Measuring the relationship between green marketing, company image and purchase intention

Journal of Finance – Marketing; Vol. 66, No. 6; 2021  
ISSN: 1859-3690  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Journal of Finance – Marketing  
MEASURING THE RELATIONSHIP BETWEEN GREEN MARKETING,  
COMPANY IMAGE AND PURCHASE INTENTION  
Trinh i Hong Minh1*, Huynh Tri An1, Nguyen Ngoc Hanh1, Nguyen i Diem Kieu1  
1University of Finance – Marketing  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
DOI:  
Consumer awareness of green marketing has caught everyone’s attention  
and become a growing trend. e present study examined the impact  
of green marketing on consumer purchase intention by considering the  
company image as an intermediary in the cosmetic goods industry. ree  
variables of social responsibility, product image, and corporate reputation  
are studied as factors of corporate image. A total of 403 questionnaires  
were collected from consumers and analyzed using Smart PLS to test the  
measurement model and the structural model. Research results confirm  
that among the three factors of corporate image, product image and  
business reputation have a direct influence on purchase intention, while  
social responsibility has an indirect influence on purchase intention  
through reputation company. e study also discusses the significance of  
management, companies need to be more active in implementing social  
responsibility and emphasize more environmentally compatible products  
tofacilitategreenconsumption. Enterprisesimplementinggreenmarketing  
strategies need to choose the right target market to gain a sustainable  
10.52932/jfm.vi66.220  
Received:  
May 28, 2021  
Accepted:  
July 07, 2021  
Published:  
December 25, 2021  
Keywords:  
Green marketing;  
Purchase intention;  
Social responsibility;  
Product image;  
Corporate reputation. competitive advantage.  
*Corresponding author:  
15  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
T
R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C T À I C H Í N H – M A R K E T I N G  
Số 66 - Tháng 12 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
ĐO LƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA MARKETING XANH, HÌNH ẢNH CÔNG TY  
VÀ Ý ĐỊNH MUA HÀNG  
Trịnh ị Hồng Minh1*, Huỳnh Trị An1, Nguyễn Ngọc Hạnh1, Nguyễn ị Diễm Kiều1  
1Trường Đại học Tài chính – Marketing  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:  
Nghiên cứu nhằm khảo sát tác động của marketing xanh đối với ý định  
mua hàng của người tiêu dùng bằng cách coi hình ảnh công ty như một  
trung gian trong ngành hàng hóa mỹ phẩm. Ba biến số về trách nhiệm xã  
hội, hình ảnh sản phẩm và danh tiếng của doanh nghiệp được nghiên cứu  
như là các yếu tố của hình ảnh doanh nghiệp. Tổng số 403 bảng câu hỏi  
được thu thập từ người tiêu dùng và đưa vào phân tích bằng Smart PLS  
nhằm kiểm tra mô hình đo lường và mô hình cấu trúc. Kết quả nghiên cứu  
khẳng định, trong ba yếu tố của hình ảnh doanh nghiệp thì hình ảnh sản  
phẩm và danh tiếng của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định  
mua hàng, trong khi trách nhiệm xã hội có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định  
mua hàng qua danh tiếng công ty. Nghiên cứu cũng thảo luận về ý nghĩa  
của công tác quản lý, các công ty cần tích cực hơn trong việc thực thi trách  
nhiệm xã hội và nhấn mạnh các sản phẩm tương thích với môi trường hơn  
tạo điều kiện cho tiêu dùng xanh phát triển. Doanh nghiệp thực hiện chiến  
lược marketing xanh cần chọn thị trường mục tiêu phù hợp để có thể đạt  
được một lợi thế cạnh tranh bền vững.  
10.52932/jfm.vi66.220  
Ngày nhận:  
28/05/2021  
Ngày nhận lại:  
07/07/2021  
Ngày đăng:  
25/12/2021  
Từ khóa:  
Marketing xanh;  
Ý định mua;  
Trách nhiệm xã hội;  
Hình ảnh sản phẩm;  
Danh tiếng công ty.  
1. Giới thiệu  
ra, sự thay đổi hành vi của người tiêu dùng  
ngày càng gia tăng ý định mua các sản phẩm  
Kinh tế phát triển một cách nhanh chóng,  
cùng với đó là những hậu quả nghiêm trọng  
về môi trường, khí hậu và dịch bệnh. Nếu các  
doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà  
không chú ý đến vấn đề môi trường sẽ không  
mang lại sự phát triển kinh tế bền vững. Ngoài  
thân thiện với môi trường. Do đó hoạt động  
Marketing xanh trở nên phổ biến trên toàn  
cầu và là hướng đi lâu dài mang lại hiệu quả  
hoạt động cho các công ty (Maziriri, 2020).  
Nó không những là giải pháp hạn chế gây ảnh  
hưởng đến môi trường tự nhiên mà còn là cách  
mà công ty thể hiện trách nhiệm của mình đối  
với xã hội, nhất là khi vấn đề môi trường, khí  
hậu và dịch bệnh ngày càng trở nên nhức nhối  
(Chung, 2020).  
*Tác giả liên hệ:  
16  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Các công ty quan tâm nhiều hơn đến cầu hiện tại của khách hàng và doanh nghiệp,  
Marketing xanh với mong muốn có thể cải trong khi vẫn giữ gìn và gia tăng khả năng đáp  
thiện được tình trạng môi trường, đồng thời ứng nhu cầu cho thế hệ tương lai. Marketing  
nâng cao những danh tiếng công ty và hình xanh không phải là một hình thức marketing  
ảnh sản phẩm. Một chiến lược marketing xanh hoàn toàn riêng biệt mà vẫn có một số điểm  
hiệu quả có thể giúp người tiêu dùng tin tưởng trùng lặp với các dạng marketing khác. Sự khác  
mạnh mẽ vào công ty cũng như nâng cao hình biệt của marketing xanh nằm trong chính nội  
ảnh sản phẩm của nó. Bên cạnh đó, hình ảnh hàm của nó và gắn liền với các giá trị nhân văn  
sản phẩm tốt làm tăng danh tiếng của công ty phía sau khi doanh nghiệp lựa chọn sử dụng  
từ đó tăng ý định mua của người tiêu dùng. hướng đi marketing này. ời kỳ khủng hoảng  
Một doanh nghiệp khi đi theo định hướng môi trường ngày nay chính là thời điểm thích  
Marketing xanh, sẽ khiến khách hàng cảm hợp nhất để đánh giá lại 4Ps của chính sách  
nhận rằng, doanh nghiệp có một triển vọng có marketing truyền thống. Các nhà marketing  
trách nhiệm và nhận thức vì cộng đồng. Điều cần tiếp nhận thông tin liên quan đến những  
này tạo nên một hình ảnh đẹp về thương hiệu vấn đề mới này và tiến hành đánh giá lại công  
trong mắt người tiêu dùng ở thời điểm hiện tại cụ marketing hỗn hợp theo hướng xanh hơn.  
