Kiến thức, năng lực, kỹ năng cần có của sinh viên tốt nghiệp trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
KIẾN THỨC, NĂNG LỰC, KỸ NĂNG CẦN CÓ CỦA SINH VIÊN
TỐT NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ
Đào Minh Châu
Khoa Công Nghệ Thông Tin,
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM
TÓM TẮT
Trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, thông tin rất phong phú và thay
đổi rất nhanh, khách hàng người sử dụng lao động dễ dàng liên kết với người lao động.
Các công việc lặp đi lặp lại thay thế bởi máy móc và giá trị của người lao động nằm ở khả
năng xử lý thông tin, kết nối các mối quan hệ.
Lịch sử đã ghi nhận, trong cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ trước, những phát
minh về khoa học kỹ thuật đã tạo ra những cỗ máy làm tăng năng suất lao động nhưng lại
sa thải những người lao động giản đơn. Phản ứng của công nhân ban đầu là đập phá máy
móc, về sau chuyển sang thích ứng để tồn tại và phát triển. Trong cảnh hội nhập khu vực
và quốc tế hiện nay, cơ hội nhiều nhưng cũng là mối đe dọa đối với thị trường
lao động.
Những lao động thích ứng trong thời đại hiện nay là những công nhân trí thức, vừa
có khả năng khai thác, xử lý thông tin nhanh chóng hiệu quả, vừa có khả năng xây dựng
các mối quan hệ, xử lý các giao dịch đòi hỏi phải hiểu biết nhiều chuyên môn khác nhau,
vừa có khả năng tham gia vào các giao dịch có yếu tố nước ngoài.
Để tồn tại trong một xã hội khắc nghiệt này, sinh viên cần trang bị một số định hướng
để học tập và làm việc, một số kỹ năng có thể tóm tắt như sau:
- Ngoại ngữ
- Làm chủ công nghệ thông tin hiện đại trong thời đại Internet.
- Giao tiếp - Kết nối rộng rãi với các bạn bè ở nhiều ngành nghề khác nhau.
- Tự quản lý - Trách nhiệm - Đạo đức nghề nghiệp
1. GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, rào cản đối với đầu tư nước
ngoài được dỡ bỏ, đầu tư nước ngoài tăng, kéo theo thúc đẩy sản xuất và các ngành dịch
vụ kèm theo phát triển.
Đối với lao động trẻ, thanh niên sau khi tốt nghiệp do sản xuất, dịch vụ được thúc đẩy
phát triển, nhu cầu lao động có chất lượng cao, ngoại ngữ tốt tăng cao. Lao động trẻ càng
173
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm.
Hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay không chỉ mang đến thuận lợi mà còn mang
đến những thách thức. Do đầu tư nước ngoài tăng cao, doanh nghiệp nội địa sẽ đối mặt với
làn sóng cạnh tranh khốc liệt từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, lao
động đơn giản, phổ thông được dự báo sẽ thu hẹp do làn sóng chuyên môn hóa, hiện đại
hóa tăng cao xuất phát từ đầu tư nước ngoài tăng cao.
Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Dự báo Nhu cầu Nhân lực và Thông tin Thị
trường lao động thành phố Hồ Chí Minh thì “Công nghiệp của Việt Nam có sự tăng trưởng
mạnh mẽ với tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm gần đây. Các ngành có triển vọng
lớn được xác định là các ngành phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, các ngành đi
thẳng vào công nghệ tiên tiến, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và đóng góp nhiều vào GDP.
Hiện tại, công nghiệp hỗ trợ được xác định là ngành có nhiều triển vọng. Điều này cho
thấy trong tương lai, nền kinh tế Việt Nam hứa hẹn sẽ đòi hỏi một lượng lớn các kĩ sư công
nghiệp – công nghệ được đào tạo bài bản với mức lương khá. Theo sau là nhóm ngành về
Kinh tế – Tài chính – Ngân hàng cũng có tiềm năng không kém với mức tỷ lệ ngành nghề
so với tổng số việc làm là 33%.”
