Đôi nét về văn hóa kinh doanh của Việt Nam trong lịch sử

Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
70  
ĐÔI NÉT VỀ VĂN HÓA KINH DOANH CỦA VIỆT NAM  
TRONG LꢀCH SỬ  
NGUyễN THẾ ANH  
Học viện Chính trị khu vực IV  
TÓM TẮT  
Việt Nam vốn là nước có truyền thống nông nghiệp, đa phần dân số làm nghề  
nông, với nền kinh tế tự túc tự cấp, trong suốt một thời kỳ lịch sử lâu dài, người  
nông dân Việt Nam chỉ loanh quanh sau lũy tre làng, bản thân nghề kinh doanh  
không được coi trọng trong các xã hội phong kiến Việt Nam.  
Mặc dù hoạt động kinh doanh là nghề không được coi trọng và phát triển rất  
chậm trong xã hội phong kiến, song không vì thế mà người Việt Nam không có văn  
hóa kinh doanh truyền thống. Coi trọng chữ tín, thái độ hòa nhã cũng như sự phê  
phán thói gian dối, lừa đảo… là những giá trị biểu hiện văn hóa kinh doanh truyền  
thống của dân tộc.  
Nếu văn hoá là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội,  
thì văn hoá kinh doanh chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh  
doanh của một quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, muốn  
đảm bảo sự phát triển bền vững cho hoạt động kinh doanh của quốc gia, hơn lúc  
nào hết, chúng ta cần có sự tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo về lĩnh vực này, để có  
thể góp phần định hướng đúng đắn cho kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.  
1. Đặt vấn đề  
Ở Việt Nam, vấn đề văn hóa kinh doanh  
bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thập niên  
90 của thế kỷ XX. Các công trình trên đã đi  
vào nghiên cứu văn hoá kinh doanh ở nhiều  
khía cạnh khác nhau với những nội dung  
khác nhau. Tuy nhiên các công trình hầu  
như không quan tâm đến văn hóa kinh doanh  
truyền thống của người Việt Nam. Có thể, đa  
phần các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này  
đều cho rằng, trong lịch sử Việt Nam nghề  
kinh doanh không được phát triển; vì vậy, văn  
hóa kinh doanh truyền thống Việt Nam không  
có gì để bàn.  
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, các nhà  
nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến vai trò của  
văn hoá trong kinh doanh. Có nhiều cách hiểu  
khác nhau về văn hóa kinh doanh, chủ yếu tập  
trung hai xu hướng: xu hướng thứ nhất, coi  
chủ thể của văn hóa kinh doanh chính là các  
doanh nghiệp, do đó văn hóa kinh doanh là  
văn hoá doanh nghiệp (corporate culture) hay  
còn gọi là văn hóa tổ chức (organizational  
culture). Xu hướng thứ hai, đang ngày càng  
phổ biến hơn khi coi kinh doanh là hoạt động  
có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội,  
nên văn hóa kinh doanh là một phạm trù ở  
tầm cỡ quốc gia và mang tính lịch sử, còn văn  
hoá doanh nghiệp chỉ là một thành phần trong  
văn hóa kinh doanh.  
Vậy thì, Việt Nam chúng ta có văn hóa  
kinh doanh truyền thống hay không? Truyền  
thống của giới doanh nhân Việt Nam đã có  
tự bao giờ và như thế nào? Tại sao Việt Nam  
không có những nhà đại tư sản?  
nguyễn tHế anH  
71  
Tuy nhiên, chúng ta có thể khẳng định thể duy trì và phát triển công việc kinh doanh.  
