Cơ chế hợp tác trong chuỗi cung ứng mặt hàng mực ống - Trường hợp công ty Cổ phần Cafico Việt Nam
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
CƠ CHẾ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG MỰC ỐNG
- TRƢỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN CAFICO VIỆT NAM
Nguyễn Thị Trâm Anh – Nguyễn Thị An
Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong khu vực và toàn cầu đ tạo điều kiện cho thương mại thủy
sản Việt Nam phát triển, nhưng c ng đặt ra những thách thức không nhỏ, mà trên hết là các vấn đề liên
quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, giấy chứng nhận, truy xuất nguồn gốc xuất xứ, rào cản phi thuế
quan và sản phẩm thân thiện với môi trường. Để đáp ứng được các yêu cầu này đòi hỏi ngành thủy sản
Việt Nam c ng như các doanh nghiệp phải có cách tiếp cận mới trong hoạt động của mình - Tiếp cận
chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu. Bài viết này muốn trình bày những tồn tại của chuỗi cung ứng mực
ống, trên cơ sở đó đề xuất mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện - trường hợp Công ty cổ phần Cafico
Việt Nam
Từ khóa: chuỗi cung ứng, hợp tác, cơ chế
ABSTRACT
The process of international economic intergration into regional and global market not only supports
the development of Vietnamese fishery industy but aslo poses significant challenges, such as, issues
related to sanitation and food safety, certification of origin, non-tariff barriers and the eco products. To
meet the demand and requirements Vietnamese fishery as well as seafood companies must have an
new approach of the gloabl supply chain for their products. This paper aims to indicate the existence of
the supply chain of squid. From this, we proposed the model for cooperation and implementation
mechanisms which based on the case of Vietnam Cafico Joint stock company.
1. Đặt vấn đề
Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam là một doanh nghiệp có hơn 20 năm hoạt động trong
lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, chủ yếu là sản phẩm mực (mực ống, mực nang, mực lá, bạch
tuộc) trong đó mực ống chiếm khoảng 80% - 90% tổng sản phẩm xuất khẩu của công ty sang
các thị trƣờng Nhật Bản, Đài Loan (bảng 1).
Tuy nhiên, trong chuỗi cung ứng sản phẩm mực ống hiện tại của công ty còn có những
tồn tại: tính không ổn định của nguyên liệu (về mặt số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm), thiếu sự chia sẻ thông tin, thiếu sự hợp tác giữa các tác nhân trong chuỗi và
thiếu sự công bằng trong việc phân phối lợi ích giữa các tác nhân. Điều này dẫn đến khả
năng đáp ứng nhu cầu khách hàng không đầy đủ, khả năng cạnh tranh giảm trong bối cảnh áp
lực cạnh tranh lớn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc.
Chính những tồn tại trên đặt ra cho công ty Cafico Việt Nam yêu cầu cần có cách tiếp
cận mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thật vậy, những thay đổi trong nông
nghiệp vài thập niên vừa qua cho thấy hợp tác dọc là rất cần thiết cho sự thành công về mặt
kinh tế của các sản phẩm nông nghiệp và xây dựng chuỗi cung ứng gắn kết chặt chẽ các bên
liên quan là phƣơng thức để đạt đƣợc sự hợp tác dọc vì mục tiêu chung là tối đa hóa giá trị và
giá cả cho tất cả các bên liên quan trong chuỗi cung ứng.
215
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
216
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
2. Đặc điểm nghề khai thác mực có ảnh hƣởng đến hoạt động của chuỗi cung ứng
Mực đƣợc khai thác xa bờ và ven bờ. Đối với tàu khai thác ven bờ (công suất 60 CV - 90CV) đi
về trong ngày, tàu khác thác xa bờ (công suất trên 90CV) thời gian đi khai thác kéo dài từ 7 - 10 ngày,
có khi một tháng. Nghề khai thác chính hiện nay: vây rút chì xa bờ, kéo, câu, lƣới giả, mành chụp. Đối
tƣợng khai thác mực ở đây chủ yếu là chủ tàu kiêm ngƣ dân, có một số rất ít là các chủ Nậu vựa cũng
có tàu đi khai thác mực.
Ngƣ dân khai thác mực quanh năm, nhƣng tập trung nhiều vào các tháng từ 12 - 4 và từ 6 - 9.
