Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh viên ngành kinh tế tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 41, 2019
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC
CỦA SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ TꢀI TRƯỜNG ĐꢀI HỌC
CÔNG NGHIỆPTHÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM XUÂN GIANG, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt. Thời gian gần đây tuyển sinh cao học và nghiên cứu sinh của trường Đại học Công nghiệp thành
phố Hồ Chí Minh có khuynh hướng giảm. Bởi vậy, việc nhận diện nguyên nhân, tìm cách gia tăng ý định
học cao học của sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp đại học-nguồn tuyển sinh cao học quan trọng- là một việc
làm cần thiết. Trên cơ sở khảo sát 270 sinh viên năm 3 và 4 thuộc khối ngành kinh tế, kết quả xử lý dữ liệu
điều tra trên phần mềm SPSS 20 cho thấy, thực sự có 4 yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh
viên kinh tế. Đó là: Chuẩn chủ quan, Thái độ đối với học cao học, Danh tiếng của Trường và Sự kiểm soát
hành vi được cảm nhận.
Theo đó, 4 hàm ý quản trị được rút ra từ kết quả nghiên cứu. Những hàm ý này có thể được áp dụng để gia
tăng ý định và tiếp theo là quyết định học cao học của sinh viên kinh tế sau khi tốt nghiệp đại học tại trường
Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh.
Từ khóa. IUH; TP.HCM; Sinh viên kinh tế; Năm 3 và 4; Cronbach’Alpha; EFA; Hồi quy đa biến
FACTORS AFFECTING THE INTENTION TO CONTINUE STUDYING AT
MASTER LEVEL OF ECONOMICS STUDENTS AT
THE INDUSTRIAL UNIVERSITY OF HOCHIMINH CITY
Abstract. Recently, the enrollments for master and PhD degree in the Industrial University of Hochiminh
city tend to decrease. Therefore, identifying the cause, seeking solutions for increasing the student's
intention to study the graduate level after undergraduate from University - an important source of graduate
enrollments - is essential. Based on the survey of 270 3rd and 4th year students of the economic sector, the
results of processing survey data on SPSS 20 software show that there are actually 4 factors affecting the
intention of studying at the graduate level of the students of economic sector. These are: Subjective norms,
Attitudes towards Graduate Studies, School's Reputation and Perceived Behavior Control. Accordingly, 4
managerial implications are drawn from the research results. These implications can be used to increase the
intention and then the decision of studying graduate of economics students after graduating from Industrial
University of Ho Chi Minh City.
Keywords. IUH, Hochiminh city, Economic Students, 3rd and 4th, Cronbach’ Alpha, EFA, Multiple
regression.
1. GIỚI THIỆU
Một số sinh viên nói chung, sinh viên thuộc khối ngành kinh tế của trường Đại học Công nghiệp thành
phố Hồ Chí Minh (IUH) nói riêng sau khi tốt nghiệp có nhu cầu học lên bậc cao học. Việc họ muốn học
lên bậc cao hơn có thể vì nhiều lý do, như: để có thêm kiến thức, để dễ tìm kiếm việc làm, để có bằng cấp
cao hơn hay vì yêu cầu của gia đình, rủ rê của bạn bè…
IUH là trường Đại học đa ngành, đa bậc học, trong đó, ngành kinh tế có 4 khoa, là: Quản trị kinh doanh
(QTKD), Kế toán Kiểm toán (KTKT), Tài chính Ngân hàng (TCNH) và Thương mại Du lịch
(TMDL).Trường có quy mô đào tạo hàng năm khoảng trên 40.000 sinh viên, học viên cao học và nghiên
cứu sinh. IUH là trường Đại học tự chủ tài chính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) và đang
từng bước phát triển để trở thành trường trọng điểm quốc gia. Tuy vậy, việc tuyển sinh trong những năm
gần đây của IUH đã xảy ra tình trạng, số thí sinh dự tuyển vào bậc đại học tăng cao hàng năm nhưng số học
viên cao học và nghiên cứu sinh lại có khuynh hướng giảm. Thậm chí, gần đây có ngành không tuyển sinh
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
86
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
được, còn khối ngành kinh tế, có lớp chỉ tuyển được 5-6 học viên. Trước tình trạng đó, việc tìm hiểu ý định
học lên bậc cao học của sinh viên năm thứ ba và thứ tư ngành kinh tế, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị
nhằm làm tăng ý định và sau đó là quyết định học cao học của nhóm sinh viên này là điều cần thiết cho
IUH. Chính vì vậy mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là:
▪
▪
▪
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh viên khối ngành kinh tế thuộc IUH
Đo lường và kiểm định mức độ ảnh hưởng của chúng đến ý định học cao học
Đề xuất một số hàm ý quản trị cho IUH nhằm tăng cường ý định học cao học của sinh viên khối ngành
kinh tế
Để đạt được ba mục tiêu nghiên cứu trên đây, bài báo sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính:
▪
Phương pháp nghiên cứu định tính
Được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận trực tiếp với 5 giảng viên và chuyên viên của IUH và 4
sinh viên học năm cuối của khối ngành kinh tế có ý định học thạc sĩ, dựa trên một dàn bài được thiết lập
trước nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung thang đo và biến quan sát
▪
Phương pháp nghiên cứu định luợng, gồm:
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Dữ liệu dùng trong nghiên cứu này được điều tra thuận tiện từ 30 sinh viên kinh tế năm 3 và 4 có ý
định học cao học, được kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm mục đích
đánh giá sơ bộ thang đo và biến quan sát. Ngoài ra, việc thực hiện buớc nghiên cứu này còn là cơ sở để
điều chỉnh từ ngữ, nội dung của bảng hỏi qua việc không hiểu hoặc hiểu không đồng nhất của những sinh
viên được điều tra.
