Góc nhìn đa chiều về mô hình, các công cụ hoạch định, các cấp độ và các rào cản cho sự lựa chọn chiến lược trong tổ chức

TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
GÓC NHÌN ĐA CHIỀU VỀ MÔ HÌNH, CÁC CÔNG CỤ  
HOẠCH ĐỊNH, CÁC CẤP ĐỘ VÀ CÁC RÀO CẢN  
CHO SỰ LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC TRONG TỔ CHỨC  
Lê Thanh Hà1, Cao Quốc Việt2  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này tổng hợp các quan điểm trái  
chiều về các mô hình chiến lược, các công cụ hoạch  
định chiến lược, các cấp độ chiến lược và một số các  
rào cản về sự lựa chọn chiến lược trong các tổ chức.  
Title: A multi-dimensional perspective  
on models of strategy, planning tools,  
level of strategies and barriers to  
strategic choice in organizations  
Những lập luận ủng hộ và phản đối khác nhau sẽ cho  
thấy các ưu điểm, tồn tại của các mô hình và công cụ.  
Từ khóa: Mô hình chiến lược, các công  
Từ đó, các nhà nghiên cứu, nhà quản trị sẽ có một nền  
tảng lý thuyết phản ánh góc nhìn đa chiều để áp dụng  
vào nghiên cứu lý thuyết cũng như nghiên cứu ứng  
dụng trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các  
doanh nghiệp.  
cụ, các cấp độ chiến lược  
Keywords: Strategic models, strategic  
planning tools, strategic levels  
Lịch sử bài báo:  
Ngày nhận bài: 22/11/2020;  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
02/12/2020;  
Ngày chấp nhận đăng bài:  
10/12/2020.  
ABSTRACT  
This paper combines conflicting views on  
strategic models, strategic planning tools, strategic  
levels, and some of the barriers to the strategic choice  
of organizations. Various supporting and opposing  
arguments will show the advantages and  
shortcomings of the models and tools. Based on this  
analysis, researchers and managers will have a  
theoretical background that reflects multi-  
dimensional perspectives to apply in academic  
research as well as applied research in the practical  
operations of enterprises.  
1,2  
Tác giả:  
Trường Đại học Kinh tế  
TP. HCM  
Giới thiệu  
như các công cụ. Tuy nhiên, nếu như không  
nhận ra các ưu điểm, tồn tại của từng mô  
hình, từng công cụ thì họ sẽ áp dụng một  
cách cứng nhắc. Vì vậy, bài báo này mô tả,  
phân tích các công trình nổi trội nhất về  
chiến lược liên quan đến các mô hình, các  
công cụ và các cấp cũng như các rào cản ảnh  
hưởng đến sự lựa chọn chiến lược. Từ đó,  
cung cấp cho các nhà quản trị một bức tranh  
Lịch sử phát triển của chiến lược đã trải  
qua nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều  
dòng tư tưởng khác nhau và trường phái  
khác biệt nhau. Sự khác biệt này đã mang lại  
kết quả là nhiều mô hình chiến lược, công cụ  
cũng như các cấp độ chiến lược ra đời. Điều  
này cung cấp cho các nhà quản trị một bức  
tranh vừa sinh động vừa rối rắm. Nhà quản  
trị sẽ có nhiều lựa chọn về mô hình cũng  
Tập 8 (12/2020)  
22  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
khái quát để họ có thể áp dụng vào thực tiễn  
doanh nghiệp.  
Các khái niệm  
Ở Việt Nam, mô hình Porter rất phổ  
biến, được nhiều trường đại học có ngành  
Quản trị kinh doanh giảng dạy và rất nhiều  
trung tâm tư vấn giảng dạy mô hình này cho  
các doanh nghiệp. Tuy nhiên, các mô hình  
khác cũng cần được phổ biến.  
Các mô hình chiến lược  
Có nhiều quan điểm khác nhau về  
chiến lược, từ đó tạo ra một loạt các mô  
hình chiến lược mà các tổ chức có thể áp  
dụng (De Wit và Meyer, 2010; Johnson và  
cộng sự, 2014). Trên thực tế, có bốn mô  
hình chiến lược cơ bản phổ biến gồm: (1)  
mô hình các lực lượng cạnh tranh, (2) quan  
điểm chiến lược dựa trên nguồn lực, (3) mô  
hình xung đột chiến lược và (4) chiến lược  
như công cụ thực tiễn, trong đó hai mô hình  
đầu tiên là phổ biến nhất (McNeilly, 2012;  
Mintzberg và cộng sự, 2009; Suddaby và  
cộng sự, 2013; Teece và cộng sự, 1997;  
Whittington, 2010).  