và tương lai. Nhận thức của người tiêu dùng về Bài viết nghiên cứu Marketing xanh dưới góc  
Marketing xanh trở nên quan trọng hơn để duy độ 4Ps nghĩa là hoạt động được áp dụng để  
trì hình ảnh công ty theo cách thuận lợi hơn phát triển và cải thiện việc định giá, quảng bá và  
so với Marketing truyền thống. Tuy nhiên, các phân phối các sản phẩm không gây tổn hại đến  
nghiên cứu về chủ đề này chưa được quan tâm môi trường (Pride & Ferrell, 1997), đây cũng là  
nghiên cứu tại các thị trường đang phát triển mô hình có thể được thực hiện trong hàng tiêu  
như Việt Nam. Nghiên cứu này khám phá các dùng và hàng công nghiệp (Polonsky, 2001).  
mối quan hệ và tác dụng của marketing xanh  
đối với hình ảnh doanh nghiệp và ý định mua  
2.1.2. Hình ảnh công ty  
Hình ảnh công ty là một chủ đề tiếp tục  
được quan tâm giữa các nhà nghiên cứu và các  
nhà quản trị doanh nghiệp. Hình ảnh công ty  
đề cập như là kết quả của kiến thức, niềm tin, ý  
tưởng, cảm xúc hoặc ấn tượng về một tổ chức  
(Wan & Schell, 2007; Furman, 2010). Hình  
ảnh công ty vốn dĩ là tổng hợp các yếu tố khác  
nhau phản ánh và truyền đạt danh tính của một  
tổ chức (Karaodmanoglu & Melewar, 2006;  
Moon, 2007). Hình ảnh công ty thường thay  
thế cho danh tiếng công ty và bản sắc doanh  
nghiệp khi khách hàng nhận thức được tất cả  
các khía cạnh của kinh doanh (Karaodmanoglu  
& Melewar, 2006; Keh & Xie, 2009; Kang &  
Yang, 2010). Trong bối cảnh marketing xanh,  
hàng. Để có thể đánh giá được mối quan hệ bên  
trong đó, nghiên cứu đã áp dụng mô hình cấu  
trúc tuyến tính (SEM). Kết quả của nghiên cứu  
là tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp và  
các nhà nghiên cứu nhằm khẳng định các lý  
thuyết về marketing xanh nhằm giúp đem lại  
sự thành công cho các doanh nghiệp trong kỷ  
nguyên môi trường hiện nay.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Cơ sở lý thuyết về marketing xanh và hình  
ảnh công ty  
2.1.1. Marketing xanh  
eo Charter (2017) marketing xanh là một  
tổng thể và là một quá trình quản lý trách nhiệm hình ảnh công ty cũng có liên quan đến sự liên  
gồm nhận biết, tiên đoán, đáp ứng và thực hiện  
nhu cầu các bên liên quan để hướng đến không  
có tác động bất lợi cho con người và môi trường  
tự nhiên. eo Armstrong và cộng sự (2014),  
marketing xanh là cách thức để đáp ứng nhu  
tưởng về doanh nghiệp, trong đó, về mặt xã hội  
các chương trình mang tính trách nhiệm xã hội  
của doanh nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến  
sự cảm nhận, đánh giá của khách hàng về hình  
ảnh công ty, và kết quả kinh doanh của công ty  
17  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
(Berens & cộng sự, 2005). Vì vậy, một sứ mệnh  
quan trọng của marketing xanh là thiết lập một  
cấu trúc hình ảnh doanh nghiệp thuận lợi xác  
định bởi người tiêu dùng.  
muốn mua sản phẩm (Grewal & cộng sự, 1998).  
Ý định mua là yếu tố dự đoán chính xác nhất  
về hành vi mua (Morwitz & Schmittlein, 1992).  
Balderjahn (1988) nhận thấy rằng, người tiêu  
dùng có thái độ tích cực về bảo vệ môi trường  
sẽ mua và sử dụng nhiều sản phẩm xanh hơn.  
Quảng cáo có thông điệp gắn liền với môi  
trường và bao bì sinh thái có liên quan tích cực  
với nhau với ý định mua xanh (Ansar, 2013).  
Căn cứ nhận định trên, tác giả đề nghị giả thuyết  
H1: Marketing xanh có tác động tích cực đến  
hình ảnh sản phẩm. Giả thuyết H2: Marketing  
xanh có tác động tích cực đến ý định mua hàng  
người tiêu dùng.  
Hình ảnh doanh nghiệp là một cấu trúc đa  
chiều và không cấu trúc đơn lẻ nào có thể thể  
hiện một hình ảnh doanh nghiệp mong muốn,  
việc xây dựng thang đo đo lường hình ảnh  
doanh nghiệp cũng thể hiện nhiều quan điểm  
khác nhau (Feldman & cộng sự, 2014). Dựa  
trên việc tổng hợp các quan điểm đo lường và  
gắn với bối cảnh nghiên cứu marketing xanh,  
nghiên cứu đề cập hình ảnh doanh nghiệp theo  
quan điểm của Haery và cộng sự (2013), Ko và  
cộng sự (2013) là hướng tiếp cận có tính bao  
quát, theo đó hình ảnh doanh nghiệp bao gồm  
trách nhiệm xã hội, hình ảnh sản phẩm và danh  
tiếng doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến  
việc người tiêu dùng mua sản phẩm trong môi  
trường bán lẻ  
2.2.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp  
eo Buysse và Verbeke (2003), nhận thức  
của các bên liên quan là sức ép buộc các nhà  
quản lý phải có những cam kết bảo vệ môi  
trường. Từ đó, cho thấy một mối quan hệ giữa  
mức độ nhận thức của nhà quản lý về marketing  
xanh và mức độ thực hiện trách nhiệm xã hội.  
