt kê trong Bảng 1, nhóm tác giả thực
hiện kiểm định tác động của sở hữu gia đình đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty
gia đình niêm yết trên thị trường khoán Việt
Nam. Kế thừa từ các nghiên cứu của Villalonga
51
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
và Amit (2009), Wild và cộng sự (2004), nhóm Giả thuyết H : Có mối quan hệ tương quan
dương giữa tỷ1lệ sở hữu cổ phần của các thành
tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu như sau:
viên trong gia đình đến hiệu quả hoạt động.
β0 + β1FIOi,t + β2FIBi,t + β3FIMi,t
ROAi,t = + β4COGSi,t + β5Riski,t + β6Sizei,t
+ β7Sales Growthi,t + β8LnAgei,t + εi,t
Giả thuyết H2 : Có mối quan hệ tương quan âm
giữa tỷ lệ thành viên gia đình trong hội đồng
quản trị đến hiệu quả hoạt động.
Giả thuyết H3: Có mối quan hệ tương quan
dương giữa tỷ lệ thành viên gia đình trong nhóm
quản lý hàng đầu đến hiệu quả hoạt động.
Để kiểm soát vấn đề sai lệch do thiếu biến, các
biến kiểm soát được đưa vào mô hình hồi quy.
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên
quan đã được đề cập đến, trong nghiên cứu này
nhóm tác giả kiểm định ảnh hưởng sở hữu gia
đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
các công ty gia đình được niêm yết trên sàn
chứng khoán Việt Nam như sau:
Trong đó, i là ngân hàng, t là năm. i = 1, 2,…, n
(với n : số lượng ngân hàng); t = 1, 2,…, T (với
T là thời gian quan sát trong mô hình được tính
theo năm).
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác
giả Anderson và Reeb (2003); Andres (2008),
Chu (2009); Barontini và Caprio (2006); Leung
và cộng sự (2014), Basco (2013); Miller và Le
Breton-Miller (2007); Miller và cộng sự (2006).
Bài nghiên cứu đưa ra các giả thuyết nghiên cứu
như sau:
Bảng 1. Các biến nghiên cứu và đo lường các biến
Tên biến
Ký hiệu Kỳ vọng Đo lường
Nguồn tham khảo
Biến phụ thuộc
Hiệu quả kinh doanh
ROA
FIO
FIB
Lợi nhuận sau thuế/
Villalonga và Amit (2009), Wild
và cộng sự (2004),
Tổng tài sản cuối kỳ
Chu (2009)
Biến độc lập
Tỷ lệ sở hữu gia đình
+
-
Tổng tỷ lệ sở hữu của
tất cả thành viên gia
đình trong công ty
Tỷ lệ thành viên gia
đình trong hội đồng
quản trị
Tỷ lệ thành viên gia
đình trong nhóm quản (2008), Miller và cộng sự (2006)
lý hàng đầu
Anderson và Reeb (2003), Andres
(2008), Chu (2009)
Barontini và Caprio (2006)
Leung và cộng sự (2014),
Basco (2013), Andres (2008),
Miller và cộng sự (2007)
ành viên gia đình
trong hội đồng quản trị
ành viên gia đình
trong nhóm quản lý
hàng đầu
Biến kiểm soát
Tỷ lệ giá vốn hàng bán COGS
FIM
+
Anderson và Reeb (2003), Andres
-
giá vốn hàng bán/doanh Anderson và Reeb (2003),
thu thuần
Độ lệch chuẩn của
EBIT/Tổng tài sản
Độ lệch chuẩn của
EBIT/Tổng tài sản
Mức tăng trưởng doanh Wang (2006), Villalonga và Amit
thu tương đối (tính theo (2009), Anderson và Reeb (2003)
phần trăm)
Logarit tự nhiên độ tuổi Anderson và Reeb (2003), Chu
của công ty
Villalonga và Amit (2009)
Chu (2009)