rằng, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của  
dân tộc Việt Nam, để tồn tại trong dòng chảy  
2.2. Văn hóa kinh doanh  
Văn hóa gắn liền với sự tồn tại của con  
người. Thước đo giá trị nhân bản của con  
người là văn hóa, là những hành động gắn  
liền với chân, thiện, mỹ. Theo nghĩa đó, một  
hoạt động của con người được đánh giá là  
khắc nghiệt của lịch sử, người Việt đã phải  
chọn gìn giữ và phát triển văn hóa làng xã để  
tự bảo vệ; điều này giúp người Việt không bị  
đồng hóa, không bị thôn tính và điều này có  
tác động rất lớn đến sự phát triển của nghề  
kinh doanh ở Việt Nam. Để tìm hiểu hoạt có hàm lượng văn hóa cao khi nó gắn bó với  
động kinh doanh và văn hóa kinh doanh của  
người Việt Nam trong lịch sử, trước hết chúng  
ta cần làm rõ về khái niệm kinh doanh và văn  
hóa kinh doanh.  
những giá trị chân, thiện, mỹ (tất nhiên những  
chuẩn mực của chân, thiện, mỹ có tính chủ  
quan, việc xem xét những giá trị đó phải căn  
cứ vào hoàn cảnh cụ thể; song, bao giờ nó  
cũng có những chuẩn mực chung nhất trong  
từng xã hội và chuẩn mực mang tính phổ quát  
đối với toàn nhân loại). Nói cách khác, những  
hoạt động nào càng hướng đến cái đúng, cái  
tốt, cái đẹp đem lại những giá trị tích cực cho  
cộng đồng thì hoạt động đó càng biểu hiện rõ  
tính nhân bản, tính văn hóa.  
2. Khái niệm văn hóa kinh doanh  
2.1. Khái niệm kinh doanh  
Ngày nay, kinh doanh được hiểu là loại  
hình hoạt động kinh tế đặc thù trong quá trình  
sản xuất, khai thác, chế biến, buôn bán hàng  
hóa và dịch vụ với chức năng cơ bản là tìm  
kiếm những nhu cầu của xã hội chưa được  
đáp ứng và tập hợp những nguồn lực cần  
thiết để đáp ứng các nhu cầu đó. Luật Doanh  
nghiệp Việt Nam xác định: “Kinh doanh là  
việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các  
công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất  
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ  
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”1  
Khi nói văn hóa kinh doanh (hay kinh  
doanh có văn hoá) là nói đến một vấn đề  
cốt lõi, mang tính bản chất của kinh doanh  
đó là vấn đề đạo đức của người kinh doanh.  
Nói cách khác kinh doanh có văn hoá là kinh  
doanh phải có đạo đức. Đạo đức cầu người  
kinh doanh không phải là vấn đề trừu tượng,  
mà rất cụ thể: tính trung thực, giữ chữ tín  
đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống, không  
chạy theo lợi ích của cá nhân hay nhóm người  
để làm ăn đối trá, lừa đảo, chụp giật, “đánh  
quả” bất chấp mọi thủ đoạn, kể cả việc loại  
trừ đối thủ trên thương trường.  
Còn trong quan niệm truyền thống, kinh  
doanh được hiểu đơn giản là cách làm giàu  
của con người trên thương trường, là hành vi  
buôn bán để kiếm lợi. Tuy nhiên, dù hiểu khái  
niệm này theo nghĩa truyền thống hay hiện  
đại thì một điều chắc chắn là trong mỗi hoạt  
động kinh doanh tối thiểu phải có hai nhân  
vật tham gia là chủ thể kinh doanh và khách  
hàng - đối tượng của chủ thể kinh doanh đó.  
Hai nhân vật này luôn ràng buộc, gắn bó, quy  
định lẫn nhau. Khách hàng cần hàng hóa, dịch  
vụ của chủ thể kinh doanh để thỏa mãn nhu  
cầu của mình. Còn chủ thể kinh doanh lại cần  
khách hàng mua hàng hóa hay dịch vụ của  
mình để có thể thu được lợi nhuận, nhờ đó có  
Vì vậy, văn hóa kinh doanh của một xã  
hội, về thực chất, là sự phản ánh thực tiễn  
hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội đó.  
Cho nên, những hoạt động kinh doanh của  
người Việt Nam trong xã hội truyền thống ít  
nhiều vẫn được phản ánh bởi văn hóa kinh  
doanh truyền thống của họ. Theo đó, có thể  
khẳng định, văn hóa kinh doanh Việt Nam đã  
được hình thành từ lâu đời và phát triển theo  
sự phát triển của xã hội, của thực tiễn hoạt  
động kinh doanh ở Việt Nam.  