Đối với mực ống thƣờng sống ở độ sâu, tập trung nhiều nhất ở độ sâu khoảng 30 – 50 m. Ngoài ra,
còn có một số loài thƣờng sống ở các vùng biển khơi với độ sâu hơn 100 m nƣớc. Ngƣ trƣờng khai
thác mực là những nơi có nền đáy cát pha vỏ nhuyễn thể. Nơi có nhiều nguồn thức ăn cho mực, độ
trong từ 1-2 m, dòng chảy nhẹ.
Đối với tàu câu tay mực không có lƣới mà chỉ có đồ câu cho mỗi thủy thủ. Ống câu và lƣỡi câu
chỉ dùng để câu mực đáy, cần câu và lƣỡi câu bằng gỗ nhẹ dùng để câu mực. Mỗi câu thƣờng là mỗi
giả băng kim tuyền và các ngạnh lƣỡi câu dùng để kéo mực. Mỗi thủy thủ thƣờng đƣợc trang bị từ 10
đến 20 đƣờng câu.
Đội ngũ thuyền trƣởng, máy trƣởng hầu hết ít đƣợc đào tạo qua trƣờng lớp chính quy, thiếu các
kiến thức cơ bản để có thể sử dụng đƣợc các thiết bị hàng hải, khai thác, thiếu các kiến thức về luật
hàng hải để có thể hoạt động khai thác ở những vùng biển quốc tế. Do trình độ học vấn thấp sẽ dẫn
đến khả năng tiếp nhận trình độ công nghệ bị hạn chế, việc áp dụng tiến bộ khoa học nhằm nâng cao
năng suất khai thác gặp nhiều khó khăn. Lao động trên tàu câu mực khoảng trên dƣới 10 ngƣời. Nghề
khai thác hải sản nói chung và khai thác mực khơi nói riêng có cƣờng độ lao động cao và mức độ nguy
hiểm, rủi ro nhiều hơn so với các loại nghề khác trên bờ. Do đó lực lƣợng lao động trên tàu thƣờng là
trẻ, nhƣng có trình độ văn hóa thấp.
Rủi ro của nghề khai thác hải sản nói chung và nghề đánh bắt mực nói riêng hiện nay đó là tình
trạng thiếu bạn ghe/tàu. Do đặc thù của nghề biển đòi hỏi nguồn lao động trẻ, khỏe, có kinh nghiệm
đánh bắt, nên trƣớc khi vào mùa đánh bắt mới, các chủ tàu chạy đôn chạy đáo tìm bạn ghe. Có nhiều
phƣơng tiện thiếu lao động vẫn ra khơi. Lý do thiếu bạn ghe/tàu là từ áp lực thu hút lao động công
việc của các khu công nghiệp trên bờ, tạo công ăn việc làm thƣờng xuyên ổn định hơn đi biển nên lao
động đã chuyển dần từ đi khai thác hải sản lên làm việc trên bờ. Mặt khác lao động trên biển thƣờng
xuyên phải đối mặt với nhiều nguy hiểm, sóng gió, bão, và thời gian ở trên biển nhiều hơn ở nhà lo
cho gia đình nên nhiều lao động đã chọn làm việc trên bờ đôi khi có thu nhập ít hơn nhƣng ổn định.
Hầu hết ngƣ dân vẫn là những đối tƣợng nghèo, có thu nhập thấp. Hoạt động khai thác mực nói
riêng, và khai thác thủy hải sản nói chung là một lĩnh vực rủi ro cao hơn các ngành sản xuất khác. Với
đặc thù hoạt động trên môi trƣờng biển, ngƣ dân có nguy cơ gặp rủi ro cao về tính mạng, phƣơng tiện
và tài sản đánh bắt hải sản do ảnh hƣởng của thời tiết và những bất ổn về ngƣ trƣờng khai thác xa bờ.
Bên cạnh đó, ngƣ dân hiện mới chủ yếu khai thác và đánh bắt thủy, hải sản theo hình thức nhỏ lẻ, gần
bờ nên năng suất thấp, giá trị thấp, không bền vững và cơ hội thoát nghèo không dễ. Trong khi đó, chi
phí đầu vào nhƣ nguyên liệu, xăng dầu…liên tục tăng cao. Giá sản lƣợng đánh bắt đƣợc lại không
tăng, đôi khi còn giảm, nhiều lúc còn xảy ra tình trạng ép giá nên thu nhập của ngƣ dân còn thấp và
chịu nhiều thiệt thòi.