Sau đây là đánh giá nhu cầu nhân lực qua đào tạo phân theo 08 nhóm ngành:
Tỉ lệ ngành nghề
Số chỗ làm việc
STT
NHÓM NGÀNH
so với tổng số việc
(Người/ năm)
làm (%)
1 Kỹ thuật công nghệ
35
7
70.875
14.175
2 Khoa học tự nhiên
Kinh tế – Tài chính – Ngân hàng – Pháp luật
– Hành chính
3
33
66.825
4 Khoa học xã hội – Nhân văn – Du lịch
5 Sư phạm – Quản lý giáo dục
6 Y – Dược
8
5
16.200
10.125
10.125
6.075
5
7 Nông – Lâm – Thủy sản
3
8 Nghệ thuật – Thể dục – Thể thao
Tổng nhu cầu nhân lực bình quân
4
8.100
100
202.5
Sắp tới Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
sẽ có hiệu lực, hy vọng là sẽ giúp GDP Việt Nam tăng thêm 1,1% do rào cản đối với đầu
tư nước ngoài được dỡ bỏ, đầu tư nước ngoài tăng, kéo theo thúc đẩy sản xuất và các ngành
dịch vụ kèm theo phát triển. Đối với lao động trẻ, do sản xuất, dịch vụ được thúc đẩy phát
174
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
triển, nhu cầu lao động có chất lượng cao, ngoại ngữ tốt tăng cao. Lao động trẻ càng có
nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm.
Bà Phùng Thị Lan Phương – Trưởng phòng FTA – Trung tâm WTO và hội nhập,
VCCI cho ý kiến như sau: “Với CPTPP, doanh nghiệp Việt có nhiều hơn cơ hội đầu tư
sang các nước CPTPP, cơ hội hợp tác, kinh doanh với các đối tác nước ngoài tăng và cơ
hội tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng hiện hữu hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt
cũng cần phải chủ động hoàn thiện mình bởi chỉ doanh nghiệp có năng lực cạnh trạnh, có
đủ điều kiện cần thiết mới có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.”.
Khi CPTPP có hiệu lực, tác động đối với lực lượng lao động trẻ sẽ diễn biến như sau:
Nhu cầu về thị trường lao động sẽ tăng cao: Do thị trường nước ngoài sẽ được mở
cửa, dẫn đến doanh nghiệp trong nước càng dễ tiếp cận đến thị trường nước ngoài,
kéo theo thúc đẩy sản xuất. Ngành sản xuất phát triển, sẽ kéo theo một loại các
ngành nghề khác phát triển theo ví dụ như tài chính, tín dụng, ngân hàng, xuất nhập
khẩu… và do đó thị trường lao động được mở rộng, người lao động trẻ càng có cơ
hội kiếm việc.
Lao động phổ thông sẽ dần bị đào thải.
Dỡ bỏ rào cản thị trường, hàng ngoại tràn vào thị trường trong nước cạnh tranh mạnh
mẽ với hàng nội. Để cạnh tranh, doanh nghiệp nội phải cải tiến công nghệ, chuyên môn
hóa lao động sản xuất kéo theo nhu cầu về lao động.
Cuối cùng, thị trường lao động đang tiến đến cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cách
mạng công nghiệp 4.0. Theo các tài liệu được tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố và
theo tư liệu nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế từ các hội thảo được công bố vào năm
2017 - 2018 cho thấy: Trong Cách mạng công nghiệp 4.0, viễn cảnh các nhà máy thông
minh, các máy móc được kết nối Internet và liên kết với nhau qua một hệ thống, có thể tự
hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa ra quyết định.
Theo Lao động Quốc tế (ILO) thì “Cách mạng công nghiệp 4.0 làm gia tăng nguy cơ
mất việc làm, thất nghiệp, nhiều ngành đối mặt thách thức lớn do cạnh tranh khốc liệt. Đã
có cảnh báo về việc Việt Nam sẽ mất 5 triệu việc làm vào năm 2020 vì chất lượng nhân lực
chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10); đứng thứ 11/12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng và
số cạnh tranh nhân lực 4,3/10 điểm. Ngoài ra, các chỉ số khác cũng rất thấp như năng lực
cạnh tranh 4,3/10, xếp hạng 56/133 nước; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp/chứng
chỉ trong năm 2015 chỉ đạt 20,3%. Nhân lực Việt Nam còn thiếu kỹ năng mềm như: ngoại
ngữ, công nghệ thông tin, kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp, tác phong công nghiệp, tránh
nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.”