Rủi ro kinh doanh
Quy mô công ty
Risk
Size
-
+
Anderson và Reeb (2003), Chu
(2009), Phung và Hoang (2013)
Tăng trưởng doanh thu Growth +
Tuổi công ty
LnAge
+
(2009), Wang (2006)
52
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Để thực hiện kiểm định các giả thuyết đã 5.1. Kết quả thống kê mô tả dữ liệu
đưa ra, nhóm tác giả sử dụng phương pháp
Bảng 2 cho thấy, kết quả đo lường hiệu quả
định lượng để hồi quy bội dạng tĩnh trên số
liệu bảng để đánh giá ảnh hưởng của sở hữu gia
đình đến hiệu quả hoạt động của các công ty gia
đình. Các kỹ thuật hồi quy trên số liệu bảng bao
gồm hồi quy Pooled OLS, FEM, REM được áp
dụng. Để kiểm soát vấn đề thiếu biến trong mô
hình, nhóm tác giả đã khảo sát các nghiên cứu
trong và ngoài nước, từ đó quyết định các biến
kiểm soát sẽ được đưa vào mô hình. Ngoài ra,
việc ước lượng hệ số hồi quy bằng dữ liệu bảng
chéo có thể dẫn đến hiện tượng sai lệch do hiện
tượng tự tương quan hoặc hiện tượng phương
sai thay đổi. Do đó, để đảm bảo thu được kết quả
ước lượng vững, không chệch và chính xác hơn.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp của Arellano
và Bond (1991) phương pháp ước lượng GLS
để khắc phục hiện tượng khuyết tật của hai mô
hình này. Do đó, kiểm định Breusch & Pagan
test và Wooldridge test được sử dụng để kiểm
định tính phù hợp của mô hình cũng như tính
hiệu lực của các biến độc lập và biến kiểm soát.
Đồng thời, trên cơ sở kế thừa và vận dụng có
chọn lọc các kết quả nghiên cứu lý thuyết và
thực nghiệm của các công trình đã công bố
nhằm xác định luận cứ đánh giá hiệu quả cũng
như xác định những nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh doanh của công ty gia đình.
hoạt động qua số liệu kế toán bằng tỷ số Lợi
nhuận/tổng tài sản (ROA) trong mẫu quan sát
trung bình đạt 4,1% với công ty thấp nhất là
-169,3%, công ty cao nhất đạt 39,4% và độ lệch
chuẩn 0,139. Điều này cho thấy, có sự dao động
đáng kể giữa các công ty gia đình qua các năm.
ông qua số liệu kế toán giá trị trung vị cho
thấy, tỷ lệ 50% các công ty gia đình có ROA đạt
mức 3,3%. Như vậy, có thể thấy rằng, hiệu quả
hoạt động của các công ty gia đình có sự chênh
lệch đáng kể. Đánh giá về mức độ sở hữu gia
đình cho thấy, tỷ lệ sở hữu gia đình trung bình
là 39,2%; trong đó, công ty có tỷ lệ sở hữu gia
đình cao nhất 81,4% công ty có tỷ lệ sở hữu thấp
nhất là 6,7%. Mẫu quan sát cho thấy, 50% các
công ty gia đình có tỷ lệ sở hữu đạt 35,6% xấp xỉ
giá trị trung bình của mẫu nghiên cứu. Kết quả
thống kê cũng cho thấy, tỷ lệ trung bình 44,7%
các thành viên trong gia đình tham gia vào Hội
đồng quản trị, công ty có tỷ lệ cao nhất là 100%
thành viên trong gia đình tham gia, công ty có
tỷ lệ thấp nhất là 16,7%. Tương tự tỷ lệ trung
bình 54,3% thành viên tham gia quản lý thuộc
Ban giám đốc của công ty. Tỷ lệ 50% các công ty
có 40% thành viên trong gia đình tham gia Hội
đồng quản trị và 50% thành viên trong gia đình
có tham gia vào Ban giám đốc điều hành.