Về mặt thực tiễn, nhiều học giả tổng  
kết rằng các cuộc cạnh tranh lớn trong hơn  
40 năm qua, đặc biệt là giữa các công ty  
Nhật Bản và Mỹ, các công ty có xu hướng  
chiến thắng không phải là những doanh  
nghiệp bảo vệ vị trí dẫn đầu thị trường của  
chúng mà bởi chúng đã sử dụng nguồn lực  
độc đáo để thay đổi luật chơi (Armstrong  
và Shimizu, 2007; Hamel và Prahalad,  
1989, 1994). Từ đó, mô hình quan điểm  
dựa trên nguồn lực (Resource – Based View  
RBV) ra đời.  
(1)Mô hình các lực lượng cạnh tranh: Kể  
từ khi ra đời vào những năm 1980, mô hình  
này đã trở thành phương pháp tiếp cận chủ  
yếu đối với chiến lược (Johnson và cộng sự,  
2014). Nguyên lý trung tâm của nó là vai trò  
cần thiết phải liên kết tổ chức với môi  
trường, khía cạnh quan trọng của nó là  
ngành công nghiệp hoặc các ngành mà nó  
cạnh tranh. Mô hình này gắn liền tên tuổi  
của Michael Porter (1980, 1985), người  
khai sinh trường phái Định vị thuộc dòng  
chiến lược kê đơn (xem Hình 1). Porter cho  
rằng khả năng tăng lợi nhuận của công ty  
phụ thuộc vào khả năng ảnh hưởng đến năm  
lực lượng cạnh tranh này nhằm định vị  
doanh nghiệp từ đó nhằm tối đa hóa giá trị  
của các năng lực phân biệt với các đối thủ  
cạnh tranh (Porter, 1985). Để làm được  
điều đó, Porter (1985) khẳng định chỉ có ba  
chiến lược chung cơ bản mà một công ty có  
thể áp dụng để vượt trội so với các đối thủ  
cạnh tranh: Dẫn dầu chi phí, khác biệt hóa  
sản phẩm và chuyên môn hóa tập trung.  
Đối thủ mới  
xâm nhập  
Quyền  
Quyền  
lực của  
lực của  
người  
mua  
Sự  
cạnh  
tranh  
nhà  
cung  
cấp  
Sản phẩm thay  
thế  
Hình 1: Mô hình năm lực lượng cạnh  
tranh của Porter (1985)  
Quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV):  
Những nguồn lực của doanh nghiệp bao  
gồm các tài sản hữu hình, như nhà máy và  
thiết bị; tài sản vô hình, như bằng sáng chế  
và thương hiệu; và các năng lực chẳng hạn  
như các kỹ năng, kiến thức và tài năng của  
Tập 8 (12/2020)  
23  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
các cá nhân và nhóm (Amit và Schoemaker,  
những người sử dụng chúng, do đó nó có tên  
gọi chiến lược như công cụ thực tiễn  
(Jarzabkowski và Whittington, 2008). Xét  
trên quan điểm này, nó phù hợp với đề xuất  
của Mintzberg (1978) về chiến lược khẩn  
cấp. Những người ủng hộ mô hình chiến  
lược khẩn cấp lập luận rằng các công cụ  
hoạch định chiến lược thường không được  
sử dụng cho mục đích mà chúng được thiết  
kế hoặc áp dụng một cách thích hợp. Thay  
vào đó, họ lập luận rằng việc lựa chọn và sử  
dụng các công cụ như vậy phụ thuộc vào  
mục đích, năng lực, sở thích và kỹ năng của  
những người chọn và sử dụng chúng  
(Jarzabkowski và Kaplan, 2015).  
1993; Lockett và cộng sự, 2009; Wernerfelt,  
1995). Các nguồn lực như vậy được nhúng  
sâu trong một quy trình của tổ chức và rất  
khó để người khác sao chép (Ordanini và  
Rubera, 2008). RBV phát triển từ công việc  
của các nhà kinh tế, những người lập luận  
rằng không có hai công ty nào sở hữu cùng  
một nguồn lực kết hợp lại (Penrose, 1959).  
