Mô hình tháp nhu cầu của người lao động trong các doanh nghiệp vận tải hàng hóa tại Hải Phòng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
MÔ HÌNH THÁP NHU CẦU CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG  
CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI HÀNG HÓA TẠI HẢI PHÒNG  
ThS. Phạm Thị Thu Hòa  
Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trƣờng Đại học Hải Phòng  
THE MODEL OF LABOUR DEMAND IN TRANSPORT ENTERPRISES IN  
HAI PHONG  
TÓM TẮT  
Nhu cầu được hiểu là đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ  
nhận thức, môi trường sống cũng như đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu  
khác nhau. Đối với người lao động, nhu cầu được chia thành 2 nhóm, nhóm nhu cầu về vật  
chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với mong muốn về vật chất để tồn tại  
và phát triển, do đó biểu hiện của thỏa mãn nhu cầu vật chất phụ thuộc vào thù lao tài chính.  
Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng về tâm lý. Mục tiêu của bài viết là xây dựng mô  
hình tháp nhu cầu của người lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng trên cơ sở  
học thuyết nhu cầu của Maslow (1963). Với 495 phiếu điều tra, cho thấy 5 bậc nhu cầu của  
người lao động có ảnh hưởng tích cực đến động lực làm việc của người lao động trong các  
doanh nghiệp vận tải hàng hóa tại Hải Phòng, gồm: (1) Nhu cầu sinh học, (2) Nhu cầu an toàn  
(2), (3) Nhu cầu xã hội; (4) Nhu cầu được tôn trọng, (5) Nhu cầu tự hoàn thiện.  
Từ khóa: Nhu cầu, tháp nhu cầu, động lực làm việc  
SUMMARY  
Demand is understood to be the individual's desire to survive and develop. Depending  
on the level of awareness, living environment as well as physiological features, each person  
has different needs. For employees, the demand is divided into two groups, the material  
demand and spiritual demand. The material demand is attached to material desires for survival  
and development, thus the manifestation of satisfying material needs depends on the financial  
reward. The spiritual demand is associated with the psychological satisfaction. The article  
aims to model the demand pyramid of the employees in transport enterprises in Haiphong  
based on Maslow's theory of demand (1963). With 495 questionnaires, 5 levels of labor  
demand have positive influences on the employees‟working motivation in transport  
enterprises in Haiphong: (1) Biological needs, (2) safety needs (2), (3) social needs; (4) Needs  
to be respected, (5) Needs to be self-fulfilling.  
Key words: demand, hierarchy of needs, employees’working motivation  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Maslow (1943) cho rằng có nhiều nhu cầu cùng tồn tại trong một cá thể, chúng cạnh  
tranh với nhau trong việc thỏa mãn. Maslow (1943) chia nhu cầu của con người thành 5 bậc  
từ thấp đến cao: nhu cầu tự nhiên, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và  
cao nhất là nhu cầu tự hoàn thiện. Khi con người được thỏa mãn nhu cầu ở bậc thấp hơn thì sẽ  
kích thích nhu cầu thỏa mãn ở bậc cao hơn. Như vậy, không phải trong cùng một thời kỳ mọi  
người đều xuất hiện những nhu cầu như nhau, mà ở từng thời điểm thì mọi người có nhu cầu  
khác nhau, nhưng về nguyên tắc các nhu cầu thấp hơn phải được thoả mãn trước khi được  
khuyến khích thoả mãn các nhu cầu ở bậc cao hơn. Tư tưởng của Maslow (1943) đã có những  
ảnh hưởng mạnh mẽ và đóng góp to lớn cho nền tâm lý học thế giới. Cũng giống như những  
học thuyết khác, học thuyết của Maslow (1943) không phải là một sự tuyệt đối hóa và toàn  
vẹn, nó cũng nhận được nhiều ý kiến trái ngược và phản bác. Tuy nhiên, hơn 60 năm qua, học  
thuyết này vẫn được nhắc đến và sử dụng rộng rãi. Cho đến ngày nay, học thuyết tháp nhu cầu  
483  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
của Maslow (1943) vẫn có vai trò quan trọng trong nghiên cứu, tìm hiểu về tâm lý học, mang  
lại nhiều ứng dụng trong cuộc sống con người như tạo động lực trong lao động hay các chiến  
lược kinh doanh nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người.  
Ngành vận tải hàng hóa là một trong những mắt xích quan trọng nằm trong chuỗi cung  
ứng dịch vụ Logistics, thúc đẩy tiêu dùng thông qua việc lưu thông, chuyên chở hàng hóa từ  
nhà sản xuất đến mọi vùng miền của tổ quốc và tới tay người tiêu dùng. Hải Phòng với lợi thế  
về cảng biển, là nơi trung chuyển hàng hóa cho mọi miền tổ quốc, do đó ngành vận tải hàng  
hóa ở Hải Phòng phát triển mạnh mẽ góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế của thành  
phố. Theo cục thống kê Hải Phòng, tính đến tháng 9/2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển  
ước tính là 112,6 triệu tấn, tăng 14,98 % so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng hàng hóa luân  
chuyển 9 tháng năm 2017 đạt 62,139, tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước. Sở dĩ có sự  
tăng lên như vậy là do tác động của cả 3 tuyến, đường bộ, đường biển viễn dương và đường  
thủy nội bộ. Bên cạnh những cơ hội phát triển, các doanh nghiệp trong ngành vận tải hàng hóa  
tại Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung đang đối mặt với các khó khăn như: chi phí  
xăng dầu, lệ phí đường bộ, cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng giao thông,.. Hơn hết nguồn nhân  
lực còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, trình độ cho nên vẫn chưa tạo được sự an tâm  
tuyệt đối cho các đối tác. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, bên cạnh chính giá cước, thời gian  
vận chuyển, ngành vận tải hàng hóa rất cần một đội ngũ lao động có chuyên môn, gắn bó và  
tâm huyết với doanh nghiệp. Tuy nhiên, do đặc thù của ngành vận tải hàng hóa rất vất vả và  
rủi ro cao nên rất khó duy trì được đội ngũ lao động có chất lượng và ổn định. Câu hỏi đặt ra  
là làm thế nào để duy trì lòng trung thành của người lao động thông qua việc cân bằng giữa  
thỏa mãn nhu cầu người lao động và gia tăng động lực làm việc cho người lao động?  