Bảng 2. ống kê mô tả các biến
Đại lượng
Trung bình
Giá trị lớn nhất
Giá trị nhỏ nhất
Trung vị
ROA
0,041
0,394
FIO
FIB
FIM
COGS Risk
Size
12,070 0,190
14,606 6,771
10,704 -0,915 2,000
11,922 0,100
0,807 0,630
Growth Age
0,392
0,814
-1,693 0,067
0,447
1,000
0,167
0,400
0,166
0,543
1,000
0,111
0,500
0,285
0,837
2,502
0,239
0,834
0,207
0,029
0,808
0,001
0,015
0,061
7,630
14,000
0,033
0,139
0,356
0,175
8,000
3,060
Độ lệch chuẩn
Kết quả thống kê mô tả cũng cho thấy, mức động của hiệu quả kinh doanh (ROA) của một
độ biến động của tỷ lệ sở hữu gia đình (FIO), số mã như BED, SPP, TTF có khoảng dao động
thành viên gia đình trong hội đồng quản trị mạnh; còn lại, đa số các mã chứng khoán trong
(FIB), thành viên gia đình trong nhóm quản mẫu nghiên cứu có hiệu quả kinh doanh khá
lý hàng đầu (FIM) không cao. Xu hướng biến ổn định.
53
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
5.2. Ma trận hệ số tương quan
biến không có tương quan mạnh (|corr| < 0,6).
Kết quả này chứng tỏ không xảy ra hiện tượng
đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô
hình hồi quy. Các biến có tương quan mạnh với
biến phụ thuộc đó là: Tỷ lệ giá vốn hàng bán
(COGS) và rủi ro kinh doanh (Risk). Điều này
cho thấy, 2 biến công cụ được lựa chọn đưa vào
mô hình sẽ làm tăng tính hiệu quả của mô hình
ước lượng.
Kết quả kiểm định hệ số tương quan Bảng
3 cho thấy, không có cặp biến độc lập và biến
kiểm soát nào có hệ số tương quan lớn hơn 0,6.
eo Gujarati (2004), nếu VIF < 10 thì không
có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra, kết quả của
nghiên cứu cho thấy VIF đều nhỏ hơn 5. Ma
trận hệ số tương quan cho thấy đa số giữa các
Bảng 3. Ma trận hệ số tương quan
Biến
ROA
FIO
FIB
FIM
COGS
Risk
Size
Growth
ROA
FIO
1
0,1564
-0,1112
-0,0602
-0,6072
-0,7158
-0,0015
0,176
1
FIB
0,2155
0,2614
-0,1043
-0,096
0,0024
-0,0231
1
FIM
0,5354
0,1672
0,0567
-0,3561
0,0538
1
COGS
Risk
0,0197
0,0011
-0,2094
0,0743
1
0,5454
-0,2085
-0,1419
1
Size
-0,0402
-0,0733
1
Growth
0,1325
1
LnAge
-0,0878
0,0725
0,0793
0,0842
0,1538
0,1189
0,1656
0,0245
5.3. Kết quả hồi quy và thảo luận
tuyến tính theo phương pháp ước lượng OLS,
ước lượng ảnh hưởng cố định – Fixed Effects
(FEM), ước lượng ngẫu nhiên – Random Effects
(REM) và ước lượng GLS.
Bảng 4 trình bày kết quả hồi quy ảnh hưởng
của vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động của
các công ty gia đình. Dựa trên phương trình
Bảng 4. Kết quả hồi quy tuyến tính với hiệu quả kinh doanh (ROA)
Các biến độc lập
OLS
FEM
REM
GLS
FIO
0,089**
(0,012)
-0,059
-0,020
0,045
0,089***
(0,010)
-0,059*
(0,170)
-0,045*
(0,063)
-0,212***
(0,000)
-1,223***
(0,000)
-0,027***
(0,001)
0,028***
(0,003)
0,035
(0,795)
-0,076
(0,415)
-0,065
FIB
(0,180)
-0,045*
(0,070)
-0,212***
(0,000)
-1,223***
(0,000)
-0,027***
(0,001)
0,028**
(0,004)
0,035
(0,222)
-0,050*
(0,144)
-0,183***
(0,000)
-1,275***
(0,000)
0,004
(0,229)
-0,045*
(0,128)
-0,184***
(0,000)
-1,287***
(0,000)
-0,024*
(0,124)
0,032***
(0,000)
0,039*
FIM
COGS
Risk
Size
(0,927)
0,033***
(0,000)
0,029
Growth
LnAge
(0,229)
(0,394)
(0,146)
(0,219)
Hằng số
0,566***
0,224
0,519**
0,566***
(0,000)
(0,647)
(0,007)
(0,000)
R-squared
0,621
0,679
0,677
Ghi chú: Sai số chuẩn trong dấu ngoặc đơn. Ký hiệu: *** là p<0,01, ** là p<0,05, * là p<0,1.