Roberts và King (1989) cho rằng, các bên liên  
quan có ảnh hưởng đến việc định hướng và xây  
dựng chiến lược của doanh nghiệp. Còn theo  
Lindgreen và cộng sự (2009) khi thực hiện các  
hoạt động trách nhiệm xã hội có liên quan đến  
marketing. eo Sen và Bhattacharya (2001),  
Haery và cộng sự (2013), Ko và cộng sự (2013)  
thì hoạt động marketing xanh của doanh  
nghiệp có ảnh hưởng mạnh đến trách nhiệm xã  
hội của doanh nghiệp. Căn cứ nhận định trên,  
tác giả đề nghị giả thuyết H3: Marketing xanh  
tác động tích cực đến trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp. Giả thuyết H4: Trách nhiệm xã  
hội của doanh nghiệp có tác động tích cực đến ý  
định mua hàng.  
2.2. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết  
2.2.1. Marketing xanh và ý định mua  
Marketing xanh sẽ đem đến sự trung thành  
thương hiệu (Arseculeratne & Yazdanifard,  
2014). Sản phẩm xanh sẽ mang đến một nhận  
thức mới của người tiêu dùng về môi trường.  
Doanh nghiệp hoạt động vì môi trường sẽ  
định vị được hình ảnh thương hiệu trong lòng  
người tiêu dùng, gia tăng khả năng nhận diện  
giữa vô số các sản phẩm trên thị trường. Khi  
doanh nghiệp đã tạo được sự trung thành  
thương hiệu từ khách hàng thì sẽ giảm được  
sự nhạy cảm về giá cả sản phẩm. Nếu giá sản  
phẩm xanh có đắt đỏ hơn thì người tiêu dùng  
cũng chấp nhận vì họ tin tưởng rằng sản phẩm  
đó là tốt cho sức khỏe cũng như môi trường.  
Porter và Van (1995) cho rằng, bằng cách thực  
hiện marketing xanh sẽ đem lại hình ảnh sản  
phẩm, thương hiệu tốt hơn cho doanh nghiệp.  
Nhiên cứu của Miles và Covin (2000), Menon  
và Menon (1997) cho rằng marketing xanh sẽ  
giúp doanh nghiệp gia tăng hình ảnh sản phẩm  
và thương hiệu của mình.  
2.2.3. Danh tiếng doanh nghiệp  
Danh tiếng doanh nghiệp sẽ giúp định hình  
thái độ và nhận thức của người tiêu dùng về  
doanh nghiệp đó (Fombrun & Shanley, 1990).  
Điều này sẽ thúc đẩy động cơ mua của người  
tiêu dùng và giúp định vị thương hiệu (Neville  
& cộng sự, 2005). Trong marketing, danh tiếng  
được xem là sức mạnh để thu hút khách hàng.  
Danh tiếng doanh nghiệp làm tăng sự tin tưởng  
của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch  
Ý định mua cho biết phản ứng cảm xúc do  
đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về sản  
phẩm và cũng chỉ ra khả năng người tiêu dùng  
18  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
vụ, doanh nghiệp giữ chân khách hàng tốt hơn, chặt chẽ đến sự độc đáo của một sản phẩm  
đạt tỷ lệ mua cao hơn. Các doanh nghiệp thể hay dịch vụ cụ thể, là một yếu tố dự đoán quan  
hiện danh tiếng mạnh mẽ có khả năng tiếp cận trọng về ý định mua hàng, trong đó, nó có thể  
thị trường vốn tốt hơn, giúp giảm chi phí và giảm bớt khó khăn trong việc quyết định mua  
tăng tỷ lệ mua sắm, lợi nhuận tăng trưởng tốt hàng (Bearden & Etzel, 1982).  
hơn. Danh tiếng còn tạo ra rào cản xâm nhập  
Nỗ lực của một công ty hướng tới trách  
thị trường, củng cố vị thế của doanh nghiệp  
nhiệm xã hội sẽ dẫn người tiêu dùng đánh giá  
trong cuộc cạnh tranh ngay cả khi mà các sản  
sản phẩm của họ có lợi hơn sản phẩm từ các tổ  
phẩm gần như là giống nhau (Khojastehpour &  
chức khác (Brown & Dacin, 1997). Park và cộng  
Johns, 2014). Nghiên cứu của Bertels và Peloza  
sự (1986) đã xác nhận rằng, một công ty hoặc  
(2008); Lii và Lee (2012); Taghian và cộng sự  
sản phẩm, dịch vụ liên tục nắm giữ một hình  
(2015) cũng cho thấy, hành vi trách nhiệm xã  
ảnh tích cực trong tâm trí của khách hàng thì  
hội của doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao danh  
chắc chắn sẽ đạt được một vị trí tốt hơn trên  
tiếng của họ. Căn cứ nhận định trên, tác giả  
thị trường, lợi thế cạnh tranh bền vững và gia  
đề nghị giả thuyết H5: Trách nhiệm xã hội của  
tăng thị phần. Nghiên cứu của Ko và cộng sự  
doanh nghiệp có tác động tích cực đến danh  
(2013); Haery và cộng sự (2013) cũng cho thấy,  
tiếng doanh nghiệp. Giả thuyết H6: Danh tiếng  
mối quan hệ giữa hình ảnh sản phẩm và danh  
của công ty tác động tích cực đến đến ý định mua  
tiếng công ty. Căn cứ nhận định trên, tác giả đề  
hàng của người tiêu dùng.  
nghị giả thuyết H7: Hình ảnh sản phẩm có tác  
2.2.4. Hình ảnh sản phẩm  
động tích cực đến danh tiếng công ty. Giả thuyết  
H8: Hình ảnh sản phẩm có tác động tích cực đến  
ý định mua của người tiêu dùng.  