Bài viết với mục tiêu xây dựng tháp nhu cầu cho người lao động trong các doanh  
nghiệp vận tải hàng hóa tại Hải Phòng và xác định mối quan hệ giữa nhu cầu và động lực làm  
việc của người lao động, trên cơ sở đó sẽ đề xuất một số gợi ý nhằm cân bằng mối quan hệ  
giữa thỏa mãn nhu cầu người lao động với gia tăng động lực làm việc cho người lao động  
trong các doanh nghiệp vận tải hàng hóa tại Hải Phòng nói riêng và vận dụng đối với ngành  
vận tải hàng hóa của cả nước nói chung.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Khái quát về nhu cầu  
2.1.1. Khái niệm nhu cầu  
Nhu cầu là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học, nghiên cứu về nhu  
cầu nhận được sự chú ý của nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước. Các nhà nghiên  
cứu đã đề cập quan điểm về nhu cầu dưới các góc độ khác nhau, cụ thể:  
Nhu cầu (nhu cầu tự nhiên) là trạng thái thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm  
nhận được (Marketing căn bản, 2013, trang 12). Trạng thái ý thức thiếu hụt đó phát sinh có  
thể do sự đòi hỏi của con người về sinh lý, môi trường giao tiếp hay vốn tri thức của con  
người,… Sự thiếu hụt càng gia tăng thì đòi hỏi thỏa mãn càng lớn. Khi đó con người sẽ cố  
gắng thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất đối với họ.  
Bùi Thị Xuân Mai (2011) đã phát biểu nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại  
và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú,  
đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…).  
Như vậy, tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống cũng như đặc điểm tâm  
sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu được hiểu là đòi hỏi cá nhân để tồn  
tại và phát triển.  
2.2.2. Học thuyết nhu cầu của Maslow (1943)  
Hệ thống nhu cầu do Abraham Maslow (1943) xây dựng nên là một trong những mô  
hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động lực cá nhân. Nhu cầu của cá nhân  
rất phong phú và đa dạng, do vậy để đáp ứng được nhu cầu đó cũng rất phức tạp. Để làm được  
điều này Maslow (1943) đã chỉ ra rằng người quản lý cần phải có các biện pháp tìm ra và thoả  
484  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
mãn nhu cầu người lao động, khi đó sẽ tạo ra được động lực cho người lao động và ông nhấn  
mạnh rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu  
cầu: Nhu cầu tự nhiên, Nhu cầu an toàn, Nhu cầu xã hội, Nhu cầu được tôn trọng và Nhu cầu  
tự hoàn thiện. Theo lý thuyết này nhu cầu con người xuất hiện theo thứ bậc từ thấp đến cao.  
Khi nhu cầu thấp được thoả mãn thì nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện. Ban đầu là các nhu cầu về  
sinh lý, tiếp theo là đến các nhu cầu về an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và tự hoàn  
thiện mình, trong đó:  
Nhu cầu tự nhiên: là nhu cầu duy trì sự tồn tại tự nhiên của cơ thể nó bao gồm các yếu  
tố: ăn, ở, mặc, nghỉ ngơi, duy trì nòi giống... các nhu cầu này xuất hiện sớm nhất, nó chi phối  
những mong muốn của con người, do đó con người sẽ tìm mọi cách để thoả mãn rồi đạt đến  
những nhu cầu cao hơn. Maslow (1943) cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không  
xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ  
chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được.  
Nhu cầu an toàn: là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý được thoả mãn.  
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu cơ bản không còn điều  
khiển suy nghĩ và hành động của con người nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn sẽ bắt đầu  
được kích hoạt. Nhu cầu an toàn được thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Nhu cầu an  
toàn thường được khẳng định thông qua các mong muốn như sự ổn định trong cuộc sống,  
được sống trong xã hội có pháp luật, sinh sống tại khu vực có an ninh tốt,.. Ở mức nhu cầu  
này con người sẽ có những phản ứng lại đối với những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe  
doạ đến bản thân. Đối với người lao động, họ không thích làm việc trong những điều kiện  
nguy hiểm mà thích được làm việc trong những điều kiện an toàn hay các chế độ bảo hiểm xã  
hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm,… cũng chính là thể hiện sự đáp  
ứng nhu cầu an toàn này.  
- Nhu cầu xã hội: Khi các nhu cầu sinh lý, an toàn được thoả mãn, con người sẽ đòi  
hỏi các nhu cầu về tình cảm sự thương yêu, tình đồng loại... Con người sẽ cảm thấy trống  
vắng khi thiếu bạn bè, người thân trong gia đình và họ sẽ cố gắng tìm hiểu mọi người chung  
quanh. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người  
yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các  
câu lạc bộ, làm việc nhóm,… Nhu cầu này là một dấu vết của bản chất sống theo bầy đàn của  
loài người từ thủa sơ khai của nhân loại. Maslow (1943) nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu xã hội  
không được thoả mãn, đáp ứng, có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh cho  
con người. Thực tế đã chứng minh, những người sống độc thân thường hay mắc các bệnh về  
tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những người sống với gia đình. Hay trẻ em ít giao tiếp xã hội  
và ít nhận được sự quan tâm của bố mẹ, gia đình dễ mắc những chứng bệnh như tự kỷ, trầm  
cảm. Trong doanh nghiệp, để đáp ứng cấp bậc nhu cầu xã hội cho người lao động, doanh  
nghiệp thường lựa chọn các chương trình teamword để nâng cao tinh thần, sự gắn bó, đoàn  
kết cho nhân viên.  