- Nghiên cứu định lượng chính thức
Được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20 dựa trên dữ liệu điều tra từ 270 sinh viên khối ngành kinh tế
có ý định học cao học nhằm xác định chính xác yếu tố nào thực sự có ảnh hưởng đến ý định học cao học
và mức độ ảnh hưởng của chúng. Từ kết quả nghiên cứu, các hàm ý quản trị nhằm làm tăng ý định học cao
học của sinh viên kinh tế được đưa ra để IUH tham khảo.
Vì khuôn khổ có giới hạn, nên nội dung của bài báo chỉ được thể hiện kết quả nghiên cứu định lượng chính
thức.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
Ý định là ý muốn làm một việc gì đó. Theo Ajzen (2002), ý định hành vi là hành động của con người
được hướng dẫn bởi sự cân nhắc 03 yếu tố: niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào
sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh thì ý định thực hiện hành vi càng lớn.
Ý định học cao học là ý muốn và sự sẵn lòng của một cá nhân sẽ vào học bậc cao học nhằm đạt được
học vị thạc sĩ. Theo Vietads (2016), học vị thạc sĩ trong tiếng Anh được gọi là Master. Đây là một học vị
trên bậc cử nhân, dưới bậc tiến sĩ.
Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) được xây dựng bởi Ajzen và Fishbein (1975), lý thuyết hành vi có kế
hoạch (TPB) được phát triển bởi Ajzen (1991), lý thuyết của Taylor và Todd (1995), Compeau và Higgins
(1991), Moore và Benbasat (1992) là lý thuyết nền tảng cho vấn đề nghiên cứu.
Theo đó, đã có một số nghiên cứu tiêu biểu về ý định học, ý định chọn trường của các tác giả ngoài nước
và trong nước sau đây:
Nghiên cứu của Chong & ctg (2014) đã chỉ ra ba yếu tố là Đặc điểm cá nhân; Cá nhân có ảnh
hưởng quan trọng và Hỗ trợ tài chính có ảnh hưởng đến ý định của sinh viên tiếp tục theo học chương trình
cao hơn tại Malaysia .
Nghiên cứu của Ng, S.F & ctg (2011) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học lên tiến sĩ tại
Malaysia. Theo đó, ý định học lên bậc tiến sĩ của sinh viên chịu ảnh hưởng của sáu yếu tố là Cơ hội nghề
nghiệp; Đặc điểm cá nhân; Công việc liên quan đến kiến thức; Hỗ trợ tài chính; Chương trình đào tạo và
Hỗ trợ xã hội.
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
87
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Koe.W & Saring.S (2010) cho rằng có sáu yếu tố ảnh hưởng đến ý định theo học tại trường đại
học công lập của sinh viên nước ngoài tại Malaysia. Sáu yếu tố đó là Vị trí của trường; Học phí thấp; Danh
tiếng; Chương trình đào tạo; Cơ sở vật chất và Hình ảnh đất nước.
Nghiên cứu của Jager, J.W.D & Soontiens, W. (2009) về các yếu tố Hình ảnh và Sự kỳ vọng vào
chương trình của các trường Đại học ở Nam Phi và Malaysia có hay không có ảnh hưởng đến việc chọn
trường đại học tại 02 quốc gia này. Theo đó, có ba yếu tố là Việc quản lý danh tiếng của trường và quảng
bá hình ảnh, Hỗ trợ học phí và Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc lựa chọn học lên đại
học ở Nam Phi và Malaysia.
Nghiên cứu của Haur.L (2006) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học lên cao hơn của học sinh
Malaysia. Kết quả chỉ ra các yếu tố: Học phí; Chương trình đào tạo; Cơ sở vật chất của trường; Chất lượng
chương trình học; Thông tin về trường và Ý kiến của những người ảnh hưởng đều có ảnh hưởng đến ý định
học lên.
Nghiên cứu của Hồ Trúc Vi và Phan Trọng Nhân (2018) về ý định học cao học của sinh viên IUH.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có bốn yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao học là Thái độ dẫn đến hành vi;
Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi và Trung thành thương hiệu.
Nghiên cứu của Phan Thị Thanh Thủy và Nguyễn Thị Minh Hòa (2017) về quyết định chọn chương
trình theo học có yếu tố nước ngoài ở Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Theo đó có bảy yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định chọn chương trình học của sinh viên là Nhóm tham khảo; Nhóm nhân tố phù hợp với sở thích
và năng lực cá nhân; Nhóm nhân tố về danh tiếng của chương trình đào tạo; Nhóm nhân tố lợi ích về học
tập; Nhóm nhân tố về cơ hội nghề nghiệp; Nhóm nhân tố về chi phí học tập và Nhóm nhân tố về công tác
truyền thông.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chi (2017) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường Đại
học Kinh tế TP.HCM của học sinh trung học phổ thông. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố: Môi
trường của trường đại học Kinh tế TP.HCM; Ảnh hưởng của gia đình; Thông tin; Tự tin vào bản thân; Động
cơ cá nhân và Được tôn trọng có ảnh hưởng đến ý định chọn học trường này.
Căn cứ vào số lần xuất hiện của từng yếu tố trong các nghiên cứu trên đây kết hợp với kết quả nghiên
cứu định tính và nghiên cứu định lượng sơ bộ, năm yếu tố sau đây (có chỉnh tên gọi) là: Thái độ đối với
học cao học; Chuẩn chủ quan; Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận; Danh tiếng của trường và Chương
trình đào tạo được cân nhắc để đưa vào mô hình nghiên cứu chính thức.