Phƣơng tiện tàu thuyền khai thác nhìn chung còn cũ nát, lạc hậu và cơ bản là chƣa đáp ứng
đƣợc yêu cầu đánh bắt xa bờ, thiếu trang thiết bị thông tin liên lạc trên tàu, nên ngƣ dân chƣa thể ứng
217
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
phó kịp thời với những diễn biến bất thƣờng của thời tiết và thiên tai đột ngột xảy ra với cƣờng độ
mạnh. Không những vậy, trình độ, chất lƣợng lao động nghề khai thác mực cũng nhƣ khai thác hải sản
còn thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, lại hoạt động trong môi trƣờng lao động rủi ro. Tình trạng
ngƣ dân đánh bắt hải sản bằng giã cao bay (thuyền công suất lớn sử dụng lƣới tầng đáy đánh bắt gần
bờ), sử dụng chất nổ, điện để khai thác thủy sản làm cho nguồn lợi thủy sản bị hủy diệt nghiêm trọng
kèm theo đó là gây ô nhiễm môi trƣờng.
3. Những tồn tại trong chuỗi cung ứng mực ống của Công ty Cafico Việt Nam
Những tác nhân chính tham gia trong chuỗi cung ứng mặt hàng mực ống của Công ty
Cổ phần Cafico bao gồm Ngƣ dân, Nậu vựa, Công ty Cafico, Nhà nhập khẩu. Ngƣ dân phân
phối sản phẩm của mình theo ba hƣớng: (1) Ngƣ dân → Công ty chiếm 55%; (2)Ngƣ
dân→Nậu vựa chiếm 38% và (3) Ngƣ dân→ Ngƣời bán sỉ, ngƣời bán lẻ 6%. Sau đó Nậu vựa
cung cấp cho Công ty (25%), và một phần không thƣờng xuyên phân phối cho nhà hàng
chiếm 7%. Công ty thu mua nguyên liệu từ ngƣ dân và Nậu vựa chủ yếu để xuất khẩu chiếm
90,5%, còn một phần nhỏ phân phối ở thị trƣờng nội địa cho các siêu thị, nhà hàng chiếm
9,5%.
3.1. Tính không ổn định của nguyên liệu
(1) Sản lƣợng khai thác và xuất khẩu
Theo số liệu thống kê của các địa phƣơng ven biển nhƣ Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên
Giang, Bình Thuận, sản lƣợng khai thác mực, bạch tuộc trong năm giảm từ 30% đến 70% so với cùng
kỳ năm trƣớc, vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản gặp rất nhiều khó khăn về nguyên liệu.
Nguồn nguyên liệu trong nƣớc đang bị lạm thác một cách cạn kiệt làm sản lƣợng giảm, chất lƣợng
giảm và không đủ kích cở để xuất khẩu (xem bảng 1). Vì vậy, công ty Cafico Việt Nam phải tìm kiếm
nguyên liệu từ các nƣớc Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Pakistan (chiếm 50% tổng nguyên liệu).
(2) Chất lƣợng nguyên liệu thu mua
218
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
Khi mực đƣợc khai thác lên tàu, ngƣ dân xếp mực trong khay nhựa có nắp đậy, trang bị dự
phòng túi PE để sử dụng khi thiếu khay nhựa. Số lƣợng khay nhựa trang bị trên tàu nghề chụp mực
lớn, dao động từ 200 – 900 cái/tàu, đối với nghề câu mực ống thì số lƣợng ít hơn, trung bình từ 100 –
200 cái/tàu. Bên cạnh đó, các tàu hoạt động nghề câu mực còn trang bị thêm giàn phơi mực.
Số lƣợng hầm bảo quản trên các tàu khai thác xa bờ dao động từ 3-8 hầm. Thời gian sử dụng
hầm dao động từ 2 - 6 năm. Một số tàu có chất lƣợng hầm bảo quản thấp nhƣng vẫn chƣa đƣợc cải tạo,
sữa chữa. Vật liệu cách nhiệt của hầm bảo quản chủ yếu là xốp ghép số còn lại là xếp thổi. Mặc dù
ngƣ dân đã nhận thấy tính ƣu việt của việc sử dụng xốp thổi để làm hầm bảo quản, nhƣng do giá thành cao
nên chƣa đủ khả năng đầu tƣ.