Mô hình xung đột chiến lược (Strategic  
Conflict Model): Mô hình này xem chiến lược  
sự cạnh tranh như một cuộc chiến giữa các  
công ty đối thủ, và lãnh đạo doanh nghiệp  
với tư cách là chỉ huy quân sự. Nó dựa trên  
công trình của các chiến lược gia quân sự  
như von Clausewitz (von Clausewitz và  
cộng sự, 2001); Tôn Tử (Michaelson, 2001),  
và cố gắng áp dụng chiến thuật quân sự của  
họ cho các tổ chức kinh doanh hiện đại  
(Mintzberg và cộng sự, 2009).  
Công cụ hoạch định chiến lược  
Các công cụ hoạch định chiến lược có xu  
hướng định tính hoặc định lượng. Điều này  
phần lớn là sự phản ánh của các loại hình tổ  
chức mà chiến lược được áp dụng và mức  
độ ưu tiên đến định lượng, đặc biệt là trong  
lĩnh vực tài chính ở Hoa Kỳ, nhiều công cụ  
chiến lược hàng đầu bắt nguồn từ đây  
(Grant, 1991; Hax và Majluf , 1996; Moore,  
1992). Tuy nhiên, các quốc gia công nghiệp  
hàng đầu khác, đặc biệt là Nhật Bản và Đức,  
ít phụ thuộc vào các công cụ tài chính và  
định lượng khác trong việc xác định chiến  
lược (Dearlove, 2011). Ngay cả ở Hoa Kỳ và  
Vương quốc Anh, nơi các cân nhắc tài chính  
xuất hiện rất quan trọng, đã có một phong  
trào tránh xa sự phụ thuộc duy nhất vào các  
kỹ thuật định lượng (Fleisher và  
Bensoussan, 2003; Joyce, 2015). Một phần  
là các tổ chức dành sự quan tâm đến các kỹ  
thuật định tính, khi đối mặt với cạnh tranh  
của Trung Quốc và Nhật Bản, thì các phương  
pháp mang tính định lượng hơn lại được  
chú ý (Mintzberg và cộng sự, 2009).  
Sự chỉ trích chính của các chiến lược  
dựa trên xung đột là chúng chỉ hữu ích trong  
một phạm vi hẹp. Teece và cộng sự (1997)  
lưu ý rằng mô hình có thể phù hợp hơn  
trong các tình huống có sự cân bằng đồng  
đều giữa các đối thủ trong một ngành (ví dụ  
Coca-Cola và Pepsi) thay vì trong các tình  
huống mà một tổ chức có lợi thế cạnh tranh  
đáng kể so với các đối thủ của nó (ví dụ  
Amazon).  
Mô hình chiến lược như công cụ thực  
tiễn ( Strategy-as-Practice SAP): Đây là mô  
hình chiến lược mới nhất xuất hiện. Thuộc  
tính chính của nó phản ánh hai luận điểm.  
Đầu tiên, nó tập trung vào các hoạt động ở  
cấp độ vi mô mà các tổ chức thực hiện hàng  
ngày để phát triển và thực hiện chiến lược  
(Bromiley và Rau, 2014). Thứ hai, nó tìm  
cách đưa các nhà quản lý trở lại bức tranh  
chiến lược bằng cách kiểm tra sự tương tác  
giữa các công cụ hoạch định chiến lược và  
Có nhiều công cụ và kỹ thuật cho nhà  
quản trị, những công cụ trình bày sau đây  
Tập 8 (12/2020)  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
được chú ý nhiều nhất (Rigby và Bilodeau,  
2013).  
Ma trận tăng trưởng thị phần  
Con bò tiền - được định nghĩa là những  
ngôi sao trước đây có tốc độ tăng trưởng thị  
trường đang suy giảm. Những doanh nghiệp  
này giàu tiền mặt; do đó, chiến lược phù hợp  
cho các doanh nghiệp như vậy là “vắt sữa”  
chúng để phát triển phần còn lại của danh  
mục đầu tư tổ chức.  