54
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
Kết quả kiểm định tự tương quan cho giá trị tính không xác định được có một ngưỡng nào
Prob > F = 0,0031 < α (α = 0,05), kết quả này cho mối quan hệ đồng biến này hay không. Đây
cho thấy, có hiện tượng tự tương quan trong cũng là điểm hạn chế của bài nghiên cứu.
mô hình. Để khắc phục hiện tượng tự tương
Biến tỷ lệ thành viên gia đình trong hội
quan, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình
đồng quản trị (FIB) và nhóm quản lý hàng
phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) bằng cách
đầu (FIM): Khi nghiên cứu sâu hơn về bộ
thêm AR(1), AR(2) vào mô hình hồi quy để
máy nhân sự của các công ty gia đình, kết quả
thỏa điều kiện là không có hiện tượng tự tương
nghiên cứu khám phá ra rằng: Tỷ lệ các thành
quan khi tiến hành kiểm định Durbin-Watson.
viên trong gia đình tham gia vào Hội đồng
Tương tự, kiểm định Breusch-Pagan Lagrange
quản trị và Ban giám đốc có ảnh hưởng tiêu
Multiplier (Breusch và Pagan, 1979) được thực
cực đến hiệu quả hoạt động của công ty. Như
hiện để kiểm tra phương sai thay đổi. Kết quả
vậy, giả thuyết H bị bác bỏ và giả thuyết H
được khẳng định.3Kết quả này tương đồng vớ2i
cho thấy, có hiện tượng phương sai thay đổi
(Prob > Chibar2 = 0,000 < α), như vậy, phương
nghiên cứu của Basco (2013), Miller và cộng
sai của sai số ngẫu nhiên trong mô hình thay
sự (2007), nhưng ngược lại với các nghiên
đổi. Khi có phương sai thay đổi sẽ làm cho các
cứu của Leung và cộng sự (2014), Anderson
ước lượng OLS không hiệu quả. Vì vậy, ước
và Reeb (2003), Andres (2008), Miller và Le
lượng GLS sẽ khắc phục được những khuyết
Breton-Miller (2006). Điều này cho thấy, khi
tật của OLS, FEM, REM và cho kết quả đáng
tỷ lệ các thành viên gia đình tham gia nhóm
tin cậy. Từ ước lượng GLS mô hình nghiên cứu
quản lý hàng đầu của công ty càng tăng thì sẽ
được xây dựng như sau:
càng làm giảm hiệu quả hoạt động của công ty.
ROA
i,t = 0,566 + 0,089FIOi,t – 0,045 FIMi,t
Chúng ta biết rằng, vận mệnh của một công ty
gắn liền với năng lực của người đứng đầu nắm
quyền quản trị. Qua đó, có thể thấy rằng, việc
lạm dụng quyền sở hữu để đưa nhiều thành
viên trong gia đình không có năng lực tham
gia vào nhóm quản lý hàng đầu sẽ có tác động
tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh. Điều này
hoàn toàn đúng khi nhiều thành viên không
có năng lực tham gia quản lý sẽ làm giảm lòng
tin của nhân viên, của các nhà đầu tư và dẫn
đến giảm hiệu quả kinh doanh của công ty. Tại
Việt Nam, do giới hạn về mặt thông tin, nhóm
tác giả chưa tìm được nghiên cứu trước nào có
nghiên cứu và tìm hiểu sâu về tỷ lệ các thành
viên tham gia nhóm quản lý hàng đầu trong
các công ty gia đình. Đây cũng chính là điểm
mới của nghiên cứu.