- Nhu cầu được tôn trọng: thể hiện qua hai cấp độ là nhu cầu được người khác quý  
mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính  
bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Sự đáp  
ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người  
trưởng thành cảm thấy tự do hơn và người lao động cảm thấy nỗ lực hơn. Thực tế đã chứng  
minh, trong công việc hoặc cuộc sống, một người được khích lệ, khen thưởng về thành quả  
lao động của họ, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn. Nhu cầu được tôn trọng  
xếp sau nhu cầu xã hội- (nhu cầu thuộc về một tổ chức), do đó sau khi đã gia nhập một tổ  
chức, một đội nhóm, con người luôn mong muốn được mọi người trong tổ chức, trong nhóm  
nể trọng, quý mến để cảm thấy mình có “vị trí” trong tổ chức hay trong nhóm đó.  
- Nhu cầu tự hoàn thiện bản thân: chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm  
năng của bản thân để tự khẳng định bản thân, để làm việc và đạt các thành quả trong xã  
hội. Maslow (1943) cho rằng: “mặc dù tất cả các nhu cầu trên được thoả mãn, con người vẫn  
485  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
cảm thấy sự bất mãn mới và sự lo lắng sẽ xuất hiện”. Điều này là minh chứng rõ ràng nhất  
cho thấy nhu cầu tự hoàn thiện bản thân xuất hiện khi đã có sự thoả mãn các bậc nhu cầu thấp  
hơn nó.  
2.2. Khái quát về động lực làm việc  
2.2.1. Khái niệm động lực làm việc  
Các quan điểm về động lực làm việc cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau.  
Theo Lawler (1973), động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của mỗi người  
lao động. Động lực làm việc được hiểu là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để  
hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn  
theo khả năng nỗ lực của họ (Robbins, 1998).  
Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) cho rằng động lực lao động là sự  
khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu,  
kết quả nào đó.  
Vũ Thị Uyên (2007) đã phát biểu “động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá  
nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu  
của tổ chức”.  
Bùi Anh Tuấn (2013) cho rằng “động lực lao động là những nhân tố bên trong kích  
thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.  
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ  
chức cũng như bản thân người lao động”.  
Từ những quan điểm trên cho thấy động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ  
chính bản thân mỗi người lao động có được trong quá trình lao động. Động lực lao động như  
một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Vì vậy,  
mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể  
làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.  
2.2.2. Biểu hiện của động lực làm việc  
Thái độ và hành vi của người lao động trong từng hoàn cảnh, môi trường làm việc cụ  
thể là biểu hiện của động lực làm việc. Biểu hiện động làm việc thể hiện qua hai yếu tố: một  
là mức độ tham gia của người lao động vào công việc, hai là mối quan tâm của người lao  
động đối với nghề nghiệp của họ.  
Nhà quản trị cần nắm bắt được các biểu hiện động lực làm việc của người lao động để  
có những chính sách những chiến lực quản trị nhân sự nhằm tạo động lực cho người lao động,  
từ đó có thể khai thác được tiềm năng của người lao động và góp phần tăng năng suất lao  
động.  
3. CÁC NGHIÊN CỨU NỀN TẢNG  
Học thuyết nhu cầu của Maslow (1943) được phát triển dựa trên nền tảng nghiên cứu  
các doanh nghiệp ở Hoa Kỳ và được nhiều nhà khoa học trên thế giới tiếp cận và phát triển  
khá mạnh mẽ ở những thập kỷ sau. Đại diện cho học thuyết nhu cầu còn có học thuyết hai  
yếu tố của Herzberg (1959), học thuyết nhu cầu thành đạt của McClelland (1985). Mỗi một  
học thuyết nhu cầu có quan điểm riêng nhưng tựu chung lại các học thuyết nhu cầu đều cho  
rằng nhu cầu cá nhân là động lực thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn nhu cầu. Bartol  
và Martin (1998) kết luận rằng học thuyết nhu cầu cố gắng nhận diện các yếu tố thúc đẩy con  
người trên cơ sở thỏa mãn các nhu cầu. Gambrel và Cianci (2003) lại quan tâm đến việc ứng  
dụng tháp nhu cầu của Maslow (1943) vào quốc gia có nền văn hóa tập thể như ở Châu Á.  
Nevis (1983) đã phát triển mô hình tháp nhu cầu của người Trung Quốc trên cơ sở học thuyết  
của Maslow (1994), trong đó “nhu cầu được tôn trọng” đã được loại bỏ khỏi mô hình tháp  
nhu cầu của người Trung Quốc và “nhu cầu xã hội” trở thành nhu cầu đầu tiên trong tháp nhu  
cầu của người Trung Quốc. Một số các nhà nghiên cứu khác trên thế giới như Smith (2003),  
Halepota (2005), Dinibutun (2012) và các nhà nghiên cứu trong nước Trần Kim Dung (2011),  
Trương Minh Đức (2011) và Hoàng Thị Hồng Lộc đã thảo luận về các bậc nhu cầu trong học  
486  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
thuyết nhu cầu của Maslow (1943) khi ứng dụng học thuyết này vào nghiên cứu đánh giá  
động lực làm việc của người lao động trong môi trường tổ chức. Dinibutun (2012) đã chi tiết  
hóa các thành phần trong từng bậc “nhu cầu” từ nội dung tổng quát trong học thuyết của  
Maslow (1943), theo Dinibutun (2012) nhu cầu sinh học cơ bản của được hiểu là tiền lương,  
thu nhập và điều kiện làm việc. Kết luận của Dinibutun (2012) tương đồng với kết luận của  
Halepota (2005) khi nghiên cứu ứng dụng Tháp nhu cầu của Maslow vào ngành xây dựng.  