Đây là sản phẩm của Tập đoàn tư vấn  
Boston (BCG) và được cho là công cụ chiến  
lược nổi tiếng nhất từng được phát triển  
(Johnson và cộng sự, 2011). Ma trận tăng  
trưởng thị phần, hay còn có tên khác là  
“Boston Box”, xuất phát từ hai khái niệm  
được phát triển bởi BCG: Đường cong kinh  
nghiệm và công thức tăng trưởng bền  
vững. Đường cong kinh nghiệm cho thấy  
rằng khi sản xuất tích lũy của sản phẩm  
tăng gấp đôi, chi phí sản xuất nó dường như  
giảm theo một tỷ lệ phần trăm không đổi  
(thường là 10 đến 30 phần trăm)  
(Mintzberg và cộng sự, 1998). Từ đó, BCG  
đã phát triển công thức tăng trưởng bền  
vững của họ, dựa trên mối quan hệ giữa  
tăng trưởng, đầu tư và lợi nhuận. Nó quy  
định rằng nếu chi phí giảm liên quan đến  
khối lượng sản xuất (tức là đường cong  
kinh nghiệm), thì chi phí cũng phải là một  
chức năng của thị phần. Do đó, công ty có  
thị phần lớn nhất cũng phải có tỷ suất lợi  
nhuận lớn nhất, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư cao  
nhất và tốc độ tăng trưởng nhanh nhất  
Chó là các doanh nghiệp có thị phần  
thấp và hoạt động tại các thị trường có tiềm  
năng tăng trưởng thấp. Chiến lược tốt nhất  
cho ô chó là cân nhắc bán chúng.  
Dấu hỏi, vị trí mà doanh nghiệp có tốc  
độ tăng trưởng cao và thị phần thấp. Chúng  
được đặt tên như vậy bởi vì chiến lược phù  
hợp để doanh nghiệp áp dụng là không rõ  
ràng (có thể đầu tư thêm hoặc có thể bán).  
Chiến lược ban  
hành: Đầu tư  
nhiều hơn hoặc  
bán  
Chiến lược ban  
hành: Tiếp tục  
đầu tư  
Cao  
Chiến lược ban  
hành: Bán  
Chiến lược ban  
hành: Vắt sữa  
Thấp  
Ma trận giả định rằng tất cả ngoại trừ  
các tổ chức nhỏ nhất và đơn giản nhất bao  
gồm một danh mục đầu tư của các doanh  
nghiệp. Sử dụng các phép tương tự bằng  
hình ảnh (xem Hình 2), nó cho thấy rằng các  
doanh nghiệp trong danh mục đầu tư tổ  
chức có thể được phân loại thành ngôi sao,  
con bò tiền, con chó và dấu chấm hỏi.  
Thấp  
Cao  
Chia sẻ thị phần  
Hình 2. Ma trận chia sẻ thị phần - tốc độ  
tăng trưởng thị phần BCG  
Ngôi sao là các đơn vị kinh doanh,  
ngành công nghiệp hoặc sản phẩm có tốc độ  
tăng trưởng cao và thị phần cao. Chiến lược  
thông thường tốt nhất cho các ngôi sao là  
thực hiện các khoản đầu tư cần thiết để duy  
trì hoặc cải thiện vị thế cạnh tranh của họ.  
Phương pháp xây dựng kịch bản hoặc  
tầm nhìn.  
Vào những năm 1970, để đáp lại những  
chỉ trích về phương pháp định lượng, các kỹ  
thuật xây dựng kịch bản đã xuất hiện. Việc  
Tập 8 (12/2020)  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
sử dụng các kịch bản dựa trên giả định rằng,  
một loạt các sản phẩm và dịch vụ. Mục đích  
của chiến lược tập đoàn là quyết định thành  
phần của các tổ chức đó và định hướng  
chung của chúng.  
trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và  
không chắc chắn, nếu bạn không thể dự  
đoán được tương lai, thì bằng cách xem xét  
một loạt các tương lai có thể, có thể mở rộng  
tầm nhìn chiến lược của một tổ chức, các  
nhà quản lý có thể mở ra mới ý tưởng và, có  
lẽ, một tương lai thích hợp có thể được xác  
định (O'Connell và cộng sự, 2011). Kịch bản  
cho phép các tổ chức thực hiện lựa chọn  
chiến lược về việc có nên thử định hình  
tương lai, thích nghi với tương lai hay giữ  
cho các lựa chọn của họ mở bằng cách đầu  
tư vào một loạt các sản phẩm, công nghệ và  
thị trường (Johnson và cộng sự, 2011).  
Có sáu hình thức chiến lược cơ bản mà  
các tổ chức theo đuổi ở cấp độ tập đoàn. Thứ  
nhất, chiến lược ổn định được thiết kế để giữ  
cho các tổ chức yên tĩnh và ổn định (Meier  
và cộng sự, 2010). Thứ hai, chiến lược tăng  
trưởng liên quan đến việc tập trung vào việc  
thống trị một ngành (ví dụ: Microsoft) hoặc  
tăng trưởng bằng cách đa dạng hóa trên một  
số ngành (ví dụ: Vingroup). Thứ ba, chiến  
lược mở rộng danh mục đầu tư tập trung vào  
tăng trưởng thông qua sáp nhập, liên doanh  
hoặc mua lại (Faulkner và cộng sự, 2012).  