2.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.2.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Thái độ đối với học cao học của sinh viên
Thái độ đối với hành vi là mức độ mà một người đánh giá một hành vi là tích cực hoặc tiêu cực
(Fishbein và Ajzen, 1975). Thái độ là một trạng thái tâm lý diễn tả sự đánh giá một chủ thể với các mức độ
từ thích đến không thích (Eagly và Chaiken, 1993, trích Mitchell và Ring, 2010). Trong nghiên cứu này,
thái độ được dùng để chỉ trạng thái tâm lý là thích hay không thích của sinh viên đối với việc học lên cao
học. Rõ ràng thái độ của sinh viên có ảnh hưởng đến ý định học cao học của họ.
+ Giả thuyết H1: Thái độ đối với việc học cao học có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học.
- Chuẩn chủ quan
Chuẩn chủ quan được định nghĩa như là nhận thức của một người về những áp lực xã hội khiến người
đó thực hiện hay không thực hiện các hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975). Như vậy, chuẩn chủ quan là sự
ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, trước hết là hành động và lời khuyên của những người có liên quan.
Với nghiên cứu này là hành động và lời khuyên của gia đình, thầy cô giáo và người thân,…đến sinh viên.
Chính điều đó làm nảy sinh ý định học cao học của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học tại IUH.
+ Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học.
- Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận
Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận đề cập đến nhận thức về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực
hiện các hành vi (Ajzen, 1991). Ajzen cho rằng sự kiểm soát hành vi là sự cảm nhận của cá nhân về mức
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
88
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
độ dễ hay khó thực hiện một hành vi cụ thể. Và Ông cũng cho rằng sự kiểm soát hành vi sẽ tác động lên ý
định hoặc hành vi dựa trên các kỹ năng, tài nguyên và cơ hội để ngăn chặn, hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho
hành vi đó. Hành vi trong nghiên cứu này là ý định học cao học.
+ Giả thuyết H3: Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học.
- Danh tiếng của trường
Theo từ điển Việt-Việt thì danh tiếng là có tiếng tăm tốt và được nhiều người biết đến. Chắc chắn rất
nhiều người thích được học và tiếp tục được học trong một viện, trường đại học danh tiếng, như: Harvard,
Massachusetts, Glasgow hay là Cambridge. Chính Houston (1979), Krone et all. (1983) đều khẳng định
yếu tố danh tiếng của trường có ảnh hưởng mạnh mẽ lên ý định chọn trường và ý định học lên bậc học cao
hơn.
+ Giả thuyết H4: Danh tiếng trường đại học có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học.
- Chương trình đào tạo
Theo Wikipedia tiếng Việt thì: “Chương trình đào tạo là sự tương tác được lên kế hoạch giữa người
học với nội dung, tài liệu, những nguồn lực, và những quá trình giảng dạy nhằm đánh giá mức độ thành tựu
của những mục tiêu giáo dục”. Krampf & Heinlein (1981) Seneca & TausSig (1987) đều cho rằng chương
trình đào tạo rất quan trọng trong việc thu hút sinh viên. Một chương trình đào tạo tốt và đáp ứng được mục
đích cá nhân sẽ làm nảy sinh ý định học cao học của sinh viên sau khi họ tốt nghiệp đại học.
+ Giả thuyết H5: Chương trình đào tạo có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học.
2.2.2 Mô hình nghiên cứu
Từ sự phân tích trên đây, mô hình nghiên cứu “Ý định học cao học của sinh viên ngành kinh tế thuộc
IUH” được đề xuất như sau:
Thái độ đối với
học cao học
Chuẩn
chủ quan
Ý định học
cao học
Sự kiểm soát
hành vi được
cảm nhận
Danh tiếng
của trường
Chương trình
đào tạo
Sơ đồ 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
89
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.3 Biến quan sát của các thang đo
Từ 27 biến quan sát của sáu thang đo trong mô hình nghiên cứu, sau bước nghiên cứu định tính có ba
biến bị loại. 24 biến còn lại, nguồn trích dẫn và cách mã hóa được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 1. Mã hóa thang đo và biến quan sát của thang đo
MÃ
HÓA
STT
I.
CÁC THANG ĐO VÀ BIẾN QUAN SÁT
Thái độ đối với học cao học
NGUỒN
TD
Ginner và Sorolla
01
TD1
TD2
TD3
Tôi đã hướng tới việc học cao học từ trước
(1999)
Chaniotakis và ctg.
02
03
Học cao học là xứng đáng với số tiền mà tôi phải chi trả
Học cao học sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bản thân
(2010)
de Matos và ctg.
(2007)
Limayem và
ctg.(2000)
04
II.
05
06
07
TD4
Học cao học là một lựa chọn đúng đắn cho bản thân
Chuẩn chủ quan
CCQ
CCQ1
CCQ2
CCQ2
Lựa chọn học cao học sau khi được nhiều người tư vấn,
ủng hộ
Ajzen (1991)
Ajzen (1991)
Thấy nhiều người chọn học cao học nên tôi cũng chọn
Taylor và Todd
Gia đình ủng hộ học cao học
(1995)
Taylor và Todd
08
09
CCQ3
CCQ4
Bạn bè khuyên nên học cao học
(1995)
Taylor và Todd
Thầy, cô khuyến khích học cao học
(1995)
III.
10
SKS
SKS1
SKS2
Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận
Cảm thấy tự tin vào khả năng khi học cao học
Có nhiều điều kiện thuận lợi khi học cao học
Ajzen (1991)
Ajzen (1991)
11
12
Taylor và Todd
SKS3
Có đầy đủ thông tin cụ thể và chi tiết về việc học cao học
(1995)
IV.