– 0,059 FIBi,t – 1,223 Risk – 0,212 COGSi,t
+0,028Growthi,t – 0,0i2,t7Sizei,t + εi,t
Biến tỷ lệ sở hữu cổ phần (FIO): Với mức
ý nghĩa 1%, kết quả nghiên cứu cho thấy, có
mối quan hệ tương quan dương giữa tỷ lệ sở
hữu cổ phần và hiệu quả hoạt động. Đúng như
kỳ vọng của nhóm tác giả, giả thuyết H được
khẳng định. Kết quả này ủng hộ cho lý 1thuyết
đại diện và lý thuyết về quản lý công ty gia đình,
và tương đồng với các kết quả nghiên cứu của
Anderson và Reeb (2003), Andres (2008), Chu
(2009), Barontini và Caprio (2006). Kết quả này
cho thấy, trong bối cảnh của nền kinh tế mới
nổi tại Việt Nam và cơ chế quản trị chưa hoàn
chỉnh thì tỷ lệ sở hữu cổ phần có tác động tích
cực đến hiệu quả hoạt động là do các thành viên
gia đình góp phần giảm bớt nhiệm vụ giám sát.
Biến rủi ro kinh doanh (Risk): Đây là biến
Ngoài ra, các thành viên gia đình có tỷ lệ sở hữu kiểm soát có tác động mạnh nhất đến hiệu
cổ phần trong công ty sẽ giúp việc huy động dễ quả hoạt động (Coef: 1,223, mức ý nghĩa 1%).
dàng các tài sản vật chất và tài sản tài chính cho Rủi ro kinh doanh hay còn gọi là tính bất ổn
công ty. Với mục tiêu nghiên cứu mối quan hệ trong thu nhập được đo lường bằng phương
tuyến tính giữa tỷ lệ sở hữu gia đình đến hiệu sai của EBIT theo thời gian. Công ty có rủi ro
quả hoạt động của các công ty gia đình tại thị kinh doanh cao khi tính bất ổn trong thu nhập
trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu của công ty cao, rủi ro trong kinh doanh càng
cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về lớn thì hiệu quả hoạt động sẽ càng giảm. Rủi ro
việc tỷ lệ sở hữu gia đình cao sẽ làm tăng hiệu trong kinh doanh cũng ảnh hưởng tiêu cực đến
quả hoạt động. Tuy nhiên, phương trình tuyến hiệu quả kinh doanh của các công ty gia đình.
55
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
Phần lớn các công ty gia đình thuộc lĩnh vực và Reeb (2003), Phung và Hoang (2013) nhưng
sản suất kinh doanh, khi các công ty sử dụng lại trái ngược với các kết quả nghiên cứu của
đòn bẩy tài chính cao, nợ vay chiếm tỷ trọng Chu (2009). Có thể thấy rằng không phải giai
lớn trong cơ cấu nguồn vốn, khi thị trường biến đoạn nào việc tăng qui mô cũng có ảnh hưởng
động, các công ty sẽ gặp khó khăn trong việc không tốt đến hiệu quả hoạt động.
trả lãi và nợ gốc. Đối với các ngành có độ rủi
ro kinh doanh cao sẽ có tác động tiêu cực đến
hiệu quả kinh doanh của công ty. Kết quả này
hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của
Chu (2009).
Biến Tỷ lệ giá vốn hàng bán/doanh thu thuần
(COGS): Có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt
động kinh doanh của công ty. Điều này hoàn
toàn phù hợp trong nguyên tắc tài chính khi
Doanh thu thuần sẽ bằng Doanh thu trừ giá vốn
hàng bán. Giá vốn hàng bán càng cao sẽ làm cho
Doanh thu thuần giảm và làm giảm lợi nhuận.
Với mức ý nghĩa 1%, kết quả này hoàn toàn
tương đồng với các nghiên cứu của Anderson và
Reeb (2003), Villalonga và Amit (2009).
Biến Mức tăng trưởng doanh thu (Growth):
Tốc độ tăng trưởng của doanh thu tăng sẽ có
tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty. Kết quả này hoàn toàn phù
hợp với những nguyên tắc trong tài chính.