175
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
2. KIẾN THỨC, NĂNG LỰC, KỸ NĂNG CẦN CÓ CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ
Đối mặt với tình huống trên, sinh viên cần thiết có định hướng để thích nghi với việc
làm trong thời đại hội nhập hiện nay. Sau đây là những định hướng gợi ý để sinh viên có
thể tham khảo và áp dụng:
Ngoại ngữ
Làm chủ công nghệ thông tin hiện đại trong thời đại Internet.
Giao tiếp - kết nối rộng rãi với các bạn bè ở nhiều ngành nghề khác nhau.
Tự quản lý - Trách nhiệm - Đạo đức nghề nghiệp
Các Kỹ năng cần có của sinh viên tốt nghiệp trong bối cảnh hội nhập khu vực và
quốc tế
Ngoại ngữ
Trong thời đại hội nhập, rào cản ngăn cách quốc gia càng ngày càng xóa bỏ. Những
công việc có yếu tố nước ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng quan trọng. Sinh viên luôn phải
đối mặt với tình huống, khi thì sếp là người nước ngoài, khi khách hàng là người nước
ngoài, khi đối tác là người nước ngoài. Nếu không xử lý được rào cản ngôn ngữ, thì người
lao động sẽ ngày càng khó sống trong thời đại hiện nay
Khi sinh viên nhìn về phía trước để tốt nghiệp và làm việc tại một công ty tốt, nhà
tuyển dụng thường đòi hỏi nhiều thứ nhưng trong đó có một yêu cầu chắc chắn không thể
bỏ qua là biết sử dụng tiếng Anh. Thậm chí khi làm việc ở một công ty Hàn, Nhật, thì
người biết tiếng Anh vẫn được trọng dụng, và nếu biết thêm một ngôn ngữ Hàn, Nhật thì
quá tốt.
Tiếng Anh hiện nay có 4 kỹ năng (i) nghe (ii) nói (iii) đọc (iv) viết. Trong đó kỹ năng
nghe và đọc là quan trọng. Chỉ cần nghe được thì từ từ sẽ nói giỏi, và nếu đọc nhiều thì từ
từ sẽ viết giỏi.
Để luyện nghe thì sinh viên phải tự thu thập những bài nghe mà mình yêu thích, lựa
chọn bài nào thì tùy vào sở thích của mình. Sau đó tìm hiểu bài nghe, hiểu nghĩa bài nghe
và nghe đi nghe lại cho thật thuộc, cao hơn một bậc là tập phát âm dần cho đúng với âm
ngữ của bài nghe đó. Để nghe cho khá, sinh viên cần thu thập ít nhất 10 bài nghe, mỗi bài
dài 10-15 phút, gồm 2.000 từ đến 3.000 từ.
Kế đó là kỹ năng đọc, hãy đọc thật nhiều và đọc về những chủ đề mình yêu thích.
Nếu sinh viên thích về chiến tranh, thì đọc lịch sử chiến tranh thế giới 1, 2 bằng tiếng Anh
trên wiki. Càng đọc nhiều thì càng quen được cách dùng từ, kết nối câu chữ, và viết
càng hay.
176
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
Vấn đề sẽ khó hơn đối với luyện nói và luyện viết. Những kỹ năng này cần được
người hướng dẫn. Theo đó sinh viên có thể học các khóa ngắn hạn, việc tự học nghe đọc ở
nhà sẽ hỗ trợ giúp ích rất nhiều trong việc luyện nói viết khi đến lớp.
Làm chủ công nghệ thông tin hiện đại trong thời đại Internet
Do không gian cho sinh viên thực hiện công việc bằng các thao tác thủ công ngày
càng ít. Các nhà tuyển dụng đòi hỏi sinh viên phải làm chủ được 1 công nghệ nào đó trong
lĩnh vực mà mình hoạt động, thậm chí, họ chỉ tuyển dụng những người rành rõi về một
công nghệ chi tiết trong ngành nghề. Đối với nhân viên văn phòng thì word, excel là những
chương trình vi tính không thể thiếu. Việc làm chủ những công nghệ này phải thông qua
quá trình học tập, tự học. Sinh viên có thể đăng ký các khóa học ngắn hạn, các chương
trình online, hay tự học tùy điều kiện của mỗi người, nhưng phải làm chủ ít nhất những
công nghệ tối thiểu phụ thuộc vào lĩnh vực mà mình theo đuổi.