13
14
15
V.
DT
DT1
Danh tiếng của trường
Trường có danh tiếng tốt về học thuật
Kitsaward (2013)
Kitsaward (2013)
Kitsaward (2013)
DT2
Trường có uy tín tốt về chất lượng đội ngũ giảng viên
Trường có uy tín tốt về chất lượng đội ngũ sinh viên
Chương trình đào tạo
DT3
CTDT
Trường có nhiều chương trình học và thời gian học khác
nhau trong nhiều lĩnh vực
Kitsaward (2013)
16
CTDT1
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
90
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trường có môi trường đào tạo quốc tế vì có cả sinh viên
và giảng viên người nước ngoài
Kitsaward (2013)
17
CTDT2
18
19
20
CTDT3
CTDT4
CTDT5
YDH
Trường có môi trường học tập và nghiên cứu tốt
Trường có nhiều chương trình trao đổi sinh viên quốc tế
Trường tư vấn và hỗ trợ nguời học nhiệt tình
Ý định học cao học
Kitsaward (2013)
Kitsaward (2013)
Kitsaward (2013)
21
22
YDH1
Tôi đã có kế hoạch học cao học
Ajzen (1991)
Taylor và Todd
YDH2
YDH3
YDH4
Học cao học nằm trong ý định của tôi
(1995)
Taylor vàTodd
23
24
Tôi sẽ học cao học trong thời gian sớm nhất có thể
Tôi thật sự mong đợi được học cao học
(1995)
Limayem và
ctg.(2000)
(Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả)
Tóm lại: Tổng số biến quan sát được đưa vào nghiên cứu định lượng chính thức là 20 của 5 thang đo độc
lập và 4 biến của 1 thang đo phụ thuộc.
2.4 Kết quả nghiên cứu
2.4.1 Xác định kích thước và cơ cấu mẫu
Kích thước mẫu: Theo Hair & ctg (2006) (được trích bởi Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2011) thì kích thước
mẫu tối thiểu phải là 100 với tỷ lệ 5:1 (nghĩa là 1 biến quan sát cần tối thiểu 5 đơn vị điều tra). Mô hình
của nghiên cứu có 24 biến quan sát, vì vậy kích thước mẫu tối thiểu được xác định là 24*5= 120.
Tuy nhiên, để tăng độ chính xác và đề phòng có phiếu điều tra không hợp lệ phải loại bỏ, kích thước
mẫu của nghiên cứu được chọn là 270 sinh viên đang theo học năm thứ ba hoặc năm thứ tư thuộc bốn khoa
QTKD, KTKT, TCNH và TMDL. Với 270 phiếu khảo sát được phát ra, kết quả có 255 phiếu hợp lệ, chiếm
94.4%. Mẫu được chọn theo phương pháp tỷ lệ tương ứng với số sinh viên của từng khoa thuộc khối ngành
kinh tế, cụ thể: Tổng số sinh viên năm 3 và 4 của khối ngành kinh tế là 3,869 sinh viên; tỷ lệ chọn mẫu là
270/3,869=0.069785; lấy tỷ lệ này nhân với tổng số sinh viên năm 3 và 4 của từng khoa sẽ xác định được
số sinh viên được chọn ra để khảo sát. Cụ thể:
- Khoa QTKD= 0.069785*867=60 sinh viên.
- Tương tự, khoa KTKT là 77, khoa TCNH là 61 và khoa TMDL là 72 sinh viên được chọn để khảo sát.
Sinh viên năm 3 và 4 được chọn khảo sát trong từng khoa được thực hiện theo phương pháp thuận tiện theo
lớp học.
Cơ cấu mẫu điều tra được xác định theo các biến kiểm soát: Giới tính (Nam, nữ); Ngành học (QTKD,
KTKT, TCNH, TMDL); Năm học (3, 4) và Mức thu nhập (cao, trung bình, thấp) của gia đình sinh viên.
2.4.2 Kiểm định Cronbach’s alpha
Kiểm định Cronbach’s Alpha với mục đích là loại bỏ các thang đo và biến quan sát không đạt tiêu
chuẩn. Cụ thể: (1)Thang đo bị loại khỏi mô hình nghiên cứu khi có hệ số Cronbach’s Alpha <0.6; và (2)Biến
quan sát bị loại khỏi thang đo khi có hệ số tương quan biến tổng <0.3.
Kiểm định Cronbach’s Alpha cho các thang đo độc lập: Trong 5 thang đo độc lập có 3 thang đo phải
kiểm định Cronbach’s Alpha một lần. Hai thang đo còn lại là “Chuẩn chủ quan-CCQ” và “Chương trình
đào tạo-CTDT” phải kiểm định hai lần. Bởi vì, lần 1 thang đo CCQ có biến CCQ2 “Thấy nhiều người chọn
học cao học nên cũng chọn học theo” và thang đo CTDT có biến CTDT4 “Trường có nhiều chương trình
trao đổi sinh viên quốc tế” đều có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3.