Nghiên cứu của Trương Minh Đức (2011) tại Việt Nam cũng có kết luận tương tự các nghiên  
cứu trên khi vận dụng tháp nhu cầu của Maslow vào đánh giá động lực làm việc của nhân  
viên công ty TNHH Ericsson Việt Nam. Mặt khác, trên cơ sở kế thừa mô hình tháp nhu cầu  
của Maslow (1943), Trần Kim Dung và cộng sự (2011) đã xây dựng thang đo động viên nhân  
viên làm việc toàn thời gian tại Tp Hồ Chí Minh, tác giả chỉ ra động lực làm việc của nhân  
viên chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: công việc phù hợp; chính sách, chế độ đãi ngộ; quan hệ  
tốt trong công việc và thương hiệu công ty. Hay nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Lộc và cộng  
sự (2014) về động lực làm việc của cán bộ công nhân viên chức đã xây dựng khung lý thuyết  
trên cơ sở điều chỉnh từ mô hình tháp nhu cầu của Maslow (1943) và mô hình tháp nhu cầu  
của người Trung Quốc (Nevis, 1983), nhóm tác giả đã xây dựng mô hình tháp nhu cầu của  
nhân viên khu vực công tại Việt Nam gồm 5 bậc: nhu cầu xã hội, nhu cầu sinh học, nhu cầu  
an toàn, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện bản thân. Tuy nhiên, Hoàng Thị Hồng  
Lộc và cộng sự (2014) chưa thực hiện kiểm định mối quan hệ của năm bậc nhu cầu này đến  
động lực làm việc của nhân viên tại khu vực công.  
4. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
Qua quá trình tổng quan nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng học thuyết nhu cầu của  
Maslow (1963) phù hợp khi vận dụng vào nghiên cứu động lực làm việc cho người lao động  
trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải phòng thông qua việc thỏa mãn các bậc nhu cầu của  
con người. Trên cơ sở mô hình tháp nhu cầu của Maslow (1943) và tháp nhu cầu của Hoàng  
Thị Hồng Lộc và cộng sự (2014), tác giả xây dựng mô hình tháp nhu cầu của người lao động  
trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng như sau:  
Nhu cầu sinh học  
Nhu cầu an toàn  
Động lực  
l m việc  
Nhu cầu xã hội  
Nhu cầu được tôn trọng  
Nhu cầu tự hoàn thiện bản thân  
Hình 1: Tháp nhu cầu của ngƣời lao động làm việc trong các doanh nghiệp vận  
tải tại Hải Phòng  
Thang đo các biến trong mô hình:  
Thang đo các biến độc lập trong mô hình được kế thừa từ thang đo của Hoàng Thị  
Hồng Lộc và cộng sự (2014).  
Bảng 1: Thang đo các biến độc lập  
Thang đo  
Mã hóa  
SH  
Nhu cầu sinh học  
487  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Tiền lương cơ bản hiện tại  
SH1  
Thu nhập (gồm tiền lương, phụ cấp, trợ cấp phúc lợi, và các khoản thu nhập SH2  
khác) từ công việc hiện tại đem lại  
Lãnh đạo quan tâm đến đời sống vật chất của nhân viên  
Điều kiện làm việc, cơ sở vật chất nơi làm việc  
Nhu cầu an to n  
SH3  
SH4  
AT  
An toàn lao động  
AT1  
AT2  
AT3  
AT4  
AT5  
Áp lực công việc  
Công việc ổn định lâu dài  
Chế độ dành cho nhân viên nghỉ ốm/thai sản/ biến cố gia đình  
Công Đoàn bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người lao động  
An toàn của môi trường nơi làm việc (không bị ô nhiễm khí thải, nước thải, tiếng AT6  
ồn)  
Nhu cầu quan hệ xã hội  
XH  
Mối quan hệ với đồng nghiệp  
XH1  
XH2  
XH3  
XH4  
XH5  
XH6  
TT  
Mối quan hệ với lãnh đạo  
Mối quan hệ với khách hàng/công dân  
Mối quan hệ với gia đình  
Mối quan hệ với cộng đồng địa phương  
Sự hỗ trợ của lãnh đạo & đồng nghiệp trong công việc  
Nhu cầu đƣợc tôn trọng  
Vị trí hiện tại trong tổ chức  
TT1  
TT2  
TT3  
TT4  
HT  
Sự ghi nhận của lãnh đạo và tập thể về những đóng góp của cá nhân  
Sự động viên, khích lệ của lãnh đạo đối với nhân viên  
Sự tôn trọng của đồng nghiệp  
Nhu cầu tự ho n thiện bản thân  
Được chủ động trong công việc  
HT1  
HT2  
HT3  
HT4  
HT5  
HT6  
Cơ hội được học tập  
Cơ hội được thăng tiến  
Công việc phù hợp, có điều kiện phát huy chuyên môn nghiệp vụ  
Trách nhiệm đối với công việc được mô tả rõ ràng  
Bản chất công việc thú vị, có nhiều thử thách, nhiều ý nghĩa xã hội  
(Nguồn: Hoàng Thị Hồng Lộc và cộng sự, 2014)  
Thang đo biến phụ thuộc “động lực làm việc” được trích từ thang đo của Herzberg  
(1959), đo lường bằng “sự thích thú, mong muốn được làm việc” của người lao động.  