Giao tiếp - Kết nối rộng rãi với bạn bè ở các ngành nghề khác nhau
Do các công việc lập đi lập lại dần được thay bằng máy móc, các nhà tuyển dụng có
xu hướng tìm kiếm những nhân viên để thực hiện các công việc mà máy móc không thể
làm được, đó là công việc giao tiếp - kết nối thông tin, tìm kiếm thông tin. Ví dụ như một
máy tính có thể làm rất tốt công việc lập báo cáo tài chính, với khả năng tính toán cao hơn
nhiều việc tính tay, nhưng ngoài việc lập báo cáo tài chính, nhân viên kế toán cần phải
phân tích, nhân viên ấy còn phải tìm hiểu nhu cầu thị trường để giải thích các số liệu trong
bản kế toán, tìm hiểu chính sách của nhà nước để thấy sự thay đổi trong tương lai đối với
ngành nghề mà công ty đang hoạt động. Muốn vậy thì nhân viên đó phải có nhiều bạn bè
để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm ở các ngành nghề khác nhau để cung cấp cái nhìn cho
báo cáo tài chính ở các góc độ khác nhau.
Ví dụ khác, là một máy vi tính có thể tìm kiếm hiệu quả hơn các văn bản luật, so với
việc một nhân viên luật mò mẫm văn bản luật thủ công trong thư viện. Tuy nhiên, giá trị
đóng góp của nhân viên luật trong thời đại mới là có mối quan hệ rộng với bạn bè trong
lĩnh vực kế toán, ngân hàng để giúp xử lý số liệu trong bản luận cứ, có mối quan hệ tốt với
thẩm phán để hỏi họ kinh nghiệm xét xử trong vụ việc tương tự để đưa ra hướng xử lý cho
khách hàng. Hay có nhiều bạn bè trong ngành lập pháp để cập nhật đường hướng phát triển
của luật pháp. Những việc này thì máy tính không thể thay thế con người được.
Tự quản lý - Trách nhiệm - Đạo đức nghề nghiệp
Tự quản lý
Tự quản lý là cần thiết để đối phó với sự thay đổi liên tục trong thời đại hội nhập hiện
nay. Để tự quản lý, sinh viên cần nhận diện các mối quan hệ, tương quan giữa các công
việc. Biết việc đang làm, việc nào làm trước, việc nào làm sau. Muốn vậy, sinh viên cần
xây dựng 1 cơ sở dữ liệu cho riêng mình, để khi cần có thể thao tác nhanh chóng. Ví dụ 1
sinh viên kế toán, nếu đã tự tư duy và soạn cho mình 1 bài luận nho nhỏ về các chỉ số tài
177
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
chính, thì khi viết báo cáo cho sếp, chỉ cần mở bài luận mình đã làm ra, để ôn lại các chỉ
số chứ không cần mò mẫm lại sách vở từ đầu. Ví dụ nữa, là một sinh viên luật cần xây
dựng 1 cơ sở pháp lý riêng cho riêng mình, trong đó tập hợp các văn bản, biểu mẫu cho
vân đề mà mình đang hành nghề, để khi cần có thể lấy ra sử dụng ngay mà không cần phải
soạn thảo lại từ đầu.
Tự quản lý cần kết hợp các kỹ năng sau:
- Sắp xếp: Đây là khả năng sắp xếp các thông tin thành các danh mục và dễ hiểu khi
cần có thể tra cứu được ngay. Ví dụ đối với sinh viên luật cần xây dựng cơ sở pháp
lý cho riêng mình đối với những vấn đề mà mình đang hành nghề, các văn bản luật
được lưu lại sắp sếp theo thứ tự, văn bản hiệu lực cao đến thấp, có thể kèm theo
các ghi chú về điều khoản này ở văn bản nào thì được hướng dẫn rõ hơn ở văn
bản nào.