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
91
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2. Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha
Biến
Trung bình thang đo
Phương sai thang đo
Tương quan
Hệ số Alpha
quan sát
nếu loại biến
nếu loại biến
biến - tổng
nếu loại biến
Thái độ đối với học cao học (TD): Cronbach’s Alpha = 0.893
TD1
10.90
9.305
0.760
0.864
TD2
TD3
TD4
10.89
10.79
10.61
9.314
9.236
9.435
0.772
0.770
0.754
0.860
0.860
0.866
Chuẩn chủ quan (CCQ): Cronbach’s Alpha = 0.895 (chạy lần 2)
CCQ1
CCQ3
CCQ4
CCQ5
10.67
10.33
10.33
10.73
10.790
10.449
11.222
10.539
0.732
0.843
0.798
0.714
0.878
0.837
0.856
0.887
Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận (SKS): Cronbach’s Alpha = 0.841
SKS1
SKS2
SKS3
6.09
6.03
5.98
2.323
2.015
2.078
0.714
0.730
0.682
0.777
0.755
0.804
Danh tiếng (DT): Cronbach’s Alpha = 0.899
DT1
DT2
DT3
6.35
6.55
6.50
2.212
2.438
2.574
0.832
0.786
0.788
0.829
0.867
0.867
Chương trình đào tạo (CTDT): Cronbach’s Alpha = 0.842 (chạy lần 2)
CTDT1
CTDT2
CTDT3
CTDT5
10.91
10.84
10.91
10.49
5.306
5.078
5.180
4.912
0.686
0.665
0.680
0.680
0.798
0.805
0.799
0.800
(Nguồn: Xử lý của nhóm tác giả)
Kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo phụ thuộc: Kết quả kiểm định thang đo phụ thuộc “Ý định
học cao học-YDH” đạt yêu cầu. Cụ thể: hệ số Cronbach’s Alpha là 0.890>0.6, đồng thời cả bốn biến quan
sát đều đạt yêu cầu để đưa vào bước phân tích tiếp theo.
Tóm lại: Sau kiểm định Cronbach’s Alpha, còn lại 18 biến quan sát của 5 thang đo độc lập và 4 biến
quan sát của 1 thang đo phụ thuộc
2.4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Mục đích của phân tích này là nhằm loại những biến quan sát có hệ số tải nhân tố (factor loading) nhỏ
hơn 0.5 và kiểm tra độ lớn của phương sai trích.
Phân tích EFA cho thang đo độc lập:
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
92
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 3. KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin
Adequacy.
Measure
of
Sampling
.783
Approx. Chi-Square
2,683.633
153
Bartlett's
Sphericity
Test
of
df
Sig.
.000
▪ Hệ số KMO bằng 0.783>0.5 nên phân tích nhân tố là phù hợp với dữ liệu thực tế.
▪ Kiểm định Bartlett có giá trị sig = 0.000<0.05 chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong
tổng thể.
▪ Tại mức giá trị Eigenvalue 1.705>1 của phương pháp trích Principal Components, đã rút trích được 5
nhân tố từ 18 biến quan sát.
▪ Phương sai trích bằng 76.382% >50%, có nghĩa là 76.382% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích
bởi 5 nhân tố.
Bảng 4. Ma trận xoay nhân tố
Nhân tố được rút trích
Ký hiệu biến
quan sát
TT
1
2
3
4
5
1
2
CCQ3
CCQ4
CCQ1
CCQ5
TD2
0.916
0.869
0.833
0.815
3
4
5
0.874
0.86
6
TD1
7
TD3
0.842
0.831
8
TD4
9
CTDT5
CTDT1
CTDT3
CTDT2
DT1
0.831
0.83
0.81
0.81
10
11
12
13
14
15
16
17
18
0.92
DT2
0.872
0.869
DT3
SKS2
SKS1
SKS3
0.878
0.864
0.847
76.382
1.705
Phương sai trích (%)
Eigenvalues
4.730
3.001
2.322
1.991
(Nguồn: Xử lý của nhóm tác giả)
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
93
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phân tích EFA cho thang đo phụ thuộc:
Kết quả phân tích cho thang đo phụ thuộc “Ý định học-YDH” có kết quả:
▪ Hệ số KMO bằng 0.829>0.5 nên phân tích nhân tố là phù hợp với dữ liệu thực tế.
▪ Kiểm định Bartlett có giá trị sig = 0.000<0.05, chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong
tổng thể.
▪ Tại mức giá trị Eigenvalue 3.019>1 của phương pháp trích Principal Components, đã rút trích được 1
nhân tố từ 4 biến quan sát.
▪ Phương sai trích là 75.464%>50%, thể hiện 75.464% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 1
nhân tố.
Mô hình hiệu chỉnh sau bước phân tích EFA như sau:
Thái độ đối với
học cao học
Chuẩn
chủ quan
Ý định học
cao học
Sự kiểm soát
hành vi được
cảm nhận
Danh tiếng của
trường
Chương trình
đào tạo
Sơ đồ 2. Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh
2.4.4 Phân tích hồi quy đa biến
- Kết quả tương quan:
Bảng 5. Hệ số tương quan
Correlations
TD
CCQ
.579**
.000
255
SKS
.244**
.000
255
DT
CTDT
.124*
.047
YDH
1
YDH
Pearson Correlation
Sig. (2-tailed)
N
.552**
.000
255
.422**
.000
255
255
255
Ghi chú: **:Tương quan có ý nghĩa ở mức 0,01 (2 phía)
(Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả (trích)
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
94
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Kết quả (trích) trong bảng trên cho thấy các biến độc lập đều có tương quan dương với mức ý nghĩa
<0.05. Cụ thể: Tuơng quan lớn nhất của YDH với CCQ bằng 57.9%, tiếp theo là với TD bằng 55.2%, với
DT bằng 42.2%, với SKS bằng 24.4% và cuối cùng yếu nhất là với CTDT bằng 12.4%.
- Kết quả hồi quy đa biến:
Kết quả hồi quy lần 1 cho thấy, trong 5 biến độc lập thì biến “Chương trình đào tạo-CTDT” bị loại
khỏi mô hình nghiên cứu vì Sig >0.05. 4 biến còn lại đều có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc với mức ý nghĩa
<0.05.