Công ty có thể thu mua nguyên liệu trực tiếp từ ngƣ dân hoặc qua các nậu vựa, một số chủ tàu
chở mực trực tiếp đến tận công ty để bán. Dựa vào kích thƣớc, công ty chia nguyên liệu mực làm 4 cỡ
sau: 4 – 6cm, 6 – 10cm, 10 -13cm, >13cm. Cỡ mực có vai trò rất quan trọng, ảnh hƣởng tới thời gian
bảo quản, giá trị kinh tế. Nếu mực cỡ lớn thì có thể bảo quản lâu hơn, trong thời gian bảo quản ít bị
biến đổi hơn, sản phẩm chế biến có giá trị hơn.
Việc kiểm tra nguồn gốc phƣơng tiện bảo quản và vận chuyển do bộ phận kinh doanh và KCS
thực hiện tại địa điểm thu mua. Nguyên liệu đƣợc bảo quản đá khô (lớp đá/lớp mực/lớp đá) trong
thùng cách nhiệt với nhiệt độ 1- 4 độ C. Thời gian tiếp nhận cho một tấn nguyên liệu không quá 30
phút. Thông thƣờng, việc kiểm tra chất lƣợng nguyên liệu đầu vào tại Công ty chủ yếu bằng mắt
thƣờng và kinh nghiệm của tổ tiếp nhận nguyên liệu.
(3) Vệ sinh an toàn thực phẩm
Hiện nay, Công ty Cafico đang áp dụng chƣơng trình quản lý chất lƣợng theo HACCP. Công ty
có một phòng kiểm nghiệm vi sinh, phục vụ kiểm vi sinh thƣờng xuyên nhằm hỗ trợ công tác quản lý
chất lƣợng sản phẩm tại xí nghiệp. Công ty đã thành lập tổ kỹ thuật sản xuất, đội HACCP, đội QC. Bộ
phận này thƣờng xuyên giám sát chất lƣợng sản phẩm, quy trình, quy phạm, quy cách mẫu mã sản
phẩm và kiểm tra vi sinh trong suốt quá trình sản xuất. Tuy nhiên, hiện tƣợng hàng bị trả về từ thị
trƣờng Nhật bản do nhiễm vi sinh vẫn còn (Năm 2010: 1.287 kg mực, tƣơng ứng 9.781 USD; Năm
2012: 500 kg mực, tƣơng ứng 3.800 USD).
3.2. Thiếu sự chia sẻ thông tin giữa các tác nhân trong chuỗi
Thông qua kết quả điều tra, phỏng vấn trực tiếp ngƣ dân, nậu vựa và công ty chế biến nhận
thấy: các tiêu chuẩn về chất lƣợng, thông tin thị trƣờng, đặc điểm sản phẩm, nhu cầu của khách hàng
và những ý kiến phản hồi của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm do nhà nhập khẩu đƣa ra chỉ có
Công ty Cafico biết, còn ngƣ dân, nậu vựa không nắm bắt đƣợc. Điều này dẫn đến bên cung cấp
nguyên liệu không đáp ứng đúng nhu cầu của công ty chế biến. Ngƣợc lại, thông tin phản hồi từ phía
ngƣ dân: nguồn nguyên liệu đánh bắt ở ngƣ trƣờng nào, bảo quản ra sao…công ty không biết, chỉ thu
mua nguyên liệu khi tàu cập cảng và từ Nậu vựa, và trong quá trình thu mua chỉ đánh giá chất lƣợng
nguyên liệu bằng mắt thƣờng nên có một số lô hàng mua về không đảm bảo chất lƣợng để chế biến
sản phẩm, làm ảnh hƣởng đến lợi nhuận công ty và đó cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến khả
năng mặc cả của công ty yếu hơn đối với nhà nhập khẩu.Việc thiếu trao đổi thông tin sẽ làm phát sinh
các chi phí không đáng có trong chuỗi cung cấp, mà hậu quả sẽ xảy ra hiện tƣợng: ―đƣợc mùa mất giá,
mất mùa giá cao‖ (khi nhu cầu nguyên liệu tăng cao, khâu đánh bắt không thể đáp ứng đƣợc và khi
nhu cầu giảm, nhƣng đánh bắt quá nhiều sẽ làm cho giá nguyên liệu sụt giảm gây thiệt hại cho khâu
cung cấp nguyên liệu).
219
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Về phía nhà nhập khẩu, họ thƣờng lựa chọn nhà cung cấp theo các tiêu chí: quá trình phát triển
của công ty chế biến, chứng nhận quốc tế về chất lƣợng sản phẩm và mức giá thỏa thuận giữa hai bên.