Với mức ý nghĩa 1%, kết quả của nhóm tương
đồng với kết quả của các nghiên cứu của Wang
(2006), Villalonga và Amit (2009), Anderson và
Reeb (2003).
Qui mô của công ty (Size): Với độ tin cậy
99%, kết quả của nghiên cứu cho thấy qui mô
công ty có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh
doanh. Kết hợp với Bảng 3, ma trận hệ số tương
quan cho thấy, qui mô công ty có tương quan
dương với tỷ lệ sở hữu gia đình (FIO). Kết quả
của nghiên cứu có thể thấy rằng, trong giai
đoạn 2009 – 2019 các công ty gia đình bằng
cách phát hành thêm cổ phiếu để mở rộng qui
mô. Việc phát hành này có thể làm tăng tỷ lệ sở
hữu của các thành viên trong gia đình. Điều này
làm cho các cổ đông khác, các nhân viên và các
quản lý không phải là thành viên trong gia đình
thấy rằng, sự kiểm soát công ty của nhóm thành
viên trong gia đình ngày càng tăng và họ sẽ ít
được hưởng nhiều quyền lợi bằng các thành
viên trong gia đình. Điều này có thể dẫn tới
tiêu cực trong công việc và làm giảm hiệu quả
hoạt động kinh doanh của công ty. Kết quả này
tương đồng với các nghiên cứu của Anderson
6. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự ảnh
hưởng tích cực rất lớn của sở hữu gia đình đến
hiệu quả hoạt động của các công ty gia đình
niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong
giai đoạn 2009 – 2019. Tuy nhiên, khi đi sâu vào
khai thác cơ cấu bộ máy của Hội đồng quản trị
và Ban giám đốc cho thấy, tỷ lệ các thành viên
trong gia đình tham gia quản lý có một tác động
tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty.
Điều này cho thấy rằng, việc lạm dụng quyền
sở hữu để đưa các thành viên trong gia đình
không có năng lực tham gia vào bộ máy quản lý
của công ty sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của
công ty. Qua việc đánh giá mức độ tác động của
quyền sở hữu gia đình trên 3 yếu tố, nghiên cứu
đưa ra 3 khuyến nghị như sau:
ứ nhất, về tỷ lệ sở hữu cổ phần, các công ty
có tỷ lệ sở hữu gia đình cao sẽ làm tăng hiệu quả
hoạt động trong sản xuất kinh doanh. Dựa trên
nền tảng lý thuyết thì phần lớn các công ty gia
đình mà nhóm nghiên cứu thu thập được trong
dữ liệu đều đang được quản lý bởi số đông các
thành viên trong gia đình thuộc thế hệ đầu tiên
sáng lập. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ các công ty gia
đình đang được quản lý bởi các thế hệ sau. Cho
nên hiệu quả hoạt động của công ty đang có
dấu hiệu chịu sự ảnh hưởng bởi trình độ của
các thành viên thế hệ sau chưa nhiều. Đây cũng
là một trong những điểm mới của nghiên cứu.
Kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với lý
thuyết đại diện, lý thuyết về quản lý trong công
ty gia đình.
ứ hai, về tỷ lệ thành viên của gia đình
tham gia Hội đồng quản trị, nếu tỷ lệ thành viên
trong gia đình tham gia vào Hội đồng quản trị
hay Ban giám đốc của công ty sẽ làm giảm hiệu
quả hoạt động của công ty. Kết quả này có hàm
ý cho thấy, các công ty gia đình nên tập trung
quyền lực cho một số thành viên có năng lực
để nắm giữ những vị trí quan trọng trong Hội
đồng quản trị. Gia đình không nên lạm dụng
56
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
quyền sở hữu để đưa quá nhiều thành viên số thành viên có năng lực tốt. Việc phân tán
không có năng lực tham gia vào Hội đồng quản quyền vào Ban giám đốc cho quá nhiều thành
trị. Nhiều thành viên không có năng lực nắm viên trong gia đình sẽ có tác động tiêu cực đến
giữ vị trí cao sẽ có tác động tiêu cực đến hiệu hiệu quả hoạt động kinh doanh.
quả hoạt động của công ty.