1 Điều 4, Luật Doanh Nghiệp 2014, số: 68/2014/QH13,  
Hà Nội ngày 26/11/2014.  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
72  
3. Văn hóa kinh doanh của Việt Nam  
trong lịch sử  
văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo giữa nước ta  
với các nước trong khu vực. Tại đây, tư tưởng  
Nho giáo và văn hóa Hán – Đường đã được  
truyền bá liên tục vào nước ta chủ yếu thông  
qua hoạt động của bộ máy thống trị và tầng  
lớp quan lại. Bắc Ninh với trung tâm Luy Lâu  
là nơi đầu tiên có trường dạy chữ và văn hóa  
Hán ở Việt Nam.3  
3.1. Đôi nét về hoạt động kinh doanh ở  
Việt Nam trong thꢀi kỳ Bắc thuộc  
Năm 179 TCN, Triệu Đà là Vua nước  
Nam Việt (một chính quyền cát cứ ở Nam  
Trung Hoa) đánh bại triều An Dương Vương,  
thống trị Âu Lạc. Từ đó các triều đại phong  
kiến Trung Hoa thay nhau cai trị trên đất  
nước ta. Thời kỳ này thường được gọi là thời  
Bắc thuộc. Năm 938, Ngô Quyền đánh tan  
quân Nam Hán xâm lược, xác lập nền độc lập  
tự chủ một cách vững chắc, chấm dứt 1117  
năm đô hộ của các triều đại phong kiến Trung  
Hoa. Trong hơn 10 thế kỷ (179 TCN – 938)  
không chỉ có Bắc thuộc mà còn có cả chống  
Bắc thuộc; có sự tồn tại thường xuyên của  
chính quyền đô hộ và xen vào đó trong một  
số thời gian ngắn, có những chính quyền tự  
chủ - thành quả của các phong trào đấu tranh  
giải phóng của dân tộc ta.  
Các chính quyền phong kiến phương  
Bắc, mặc dù đã cố gắng tìm mọi cách để đồng  
hoá người Việt, song về căn bản trong suốt  
thời Bắc thuộc vẫn không thể nào trực tiếp  
với tay tới và can thiệp làm biến đổi được cơ  
cấu xóm làng cổ truyền của người Việt. Các  
xóm làng dựa trên cơ sở công xã nông thôn  
vẫn tồn tại như thế giới riêng của người Việt,  
là nơi nuôi dưỡng và phát huy những tinh hoa  
của văn hoá truyền thống làm cơ sở cho cuộc  
đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá.  
3.2. Đôi nét về hoạt động kinh doanh  
trong các triều đại phong kiến Việt Nam  
Theo các tư liệu lịch sử ghi lại, trong  
thời kỳ Bắc thuộc ở Việt Nam có một vùng  
đất được coi là trung tâm kinh tế thương mại  
lớn có tính quốc tế, đó là Luy Lâu, Long Biên  
thuộc vùng Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc  
Ninh. Tuy nhiên, do chính quyền đô hộ độc  
quyền nắm giữ và kiểm soát nên giao thương  
giữa người Việt Nam và người nước ngoài  
gặp không ít khó khăn. Hàng Việt Nam bán ra  
nước ngoài thường là các loại lâm thổ sản quý,  
đồ mỹ nghệ... Hàng nhập từ nước ngoài vào  
Việt Nam thường là thuốc men, đồ sắt2… Thời  
kỳ này, hệ thống thuyền buôn Trung Quốc hoạt  
động mạnh đã nối kết Việt Nam với nhiều quốc  
gia Đông Nam Á. Hệ thống giao thông, giao  
thương đã phát triển, nối liền cácđịa phương  
trong một huyện, quận và nối thông cả 3 quận  
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.  
Năm 938, Ngô Quyền đại thắng quân  
Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã mở ra thời  
kỳ phong kiến dân tộc tự chủ ở Việt Nam.  