Sau đó, thông qua các hợp đồng mua bán quốc tế để nhập khẩu vào thị trƣờng trong nƣớc, phân phối
tới các cửa hàng bán lẻ, siêu thị. Tuy nhiên, các nhà nhập khẩu có thể lựa chọn sản phẩm nhập khẩu từ
nhiều quốc gia khác nhau nên họ có tính chủ động rất cao trong yêu cầu về lợi ích: chất lƣợng sản
phẩm, giá cả cung ứng sản phẩm và trong tƣơng lai sẽ còn nhiều yêu cầu khác nữa để đảm bảo lợi ích
tối đa cho các nhà nhập khẩu và ngƣời tiêu dùng.
3.3. Thiếu sự hợp tác giữa các tác nhân giữa ngư dân, nậu vựa và công ty
Khi các thành viên trong chuỗi hợp tác với nhau, họ phải có đƣợc sự cam kết vững chắc, đảm
bảo dựa trên hợp đồng đã ký, không vì lợi ích trƣớc mắt mà vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên hiện nay
các thành viên trong chuỗi liên kết với nhau rất lỏng lẻo, chủ yếu bằng hợp đồng miệng. Khi giữa các
khâu trong chuỗi không có các hợp đồng chặt chẽ, rất khó cho việc kiểm soát chất lƣợng nguyên liệu
đầu vào. Điều này dẫn đến sự mất ổn định trong khâu cung cấp nguyên liệu, và hậu quả là khả năng
đáp ứng khách hàng kém. Xét giai đoạn 2010 – 2013, công ty đã có 2 năm có lô sản phẩm mực bị thị
trƣờng Nhật Bản trả lại do nhiễm vi sinh làm ảnh hƣởng đến lợi nhuận của công ty.
3.4. Sự mất cân xứng trong phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi
Đối với ngƣ dân, lợi nhuận biến động qua các năm (năm 2011 cứ 1 kg mực ống ngƣ dân nhận
đƣợc 8.449 đồng lợi nhuận, năm 2012 sản lƣợng mực đánh bắt đƣợc nhiều hơn, nhƣng lợi nhuận lại
giảm chỉ còn 5.193đồng/kg, năm 2013 lợi nhuận lại tăng lên 15.391đồng/kg). Nguyên nhân dẫn đến
hiện tƣợng trên (1) cứ đƣợc mùa thì ngƣ dân lại bị chủ nậu và công ty ép giá; (2) ngƣ dân đánh bắt sử
dụng ngƣ cụ mang tính hủy diệt lớn làm nguồn lợi thủy sản giảm, nên một số sản lƣợng không đạt
chuẩn phải bán với giá thấp tiêu thụ nội địa; (3) chi phí xăng dầu tăng, kéo theo chi phí chuyến biển
tăng, ngƣ trƣờng khai thác ngày càng bất ổn, khiến nhiều ngƣ dân không dám ra khơi bám biển, chỉ
đánh bắt gần bờ, làm cho nguồn lợi thủy hải sản gần bờ khai thác cạn kiệt, một số ngƣ dân chuyển hẳn
sang làm nghề khác.
Bảng 2: Chi phí – lợi ích toàn chuỗi cung ứng mặt hàng mực ống của Công ty CP Cafico Việt
Nam 2011 – 2013 (Công ty mua trực tiếp từ ngƣ dân) ĐVT: đồng/kg
Tác nhân
2011
2012
2013
I. Ngư dân
1. Tổng chi phí
Chi phí chuyến biển
Chi phí lao động
Chi phí khấu hao TSCĐ + SCL
Chi phí bão dƣỡng, bảo hiểm
Chi phí khác
80.846
39.342
32.837
3.758
3.100
1.809
82.904
40.035
33.540
3.973
3.351
2.005
84.975
41.000
33.786
4.203
3.671
2.315
2. Giá bán BQ
3. Lợi nhuận BQ
89.295
8.449
88.097
5.193
100.366
15.391
II. Công ty
1. Tổng chi phí
- Chi phí nguyên liệu
- Bao bì, hóa chất, phụ gia
- Chi phí nhân công
- Chi phí sản xuất chung
89.295
5.143
25.250
12.750
88.097
6.031
26.350
19.762
100.366
6.550
27.330
18.007
220
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý DN
2. Giá bán BQ
5.250
7.000
179.783
35.095