Giả thuyết nghiên cứu đề xuất:  
H1: Thỏa mãn nhu cầu sinh học sẽ ảnh hưởng tích cực đến động lực làm việc của  
người lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng  
H2: Thỏa mãn nhu cầu an toàn sẽ ảnh hưởng tích cực đến động lực làm việc của  
người lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng  
H3: Thỏa mãn nhu cầu xã hội sẽ ảnh hưởng tích cực đến động lực làm việc của người  
lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng  
H4: Thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng sẽ ảnh hưởng tích cực đến động lực làm việc  
của người lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng  
488  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
H5: Thỏa mãn nhu cầu tự hoàn thiện bản thân sẽ ảnh hưởng tích cực đến động lực làm  
việc của người lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng  
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Trong nghiên cứu này, tác giả kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định  
lượng, cụ thể:  
Nghiên cứu sơ bộ định tính dùng để khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan  
sát để đo lường các khái niệm nghiên cứu. Nghiên cứu định tính được thực hiện với kỹ thuật  
phỏng vấn sâu nhằm xác định nhu cầu của người lao động đến động lực làm việc của họ trong  
doanh nghiệp vận tải tại Hải phòng. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 10 người (01 chuyên gia  
quản trị nhân lực, 01 giảng viên Đại học Hải Phòng, 01 giảng viên Đại học Hàng Hải; 02 nhà  
quản trị doanh nghiệp vận tải, 02 nhà quản trị nhận sự trong doanh nghiệp vận tải và 03 người  
lao động trong doanh trong doanh nghiệp vận tải), thời gian thảo luận từ 30- 40 phút/đáp viên  
và có ghi âm. Trong quá trình phỏng vấn sâu, khi hỏi đến người thứ 8 đã không có quan điểm  
mới so với 7 người trước, tuy nhiên tác giả vẫn tiến hành phỏng vấn thêm hai người nữa  
nhưng không có điểm mới so với kết quả trước nên tác giả dừng phỏng vấn sâu với mẫu n=  
10. Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy đa số những người được hỏi đều đồng tình với 5 yếu tố  
nhu cầu có ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động trong các doanh nghiệp vận  
tải tại Hải Phòng.  
Trước khi nghiên cứu chính thức định lượng, tác giả thực hiện nghiên cứu sơ bộ định  
lượng: được thực hiện với phương pháp khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi nhằm điều chỉnh lại  
thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, nghiên cứu được thực hiện với mẫu n= 30.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy các thang đo đều đủ điều kiến để tiến hành nghiên cứu tiếp theo.  
Trên cơ sở kết quả nghiên sơ bộ định lượng làm cơ sở cho việc hình thành bảng hỏi chính  
thức cho nghiên cứu chính thức.  
Với điều kiện về thời gian, nhân lực và tài chính tác giả thực hiện điều tra đối với tất  
cả các doanh nghiệp vận tải hàng hóa là một tham vọng lớn. Do đó, phạm vi nghiên cứu này  
tác giả chỉ thực hiện nghiên cứu đối với các doanh nghiệp vận tải hàng hóa đường bộ tại Hải  
Phòng. Tổng số doanh nghiệp vận tải hàng hóa đường bộ ở Hải Phòng là 10.000 doanh  
nghiệp, trong đó có khoảng 200 doanh nghiệp đang hoạt động trong hiệp hội doanh nghiệp  
vận tải đường bộ Hải Phòng. Tác giả lựa chọn ngẫu nhiên 30 doanh nghiệp có quy mô vốn  
điều lệ từ 5 tỷ trở lên và có từ 30 lao động trở lên trong hiệp hội doanh nghiệp vận tải đường  
bộ Hải Phòng. Cỡ mẫu lựa chọn là 500 quan sát (J.F Hair và cộng sự, 1998), cỡ mẫu tối thiểu  
gấp năm lần tổng số biến quan sát trong thang đo, số biến quan sát trong bảng hỏi là 26, do  
vậy cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là: 26*5 = 130 quan sát. Để đạt được số phiếu như kỳ vọng, tác  
giả tiến hành phát ra 600 phiếu. Sau khi thu thập và làm sạch dữ liệu có 495 phiếu đủ điều  
kiện để đem vào phân tích.  
6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
6.1. Thống kê mẫu nghiên cứu  
Kết quả thống kê mẫu theo nhân khẩu học được mô tả trong bảng 1.  
Bảng 1: Kết quả thống kê mô tả mẫu  
Giới tính  
Độ tuổi  
Trình độ học vấn  
Thu nhập  
Nam Nữ  
<30 30-  
40  
41-  
50  
>50 PTT TC- ĐH  
SĐ <5  
H
5-7  
7-10 >10  
177 123  
H
CĐ  
373  
122  
189  
176  
112  
18  
56  
312  
89  
38  
43  
152  
75.3 24.6 38.1 35.5 22.6 3.6 11.3 63.0 17.9 7.6 8.6 30.7 35.7 24.8  
5
5
8
6
3
4
1
3
8
8
9
1
6
5
100%  
100%  
100%  
100%  
(Nguồn: Số liệu khảo sát của tác giả, 2017)  
6.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha  
489  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Để đánh giá độ tin cậy của thang đo, tác giả thực hiện kiểm định hệ số Cronbach‟s  
Alpha. Những biến quan sát có hệ số Cronbach‟s Alpha (Cronbach‟s Alpha if Item Deleted)  
từ 0.6 trở lên là có thể chấp nhận được và hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item Total  
Correlation) của biến quan sát lớn hơn 0,3 sẽ được giữ lại (Hair và cộng sự, 1998).  