Trong chế độ phong kiến trung ương tập  
quyền ở nước ta, cơ sở vật chất của xã hội  
dựa vào kinh tế nông nghiệp, ruộng đất là  
nguồn tư liệu sản xuất chính, địa tô phong  
kiến là nguồn sống, nguồn bóc lột chủ yếu  
của nhà nước phong kiến. Vì vậy, các triều  
đại phong kiến khi nắm quyền luôn có chính  
sách “trọng nông”, “khuyến nông”, tu sửa  
đê điều, mở mang thủy lợi, phát triển khai  
hoang. Đặc biệt, theo quan niệm “dĩ nông vi  
bản, dĩ thương vi mạt”, từ đó đi tới tư tưởng  
“trọng nông, ức thương”. Trong xã hội, người  
dân chỉ xác định có bốn nghề: sĩ, nông, công,  
thương; trong đó chỉ có hai nghề sĩ và nông là  
được xã hội đề cao: “nhất sĩ nhì nông, hết gạo  
chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Hai nghề còn lại  
là công và thương thì ít được chú trọng hơn.  
Cùng với quá trình giao lưu hội nhập, trao  
đổi kinh tế là quá trình tiếp xúc và hội nhập  
2
GS,TS. Nguyễn Trí Dĩnh – PGS,TS. Phạm Thị Quý  
3 Trần Đình Nghiêm, Trần Hoàn, Nguyễn Phúc Khánh  
(chủ biên), Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam,  
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.367  
(chủ biên). Giáo trình Lịch sử kinh tế, Nxb Thống kê,  
Hà Nội, 2004, tr.263  
nguyễn tHế anH  
73  
Đặc biệt, nghề thương vốn không được xã hội thống trị, nuôi dưỡng và củng cố nền thống trị  
coi trọng và thường có định kiến, thậm chí của nhà nước phong kiến. Phạm vi hoạt động  
miệt thị: “buôn gian, bán lận”, “thật thà cũng của nó cũng chỉ quanh quẩn ở các nước láng  
thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ giềng như Trung Quốc, Ja-va, Xiêm La,…  
chồng”.  
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, xã hội  
Thái độ của xã hội đối với bốn nghề trên phong kiến Việt Nam có những tiến bộ về thủ  
được thể hiện trong một bức tranh di cảo tìm công nghiệp và thương mại. Thời gian này  
được ở Bắc Ninh. Bức tranh vẽ bốn người thể những làng, phường thủ công nghiệp, như gốm  
hiện cho bốn nghề khác nhau trong xã hội: Bát Tràng (Hà Nội), dệt Thổ Hà (Bắc Giang),  
nghề sĩ được thể hiện qua hình vẽ một ông dệt Phú Xuân (Thừa Thiên)... đã được mở ra.  
thầy đồ mặt mũi quắc thước, râu dài đang trầm Trong các phường thủ công nghiệp đã diễn ra  
ngâm viết chữ nho; thể hiện cho nghề nông là sự phân hóa chủ thợ (ở Phú Xuân đã có những  
một nam nông dân khỏe mạnh, đĩnh đạc; thể xưởng dệt thuê 13 thợ). Những hình thức bao  
hiện cho nghề công là một phụ nữ gầy gò ốm mua sản phẩm, thuê mướn nhân công đã xuất  
yếu, mặt nhăn nhúm, tay đang in từng tờ tiền hiện, đánh dấu những mầm mống manh nha  
vàng mã. Nghề thương được thể hiện bằng của chủ nghĩa tư bản.  
hình ảnh một người đàn ông có nét mặt tinh  
Cũng trong thời gian này, một số thành thị  
quái đang ấn chiếc chạc trâu vào tay người  
phong kiến đã trở nên phồn thịnh, như Thăng  
nông dân. Chiếc chạc đó nối với con trâu đực  
Long, Phố Hiến, Hội An,... nhiều người nước  
gầy gò, sừng doãng (trâu sừng doãng là loại  
ngoài đã đến đây sinh sống làm cho các hoạt  
trâu ương bướng, khó bảo, không chịu cày  
động buôn bán trao đổi trở nên khá sầm uất.  