5.450
7.367
193.246
40.189
6.100
7.450
185.225
19.422
3. Lợi nhuận BQ
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
Bảng 3: Chi phí – lợi ích toàn chuỗi cung ứng mặt hàng mực ống của Công ty CP Cafico Việt
nam 2011 – 2013 (Công ty mua từ Nậu vựa). ĐVT: đồng/kg
Tác nhân
2011
2012
2013
I. Ngư dân
1. Tổng chi phí
80.846
39.342
32.837
3.758
3.100
1.809
82.904
40.035
33.540
3.973
3.351
2.005
84.975
41.000
33.786
4.203
3.671
2.315
Chi phí chuyến biển
Chi phí lao động
Chi phí khấu hao TSCĐ + SCL
Chi phí bão dƣỡng, bảo hiểm
Chi phí khác
2. Giá bán BQ
3. Lợi nhuận BQ
89.295
8.449
88.097
5.193
100.366
15.391
II. Nậu vựa
1. Giá mua
89.295
2.250
430
88.097
2.310
440
100.366
2370
440
2. Tổng chi phí tăng thêm
Chi phí vận chuyển, giao dịch
Chi phí bảo quản
400
410
415
Chi phí tiền lƣơng
300
300
300
Chi phí khấu hao TSCĐ
Chi phí vốn khác
450
670
470
690
500
715
3. Giá bán BQ
112.24
5
22.950
111.90
7
23.810
119.333
18.967
4. Lợi nhuận biên BQ
III. Công ty
1. Tổng chi phí
- Chi phí nguyên liệu
112.24
5
111.90
7
119.333
- Bao bì, hóa chất, phụ gia
- Chi phí nhân công
- Chi phí sản xuất chung
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý DN
2. Giá bán BQ
5.143
25.250
12.750
5.250
7.000
179.78
3
6.031
26.350
19.762
5.450
7.367
193.24
6
6.550
27.330
18.007
6.100
7.450
185.225
445
3. Lợi nhuận BQ
12.145
16.379
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
Đối với Nậu vựa, là một tác nhân trung gian giữa ngƣ dân và công ty, tạo ra giá trị gia tăng cho
sản phẩm không nhiều, chủ yếu là sơ chế, bảo quản nhƣng thƣờng chiếm một tỷ lệ lợi nhuận lớn,
thƣờng trên 50% tổng lợi nhuận toàn chuỗi.
221
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Đối với Công ty chế biến, trƣờng hợp mua nguyên liệu mực trực tiếp từ ngƣ dân thì lợi nhuận
chiếm trên 70% tổng lợi nhuận toàn chuỗi, do công ty là tác nhân trong chuỗi nắm giữ công đoạn
chiếm hàm lƣợng kỹ thuật cao, tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm. Tuy nhiên, lợi nhuận của công ty
cũng biến động (năm 2011 cứ một kg mực xuất khẩu sang thị trƣờng Nhật Bản công ty đƣợc hƣởng
lợi nhuận là 35.095 đồng, sang năm 2012 lại tăng lên 40.189đồng/kg, trong năm 2013 lại giảm còn
19.422đồng/kg). Nguyên nhân do nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất của công ty là từ đánh bắt, nếu
bị mất mua công ty cũng phải thu mua nguyên liệu với giá cao để duy trì sản xuất, giữ uy tín đối với
bạn hàng đồng thời tạo công ăn việc làm cho công nhân, làm cho giá thành tăng cao trong khi giá xuất
khẩu lại không tăng, có khi còn giảm. Nhƣ trong năm 2013 do ảnh hƣởng của tình hình khủng hoảng
kinh tế thế giới, các nhà nhập khẩu thu mua với giá thấp hơn, kèm theo đó lại yêu cầu ngày càng khắt
khe hơn về chất lƣợng sản phẩm.
Nhƣ vậy, lợi nhuận phân phối giữa các đối tƣợng trong chuỗi mực ống của công ty Cafico
không đồng đều. Nguyên nhân chính do chƣa có sự liên kết giữa công ty với ngƣ dân và Nậu vựa.