Bảng 6. Hệ số hồi quy lần 1
Hệ số chưa
chuẩn hóa
Hệ số chuẩn
hóa
Thống kê đa cộng
tuyến
Mô hình
(hằng số)
t
Sig
B
Std. Error
0.238
Beta
Tolerance
VIF
0.104
0.263
0.294
0.096
0.188
0.084
0.439 0.661
7.718 0.000
9.414 0.000
2.079 0.039
4.174 0.000
1.923 0.056
TD
0.034
0.354
0.426
0.091
0.192
0.083
0.850
0.871
0.933
0.846
0.959
1.177
1.148
1.072
1.181
1.043
CCQ
SKS
DT
0.031
1
0.046
0.045
CTDT
0.044
(Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả)
Kết quả hồi quy lần 2 như sau:
Bảng 7. Phương sai
Model
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
.000a
Regression
Residual
Total
76.760
63.144
139.904
4
19.190
.253
75.978
1
250
254
(Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả)
Bảng trên cho thấy: F=75.978 và Sig = 0.000 <0.05 chứng tỏ mô hình lý thuyết phù hợp với thực tế,
các biến độc lập có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc.
Bảng 8. Giá trị của các hệ số xác định
Mô hình
R
R bình
phương
R bình phương
hiệu chỉnh
Sai số chuẩn ước
lượng
Hệ số Durbin-Watson
.741a
.549
.541
.5025692
1.897
1
(Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả)
Bảng 8 cho thấy, hệ số tương quan của mô hình bằng 74.1% và hệ số xác định hiệu chỉnh bằng 54.1%.
Điều này chứng tỏ 54.1% “Ý định học cao học” của sinh viên được giải thích bởi 4 biến độc lập. Đồng thời
mô hình không có hiện tượng tự tương quan vì hệ số Durbin-Watson (d=1.897) nằm trong khoảng 1-3.
Thêm nữa, kết quả kiểm định Spearman cho phép khẳng định, mô hình cũng không có hiện tượng phương
sai phần dư thay đổi.
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
95
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 9. Hệ số hồi quy
Unstandardized
Coefficients
Standardized
Coefficients
Collinearity Statistics
Model
(Constant)
B
Std. Error
Beta
t
Sig.
.061
Tolerance
VIF
1
.368
.269
.287
.098
.199
.195
.034
.031
.046
.045
1.882
7.917
9.196
2.103
4.426
TD
.363
.415
.092
.203
.000
.000
.036
.000
.859
.885
.934
.860
1.164
CCQ
SKS
DT
1.129
1.071
1.163
(Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả)
Phương trình hồi quy tuyến tính với hệ số beta chuẩn hóa từ bảng trên có dạng:
YĐH= 0,415*CCQ+ 0,363*TD + 0,203*DT +0,092*SKS
Bảng 9 cũng cho thấy, hệ số VIF <10 (nằm trong khoảng từ 1.071 đến 1.164) chứng tỏ dữ liệu nghiên
cứu không có hiện tượng đa cộng tuyến. Giả thuyết H5 bị bác bỏ, bốn giả thuyết còn lại là H1, H2, H3 và
H4 đều được chấp nhận. Bốn biến độc lập tương ứng có tác động thuận chiều lên biến phụ thuộc.
3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ HÀM Ý QUẢN TRỊ
3.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu
Số phiếu khảo sát của nghiên cứu là 270, hợp lệ 255 chiếm 94.4%. Kết quả xử lý dữ liệu cho thấy, có
bốn yếu tố thực sự ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh viên năm 3 và 4 thuộc khối ngành kinh tế.
Thứ tự ảnh hưởng của chúng là: (1) Chuẩn chủ quan, (2) Thái độ đối với học cao học,
(3) Danh tiếng của Trường và (4) Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận.
Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hồ Trúc Vi và Phan Trọng Nhân
(2018), Nguyễn Thị Kim Chi (2017), Chong & ctg (2014), Koe.W & Saring.S (2010) và Haur. L (2006).
Tuy nhiên, do thời gian và địa điểm nghiên cứu, số biến trong mô hình nghiên cứu, kích thước mẫu khác
nhau nên mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố giữa các nghiên cứu là không thể giống nhau.
Yếu tố Chương trình đào tạo không ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh viên năm 3 và 4 trong
mẫu nghiên cứu có thể là do sinh viên quan tâm nhiều hơn đến bằng thạc sĩ mà ít quan tâm đến việc sẽ được
kiến thức gì trong học cao học hoặc chương trình này không khác nhiều so với chương trình đào tạo đại
học mà họ vừa học xong,...
3.2 Một số hàm ý quản trị
3.3.1 Hàm ý đối với yếu tố “Chuẩn chủ quan-CCQ”
Đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định học cao học của sinh viên kinh tế với beta bằng 0.415.
Vì vậy, hàm ý cho yếu tố này là tìm cách tác động không chỉ đối với sinh viên mà còn đối với gia đình,
người thân và bạn bè của họ về lợi ích của việc học cao học. Để từ đó, các đối tượng này động viên, khuyến
khích con, em, bạn bè mình tiếp tục học lên. Muốn vậy, khi quảng bá trực tiếp hay trực tuyến công tác
tuyển sinh đại học, IUH nên kết hợp với việc quảng cáo các chương trình cao học.