bừa nên chỉ nuôi để lấy thịt) – ý ám chỉ người  
Quan hệ buôn bán giữa Việt Nam với các  
buôn trâu lừa người mua – “buôn gian, bán  
quốc gia phương Tây, như Bồ Đào Nha, Tây  
lận”4. Bức di cảo trên thể hiện rất rõ sự kỳ thị  
Ban Nha, Hà Lan,... đã tạo ra những điều kiện  
đối với nghề kinh doanh, đồng thời cũng là  
thuận lợi cho việc thúc đẩy sản xuất, canh tân  
một bằng chứng cho thấy vì sao trong lịch sử  
đất nước. Tuy nhiên, đến thế kỷ XIX, nhà  
người Việt Nam không khuyến khích đi vào  
Nguyễn đã thực hiện những chính sách kìm  
hoạt động kinh doanh, vì sao nghề kinh doanh  
hãm giao lưu kinh tế, thi hành chính sách  
thuế khóa nặng nề. Thậm chí, vì sợ nông dân  
ở Việt Nam chậm phát triển.  
Trong khoảng 5 thế kỷ (từ thế kỉ XI – tụ tập khởi nghĩa, Nhà nước phong kiến thời  
XVI), nền kinh tế hàng hóa Việt Nam đã ra Minh Mạng còn ra chính sách cấm họp chợ.  
đời và phát triển không ngừng có tác dụng Vì vậy, thương nghiệp và thủ công nghiệp rơi  
phần nào trong việc thúc đẩy sức sản xuất vào khủng hoảng, bế tắc và không có cơ hội  
phát triển; tuy vậy nó vẫn ở vào địa vị phụ để phát triển.  
thuộc trong toàn bộ nền sản xuất lúc bấy  
Như vậy, trong xã hội phong kiến Việt  
giờ, mang nặng tính chất tự nhiên, tự cung  
Nam, từ quốc sách của Nhà nước cho đến  
tự cấp, tức là vẫn mang tính chất của một  
tâm lý người dân đã càng làm cho yếu tố  
nền kinh tế hàng hóa giản đơn. Kinh tế hàng  
“trọng nông ức thương” trở nên sâu đậm  
hóa hoàn toàn nằm trong phạm vi ảnh hưởng  
và cản trở việc hình thành kinh doanh trở  
của những quan hệ sản xuất phong kiến. Nền  
thành một ngành độc lập, không phụ thuộc  
công thương nghiệp Việt Nam hoạt động hầu  
vào nông nghiệp. Các ngành sản xuất công  
như chỉ để phục cho nhu cầu của giai cấp  
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đều phát triển  
hơn thời kỳ trước. Sự thành công bước đầu  
của một số nhà kinh doanh người Việt, cùng  
4
PGS,TS. Nguyễn Bá Dương và TS. Đức Uy (chủ  
biên), Giáo trình Tâm lý học kinh doanh, Viện Đại học  
với việc tiếp thu những tư tưởng mới, đã cải  
Mở, Hà Nội, 2007, tr.130.  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
74  
thiện đáng kể hình ảnh doanh nhân và nghề  
- Không biết tiết kiệm, người Việt Nam  
kinh doanh trong con mắt người Việt. Thời kỳ tuy nghèo nhưng không biết tận dụng những  
này đã xuất hiện một tầng lớp tư sản dân tộc, thứ mình có, thường hoang phí;  
giành lại được độc quyền thương mại từ tay  
- Khinh nội hoá với tâm lý chung là sính  
tư sản nước ngoài và bắt đầu gây dựng lòng  
hàng ngoại.  
tự hào được làm nhà kinh doanh. Thương mại  
Trong khi đó, gia đình đại doanh nhân  
và ngoại thương đều phát triển nhanh chóng.  