- Kiểm tra mối quan hệ giữa các thông tin: Đây là khả năng sắp xếp các thông tin
theo 1 tư duy mà mình tự đặt ra, để khi truy tìm có thể dùng gợi ý để truy suất
thông tin 1 cách nhanh chóng chứ không phải tìm tòi lại từ đầu.
- Lọc: Là khả năng lọc những thông tin cần thiết để tập trung vào, khả năng này phụ
thuộc rất lớn vào hai khả năng trên.
- Thích nghi: Đây là khả năng xử lý yêu cầu của khách hàng, của sếp một cách nhanh
chóng, không bấn loạn. Khi sinh viên đã xây dựng cho mình 1 cơ sở dữ liệu riêng
trong lĩnh vực hành nghề, với các thông tin được sắp xếp theo một tư duy mà mình
định ra, thì khả năng xử lý yêu cầu của khách hàng càng nhanh. Ví dụ như buổi
sáng khách hàng yêu cầu A, và mình đã thực hiện gần xong, thì bỗng chốc khách
hàng lại đòi B, và vì đã có cơ sở dữ liệu trước đó, nên có thể truy tìm, sắp xếp
thông tin nhanh chóng để đánh giá yêu cầu B của khách hàng chứ không phải tìm
tòi, phân tích lại từ đầu.
- Tự học tập: Ở thời đại hội nhập, việc một người thực hiện 1 công việc, làm việc
cho một công ty cả đời càng ngày càng ít. Công nghệ thay đổi rất nhanh, rất nhiều
công việc sẽ bị đào thải, và rất nhiều công việc mới ra đời, đòi hỏi sinh viên phải
cập nhật và học hỏi thường xuyên.
Tự học tập đôi khi mất nhiều thời gian nếu không có người hướng dẫn. Bên cạnh
chuyên môn chính của mình, một sinh viên cần biết nhiều chuyên môn khác và có thể học
ở các khóa ngắn hạn. Ví dụ như sinh viên công nghệ thông tin có thể học khóa quản trị
kinh doanh ngắn hạn, sinh viên kế toán có thể học chứng chỉ luật hợp đồng, luật doanh
nghiệp ngắn hạn. Việc kết nối các thông tin liên ngành là rất hữu ích đối với sinh viên. Ở
thời đại hiện nay, yêu cầu của một nhà tuyển dụng đối với các công việc giấy tờ, lặp đi lặp
lại ngày càng ít. Cách đây 10 năm, 1 trợ lý luật sư có thể ngồi văn phòng cả ngày để tìm
văn bản luật cho sếp. Nhưng giờ công việc này đã có các cơ sở dữ liệu luật làm thay, 1 trợ
178
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
lý luật sư cần hỗ trợ được sếp trong giao tiếp với khách hàng, nói chuyện được với bộ phận
kế toán của khách hàng, đi hỗ trợ sếp đàm phán những khoản vay của khách hàng từ ngân
hàng… tức là cần những kiến thức liên ngành, mà những kiến thức liên ngành này chỉ có
được thông qua quá trình trau dồi học hỏi.
Và nếu bạn là sinh viên năm 3,4 thì hãy mạnh dạn nộp đơn đi thực tập tại các công
ty. Đừng nghĩ mình cung cấp lao động không công hay giá rẻ cho công ty mà hãy nghĩ
mình đang dùng thực tế để kiểm tra trình độ tiếp thu kiến thức trong công việc. Khi ra làm
việc, sếp không bao giờ đưa bạn 1 bài kiểm tra và nói, oh, anh làm điểm 9 nên tôi tăng
lương cho anh, mà bạn phải biết vẫn dụng nhuần nhuyễn các kiến thức được thầy cô trang
bị ở trường để xử lý hồ sơ.
Trách nhiệm - đạo đức nghề nghiệp
Trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, thông tin rất phong phú và thay
đổi rất nhanh, khách hàng người sử dụng lao động dễ dàng liên kết với người lao động. Để
bảo đảm khả năng cạnh tranh, hình ảnh và danh tiếng của từng cá nhân lao động, người lao
động phải bảo đảm các yêu cầu về trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp trong từng lĩnh vực
ngành nghề tương ứng.