Hình ảnh sản phẩm thường được định nghĩa  
là “nhận thức về một sản phẩm được lưu giữ  
trong trí nhớ của người tiêu dùng” (Keller,  
1993). Hình ảnh sản phẩm càng thuận lợi thì  
thái độ càng tích cực đối với sản phẩm được  
gắn thương hiệu và các thuộc tính của nó càng  
tăng và tác động tích cực đến ý định mua hàng  
(Keller, 1993). Hình ảnh sản phẩm liên quan  
Mô hình nghiên cứu  
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các  
yếu tố đến ý định mua của người tiêu dùng từ  
lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu trước đây,  
tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:  
Danh tiếng công ty  
H5+  
H6+  
Trách nhiệm xã  
hội  
H7+  
H4+  
Ý định mua  
H3+  
H2+  
H8+  
Marketing xanh  
Hình ảnh sản phẩm  
H1+  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
19  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
ang đo nghiên cứu  
Trên cơ sở kế thừa thang đo của các nghiên  
cứu trước và dựa vào kết quả nghiên cứu định  
tính, thang đo năm mức độ của Likert được sử  
dụng để đo lường các khái niệm nghiên cứu:  
Bảng 1. Tổng hợp biến quan sát  
Nhân tố Tiêu chí đo lường  
am chiếu  
Trách  
nhiệm  
xã hội  
TNXH 1: Công ty X cam kết chia sẻ trách nhiệm và lợi ích với cộng đồng.  
TNXH 2: Công ty X chú trọng bảo vệ sức khỏe và an toàn cộng đồng.  
TNXH 3: Công ty X lắng nghe ý kiến đóng góp của khách hàng.  
TNXH 4: Công ty X chấp hành pháp luật và quy định của chính quyền  
địa phương.  
TNXH 5: Công ty X đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng.  
TNXH 6: Công ty X thể hiện trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường.  
TNXH 7: Công ty X đang quản lý kinh doanh có đạo đức.  
Haery và cộng  
sự (2013),  
Taghian và  
cộng sự (2015)  
Marketing MX 1: Công ty X cung cấp sản phẩm thân thiện môi trường.  
xanh  
MX 2: Công ty X có xu hướng cộng chi phí môi trường vào giá sản phẩm.  
MX 3: Công ty X xem xét khía cạnh môi trường khi chọn kênh phân phối.  
MX 4: Công ty X có không gian mua sắm thân thiện với môi trường.  
MX 5: Công ty X sử dụng các thông điệp thân thiện truờng trong chiến dịch  
truyền thông.  
Kim (2009),  
Haery và cộng  
sự (2013)  
MX 6: Công ty X có tài trợ, bảo trợ cho các tổ chức hoặc các sự kiện có liên  
quan đến môi trường.  
MX 7: Công ty X cố gắng kết hợp sự thân thiện với môi trường với các triết  
lý khác trong suốt quá trình cung cấp sản phẩm.  
Danh  
tiếng  
công ty  
DTCT 1: Công ty X cung cấp những sản phẩm chất lượng cao.  
DTCT 2: Công ty X cung cấp những sản phẩm độc đáo.  
DTCT 3: Công ty X là doanh nghiệp hàng đầu trong ngành công nghiệp này.  
DTCT 4: Công ty X có lịch sử và truyền thống danh tiếng.  
DTCT 5: Công ty X có khả năng cạnh tranh cao.  
Ko và cộng sự  
(2008),  
Haery và cộng  
sự (2013)  
DTCT 6: Công ty X có thiện chí và đáng tin cậy.  
DTCT 7: Tôi nghĩ rằng công ty X có một hình ảnh tổng thể tốt.  
Hình ảnh HASP 1: Chất lượng của các sản phẩm công ty X là xuất sắc.  
Haery và cộng  
sự (2013),  
Taghian và  
cộng sự (2015)  
sản phẩm  
HASP 2: Các sản phẩm trong công ty X là đáng tin cậy.  
HASP 3: Sản phẩm của công ty X không chứa các nguyên liệu có độc tính.  
Ý định  
mua  
YDM 1: Tôi thích mua sản phẩm của công ty X.  
YDM 2: Nếu có nhu cầu về các sản phẩm hóa mỹ phẩm, có một khả năng  
cao tôi sẽ mua tại công ty X.  
YDM 3: Tôi sẵn sàng mua sản phẩm của công ty X nếu chất lượng và giá cả  
cao hơn các công ty khác.  
YDM 4: Tôi muốn giới thiệu sản phẩm của công ty X cho những người khác.  
YDM 5: Tôi muốn mua sắm tại công ty X hơn các công ty khác.  
Alalwan và  
cộng sự (2018),  
Venkatesh và  
cộng sự (2012)  
20  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Phương pháp nghiên cứu  
bày cách tiếp cận mô hình hai bước: (1) kiểm tra  
mô hình đo lường và (2) kiểm tra mô hình cấu  
trúc. Nhóm nghiên cứu dùng phần mềm Smart  
PLS 3.2.0 để phân tích dữ liệu đã thu thập được.  
Nghiên cứu có 5 thang đo chính: Trách nhiệm  
xã hội, marketing xanh, danh tiếng công ty,  
hình ảnh sản phẩm và ý định mua, với 29 biến  
quan sát được điều chỉnh từ các nghiên cứu liên  
quan trước đây. Biến quan sát được đo lường  
bằng thang điểm Likert 5 điểm, từ “hoàn toàn  
không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý”.  
Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai  
đoạn: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định  
lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện  
bằng phương pháp phỏng vấn với 8 chuyên gia  
được thực hiện nhằm khám phá và điều chỉnh  
nội dung các thang đo khái niệm nghiên cứu.  