Bảng 2: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo  
Tƣơng quan biến tổng  
Hệ số Cronbach’s Alpha nếu  
loại biến (Cronbach‟s Alpha if  
Item Deleted)  
Stt  
1
Biến quan sát  
(Corrected  
Item  
Total  
Correlation)  
Nhu cầu sinh học: Cronbach’s Alpha = 0.814  
SH1  
SH2  
SH3  
SH4  
.525  
.761  
.654  
.629  
.824  
.717  
.757  
.769  
2
3
Nhu cầu an to n: Cronbach’s Alpha = 0.881  
AT1  
AT2  
AT3  
AT4  
AT5  
AT6  
.822  
.746  
.800  
.477  
.248  
.119  
.844  
.854  
.848  
.887  
.882  
.872  
Nhu cầu xã hội: Cronbach’s Alpha = 0.859  
XH1  
XH2  
XH3  
XH4  
XH5  
XH6  
.567  
.784  
.641  
.281  
.198  
.373  
.849  
.822  
.837  
.853  
.826  
.868  
4
5
Nhu cầu đƣợc tôn trọng: Cronbach’s Alpha = 0.715  
TT1  
TT2  
TT3  
TT4  
.441  
.735  
.385  
.510  
.689  
.537  
.717  
.655  
Nhu cầu tự ho n thiện bản thân: Cronbach’s Alpha = 0.818  
HT1  
HT2  
HT3  
HT4  
.765  
.721  
.491  
.456  
.763  
.765  
.810  
.831  
HT5  
HT6  
.644  
.570  
.778  
.792  
(Nguồn: Số liệu khảo sát của tác giả, 2017)  
Kết quả bảng 2 cho thấy:  
490  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Thang đo nhu cầu sinh học, thang đo nhu cầu được tôn trọng và thang đo nhu cầu tự  
hoàn thiện bản thân: các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và hệ số  
Cronbach‟s Alpha lớn hơn 0,6, do đó các biến quan sát đều có tương quan chặt chẽ với biến  
tổng trong mô hình và đảm bảo độ tin cậy.  
Thang đo nhu cầu an toàn: các biến quan sát AT5 và AT6 có hệ số Cronbach‟s Alpha  
lớn hơn 0,6 nhưng có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3, do đó 2 biến quan sát này bị  
loại khỏi thang đo nhu cầu an toàn. Các biến quan sát còn lại đều có hệ số Cronbach‟s Alpha  
lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3, do đó các thang đo này đảm bảo độ  
tin cậy.  
Thang đo nhu cầu xã hội: các biến quan sát XH4 và XH5 có hệ số Cronbach‟s Alpha  
lớn hơn 0,6 nhưng có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3, do đó 2 biến quan sát này bị  
loại khỏi thang đo nhu cầu an toàn. Các biến quan sát còn lại đều có hệ số Cronbach‟s Alpha  
lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3, do đó các thang đo này đảm bảo độ  
tin cậy.  
6.3. Phân tích nhân tố EFA  
Để tìm hiểu mối quan hệ tương quan giữa các biến quan sát và biến thành phần, tác giả  
thực hiện phân tích nhân tố EFA. Theo Hair và cộng sự (1998) với mẫu lớn hơn 350 thì hệ số  
tải (Factor loading) lớn hơn hoặc bằng 3 là đạt giá trị hội tụ.  
Bảng 3: Kết quả phân tích EFA  
Biến  
Quan sát  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
6
Tiền lương cơ bản hiện tại  
.657  
Nhu cầu  
sinh học  
Thu nhập (gồm tiền lương, phụ cấp, .712  
trợ cấp phúc lợi, và các khoản thu  
nhập khác) từ công việc hiện tại  
đem lại  
Lãnh đạo quan tâm đến đời sống .752  
vật chất của nhân viên  
Điều kiện làm việc, cơ sở vật chất .744  
nơi làm việc  
An toàn lao động  
.612  
.623  
.703  
.721  
Nhu cầu  
an toàn  
Áp lực công việc  
Công việc ổn định lâu dài  
Chế độ dành cho nhân viên nghỉ  
ốm/thai sản/ biến cố gia đình  
Mối quan hệ với đồng nghiệp  
Mối quan hệ với lãnh đạo  
.667  
.762  
.712  
Nhu cầu  
xã hội  
Mối quan hệ với khách hàng/công  
dân  
Sự hỗ trợ của lãnh đạo & đồng  
nghiệp trong công việc  
.699  
Vị trí hiện tại trong tổ chức  
.678  
.645  
Nhu cầu  
đƣợc  
tôn  
Sự ghi nhận của lãnh đạo và tập thể  
về những đóng góp của cá nhân  
trọng  
Sự động viên, khích lệ của lãnh đạo  
đối với nhân viên  
.702  
.711  
Sự tôn trọng của đồng nghiệp  
491  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Được chủ động trong công việc  
Cơ hội được học tập  
.708  
.734  
.741  
.776  
Nhu cầu  
tự ho n  
thiện  
bản  
thân  
Cơ hội được thăng tiến  
Công việc phù hợp, có điều kiện  
phát huy chuyên môn nghiệp vụ  
Trách nhiệm đối với công việc  
được mô tả rõ ràng  
.715  
.732  
Bản chất công việc thú vị, có nhiều  
thử thách, nhiều ý nghĩa xã hội  
(Nguồn: số liệu khảo sát của tác giả, 2017)  
Kết quả bảng 3 cho thấy, các biến độc lập: Nhu cầu sinh học, Nhu cầu an toàn,  
Nhu cầu xã hội, Nhu cầu được tôn trọng, Nhu cầu tự khẳng định bản thân đều có các biến  
quan sát cùng tải về một nhân tố độc lập và có giá trị Factor loading lớn hơn 0,3. Như vậy,  
thang đo các biến độc lập trong mô hình đều đảm bảo yêu cầu và có thể sử dụng trong các  
phân tích tiếp theo.  