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm một
ứ ba, về tỷ lệ thành viên của gia đình tham bằng chứng thực nghiệm cho thấy ảnh hưởng
gia Ban giám đốc, tương tự như việc các thành của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động
viên trong gia đình tham gia quá nhiều vào hoạt của các công ty đang niêm yết trên thị trường
động điều hành sẽ không có chỗ để tạo điều kiện chứng khoán Việt Nam trong 10 năm từ 2009-
cho các cá nhân có năng lực bên ngoài tham gia 2019. Đây là một trong những cơ sở khoa học
mạnh mẽ hơn vào ban điều hành. Quá nhiều để các nhà quản trị trong các công ty gia đình
thành viên tham gia ban điều hành sẽ dễ dẫn có thêm góc nhìn về mặt quản trị để tạo ra hiệu
đến chủ quan trong quản lý. Không nên phân quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
tán quyền quản lý cho quá nhiều người trong hướng tới sự phát triển bền vững.
gia đình mà chỉ nên tập trung quyền cho một
Tài liệu tham khảo
Ali, A., Chen, T. Y., & Radhakrishnan, S. (2007). Corporate disclosures by family firms. Journal of accounting and
economics, 44(1-2), 238-286.
Anderson, R. C., & Reeb, D. M. (2003). Founding‐family ownership and firm performance: evidence from the
S&P 500. e journal of finance, 58(3), 1301-1328.
Andres, C. (2008). Large shareholders and firm performance–An empirical examination of founding-family
ownership. Journal of corporate finance, 14(4), 431-445.
Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an
application to employment equations. e Review of Economic Studies, 58(2), 277-297.
Barontini, R., & Caprio, L. (2006). e effect of family control on firm value and performance: Evidence from
continental Europe. European Financial Management, 12(5), 689-723.
Bhattacharya, U., & Ravikumar, B. (2001). Capital markets and the evolution of family businesses. e Journal of
Business, 74(2), 187-219.
Bushman, R. M., & Smith, A. J. (2001). Financial accounting information and corporate governance. Journal of
accounting and Economics, 32(1-3), 237-333.
Basco, R. (2013). e family’s effect on family firm performance: A model testing the demographic and essence
approaches. Journal of Family Business Strategy, 4(1), 42-66.
Chu, W. (2009). e influence of family ownership on SME performance: evidence from public firms in Taiwan.
Small Business Economics, 33(3), 353-373.
Chu, W. (2011). Family ownership and firm performance: Influence of family management, family control, and
firm size. Asia Pacific Journal of Management, 28(4), 833-851.
Claessens, S., Djankov, S., & Lang, L. H. (2000). e separation of ownership and control in East Asian
corporations. Journal of financial Economics, 58(1-2), 81-112.
Daily, C. M., Dalton, D. R., & Rajagopalan, N. (2003). Governance through ownership: Centuries of practice,
decades of research. Academy of Management Journal, 46(2), 151-158.
De Massis, A., Kotlar, J., Campopiano, G., & Cassia, L. (2013). Dispersion of family ownership and the performance
of small-to-medium size private family firms. Journal of Family Business Strategy, 4(3), 166-175.
Donaldson, L., & Davis, J. H. (1991). Stewardship theory or agency theory: CEO governance and shareholder
returns. Australian Journal of management, 16(1), 49-64.
Faccio, M., & Lang, L. H. (2002). e ultimate ownership of Western European corporations. Journal of financial
economics, 65(3), 365-395.
Fama, E. F., & Jensen, M. C. (1983). Agency problems and residual claims. e Journal of Law and Economics,
26(2), 327-349.
57
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 65 – áng 10 Năm 2021
Franks, J., & Mayer, C. (2001). Ownership and control of German corporations. e Review of Financial
Studies, 14(4), 943-977.
Gadhoum, Y., Lang, L. H., & Young, L. (2005). Who controls US?. European Financial Management, 11(3), 339-363.