Và hơn thế nữa, trong giờ giải lao hoặc sắp kết thúc môn học, giảng viên của IUH cần tranh thủ ít phút
nói về lợi ích và từ đó khuyến khích, động viên sinh viên năm 3 và 4 học cao học sau khi đã tốt nghiệp đại
học. Sự tác động của những đối tượng này sẽ hình thành một khuynh hướng ứng xử mới, làm nảy sinh ý
định học cao học của sinh viên.
3.3.2 Hàm ý đối với yếu tố “Thái độ đối với học cao học-TD”
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến “Thái độ đối với học cao học” có ảnh hưởng mạnh thứ hai đến ý
định học cao học của sinh viên với beta bằng 0.363. Bởi vậy, IUH cần thông tin đến sinh viên về lợi ích
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
96
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
của việc học lên, như: học cao học là một sự đầu tư đúng đắn cho tương lai, học cao học sẽ nâng cao trình
độ chuyên môn, dễ được thăng tiến trong công việc và rất thuận lợi vì được tiếp tục học tập ngay sau khi
tốt nghiệp đại học…Khi có những thông tin này, chắc chắn sẽ dần hình thành nơi sinh viên một thái độ
tích cực là tiếp tục học cao học.
Nhưng “trăm nghe không bằng mắt thấy”, IUH nên sử dụng những em sinh viên chuyển tiếp học cao
học tại trường làm hình ảnh khuyến khích sinh viên năm 3 và 4 tiếp tục học lên. Điều này càng có ảnh
hưởng khi thực hiện trong các buổi giới thiệu chương trình học của năm cuối và định hướng nghề nghiệp
cho sinh viên sau khi ra trường.
3.3.3 Hàm ý đối với yếu tố “Danh tiếng của trường-DT”
Đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh thứ ba đến ý định học cao học của sinh viên với beta bằng 0.203. Ngoài
ra, đánh giá của sinh viên về danh tiếng của IUH chỉ ở mức độ trung bình (Mean=3.2). Theo đó, để phát
triển danh tiếng, IUH đang đẩy mạnh kiểm định quốc tế các chương trình giảng dạy, phấn đấu đến năm
2022 tất cả các chương trình của trường được kiểm định đạt kết quả. Song song đó, trường cần tạo điều
kiện tốt nhất cho giảng viên được đi học thêm, tuyển dụng giáo viên có học vị tiến sĩ, ký hợp đồng với một
số giảng viên quốc tế có uy tín vào trường giảng dạy, hướng dẫn tốt nghiệp,… khuyến khích cả bằng vật
chất và tinh thần cho những giảng viên có bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín; đẩy mạnh
đấu thầu các đề tài khoa học cấp Thành phố, Bộ và cấp Nhà nuớc; tham gia giải quyết những vấn đề thực
tế về kinh tế, kỹ thuật mới nảy sinh trong xã hội; nâng cấp giáo trình và bài giảng; cải tạo cơ sở vật chất
hiện có, đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường mới tại quận 12 mang tầm quốc gia và quốc tế.
Bên cạnh đó, các khoa, viện của IUH cần xác định chính xác tỷ lệ sinh viên của đơn vị mình sau tốt
nghiệp có việc làm, đồng thời liên hệ chặt chẽ với doanh nghiệp, tổ chức có sử dụng sinh viên để nhận biết
điểm mạnh, yếu của họ. Trên cơ sở đó, các khoa, viện cần cập nhật và điều chỉnh chương trình đào tạo một
cách phù hợp, sát với yêu cầu của thực tiễn.
3.3.4 Hàm ý đối với yếu tố “Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận”
Đây là yếu tố ảnh hưởng yếu nhất đến ý định học cao học của sinh viên với beta bằng 0.92 và được
sinh viên đánh giá ở mức trung bình (Mean=3.0). Điều này có nghĩa, sinh viên chưa thật tự tin vào khả
năng của bản thân để học cao học và thiếu thông tin cụ thể về chương trình học.
Để sinh viên có thể tự tin hơn vào khả năng học cao học cần phải có sự động viên, khích lệ của thầy,
cô giáo, gia đình và người thân. Phải cho họ thấy rằng, việc tiếp tục học cao học sau khi tốt nghiệp đại học
đối với họ là thuận lợi hơn so với những học viên khác. Sự thuận lợi này bao gồm, họ được liên tục học tập
tại trường, quen thầy, cô, quen bạn bè và đã “quen” học. Sự đứt quãng trong học tập làm cho người ta cảm
thấy khó khăn hơn khi đi học trở lại. Chính vì vậy, những sinh viên học cao học ngay sau khi tốt nghiệp đại
học thường có kết quả học tập cao hơn những học viên khác trong cùng một lớp.
Nếu sinh viên kinh tế năm 3 và 4 biết được điều đó, cộng thêm việc họ có đầy đủ, cụ thể và chi tiết
thông tin học cao học từ sự cung cấp, quảng bá của các khoa chuyên ngành, phòng Sau đại học, phòng Đào
tạo sẽ thúc đẩy họ quyết tâm học cao học trong thời gian tới tại trường.
4. HꢀN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Thứ nhất, kích thước mẫu điều tra chưa lớn và nghiên cứu chỉ thực hiện cho riêng khối ngành kinh tế
của IUH.
Thứ hai, mức độ phù hợp của mô hình chưa cao chỉ với 54.1%, chứng tỏ còn những yếu tố khác ảnh
hưởng đến ý định học cao học mà chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu.
Thứ ba, việc lấy mẫu được thực hiện qua hai bước. Buớc một, chọn số lượng sinh viên khảo sát của
từng khoa trong số bốn khoa thuộc khối ngành kinh tế theo phương pháp tỷ lệ. Nhưng đến buớc hai, khảo
sát sinh viên trong từng khoa lại được thực hiện theo phương pháp thuận tiện, phi xác suất. Với cách chọn
mẫu như ở bước thứ hai có thể làm ảnh hưởng đến tính đại diện của mẫu nghiên cứu.