Thứ tư, chiến lược nương tựa thường bao  
gồm một quá trình thu hẹp quy mô, tức là  
cắt giảm số lượng sử dụng và các hoạt động  
được thực hiện, hoặc thậm chí bán hết toàn  
bộ doanh nghiệp (Schoenberg và cộng sự,  
2013). Kế tiếp là chiến lược thu hoạch bao  
gồm các hành động được thiết kế để giảm  
chi tiêu và tối đa hóa lợi nhuận từ một khu  
vực kinh doanh đang suy giảm (Johnson và  
cộng sự, 2011; Porter, 1980). Cuối cùng,  
chiến lược kết hợp là nơi một số điều ở trên  
được liên kết với nhau để giải quyết các  
trường hợp cụ thể mà một tổ chức phải đối  
mặt (Leitner và Güldenberg, 2010).  
Có nhiều chỉ trích về cách tiếp cận xây  
dựng kịch bản/ tầm nhìn. Lý do chính là  
chúng dễ bị chủ quan và thiên vị, khuyến  
khích sự hồi tưởng, có thể tốn thời gian, tốn  
kém và thường đòi hỏi các nhà lãnh đạo có  
tầm nhìn mạnh mẽ, mà những người này thì  
khan hiếm (Joyce, 2015; Porter, 1985). Tuy  
vậy, vượt qua những chỉ trích này, việc sử  
dụng các kịch bản và tầm nhìn hiện là một  
phần quan trọng của các công cụ quản lý  
(Cummings và Worley, 2015; Hamel, 2007;  
Rigby và Bilodeau, 2013).  
Các cấp độ chiến lược  
Các nhà nghiên cứu giả định rằng cấp độ  
tập đoàn đặt ra hướng cho từng doanh  
nghiệp thành phần của mình, sau đó chúng  
chỉ hướng cho các bộ phận chức năng khác  
nhau. Mặc dù điều này đúng với một số tổ  
chức, nhưng giờ đây người ta nhận ra rằng  
ba cấp độ này tương tác theo kiểu trùng lặp  
và linh hoạt (Johnson và cộng sự, 2011;  
Lynch, 2015).  
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh  
Như đã đề cập trước đó khi thảo luận về  
khung năm lực lượng của mình (xem hình  
1), Porter (1985) lập luận rằng chỉ có ba  
chiến lược chung để đạt được hiệu suất trên  
trung bình. Chiến lược đầu tiên, dẫn đầu về  
chi phí, đòi hỏi phải đạt được chi phí thấp  
hơn so với một đối thủ cạnh tranh thông qua  
doanh số cao hơn dẫn đến hiệu quả kinh tế  
theo quy mô. Thứ hai, khác biệt hóa sản  
phẩm, bao gồm sản xuất các sản phẩm và  
Chiến lược cấp tập đoàn  
Ở các tập đoàn lớn có bản chất bao gồm  
một loạt các doanh nghiệp hoạt động ngày  
càng tăng trên cơ sở toàn cầu và cung cấp  
Tập 8 (12/2020)  
26  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
dịch vụ khác biệt và vượt trội so với các đối  
thủ cạnh tranh. Điều này có thể được thực  
hiện thông qua việc thiết kế hình ảnh  
thương hiệu đặc biệt, tính năng công nghệ,  
dịch vụ khách hàng hoặc chất lượng cao  
hơn. Ở phân khúc thị trường ngách, hoặc rất  
hẹp, doanh nghiệp có thể chuyên môn hóa  
bằng cách ban hành chiến lược tập trung,  
liên quan đến việc tập trung vào các thị  
trường, sản phẩm hoặc khu vực địa lý thích  
hợp để cạnh tranh. Theo Porter (1980,  
tr.15), thị trường ngách phải có những đặc  
điểm nhất định tách biệt chúng khỏi thị  
trường nói chung, chẳng hạn như người  
mua có nhu cầu bất thường.  
Chiến lược dẫn  
đầu về chi phí  
Chiến lược  
khác biệt hóa  
Rộng  
Chiến lược tập  
trung: Khác  
biệt hóa  
Chiến lược tập  
trung: Dẫn đầu  
về chi phí  
Hẹp  
trung vào thị trường ngách cho một vài  
dòng sản phẩm.  