Ngƣ dân là ngƣời chịu nhiều rủi ro, nhƣng lợi nhuận chiếm rất ít trong chuỗi, do thƣờng bị Nậu vựa và
công ty ép giá, vì sản phẩm mực không bảo quản đƣợc lâu, một số ngƣ dân còn phụ thuộc tài chính từ
Nậu vựa. Đây là một nguy cơ rất lớn cho Nậu vựa và đặc biệt là công ty vì đến một lúc nào đó, nếu
ngƣ dân thấy việc đánh bắt mực không mang lại hiệu quả cho bản thân, họ sẽ bỏ nghề, và thực tế hiện
nay đã có một số tàu thuyền chuyển sang đánh bắt hải sản khác, số lƣợng lao động đi theo tàu đánh bắt
mực cũng giảm vì rủi ro lớn, thời gian xa gia đình nhiều, nên họ chọn một số nghề lao động trên bờ
lƣơng ít hơn nhƣng ổn định và có thời gian dành cho gia đình. Nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu đầu vào,
gây khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu là điều khó trách khỏi đối với công ty.
4. Đề xuất mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi cung ứng mực ống tại Công ty
Cafico Việt Nam
Trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và toàn cầu ngày càng sâu rộng,
trong đó thủy sản đƣợc xác định là một trong những ngành có khả năng cạnh tranh thì việc tổ chức
hợp tác trong chuỗi cung ứng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng là xu
thế tất yếu. Tổ chức hợp tác ngang giữa các ngƣ dân (có thể giữa các Nậu vựa, giữa các công ty chế
biến xuất khẩu mực) và hợp tác dọc giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng, cụ thể giữa Nậu vựa và
công ty hoặc giữa Hiệp hội và công ty. Nếu nhƣ hợp tác ngang nhằm chia sẻ rủi ro, thì hợp tác dọc
nhằm thiết lập mối quan hệ tin cậy. Trong đó, cơ chế để thúc đẩy hợp tác ngang là hình thành hiệp hội
nghề nghiệp, còn cơ chế thúc đẩy hợp tác dọc là thông qua hợp đồng kinh tế.
+
Hợp tác ngang: Việc thành lập Hiệp hội khai thác thủy sản nhằm liên kết giữa các
chủ thuyền theo đối tƣợng cùng nghề, cùng ngƣ trƣờng và cùng tự nguyện hợp tác gắn với
nhà chế biến, chủ nậu vựa. Qua liên kết này giúp cho ngƣ dân đƣợc học hỏi kinh nghiệm, kỹ
thuật của nhau, cung cấp thông tin về ngƣ trƣờng kịp thời, rút ngắn thời gian đến ngƣ trƣờng
khai thác, kéo dài thời gian bám biển, giảm chi phí sản xuất, giảm thất thoát sau thu hoạch, tự
làm hậu cần cho nhau, nắm vững thị trƣờng, chủ động tiêu thụ sản phẩm, tăng hiệu quả kinh
tế, đồng thời còn bảo vệ, hỗ trợ ứng cứu lẫn nhau khi xảy ra sự cố trên biển.
222
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
Mô hình hợp tác trong chuỗi cung ứng mực ống
+
Hợp tác dọc gi a các tác nhân trong chuỗi: Điều kiện cần và đủ để thực hiện hợp
tác dọc là phải có vai trò đầu tàu của công ty và sự tham gia của các chủ thể khác nhƣ: Ngân
hàng, Tổ chức bảo hiểm, Cơ quan cấp giấy chứng nhận. Để chủ động có nguồn nguyên liệu,
đảm bảo chất lƣợng đƣa vào chế biến cũng nhƣ sản phẩm sau chế biến đƣợc thị trƣờng chấp
nhận và thuận lợi trong việc mở rộng kênh tiêu thụ, yêu cầu đặt ra là thành phẩm phải đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý. Muốn đƣợc điều đó, công ty Cafico Việt Nam
phải chủ động thiết lập mối liên kết chặt chẽ với ngƣ dân, nậu vựa, là ngƣời đầu tàu của mối
liên kết đó trên cở sở đồng thuận giữa ngƣời cung cấp nguyên liệu và công ty, một sự đồng
thuận tự nguyện và cam kết chắc chắn. Sự đồng thuận đó dựa trên một tiêu chuẩn quốc tế
đƣợc áp dụng và chứng nhận độc lập để có thể đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của hệ thống
truy xuất nguồn gốc xuất xứ, đòi hỏi của thị trƣờng. Trong mô hình hợp tác dọc, cần nh ng
tác nhân hỗ trợ như ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức chứng nhận. Các chủ thể này
hỗ trợ cho quá trình hình thành chuỗi sản xuất thông qua nh ng hợp đồng, chẳng hạn hợp
đồng bảo lãnh gi a ngân hàng với doanh nghiệp để ngư dân vay vốn tại ngân hàng, hợp đồng
bao thanh toán gi a doanh nghiệp và ngân hàng để ngư dân nhanh chóng nhận tiền, hợp
đồng gi a doanh nghiệp và công ty bảo biểm, hợp đồng gi a doanh nghiệp với tổ chức chứng
nhận độc lập. Với chuỗi sản xuất được liên kết chặt sẽ hạn chế đáng kể rủi ro cho các tác
nhân tham gia trong chuỗi đó.