Nghiên cứu định lượng sơ bộ thực hiện bằng  
cách phỏng vấn trực tiếp 50 người dùng, sau đó  
nghiên cứu chính thức tiến hành khảo sát trên  
Google biểu mẫu và gửi được gửi đến những  
người quen qua email, zalo và Facebook theo 4.1. Kết quả nghiên cứu  
phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Chức năng  
4.1.1. Tóm tắt đặc điểm mẫu nghiên cứu  
“bắt buộc trả lời” được cài đặt cho tất cả các câu  
hỏi trong bảng khảo sát giúp cho dữ liệu thu  
thập được đều có giá trị cho việc phân tích dữ  
liệu. Có tổng cộng 434 bảng câu hỏi được gửi,  
nhưng có 403 câu trả lời được sử dụng để phân  
tích dữ liệu sau khi sàng lọc kỹ lưỡng nhằm  
loại bỏ những khảo sát chất lượng thấp. eo  
Anderson và Gerbing (1988), chúng tôi trình  
Trong số 403 cuộc khảo sát được sử dụng  
thì 61,3% trong số đó là nữ và 38,7% là nam.  
Hầu hết những người tham gia (63,6%) ở độ  
tuổi trẻ dưới 32, số người được hỏi có trình độ  
cao đẳng/đại học chiếm một tỷ lệ đáng kể trong  
mẫu (78,4%). Đa số người được hỏi có thu nhập  
hàng tháng dưới 10 triệu đồng (56,6%).  
Bảng 2. ang đo, độ tin cậy và độ giá trị  
Cronbach’s Alpha Hệ số tin cạy ttng hhp  
Phương sai trung bình đưhc trích xuất AVE  
DTCT  
MX  
HASP  
TNXH  
YDM  
0,862  
0,842  
0,842  
0,900  
0,895  
0,896  
0,905  
0,884  
0,921  
0,923  
0,59  
0,760  
0,563  
0,625  
0,707  
Chỉ số hệ số tải nhân tố được sử dụng để đo sai trích trung bình (Average variance extracted  
lường độ tin cậy của thang đo. Dựa vào các chỉ – AVE). AVE có giá trị từ 0,500 trở lên chứng tỏ  
tiêu phân tích, thang đo MX4 và DTCT1 được thang đo có giá trị hội tụ (Hair và cộng sự, 2011).  
loại bỏ khỏi mô hình, thang đo MX2 (0,692)  
Bảng 3. Tỷ lệ HTMT  
và MX5 (0,672) được giữ lại do việc loại bỏ hai  
thang đo này không làm tăng giá trị của hệ số tin  
cậy, các thang đo này cũng được sử dụng nhiều  
tại các nghiên cứu trước đây như Leonidou và  
cộng sự (2013); Dief và Font (2010).  
Nhân tố DTCT HASP MX  
TNXH  
DTCT  
HASP  
MX  
0,605  
0,588  
0,516  
0,541  
0,592  
Kết quả kiểm định cho thấy các nhân tố đều  
đạt độ nhất quán nội tại (Cronbach’s Alpha đều  
lớn hơn 0,700 và độ tin cậy tổng hợp của các  
thang đo lớn hơn 0,700). Để đánh giá giá trị hội  
tụ, các nhà nghiên cứu sử dụng giá trị phương  
TNXH 0,430  
YDM 0,561  
0,777  
0,609 0,472  
21  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Bảng 4. Chỉ số phù hợp của mô hình  
Bảng 6. Hệ số f²  
Saturated  
Model  
0,076  
2,180  
0,612  
1383,971  
0,796  
Estimated  
Model  
0,086  
2,811  
0,639  
1398,301  
0,794  
Nhân tố DTCT HASP MX TNXH YDM  
Chỉ số  
DTCT  
HASP  
MX  
0,252  
0,272  
SRMR  
d_ULS  
d_G  
Chi-Square  
NFI  
0,217  
0,257  
0,697 0,283  
0,000  
TNXH 0,142  
YDM  
Nghiên cứu gần đây chỉ ra nhược điểm của  
chỉ số Fornell-Larcker (Fornell & Larcker, 1981)  
trong việc đánh giá giá trị phân biệt. Henseler và  
cộng sự (2014) đề xuất chỉ số đặc điểm dị biệt  
– đặc điểm đơn nhất (heterotrait – monotrait –  
HTMT). Tỷ lệ HTMT nhỏ hơn 0,900 cho thấy  
thang đo có giá trị phân biệt.  
eo Geisser (1974) bên cạnh việc đánh giá  
giá trị R² của các biến phụ thuộc, sự thay đổi  
của giá trị R² khi một biến độc lập được bỏ ra  
khỏi mô hình nghiên cứu cũng được sử dụng để  
đánh giá ảnh hưởng của một biến độc lập đến  
biến phụ thuộc. Trong mô hình cấu trúc, giá  
trị Q² của biến phụ thuộc lớn hơn 0,000 chỉ ra  
sự liên quan dự đoán của mô hình nghiên cứu  
đến biến phụ thuộc. Đánh giá sự đa cộng tuyến  
qua chỉ số VIF, mô hình không có hiện tượng  
đa cộng tuyến vì các chỉ số VIF nhỏ hơn 3, theo  
Hair và cộng sự (2011) thì VIF nhỏ hơn 5.  
Để đo mức độ phù hợp của mô hình, chỉ số  
SRMR < 0,100 thì chấp nhận, với SRMR = 0,076  
(< 0,080) là rất tốt, chứng tỏ mô hình phù hợp  
với dữ liệu thực tế. Kết quả mô hình SEM được  
trình bày ở Bảng 4 cho thấy, mô hình có giá  
trị thống kê Chi-bình phương là 1383,971 với  
p-value = 0,000 < 0,005.  
eo Cohen (1988), các giá trị f² = 0,020;  
0,150 và 0,350 được xem là nhỏ, trung bình và  
đáng kể. Nếu giá trị f² nhỏ hơn 0,020 thì xem  
như biến độc lập không có ảnh hưởng đến biến  
phụ thuộc. eo bảng 6 và 7 thì trách nhiệm xã  
hội không ảnh hưởng đến ý định mua hàng.  
Bảng 5. Hệ số R², Q²  
R Square Q² (= 1 - SSE/  
Adjusted SSO)  
Nhân tố R Square  
DTCT 0,409  
HASP 0,305  
TNXH 0,573  
YDM 0,523  
0,405  
0,303  
0,572  
0,517  
0,272  
0,254  
0,288  
0,291  
Nhằm suy rộng kết quả nghiên cứu ra tổng  
thể, mô hình cần được tiến hành kiểm định lại  
độ tin cậy. Đề tài sử dụng kỹ thuật bootstrapping  
với cỡ mẫu lặp lại là 1000 lần.  