Do đó, hướng nghiên cứu tiếp theo là tăng cường tính đại diện của mẫu nghiên cứu bằng cách tăng
kích thước mẫu và lấy mẫu sinh viên để điều tra trong bước hai cũng thực hiện theo phương pháp tỷ lệ dựa
trên tổng số sinh viên năm 3, năm 4 của từng khoa và sĩ số của mỗi lớp học. Đồng thời chọn, đưa thêm vào
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
97
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
mô hình nghiên cứu một số yếu tố mới và tiến hành nghiên cứu trên phạm vi toàn trường. Kết quả là các
hàm ý quản trị sẽ có tính phổ quát cao hơn cho cả trường Đại học Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ajzen. I & Fishbein. (1975). Belief, attitude, intention and behaviour: An introduction to theory and reasearch.
Reading, Mass: Addision – Wesley.
[2] Ajzen. I. (1991). The theory of planned behaviour: Organizational behavior and human decision process. Science
Direct, 50 (2), 179 – 211
[3] Ajzen, I. (2002). Perceived Behavioral Control, Self-Efficacy, Locus of Control, and the Theory of Planned
Behavior. Journal of Applied Social Psychology, 32, 665-683.
[4] Chong.C, Lin.L, Chuen. L, Chai.T & Yi. Y. (2014). A study on factors influencing students’ intention to pursue
higher education. Malaysia: Tunku Abdul Rahman university.
[5] Compeau, Deborah and Christopher Higgins. (1991). The Development of a Measure of Computer Self-Efficacy.
ASAC 1991 Conference, 34-48.
[6] Durbin, J. and Watson, G.S. (1951). Testing for Serial Correlation in Least Squares Regression. II. Biometrika,
38, 159-177.
[7] Eagly, A. H., & Chaiken, S. (1993). The Psychology of Attitudes. Orlando, FL: Harcourt Brace Jovanovich College
Publishers.
[8] Hair, J., Black, W., Babin, B., Anderson, R. and Tatham, R. (2006). Multivariate Data Analysis (6th ed). Pearson
Prentice Hall, Upper Saddle River.
[9] Haur. L. (2009). Higher education marketing concerns: Factors influencing Malaysia students’ intention to study
at higher educational institutions. Malaysia: University of Malaya.
[10] Hồ Trúc Vi và Phan Trọng Nhân. (2018). Tạp chi Khoa học Đại học Đà Lạt, 8 (18), 23 – 27.
[11] Houston. M (1979). Cognitive structure and information search patterns of prospective graduate business
students. Advance in consumer research, 7, 552.
[12] Jager, J.W.D & Soontiens, W. (2009). The image and Academic Expectations of South African and Malaysian
University students. International Journal of Business Excellence. 2(3 – 4), 285 – 300.
[13] Koe.W & Saring.S. (2010). Factors Influencing the Foreign Undergraduates’ Intention to Study at Graduate
School of a Public University. Journal Kemanusiaan Bil, 19, 57 – 65.
[14] Krampf, P.F. & Heinlein. (1981). Developing marketing strategy and tactics in higher education through target
market research. Decision Sciences, 12 (2), 175 – 193.
[15] Kron, F., Gilly, M. Zeithaml, V & Lamb, C. (1983). Factor influencing the Graduate Business school decision.
American marketing association educator’s proceedings. Chicago: IL.
[16] Moore, Gary and Izak Benbasat. (1992). Development of an Instrument to Measure the Perceptions of Adopting
an Information Technology Innovation. Information Systems Research, 2 (3), 192-222.
[17] Ng, S.F, Nik Muhd, N.M, K.A, and Ismail, N. (2011). Influential factors to pursue doctorate degree in Malaysia.
Procedia social and behavirol sciences 15, 2028-2032.
[18] Nguyễn Thị Kim Chi. (2017). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường Đại học Kinh tế TP.HCM của học
sinh Trung học Phổ thông. TP.HCM: Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM.
[19] Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory (3rd ed.). New York: McGraw-Hill.
[20] Phan Thị Thanh Thủy và Nguyễn Thị Minh Hòa. (2017). Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định Chọn theo học
chương trình đào tạo có yếu tố nước ngoài ở trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Tạp chí khoa học – Đại học
Huế, 126 (5A), 29-42.
[21] Seneca, J & TausSig, M (1987). The effect of tuition and financial aid on the enrolment decision at a State
unviversity. Research in higher education, 26, 337.
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
98
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN
NGÀNH KINH TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[22] Taylor, S., & Tood, P. (1995). Decomposition and crossover effects in the theory of planned behavior: A study
of consumer adoption intentions. International Journal of Research in Marketing, 12, 137-156.
[23] Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (2018). Số liệu nội bộ của Phòng Đào tạo 2018.
[24] Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (2018). Giới thiệu Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí
[25] Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (2018). Tầm nhìn - Sứ mạng - Mục tiêu chiến lược. Truy xuất
[26] VietAds. (2016). Cao học là gì? Tìm hiểu về Cao học? Truy xuất từ https://vietadsgroup.vn/hoi-dap-la-gi-/thac-
Ngày nhận bài: 24/07/2019
Ngày chấp nhận đăng: 05/08/2019
.
© 2019 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh viên ngành kinh tế tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cac_yeu_to_anh_huong_den_y_dinh_hoc_cao_hoc_cua_sinh_vien_ng.pdf