Trịnh Văn Bô luôn có câu dặn dò con cháu  
Thậm chí, theo học giả Đào Duy Anh, ngay  
của mình là: “kiếm được một đồng, các con  
từ những năm 30 của thế kỷ XX, Việt Nam,  
hãy giữ lại 7 hào cho gia đình và 3 hào để làm  
dưới tên là xứ Đông Pháp, đã đứng thứ hai thế  
từ thiện”5. Đây có thể nói là bằng chứng của  
giới về xuất khẩu gạo, chỉ sau Myanma.  
việc doanh nhân Việt thể hiện trách nhiệm xã  
Cũng vào thời kì này ta có những doanh  
hội của mình đầu thế kỷ 20.  
nhân lớn, làm được nhiều điều cho gia đình,  
Như vậy, trong văn hóa kinh doanh cổ  
đất nước và xã hội như Lương Văn Can, Bạch  
truyền của chúng ta, yếu tố tích cực, phù hợp  
Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trương Văn Bền  
với kinh doanh có phần ít hơn những yếu tố  
(trong đó đặc biệt quan trọng là vai trò của cụ  
tiêu cực. Nhận diện chính xác những yếu tố  
Lương Văn Can trong việc cổ xúy người Việt  
này sẽ giúp chúng ta lý giải được phần nào  
làm giàu, trau dồi kiến thức và kinh doanh).  
những hạn chế của nền kinh tế Việt Nam  
Lương Văn Can, một nhà cách mạng,  
trong những giai đoạn tiếp sau.  
đồng thời là một người thầy lỗi lạc trong giới  
4. Nhận diện văn hóa kinh doanh  
truyền thống Việt Nam  
doanh thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX,  
khi phân tích nguyên nhân không phát triển  
của thương mại nói riêng và của kinh tế Việt  
Nam nói chung, đã đưa ra 10 điểm, đó là:  
Nhìn chung, mặc dù xã hội phong kiến  
không coi trọng hoạt động kinh doanh buôn  
bán, nhưng để duy trì cuộc sống hàng ngày  
thì hoạt động mua bán, kinh doanh nhỏ lẻ,  
manh mún của người dân vẫn diễn ra. Vì vậy,  
chúng ta chỉ có thể nhận diện được văn hóa  
kinh doanh của thời kỳ này qua những hoạt  
- Người mình không có thương phẩm, tức  
là sản xuất kém, ít hàng hoá có uy tín;  
- Không có thương hội, tức là không biết  
liên kết với nhau trong kinh doanh;  
- Không có tín thực, tức là không biết giữ động mua bán ở chợ làng trên khắp các miền  
chữ tín;  
quê, bởi mọi giao dịch mua bán, trao đổi của  
người dân đều tiến hành ở chợ.  
- Không có kiên tâm, ít theo đuổi một  
việc gì đến cùng;  
Chợ Việt Nam có lẽ được hình thành từ  
thời lập quốc. Trong tâm thức người dân Việt,  
chợ Việt Nam không chỉ là nơi trao đổi hàng  
hóa, sản phẩm trong cộng đồng và giữa các  
cộng đồng người Việt với nhau mà chợ còn  
song hành với tiền trình của lịch sử dân tộc;  
mang đậm dấu ấn văn hóa đặc sắc... Chỉ cần  
nhìn vào chợ quê, người ta cũng có thể thấy  
đời sống kinh tế của người dân trong làng.  
- Không có nghị lực, dễ làm khó bỏ;  
- Không biết trọng nghề, do chỉ chú trọng  
vào nghề nông, bỏ qua việc tìm hiểu và nâng  
cao các nghề khác;  
- Không có thương học, tức là không có  
kiến thức về kinh doanh;  
- Kém đường giao thiệp, do xã hội Việt  
Nam luôn đóng cửa với thế giới bên ngoài  
nên hễ ra ngoài là dễ bị lạc lõng, không hoà  
nhập được;  
5 Tọa đàm: Vai trò gia đình doanh nhân VN trong phát  
triển kinh tế và hội nhập vào ngày 10/9/2013 tại Văn  
Phòng VCCI Hà Nội.  
nguyễn tHế anH  
75  
Chợ làng chính là mô hình thu nhỏ của nền của cả người bán lẫn người mua. Người bán  
kinh tế tự cung tự cấp. Người bán hàng và luôn muốn tạo dựng mối quan hệ với những  
khách hàng đều là dân trong một làng hoặc từ người khách hàng quen thuộc, bởi “quen mặt  
các làng xung quanh. Hàng hóa bán ở chợ hầu  
đắt hàng”.  
hết là những sản phẩm “cây nhà, lá vưꢀn”.  