6.4. Kiểm định giả thuyết và phân tích hồi quy  
Mức độ giải thích của mô hình:  
Kết quả bảng 4 cho thấy R2 hiệu chỉnh = 0.669 điều này có nghĩa là các biến độc lập  
trong mô hình giải thích được 66,9% nghĩa là sự biến thiên của biến phụ thuộc. Mặt khác, hệ  
số Durbin- Watson có giá trị bằng 1.718 cho thấy không có tương quan giữa các phần dư.  
Bảng 4: Mức độ giải thích của mô hình  
Mô hình  
R
R2  
R2 hiệu  
Sai số ƣớc  
lƣợng  
Hệ số Durbin-  
chỉnh  
Watson  
1
.820a  
.673  
.669  
.32037  
1.718  
a. Biến độc lập (Hằng số): SH, AT. XH, TT, HT  
b. Biến phụ thuộc: ĐL  
(Nguồn: số liệu khảo sát của tác giả, 2017)  
Mức độ phù hợp của mô hình:  
Để kiểm định đồ phù hợp của mô hình, tác giả phân tích phương sai ANOVA, kết quả  
kiểm định F (bảng 5) có trị số là 201.080 và mức ý nghĩa sig = 0.000 nhỏ hơn 0.05, điều này  
thể hiện mô hình hồi quy tuyến tính đưa ra là phù hợp với dữ liệu thu thập được và mối quan  
hệ này đảm bảo độ tin cậy với mức ý nghĩa là 5%.  
Bảng 5: Mức độ phù hợp của mô hình (phân tích phƣơng sai ANOVA)  
Mô hình  
Tổng bình  
phƣơng  
Bậc tự  
do (df)  
Trung bình bình  
F
Mức ý  
nghĩa  
phƣơng  
Sig.  
1
Hồi quy  
Phần dư  
Tổng  
103.190  
50.189  
5
20.638  
.103  
201.080 .000  
489  
494  
153.379  
a. Biến phụ thuộc: ĐL  
b. Biến độc lập (Hằng số): SH, AT. XH, TT, HT  
(Nguồn: số liệu khảo sát của tác giả, 2017)  
Phân tích hồi quy:  
Kết quả phân tích hồi quy bảng 6 cho thấy: các biến độc lập đều có hệ số  
phóng đại phương sai VIF nhỏ hơn 10, như vậy không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô  
hình. Mặt khác các biến độc lập đều có giá trị sig nhỏ hơn 0.05 và hệ số Beta chưa chuẩn hóa  
492  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
đều lớn hơn 0, điều này có nghĩa là các biến độc lập đều có ảnh hưởng thuận chiều đến biến  
phụ thuộc.  
Bảng 6: Thống kê mô tả phân tích các hệ số hồi quy  
Mô hình  
Hệ số chƣa  
chuẩn hóa  
Hệ số  
chuẩn  
hóa  
t
Sig.  
Thống kê đa cộng  
tuyến  
Beta  
Sai số  
chuẩn  
-1.694 .177  
Beta  
Tolerance  
VIF  
1
Hằng số  
SH  
-9.558 .000  
13.073 .000  
.655  
.372  
.157  
.167  
.163  
.050  
.040  
.023  
.026  
.032  
.392  
.275  
.197  
.186  
.145  
.746  
.784  
.775  
.823  
.832  
1.341  
1.275  
1.290  
1.215  
1.202  
AT  
9.418  
6.692  
6.526  
5.102  
.000  
.000  
.000  
.000  
XH  
TT  
HT  
a. Biến phụ thuộc: ĐL  
(Nguồn: số liệu khảo sát của tác giả, 2017)  
Như vậy, phương trình mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập được  
biểu diễn như sau:  
Y = -1,694 + 0,665*X1 + 0,372*X2 + 0,157*X3+ 0,167*X4 + 0,163*X5  
Trong đó:  
Y:  
Động lực làm việc (ĐL)  
Nhu cầu sinh học (SH)  
Nhu cầu an toàn (AT)  
Nhu cầu xã hội (XH)  
Nhu cầu được tôn trọng (TT)  
Nhu cầu tự hoàn thiện bản thân (HT)  
X1:  
X2:  
X3:  
X4:  
X5:  
Mặt khác, kết quả bảng 6 cho thấy các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5 được chấp nhận.  
7. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý  
Kết quả nghiên cứu xác định được 5 thành phần của tháp nhu cầu của người lao động  
trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng là: (1) Nhu cầu sinh học; (2) Nhu cầu an toàn;  
(3) Nhu cầu xã hội; (4) Nhu cầu được tôn trọng; (5) Nhu cầu tự hoàn thiện bản thân. Năm  
thành phần nhu cầu này có ảnh hưởng tích cực đến động lực làm việc của người lao động  
trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng. Trong đó nhu cầu sinh học có tác động mạnh  
nhất đến động lực làm việc của người lao động (beta = 0,665), nhu cầu xã hội có ảnh hưởng ít  
nhất đến động lức làm việc của người lao động (beta = 0,157).  
Trên cơ sở mối quan hệ tương quan tuyến tính của các bậc nhu cầu trong tháp nhu cầu  
đối với động lực làm việc của người lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng,  
tác giả gợi ý một số kiến nghị nhằm thỏa mãn các bậc nhu cầu của người lao động, từ đó gia  
tăng động lực làm việc cho người lao động trong các doanh nghiệp vận tải tại Hải Phòng, cụ  
thể:  
Về nhu cầu sinh học: nhu cầu sinh học của người lao động được thể hiện qua chính  
sách tiền lương và các khoản thu nhập ngoài lương từ công việc hiện tại. Để gia tăng động lực  
làm việc cho người lao động, doanh nghiệp cần có chính sách tiền lương, thưởng phù hợp với  
493  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
hiệu quả làm việc. Chính sách tiền lương cần được công khai minh bạch để người lao động  
đều biết cách tính lương của mình.  