Hình 3. Các cấp độ chiến lược cấp đơn vị  
kinh doanh của Porter (1985)  
Chiến lược cấp độ chức năng  
Khi xem xét các cấp độ tập đoàn, đơn vị  
kinh doanh và chức năng, có thể thấy rằng  
các tổ chức có xu hướng chỉ áp dụng một số  
hình thức chiến lược hạn chế. Sự phù hợp  
của bất kỳ trong số này đối với một tổ chức  
cụ thể liên quan đến bản chất của các hạn  
chế về xã hội, ngành, môi trường và tổ chức  
mà nó phải đối mặt. Chúng bao gồm giai  
đoạn phát triển thị trường của sản phẩm, vị  
thế cạnh tranh của công ty, vị thế cạnh tranh  
mà nó tìm kiếm và các chiến lược kinh  
doanh đang được sử dụng bởi các công ty  
đối thủ (Hax và Majluf, 1996; Johnson và  
cộng sự, 2011). Ngoài ra, các chiến lược  
chung sẽ luôn tạo ra một loạt các biến thể và  
do đó, tại bất kỳ thời điểm nào, việc lựa chọn  
chiến lược phù hợp nhất sẽ là một nhiệm vụ  
rất phức tạp.  
Hình 3 cho thấy, hai trong số này là các  
chiến lược để đạt được lợi thế cạnh tranh  
trong toàn bộ ngành; trong khi cái thứ ba,  
chiến lược tập trung, chỉ liên quan đến việc  
đạt được lợi thế cạnh tranh trong một phân  
khúc cụ thể của một ngành. Porter (1980)  
lập luận ba chiến lược này là khác biệt và  
không thể trộn lẫn. Điều đó có nghĩa là,  
không thể theo đuổi thành công một chiến  
lược dẫn đầu chi phí và chiến lược khác  
biệt hóa sản phẩm cùng lúc, bởi vì mỗi yêu  
cầu sắp xếp tổ chức khác nhau để thành  
công. Công trình của Porter ảnh hưởng lên  
nhiều nhà thực hành chiến lược dù cho  
nhiều người không đồng ý với ông về điểm  
này (ví dụ như Mintzberg và cộng sự,  
2009). Sự khẳng định của Porter rằng các  
công ty chỉ nên theo đuổi một chiến lược,  
chỉ ra rằng điều đó có thể dẫn đến sự không  
linh hoạt và thu hẹp tầm nhìn của một tổ  
chức (Guillen, 2000; Johnson và cộng sự,  
2011). Ngày nay, có thể thấy nhiều tập  
đoàn đa quốc gia ban hành chiến lược cấp  
đơn vị kinh doanh không theo quan điểm  
của Porter, chẳng hạn như Samsung theo  
đuổi chi phí thấp, khác biệt hóa và cả tập  
Sự lựa chọn chiến lược và các rào cản  
Một số rào cản có ảnh hưởng đến sự lựa  
chọn chiến lược của các tổ chức. Tổng kết  
của Burnes (2004) cho thấy có bốn rào cản  
chính bao gồm: (1) mục tiêu, tập quán và  
văn hóa quốc gia; (2) thực tiễn và chuẩn  
mực ngành; (3) môi trường kinh doanh và  
cuối cùng (4) đặc điểm tổ chức (Hình 4).  
Mục tiêu, tập quán và văn hóa quốc gia  
Trường hợp đối với các ràng buộc cụ  
thể theo quốc gia rất giống với lập luận của  
quan điểm hệ thống về chiến lược và phù  
hợp với lý thuyết về thể chế (Furusten,  
2013). Quan điểm này cho thấy hoạt động  
Tập 8 (12/2020)  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
của các tổ chức chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của  
Mục tiêu, tập quán và văn  
hóa quốc gia  
hệ thống xã hội nơi chúng hoạt động. Trong  
một số trường hợp, chẳng hạn như ở Nhật  
Bản và Đức, lòng yêu nước, niềm tự hào dân  
tộc và tinh thần tập thể đã tạo ra một môi  
trường kinh doanh hỗ trợ cho việc theo đuổi  
các mục tiêu quốc gia lâu dài. Điều này được  
phản ánh trong hành vi của các công ty cá  
nhân và các tổ chức tài chính ủng hộ tăng  
trưởng ổn định trong trung và dài hạn, thay vì  
tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn. Mặt khác, ở  
Anh và Hoa Kỳ, môi trường hỗ trợ nhiều hơn  
cho nỗ lực cá nhân và tối đa hóa lợi nhuận  
ngắn hạn hơn là lợi ích quốc gia.  