223
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Nguyên tắc và cơ chế để thực hiện hợp tác trong chuỗi cung ứng mực ống
Trong ngắn hạn, nguyên tắc hợp tác giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng sản phẩm
mực ống là tự nguyện, cam kết thông qua hợp đồng. Hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong
mối quan hệ giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị sản phẩm. Hợp đồng sẽ ràng buộc những quy
định và trách nhiệm hợp tác giữa các bên. Nếu những giao dịch giữa các bên lặp lại thƣờng
xuyên, sử dụng hợp đồng sẽ cắt giảm chi phí. Nếu giao hàng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị
trƣờng (chất lƣợng, an toàn vệ sinh thực phẩm, chứng nhận của bên thứ 3, truy xuất nguồn
gốc xuất xứ…), hợp đồng tự động có hiệu lực nhờ đó cắt giảm chi phí kiểm soát.
Trong dài hạn, nguyên tắc hợp tác giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng sản phẩm mực
ống là thiết lập mối quan hệ dài hạn, ổn định và lâu bền bằng việc xây dựng chiến lược liên
minh liên quan đến toàn bộ hoạt động của chuỗi nhằm đảm bảo chất lƣợng, an toàn vệ sinh
thực phẩm, không ảnh hƣởng đến môi trƣờng và trách nhiệm xã hội cho ngƣời tiêu dùng. Về
phía công ty, để đáp ứng yêu cầu của một số phân khúc thị trƣờng nhƣ giấy chứng nhận
thƣơng mại công bằng (certified fair-trade), sản phẩm hữu cơ (organic products) cần tổ chức
giám sát đáng tin cậy quá trình sản xuất bởi một bên thứ ba để đảm bảo rằng thói quen sản
xuất tốt đƣợc duy trì. Kế hoạch cùng đầu tƣ giữa công ty cùng với các Trƣờng/ Viện nghiên
cứu, Ngân hàng, tổ chức bảo hiểm gắn kết với nhau trong chuỗi có thể cung cấp đòn bẫy hữu
ích cho việc chia sẻ rủi ro và thúc đẩy việc cải tiến. Cuối cùng, công ty Cafico nên bắt đầu
nhận thức rằng tính minh bạch và trách nhiệm xã hội trong chuỗi cung ứng nhƣ là những yếu
tố thuộc về bản chất trong chiến lƣợc kinh doanh của họ hƣớng về hợp tác.
5. Kết luận
Hợp tác giữa các tác nhân tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản là xu thế tất
yếu khách quan trong bối cảnh hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng nhằm thỏa mãn
các yêu cầu khắt khe của thị trƣờng. Để hợp tác đƣợc thành công, vai trò của các cơ quan hữu
quan rất quan trọng thông qua việc ban hành khung pháp lý về hợp đồng. Về phía công ty,
cần xây dựng chiến lƣợc liên minh với nhà cung cấp và khách hàng dựa trên nhu cầu thị
trƣờng nhằm đảm bảo chất lƣợng, an toàn vệ sinh thực phẩm, không ảnh hƣởng đến môi
trƣờng và trách nhiệm xã hội cho ngƣời tiêu dung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Thị Trâm Anh (2009) ―Hợp tác trong chuỗi giá trị sản phẩm nuôi trồng - công cụ thúc
đẩy ngành thủy sản Khánh Hòa phát triển bền vững‖, Tạp chí khoa học thủy sản, số 4/2009,
Trƣờng Đại học Nha trang.
[2] Báo cáo tài chính của Công ty CP Cafico Việt Nam 2009 – 2013
[3] CBI, Ministry of Foreign Affairs of the Netherlands ―The Vietnam Seafood sector – A value
chain analysis‖, 3/2012
224
Bạn đang xem tài liệu "Cơ chế hợp tác trong chuỗi cung ứng mặt hàng mực ống - Trường hợp công ty Cổ phần Cafico Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
co_che_hop_tac_trong_chuoi_cung_ung_mat_hang_muc_ong_truong.pdf