Về nhu cầu an toàn: điều kiện làm việc an toàn luôn là yếu tố gắn kết người lao động  
với doanh nghiệp, đặc biệt là ngành vận tải, khi mà rủi ro cao hơn những ngành khác. Đối với  
lao động trực tiếp, doanh nghiệp cần có các phương tiện hỗ trợ cho người lao động và chế độ  
chính sách để người lao động được tái sức lao động nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình  
thực hiện công việc. Chế độ phúc lợi hàng năm, luôn được người lao động đánh giá cao, đây  
là cơ sở để tạo động lực và sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp. Mặt khác, doanh  
nghiệp cần xây dựng văn hóa doanh nghiệp vững chắc, giúp người lao động xác định được  
mục tiêu, phương hướng hoạt động của doanh nghiệp, từ đó khiến người lao động xác định  
được tinh thần gắn bó lâu dài và ổn định với doanh nghiệp.  
Về nhu cầu xã hội: mối quan hệ đồng nghiệp và mối quan hệ với cấp trên luôn là yếu  
tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm lý người lao động, có vai trò quan trọng trong việc tạo  
động lực và duy trì lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp. Để cải thiện mối  
quan hệ giữa các đồng nghiệp trong doanh nghiệp, các nhà quản trị cần tổ chức các chương  
trình làm việc theo đội nhóm và đánh giá kết quả theo đội nhóm nhằm tăng tinh thần gắn bó  
đoàn kết trong công việc của người lao động. Mặt khác doanh nghiệp tổ chức và duy trì các  
cuộc thi văn nghệ, thể thao vào các dịp lễ tết, đây là những hoạt động vừa giúp người lao  
động giải trí, thư giãn và vừa gắn kết người lao động với nhau.  
Về nhu cầu được tôn trọng: sự tôn trọng của đồng nghiệp và lãnh đạo luôn được người  
lao động đánh giá cao. Muốn nhân viên gắn bó và cống hiến với doanh nghiệp, các nhà quản  
trị cần gia tăng mức độ cảm nhận của người lao động về sự công bằng trong đánh giá, khen  
thưởng cũng như tạo điều kiện thăng tiến cho nhân viên. Khi nhân viên vi phạm, lãnh đạo cần  
phải giữ thể diện cho nhân viên, tránh khiển trách, la mắng trước mặt nhân viên khác, mà cần  
gặp gỡ riêng để tìm hiểu nguyên nhân. Việc khen chê đúng lúc, đúng chỗ sẽ khiến người lao  
động cảm nhận được sự quan tâm và tôn trọng, từ đó họ sẽ có động lực làm việc cao hơn,  
giảm thiểu những sai phạm trong quá trình lao động.  
Về nhu cầu tự hoàn thiện bản thân: cơ hội được đào tạo và thăng tiến luôn là một yếu  
tố duy trì lòng trung thành và động lực làm việc cho người lao động đối với doanh nghiệp. Do  
đó các nhà quản trị cần phải có kế hoạch đào tạo hàng năm cho nhân viên và có lộ trình thăng  
tiến nghề nghiệp cho nhân viên một cách công bằng, minh bạch để toàn thể người lao động  
thấy được và phấn đấu đạt được mục tiêu thăng tiến.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
T i liệu trong nƣớc  
1. Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, NXB  
Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.  
2. Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2007), Giáo trình quản trị nhân lực,  
NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội.  
3. Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy (2011), “Thang đo động viên nhân  
viên”, Tạp chí Phát triển Kinh tế số: 244 năm: 2/2011.  
4. Trương Minh Đức (2011), “Ứng dụng mô hình định lượng đánh giá mức độ tạo  
động lực làm việc cho nhân viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn ERICSSON Việt Nam”, Tạp  
chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh Doanh (số 27), trang 240 – 247.  
494  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
5. Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghi (2014), “Xây dựng khung lý thuyết về  
động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ,  
Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục: 32 (2014): 97-105.  
6. Bùi Thị Xuân Mai (2011), bài giảng môn Tâm lý xã hội học lao động, trường Đại  
học Lao động Xã hội, Hà Nội.  
7. Vũ Thị Uyên (2007), Tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp  
nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại  
học Kinh tế Quốc Dân.  
TÀI LIỆU NƢỚC NGOÀI  
1. Bartol, K.M & Martin, D.C (1998), Management, rd ed., McGraw-Hill.New York,  
NY.  
2. Denibutun, S.Revda (2012), “Work Motivation: Theoretical Framework”, Journal  
on GSTF Business Review, Vol.1, No.4, pp.133-139.  
3. Douglas McGregor et al (1960), The human side of enterprise, McGraw Hill  
Professional.  
4. Gambrel, Patrick A. and Cianci, Rebecca (2003), “Maslow’s Hierarchy of Needs:  
does it apply in a collectivist culture”, Journal of Applied Management and Entrepreneurship,  
Vol. 8, No.2, pp.143-161.  
5. Halepota, Hassan Ali (2005), “Motivational Theories and Their Application in  
Construction”, Cost Engineering, Vol.47, Issue 3.  
6. Herzberg Frederick, Mausned and Snyderman (1959), The Motivation of Work,  
Harvard Business Review Classics, New York.  
7. Lawler, E (1973), Motivation in work organizations, Monterrey, CA:Books/Cole.  
8. Maslow, Abraham H. (1943), “A Theory of Human Motivation”, Psychological  
Review, Vol. 50, No.4, pp.370 – 396.  
495  
pdf 13 trang Thùy Anh 17580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình tháp nhu cầu của người lao động trong các doanh nghiệp vận tải hàng hóa tại Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_thap_nhu_cau_cua_nguoi_lao_dong_trong_cac_doanh_nghi.pdf