Sự lựa chọn  
chiến lược  
của nhà  
Thực tiễn  
và chuẩn  
mực ngành  
Đặc điểm  
tổ chức  
quản trị  
Môi trường kinh  
doanh  
Thực tiễn và chuẩn mực của ngành  
Theo quan điểm của Child và Smith  
(1987) về các công ty trong ngành mà chúng  
hoạt động, các tác giả này tin rằng các điều  
kiện khách quan hoạt động trong một lĩnh  
vực, sự hiểu biết của các nhà quản lý về tính  
năng động của ngành và bản chất và mức độ  
hợp tác giữa các công ty đều kết hợp để xác  
định con đường mà một công ty phải đi cho  
thành công trong tương lai. Trên thực tế, các  
công ty phải tuân thủ các quy tắc tham gia  
trong lĩnh vực của chúng. Điều này có nghĩa là,  
ở nơi cạnh tranh ít gay gắt hơn, thì các nhà  
quản lý có mức độ tự do lớn hơn đối với việc  
lựa chọn chiến lược. Thật vậy, mức độ cạnh  
tranh thấp có thể giải thích làm thế nào các  
công ty Nhật Bản có thể thay đổi các quy tắc  
tham gia thành lợi thế của họ trong nhiều  
ngành công nghiệp trong những năm 1960 và  
1970 (Hamel và Prahalad, 1989).  
Hình 4. Các rào cản ảnh hưởng đến sự  
lựa chọn chiến lược  
Đặc điểm tổ chức  
Các quyết định chiến lược cũng bị ảnh  
hưởng nặng nề bởi văn hóa nghiêng về lợi  
ích cá nhân và/hoặc nghiêng về lợi ích  
nhóm. Điều này có thể gây ra hậu quả là  
chiến lược đi ngược với mục tiêu của tổ  
chức. Những doanh nghiệp rơi vào tình  
huống này thường khó nói trước cách tiếp  
cận chiến lược nào sẽ được áp dụng.  
Kết luận và hàm ý quản trị  
Bài báo này đã tổng kết bốn mô hình  
chiến lược, hai công cụ hoạch định, ba cấp độ  
chiến lược và bốn rào cản ảnh hưởng đến sự  
lựa chọn chiến lược. Mỗi mô hình, công cụ và  
cấp độ đều có những ủng hộ và chỉ trích căn  
cứ trên những ưu điểm và tồn tại. Chính vì  
vậy, các nhà nghiên cứu hàn lâm cần chú ý  
những khe hỏng này để khai thác, kiểm  
chứng thêm trong các bối cảnh khác nhau.  
Các nhà quản trị cũng cần chú ý để áp dụng  
vào doanh nghiệp, tổ chức của mình một  
cách linh hoạt, không nên theo đuổi một cách  
cứng nhắc bất kỳ một mô hình hay công cụ  
chiến lược nào.  
Môi trường kinh doanh  
Lịch sử của Nhật Bản và Đức cho thấy, sự  
ổn định cần được thúc đẩy tích cực bởi sự hợp  
tác của ngành công nghiệp và quản lý chính  
sách của Chính phủ thay vì dựa vào bàn tay vô  
hình và biến động của thị trường. Môi trường  
kinh doanh có thể hỗn loạn, không thể dự  
đoán trước và không có gì chắc chắn. Lập kế  
hoạch là gần như không thể, và thành công  
đến từ việc liên tục thích nghi với những thay  
đổi trong môi trường, hoặc từ việc ở đúng nơi,  
đúng thời điểm.  
Tập 8 (12/2020)  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Acedo, FJ, Barroso, C and Galan, JL (2006)  
The resource-based theory:  
Fleisher, CS and Bensoussan, BE (2003)  
Strategic and Competitive Analysis:  
Methods and techniques for analysing  
business competition. Prentice Hall:  
Upper Saddle River, NJ.  
dissemination and main trends.  
Strategic Management Journal, 27(7),  
621–36.  
Armstrong, CE and Shimizu, K (2007) A  
review of approaches to empirical  
research on the resource-based view of  
the firm. Journal of Management, 33(6),  
959–86.  
Furrer, O, Thomas, H and Goussevskaia, A  
(2008) The structure and evolution of  
the strategic management field: a  
content analysis of 26 years of strategic  
management research. International  
Journal of Management Reviews, 10(1),  
1–23.  
Brandenburger, AM and Nalebuff, BJ (1996)  
Co-opetition. Doubleday: New York.  