Bảng 7. Bảng đánh giá mối quan hệ  
Giả thuyết  
Original Sample (O)  
P Values  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,985  
Kết luạn  
DTCT -> YDM  
HASP -> DTCT  
HASP -> YDM  
MX -> HASP  
MX -> TNXH  
MX -> YDM  
0,219  
0,439  
0,255  
0,453  
0,688  
0,324  
0,192  
-0,001  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
TNXH -> DTCT  
TNXH -> YDM  
22  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Từ bảng 6 và 7 cho thấy có 7 mối quan hệ H1,  
H2, H3, H5, H6, H7, H8 được ủng hộ, mối quan  
hệ H4 bị bác bỏ. Các kết quả từ H1, H2 và H3 chỉ  
ra rằng marketing xanh có ảnh hưởng đến hình  
ảnh sản phẩm (γ = 0,453), trách nhiệm xã hội  
(γ = 0,688) và ý định mua (γ = 0,324). Điều này  
đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu trước  
đây như Beren và cộng sự (2005); Ansar (2013).  
Doanh nghiệp thực hiện marketing xanh sẽ  
làm tăng hình ảnh công ty liên quan đến chất  
lượng sản phẩm, hình ảnh có trách nhiệm với  
xã hội một cách thuận lợi. Việc xây dựng hình  
ảnh doanh nghiệp có tính trách nhiệm xã hội  
thông qua marketing xanh là rất quan trọng để  
cải thiện hình ảnh sản phẩm của công ty. Trong  
các yếu tố tác động đến ý định mua thì nhận  
thức về thực hiện marketing xanh có tác động  
lớn về ý định mua hơn các yếu tố khác. Trong  
các yếu tố hình ảnh doanh nghiệp, yếu tố hình  
ảnh sản phẩm (γ = 0,255) và danh tiếng của  
công ty (γ = 0,219) ảnh hưởng tích cực đến ý  
định mua hàng, kết quả này ủng hộ các nghiên  
cứu trước đây (Brow & Dacin, 1997; Fombrun  
& Shaley, 1990; Maignan & Ferrell, 2004; Sen  
& Bhattacharya, 2001). Nghiên cứu còn chỉ ra  
danh tiếng công ty có ảnh hưởng tích cực đến  
hành vi mua hàng cho công ty, nhưng yếu tố  
trách nhiệm xã hội và hình ảnh sản phẩm là yếu  
tố quan trọng để nâng cao nhận thức về danh  
tiếng của công ty. Trách nhiệm xã hội có ảnh  
hưởng gián tiếp đến ý định mua hàng thông  
qua danh tiếng của công ty. Ảnh hưởng trực  
tiếp của trách nhiệm xã hội đến ý định mua  
hàng bị bác bỏ, điều này trái với các nghiên cứu  
trước đây của Sen và Bhattacharya (2001).  
của quốc gia đó. Trách nhiệm xã hội của doanh  
nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung còn  
lỏng lẻo (Gugler, 2008). Nghiên cứu của Dương  
Công Danh (2015) chỉ ra rằng người tiêu chưa  
quan tâm nhiều đến việc thực hiện trách nhiệm  
xã hội của doanh nghiệp. Hơn nữa, họ vẫn chú  
ý tới giá khi quyết định mua sản phẩm dịch vụ  
hơn là việc doanh nghiệp đó có thực hiện tốt  
trách nhiệm xã hội hay không. Khi trình độ học  
vấn nâng lên, người tiêu dùng nhận thức rõ hơn  
về hành vi của mình đối với các doanh nghiệp  
thực hiện tốt trách nhiệm xã hội. Ở Việt Nam  
nhận thức về quyền của người tiêu dùng và các  
doanh nghiệp chưa cao, nhiều doanh nghiệp  
Việt Nam vẫn coi nhẹ trách nhiệm xã hội mà  
nguyên nhân chủ yếu là thiếu hành lang pháp  
lý, chưa có luật hay quy định pháp lý.  
5. Kết luạn và hàm ý quản trị  
Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc cho  
các nhà quan trị trong việc thiết lập chiến lược  
marketing bằng cách thấu hiểu hình ảnh doanh  
nghiệp. Đây cũng là gợi ý để các doanh nghiệp  
tạo ra hình ảnh của mình trên thị trường. Kết  
quả phân tích cho thấy rằng, tất cả các mối quan  
hệ giữa các biến đều có ý nghĩa, ngoại trừ yếu tố  
trách nhiệm xã hội không có tác động trực tiếp  
đến ý định mua. Mặc dù vậy, trách nhiệm xã  
hội của doanh nghiệp được xem như một phần  
quan trọng của chiến lược kinh doanh và có tác  
động đến danh tiếng công ty. Đặc biệt, các nhà  
quản trị có thể đẩy mạnh các chiến dịch quảng  
bá hoặc sự kiện thúc đẩy hành vi tiêu dùng  
xanh gắn với các sản phẩm xanh và hình ảnh  
doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội nhằm tăng  
doanh số. Doanh nghiệp cần chứng minh rằng  
hoạt động kinh doanh của họ phù hợp với các  
quy tắc và quy định của tiêu chuẩn môi trường  
của Chính phủ và các cơ quan liên quan khác  
(Perks & Smith, 2012). Doanh nghiệp nên tập  
trung vào việc tập trung phát triển marketing  
xanh từ nhu cầu của công chúng và gắn vào vị  
trí cốt lõi của doanh nghiệp. Nếu quá tập trung  
vào yếu tố môi trường mà lãng quên mục tiêu  
thỏa mãn nhu cầu khách hàng chính là nguyên  
nhân thất bại của chiến lược marketing xanh.  