Trong mỗi ngành nghề hiện nay, các hiệp hội nghề nghiệp thường phát triển các bộ
quy tắc khác nhau ví dụ như quy tắc đạo đức của nghề luật sư, quy tắc đạo đức của hiệp
hội kiểm toán nội bộ, quy tắc về sở hữu trí tuệ… mục đích của các bộ quy tắc là đưa ra các
nguyên tắc và kỳ vọng chi phối hành vi của các cá nhân, người lao đông, tổ chức trong việc
thực hiện các công việc chuyên môn. Tùy đặc thù của từng ngành, mà các bộ quy tắc khác
nhau mô tả các yêu cầu tối thiểu về ứng xử đạo đức và các kỳ vọng về hành vi của người
lao động. Yêu cầu chung của một số bộ quy tắc thường gồm các yêu cầu sau:
Chính trực: tính chính trực của người lao động thiết lập sự tin tưởng và nhờ đó tạo ra
cơ sở cho độ tin cậy các công việc của họ. Điều này đòi hỏi người lao động:
Phải thực hiện công việc với sự trung thực, chuyên cần và có trách nhiệm.
Tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện đúng yêu cầu chuyên môn
nghề nghiệp
Không được tham gia các hoạt động phạm pháp làm mất uy tín của doanh nghiệp,
của tổ chức hội nghề nghiệp.
Phải tôn trọng và đóng góp vào các mục tiêu hợp pháp và đạo đức của tổ chức.
Bảo mật: người lao động tôn trọng giá trị quyền sở hữu thông tin mà họ nhận được.
Người lao động không tiết lộ thông tin nếu không có thẩm quyền phù hợp, trừ khi
việc tiết lộ thông tin theo yêu cầu của luật pháp hoặc thuộc trách nhiệm chuyên
môn. Yêu cầu người lao động phải thận trọng trong việc sử dụng và bảo vệ thông
tin thu thập được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Không được sử dụng thông
179
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…
tin được cung cấp để thu lợi cho mục đích cá nhân hoặc dưới bất kỳ hình thức nào
trái với quy định của pháp luật, gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty
nói chung.
Năng lực chuyên môn: người lao động áp dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm
chuyên môn cần thiết để thực hiện công việc được giao. Điều này cũng đòi hỏi
người lao động phải liên tục nâng cao các kỹ năng chuyên môn, tính hiệu quả cũng
như chất lượng công việc nếu không sẽ bị đào thải.
3. KẾT LUẬN
Trong thời đại hội nhập, nhất là khi Việt Nam tham gia CPTTP, các tiêu chuẩn lao
động của Việt Nam trong tương lai càng ngày càng tăng cao. Nhất là trong bối cảnh cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0, lao động Việt Nam đang phải đối mặt với không ít thách thức
và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Lao động hiện nay của Việt Nam mới chỉ tập trung
vào các phân khúc lao động phổ thông, lao động bậc thấp và bậc trung. Do đó, ở từng nhóm
ngành cụ thể vẫn thiếu hụt lao động chất lượng cao có chuyên môn. Bên cạnh đó, lao động
Việt Nam nhiều khi vẫn được đánh giá là nhanh, sáng tạo, nhưng lại không tuân thủ, hay
phá vỡ những yêu cầu, quy tắc, đạo đức lao động, gây ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm,
dịch vụ. Như vậy, sinh viên từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường ngoài việc nâng cao trình
độ chuyên môn, cần phải trau dồi thêm ngoại ngữ, làm chủ công nghệ thông tin, tự quản
lý, trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
cau-nhan-luc-nganh-nghe-hoi-nhap
2. Nhiều doanh nghiệp vẫn thờ ơ với CPTPP. Truy xuất từ
3. Skills Development Scotland (2018), skills 4.0, A skills model to drive Scotland’s
tuc/7241.tai-lieu-huong-nghiep-nam-2018-thi-truong-lao-dong-hoi-nhap-tien-den-
cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-4-du-bao-nhu-cau-nhan-luc-cac-nganh-trong-
diem-giai-doan-2018-2020-den-2025.html
180
Bạn đang xem tài liệu "Kiến thức, năng lực, kỹ năng cần có của sinh viên tốt nghiệp trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
kien_thuc_nang_luc_ky_nang_can_co_cua_sinh_vien_tot_nghiep_t.pdf