Người buôn bán cũng phải biết giữ đạo  
Chợ cũng là nơi lưu giữ tổng thể những  
nét văn hóa cũng như tục lệ của người dân  
Việt. Bên cạnh việc trao đổi mua bán thông  
thường, chợ xưa còn là nơi giao lưu tình cảm  
anh em, bạn bè, là nơi trao đổi thông tin về  
tình hình gia đình, chòm xóm. Vì vậy, chợ  
chính là một nét văn hóa kinh doanh truyền  
thống - “văn hóa kẻ chợ”;và đã sinh ra câu  
thành ngữ “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì kẻ chợ”  
để vạch một nét chuẩn cấp độ trong phép so  
sánh. Nhưng lịch sử của phố thì có sau lịch  
sử của chợ, bởi chợ là “người mẹ” của phố,  
người mẹ ấy ra đời từ quê. Văn hóa chợ quê  
có từ trước công nguyên, khi loài người có  
nhu cầu trao đổi hàng hóa.  
đức trong kinh doanh. Việc làm ăn theo kiểu  
“ăn xổi ở thì”, “treo đầu dê bán thịt chó”, “bán  
mướp đắng giả làm bầu”, “bán mạt cưa giả  
làm cám” là những hành vi dối trá bị cả xã hội  
tẩy chay, lên án.  
Từ xa xưa, người Việt đã biết tìm hiểu  
tâm lý của người bán hàng và người mua  
hàng: “bán hàng nói thách, làm khách trả  
rẻ”. Người buôn bán cũng nhận thức rõ việc  
cần phải có nét mặt tươi tắn, lời nói nhỏ  
nhẹ, hòa nhã, khéo léo thì mới có thể thu hút  
được khách mua hàng. Vì vậy, người ta vẫn  
truyền nhau những câu như: “bán hàng chiều  
khách”, “bán rao chào khách”, bởi lời nói rất  
quan trọng đối với người mua hàng - “lꢀi nói  
quan tiền, thúng thóc”.  
Chợ còn là nơi thể hiện rất rõ đặc điểm  
tâm lý tiêu dùng của người Việt truyền thống:  
do ít có điều kiện ra khỏi lũy tre làng, người  
Việt có thói quen mua bán nhỏ, thích mua bán  
tại chợ, “tiện đâu mua đấy”. Người dân trong  
làng chỉ tin cậy những gì quen thuộc, e ngại  
những điều xa lạ; do hiểu biết về hàng hóa còn  
hạn chế, nên người Việt Nam truyền thống có  
tâm lý “ăn chắc, mặc bền”.  
Một nét văn hóa quan trọng khác là buôn  
bán nhưng phải biết tiết kiệm, từ ngày xưa  
ông bà ta đã dạy: “buôn tàu, bán bè không  
bằng ăn dè hà tiện”. “Hà tiện mới giàu, cơ  
cầu mới có”, “năng nhặt chặt bị”… nghĩa là  
phải tiết kiệm, phải biết dùng số vốn đã tích  
lũy được đầu tư cho công ăn việc làm để sinh  
thêm đồng lời nữa. Bởi vì, “tiền trong nhà  
tiền chửa, tiền ra cửa tiền đẻ” còn nếu không  
thì cũng chỉ là “tiền dư thóc mục”.  
Khi tìm hiểu một số câu tục ngữ, ca dao  
nói về công việc buôn bán của người Việt,  
chúng ta cũng có thể nhận diện được một số  
nét văn hóa kinh doanh của người Việt Nam  
trong xã hội truyền thống. Mặc cho xã hội kỳ  
thị, bản thân những người làm nghề buôn bán  
đã tự xây dựng những chuẩn mực cho nghề  
của mình. Buôn bán thì phải có lãi, nhưng họ  
cũng bảo nhau “ăn lãi tùy chốn, bán vốn tùy  
nơi” để còn giữ mối khách làm ăn lâu dài.  