ực hiện trách nhiệm xã hội là tiền đề quan  
trọng cho thành công của một doanh nghiệp  
bởi nó mang lại những lợi ích rất lớn như tăng  
lợi nhận, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, thu hút  
được đội ngũ lao động tay nghề cao hay có cơ  
hội mở rộng thị trường. Tuy nhiên, nhận thức  
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có sự  
khác biệt lớn giữa các quốc gia. Nó phụ thuộc  
vào trình độ phát triển dân cư, nhận thức của  
người dân, thu nhập và khả năng mua sắm của  
người tiêu dùng cũng như trình độ phát triển  
23  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Việc thực hiện một chiến lược marketing xanh cao hình ảnh sản phẩm của nó. Doanh nghiệp  
rất phức tạp, đây cũng là một khái niệm thay đổi muốn xây dựng hình ảnh công ty tốt cần cân  
theo thời gian. Đặc biệt, trong tình hình kinh tế nhắc kĩ khi lựa chọn nhà cung cấp đảm bảo chất  
suy thoái, khách hàng sẽ bỏ qua các sản phẩm lượng đầu vào. Do đó, sự thay đổi hướng mô  
có mức giá cao và chuyển xuống các phương án hình mua hàng của người tiêu dùng theo hướng  
gia tăng ý định mua các sản phẩm thân thiện  
với môi trường đã tạo ra cơ hội mới cho các  
doanh nghiệp.  
giá rẻ hơn. Do đó, hoạt động Marketing xanh  
là một quá trình liên tục đòi hỏi đầu vào liên  
tục từ các nhà cung cấp, chính sách của chính  
phủ và người dân. Doanh nghiệp thực hiện  
chiến lược marketing xanh cần chọn thị trường  
mục tiêu phù hợp để có thể đạt được một lợi thế  
cạnh tranh bền vững. Các doanh nghiệp cũng  
nên nỗ lực ở hiện tại là giảm các nguy cơ liên  
quan đến chi phí. Marketing xanh là một chiến  
lược giúp các nhà tiếp thị đạt được mục đích  
kinh doanh, tạo ra các lợi thế về môi trường dựa  
trên những mong đợi của khách hàng trong khi  
nguồn lực có hạn. Một chiến lược marketing  
xanh hiệu quả có thể giúp người tiêu dùng tin  
tưởng mạnh mẽ vào công ty cũng như nâng  
6. Hạn chế của nghiên cứu  
Do giới hạn của đề tài nghiên cứu là thu thập  
mẫu theo phương pháp thuận tiện nên có một  
số lượng lớn là giới trẻ và thu nhập chưa cao, đề  
tài khuyến nghị các nghiên cứu tiếp theo trong  
tương lai có thể mở rộng đối tượng nghiên hơn.  
Ngoài ra, nội dung nghiên cứu này có thể xem  
xét trong lĩnh vực dịch vụ vì đây là lĩnh vực  
mang những đặc điểm riêng biệt và các nghiên  
cứu sâu về marketing xanh trong lĩnh vực dịch  
vụ vẫn còn hạn chế.  
Tài liệu tham khảo  
Alalwan, A. A., Baabdullah, A. M., Rana, N. P., Tamilmani, K., & Dwivedi, Y. K. (2018). Examining adoption  
of mobile internet in Saudi Arabia: Extending TAM with perceived enjoyment, innovativeness and  
trust. Technology in Society, 55(C), 100-110.  
Anderson, J. C., & Gerbing, D. W. (1988). Structural equation modeling in practice: A review and recommended  
two-step approach. Psychological bulletin, 103(3), 411-423.  
Ansar, N. (2013). Impact of green marketing on consumer purchase intention. Mediterranean Journal of Social  
Sciences, 4(11), 650-650.  
Armstrong, G., Adam, S., Denize, S., & Kotler, P. (2014). Principles of marketing. Pearson Australia.  
Arseculeratne, D., & Yazdanifard, R. (2014). How green marketing can create a sustainable competitive advantage  
for a business. International business research, 7(1), 130-137.  
Balderjahn, I. (1988). Personality variables and environmental attitudes as predictors of ecologically responsible  
consumption patterns. Journal of business Research, 17(1), 51-56.  
Bearden, W. O., & Etzel, M. J. (1982). Reference group influence on product and brand purchase decisions. Journal  
of consumer research, 9(2), 183-194.  
Berens, G., Van Riel, C. B., & Van Bruggen, G. H. (2005). Corporate associations and consumer product responses:  
e moderating role of corporate brand dominance. Journal of marketing, 69(3), 35-48.  
Bertels, S., & Peloza, J. (2008). Running just to stand still? Managing CSR reputation in an era of ratcheting  
expectations. Corporate Reputation Review, 11(1), 56-72.  
Brown, T. J., & Dacin, P. A. (1997). e company and the product: Corporate associations and consumer product  
responses. Journal of marketing, 61(1), 68-84.  
Buysse, K., & Verbeke, A. (2003). Proactive environmental strategies: A stakeholder management  
perspective. Strategic management journal, 24(5), 453-470.  
24  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Charter, M. (2017). Greener marketing: A responsible approach to business. Routledge.  
Chung, K. C. (2020). Green marketing orientation: Achieving sustainable development in green hotel  
management. Journal of Hospitality Marketing & Management, 29(6), 722-738.  
Cohen, J. (1988). Statistical power analysis for the behavioral sciences New York. NY: Academic.  
Dief, M. E., &Font, X. (2010). edeterminantsofhotels’marketingmanagers’greenmarketingbehaviour.Journal  
of sustainable tourism, 18(2), 157-174.  
Dương Công Danh (2015). Nhận thức của người tiêu dùng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tạp chí Kinh  
tế phát triển, 217(II), 24-32.  
Feldman, P. M., Bahamonde, R. A., & Velasquez Bellido, I. (2014). A new approach for measuring corporate  
reputation. Revista de Administração de Empresas, 54(1), 53-66.  
Fombrun, C., & Shanley, M. (1990). What’s in a name? Reputation building and corporate strategy. Academy of  
Management Journal, 33(2), 233-258.  
Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable variables and  
measurement error. Journal of marketing research, 18(1), 39-50.  
Furman, D. M. (2010). e development of corporate image: A historiographic approach to a marketing  
concept. Corporate Reputation Review, 13(1), 63-75.  
Geisser, S. (1974). A predictive approach to the random effect model. Biometrika, 61(1), 101-107.  