Gilbert, RJ and Newbery, DMG (1982)  
Burnes, B. (2004). Managing change: A  
strategic approach to organisational  
dynamics. Pearson Education.  
Preemptive  
patenting  
and  
the  
persistence of monopoly. American  
Economic Review, 72, 514–26.  
Corradi, G, Gherardi, S and Verzelloni, L  
(2010) Through the practice lens:  
Where is the bandwagon of practice-  
based studies heading? Management  
Learning, 41(3), 265–83.  
Guillen, MF (2000) Business groups in  
emerging economies: a resource-based  
view. Academy of Management Journal,  
43(3), 362–80.  
Hamel, G and Prahalad, CK (1994)  
Competing for the Future. Harvard  
Business School Press: Boston, MA.  
Dawson, P (2011) The contribution of the  
processual approach to the theory and  
practice of organizational change. In  
DM Boje, B Burnes and J Hassard (eds):  
Jarzabkowski, P and Kaplan, S (2015)  
Strategy tools-in-use: a framework for  
The  
Routledge  
Companion  
to  
Organizational  
Change. London:  
understanding  
‘technologies  
of  
Routledge.  
rationality’ in practice. Strategic  
Management Journal, 36, 537–58.  
Dyer,  
H
(1996) Specialized supplier  
networks as a source of competitive  
advantage: evidence from the auto  
Johnson, G, Whittington, R, Scholes, K,  
Angwin, D and Regnér, P (2014)  
Exploring Corporate Strategy (10th  
edition). Pearson: Harlow.  
industry.  
Strategic  
Management  
Journal, 17(4), 271–91.  
Faulkner, D, Teerikangas, S and Joseph, RJ  
(eds) (2012) The Handbook of Mergers  
and Acquisitions. Oxford University  
Press: Oxford.  
Joyce, P (2015) Strategic Leadership in the  
Public Sector. Routledge: London.  
Tập 8 (12/2020)  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC YERSIN – CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ KINH TẾ  
Leitner, K-H and Güldenberg, S (2010)  
Generic strategies and firm  
Rigby,  
D
and Bilodeau,  
B
(2013)  
Management Tools and Trends 2013.  
performance in SMEs: a longitudinal  
study of Austrian SMEs. Small Business  
Economics, 35(2), 169–89.  
Bain & Company: Boston, MA.  
Schoenberg, R, Collier, N and Bowman, C  
(2013) Strategies for business  
turnaround and recovery: a review and  
synthesis. European Business Review,  
25(3), 243–62.  
Lin, Y and Wu, L-Y (2014) Exploring the role  
of dynamic capabilities in firm  
performance under the resource-based  
view framework. Journal of Business  
Research, 67(3), 407–13.  
Shapiro, C (1989) The theory of business  
strategy. RAND Journal of Economics,  
20(1), 125–37.  
Lynch, R (2015) Strategic Management.  
Pearson: Harlow.  
Speed, RJ (1996) Oh Mr Porter! A re-  
appraisal of competitive strategy.  
Marketing Intelligence and Planning,  
7(5–6), 8–11.  
McNeilly, MR (2012) Sun Tzu and the Art of  
Business. Oxford University Press:  
Oxford.  
Mintzberg, H, Ahlstrand, B and Lampel, J  
(2009) Strategy Safari (2nd edition).  
Pearson: Harlow.  
Turner, I (1990) Strategy and organisation.  
Manager Update, 1(3), 1–10.  
von Clausewitz, C, von Ghyczy, T, von  
Oetinger, C and Bassford, C (2001)  
Clausewitz on Strategy: Inspiration and  
insight from a master strategist. Wiley:  
Chichester.  
Newbert, SL (2007) Empirical research on  
the resource-based view of the firm: an  
assessment and suggestions for future  
research.  
Strategic  
Management  
Journal, 28, 121–46.  
Whittington, R and Vaara, E (2012)  
Strategy-as-Practice: Taking Social  
Practices Seriously. Academy of  
Management Annals, 62(1), 285–336.  
Porter, ME (1985) Competitive Advantage.  
Free Press: New York.  
Tập 8 (12/2020)  
30  
pdf 9 trang Thùy Anh 17040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Góc nhìn đa chiều về mô hình, các công cụ hoạch định, các cấp độ và các rào cản cho sự lựa chọn chiến lược trong tổ chức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgoc_nhin_da_chieu_ve_mo_hinh_cac_cong_cu_hoach_dinh_cac_cap.pdf