Gujarati, D. N. (2004). Basic Econometrics, the McGraw-HillCompanies. New York, NY, USA.
Hermanson, H. M. (2000). Ananalysisofthedemandforreportingoninternalcontrol. AccountingHorizons, 14(3),
325-341.
James, H. S. (1999). Owner as manager, extended horizons and the family firm. International journal of the
economics of business, 6(1), 41-55.
Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). eory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership
structure. Journal of financial economics, 3(4), 305-360.
King, M. R., & Santor, E. (2008). Family values: Ownership structure, performance and capital structure of
Canadian firms. Journal of Banking & Finance, 32(11), 2423-2432.
Kowalewski, O., Talavera, O., & Stetsyuk, I. (2010). Influence of family involvement in management and
ownership on firm performance: Evidence from Poland. Family Business Review, 23(1), 45-59.
Lam, K., Mok, H. M., Cheung, I., & Yam, H. C. (1994). Family groupings on performance of portfolio selection
in the Hong Kong stock market. Journal of banking & finance, 18(4), 725-742.
Leung, S., Richardson, G., & Jaggi, B. (2014). Corporate board and board committee independence, firm
performance, and family ownership concentration: An analysis based on Hong Kong firms. Journal of
Contemporary Accounting & Economics, 10(1), 16-31.
Martínez, J. I., Stöhr, B. S., & Quiroga, B. F. (2007). Family ownership and firm performance: Evidence from
public companies in Chile. Family Business Review, 20(2), 83-94.
Maury, B. (2006). Family ownership and firm performance: Empirical evidence from Western European
corporations. Journal of Corporate Finance, 12(2), 321-341.
Miller, D., & Le Breton-Miller, I. (2006). Family governance and firm performance: Agency, stewardship, and
capabilities. Family business review, 19(1), 73-87.
Miller, D., Le Breton-Miller, I., Lester, R. H., & Cannella Jr, A. A. (2007). Are family firms really superior
performers?. Journal of Corporate Finance, 13(5), 829-858.
Muth, M., & Donaldson, L. (1998). Stewardship theory and board structure: A contingency approach. Corporate
Governance: An International Review, 6(1), 5-28.
Phung, D. N., & Hoang, T. P. T. (2013). Corporate ownership and firm performance in emerging market: a study
of Vietnamese listed firms. In Proceedings of World Business and Social Science Research Conference, 24-25
October 2013, Hotel Novotel Bangkok on Siam Square, Bangkok, ailand (1-16).
Phạm Quốc Việt (2010). Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố điều hành công ty đến hiệu quả hoạt động của
công ty cổ phần: Luận án tiến si (Doctoral dissertation, Trường Đại học Kinh tế ành phố Hồ Chí Minh).
Saito, T. (2008). Familyfirmsandfirmperformance:EvidencefromJapan. JournaloftheJapaneseandInternational
Economies, 22(4), 620-646.
Sciascia, S., & Mazzola, P. (2008). Family involvement in ownership and management: Exploring nonlinear
effects on performance. Family Business Review, 21(4), 331-345.
Shyu, J. (2011). Family ownership and firm performance: evidence from Taiwanese firms. International Journal
of Managerial Finance, 7(4), 397-411.
Sraer, D., & esmar, D. (2007). Performance and behavior of family firms: Evidence from the French stock
market. Journal of the european economic Association, 5(4), 709-751.
Tran, T. M., & Duong, H. N. (2011). Managerial ownership and the performance of firms: Evidence from
Vietnamese firm listed on HOSE. Science and Technology Development Journal, 14(2), 116-124.
Wild, J. J., Bernstein, L. A., Subramanyam, K. R., & Halsey, R. F. (2004). Financial statement analysis. McGraw-Hill.
Villalonga, B., & Amit, R. (2009). How are US family firms controlled?. Review of Financial Studies, 22(8),
3047-3091.
Wang, D. (2006). Founding family ownership and earnings quality. Journal of accounting research, 44(3), 619-656.
58
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của sở hữu gia đình đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty gia đình: Trường hợp của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
impact_of_family_ownership_on_firm_performance_of_family_com.pdf