Grewal, D., Monroe, K. B., & Krishnan, R. (1998). e effects of price-comparison advertising on buyers’  
perceptions of acquisition value, transaction value, and behavioral intentions. Journal of Marketing, 62(2),  
46-59.  
Gugler, P., & Shi, J. Y. (2009). Corporate social responsibility for developing country multinational corporations:  
lost war in pertaining global competitiveness?. Journal of Business Ethics, 87(1), 3-24.  
Haery, F. A., Dehaghi, M. R., & Yazdani, A. (2013). Effect of green marketing on consumer purchase intentions  
with regard to the company’s image as a mediator in the retail setting case study: e customers of  
Naghshe-e Jahan Sugar Company. International Journal of Academic Research in Business and Social  
Sciences, 3(11), 422-452.  
Henseler, J., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-  
based structural equation modeling. Journal of the academy of marketing science, 43(1), 115-135.  
Hershberger, S. L. (2003). e growth of structural equation modeling: 1994-2001. Structural Equation  
Modeling, 10(1), 35-46.  
Kang, M., & Yang, S. U. (2010). Comparing effects of country reputation and the overall corporate reputations of  
a country on international consumers’ product attitudes and purchase intentions. Corporate Reputation  
Review, 13(1), 52-62.  
Karaosmanoglu, E., & Melewar, T. C. (2006). Corporate communications, identity and image: A research  
agenda. Journal of Brand Management, 14(1), 196-206.  
Keh, H. T., & Xie, Y. (2009). Corporate reputation and customer behavioral intentions: e roles of trust,  
identification and commitment. Industrial marketing management, 38(7), 732-742.  
Keller, K. L. (1993). Conceptualizing, measuring, and managing customer-based brand equity. Journal of  
Marketing, 57(1), 1-22.  
Khojastehpour, M., & Johns, R. (2014). e effect of environmental CSR issues on corporate/brand reputation  
and corporate profitability. European Business Review, 26(4), 330-339.  
Ko, E., Hwang, Y. K., & Kim, E. Y. (2013). Green marketing’functions in building corporate image in the retail  
setting. Journal of Business Research, 66(10), 1709-1715.  
25  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 66 – áng 12 Năm 2021  
Ko, E. J., Taylor, C. R., Wagner, U., & Ji, H. A. (2008). Relationships among CEO image, corporate image and  
employment brand value in fashion industry. Journal of Global Academy of Marketing Science, 18(4),  
307-331.  
Leonidou, L. C., Leonidou, C. N., Fotiadis, T. A., & Zeriti, A. (2013). Resources and capabilities as drivers of hotel  
environmental marketing strategy: Implications for competitive advantage and performance. Tourism  
Management, 35(C), 94-110.  
Lii, Y. S., & Lee, M. (2012). Doing right leads to doing well: When the type of CSR and reputation interact to affect  
consumer evaluations of the firm. Journal of business ethics, 105(1), 69-81.  
Lindgreen, A., Swaen, V., & Johnston, W. (2009). e supporting function of marketing in corporate social  
responsibility. Corporate Reputation Review, 12(2), 120-139.  
Maignan, I., & Ferrell, O. C. (2004). Corporate social responsibility and marketing: An integrative  
framework. Journal of the Academy of Marketing Science, 32(1), 3-19.  
Maziriri, E. T. (2020). Green packaging and green advertising as precursors of competitive advantage and business  
performance among manufacturing small and medium enterprises in South Africa. Cogent Business &  
Management, 7(1), 1719586. DOI: 10.1080/23311975.2020.1719586  
Menon, A., & Menon, A. (1997). Enviropreneurial marketing strategy: e emergence of corporate  
environmentalism as market strategy. Journal of marketing, 61(1), 51-67.  
Miles, M. P., & Covin, J. G. (2000). Environmental marketing: A source of reputational, competitive, and financial  
advantage. Journal of business ethics, 23(3), 299-311.  
Moon, J. (2007). Corporate image effects on consumers’ evaluation of brand trust and brand affect. Journal of  
Global Academy of Marketing, 17(3), 21-37.  
Morwitz, V. G., & Schmittlein, D. (1992). Using segmentation to improve sales forecasts based on purchase  
intent: Which “intenders” actually buy?. Journal of marketing research, 29(4), 391-405.  
Neville, B. A., Bell, S. J., & Mengüç, B. (2005). Corporate reputation, stakeholders and the social performance-  
financial performance relationship. European Journal of Marketing, 39(9-10), 1184-1198.  
Park, C. W., Jaworski, B. J., & MacInnis, D. J. (1986). Strategic brand concept-image management. Journal of  
marketing, 50(4), 135-145.  
Perks,S.,&Smith,E.E.(2012).Greeningthecorebusinessfunctions:Aretailandfinancesectorperspective.Journal  
of Contemporary Management, 9(1), 1-23.  
Polonsky, M. J., & Rosenberger III, P. J. (2001). Reevaluating green marketing: a strategic approach. Business  
horizons, 44(5), 21-30.  
Pride, W. M., & Ferrell, O. C. (1997). Marketing: Concepts and Strategies. Houghton Mifflin.  
Roberts, N. C., & King, P. J. (1989). e stakeholder audit goes public. Organizational Dynamics, 17(3), 63-79.  
Sen, S., & Bhattacharya, C. B. (2001). Does doing good always lead to doing better? Consumer reactions to  
corporate social responsibility. Journal of marketing Research, 38(2), 225-243.  
Taghian, M., D’Souza, C., & Polonsky, M. (2015). A stakeholder approach to corporate social responsibility,  
reputation and business performance. Social Responsibility Journal, 11(2), 340-363.  
Wan, H. H., & Schell, R. (2007). Reassessing corporate image—An examination of how image bridges symbolic  
relationships with behavioral relationships. Journal of Public Relations Research, 19(1), 25-45.  
Venkatesh, V., ong, J. Y., & Xu, X. (2012). Consumer acceptance and use of information technology: Extending  
the unified theory of acceptance and use of technology. MIS Quarterly, 36(1), 157-178.  
26  
pdf 12 trang Thùy Anh 18860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Measuring the relationship between green marketing, company image and purchase intention", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmeasuring_the_relationship_between_green_marketing_company_i.pdf