Hoặc “trong vốn thì nài, ngoài vốn thì buôn”  
làm sao để vừa thu được lợi nhuận, vừa không  
làm mất khách. Câu “thuận mua vừa bán” trở  
Trong hoạt động sản xuất, nhiều làng nghề  
thủ công của Việt Nam cũng có những quy  
định nghiêm ngặt về đạo đức nghề nghiệp, về  
chữ tín đối với khách hàng – đó cũng là một  
nét văn hóa kinh doanh truyền thống.  
Khó có thể nói nhiều về văn hóa kinh  
doanh truyền thống khi bản thân nghề kinh  
doanh không được coi trọng và phát triển  
rất chậm trong xã hội phong kiến Việt Nam.  
Tuy nhiên, không vì thế mà người Việt Nam  
thành kết quả lý tưởng và là tiêu chí cho mọi không có văn hóa kinh doanh truyền thống.  
cuộc giao dịch mua bán. Điều này sẽ đảm bảo Trên thực tế, những nét văn hóa truyền thống  
cho sự cân bằng lợi ích dẫn đến sự hài lòng của dân tộc, như trọng chữ tín, yêu chuộng sự  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
76  
chân thật, thái độ hòa nhã, sự mềm dẻo, linh đời với công ty của mình. Còn người Hàn  
Quốc thì làm việc rất chăm chỉ và có một ý  
chí quyết tâm cao cho công việc, họ được  
mệnh danh là “những người Đức của châu  
Á”. Những người Hoa ở hải ngoại thì tạo nên  
một mạng lưới về kinh tế, văn hoá theo gia  
tộc và đồng hương mà từ đó tạo nên sức mạnh  
của cộng đồng trên đất khách quê người. Ở  
phuơng tây, họ rất thực dụng, còn những ông  
chủ người Anh nổi tiếng với phong cách quý  
tộc, phớt AngLe.  
hoạt... đã được người Việt xưa vận dụng trong  
các hoạt động kinh doanh thể hiện qua các  
câu tục ngữ nói về nghề kinh doanh. Thêm  
nữa, chính thái độ kỳ thị nghề kinh doanh, sự  
bài xích những kẻ lừa đảo, làm ăn gian dối,...  
cũng là sự biểu hiện của văn hóa kinh doanh  
của dân tộc. Sự phản ứng đối những hành vi  
lừa đảo, gian dối trong kinh doanh chính là  
sự cảnh báo, sự trừng phạt của xã hội buộc  
những người làm kinh doanh phải điều chỉnh  
những hành vi của mình nếu muốn được xã  
hội chấp nhận.  
Vì vậy, muốn có một nền kinh tế phát  
triển bền vững thì Việt Nam nên tìm ra đâu  
là điểm mạnh của mình, đâu là nhược điểm  
cần tránh trong giao thương quốc tế, để tạo  
nên một bản sắc riêng của giới doanh nhân  
Việt Nam. Chúng ta cần phải biết phát huy  
những lợi thế của bản thân, của dân tộc, xem  
trong kho tàng văn hoá dân tộc, trong tục ngữ,  
ca dao có những điểm nào là tốt đẹp, hay ho,  
những gì là truyền thống của dân tộc, đâu là  
tính cách nổi bật của người Việt Nam ta, để  
đem áp dụng vào kinh doanh và cuộc sống.  
Chúng ta cần học hỏi ở những vị doanh nhân  
tiền bối của dân tộc như: Bạch Thái Bưởi,  
Nguyễn Sơn Hà, Lương Văn Can, Đặng Lê  
5. Thay lời kết  
Trong số các quốc gia cùng chịu ảnh  
hưởng của học vấn Nho giáo: Trung Quốc,  
Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan,  
Singapore... thì nước ta là kém phát triển  
nhất, điều đó do nhiều nguyên nhân nhưng  
chúng ta hoàn toàn có thể khắc phục được  
bằng chính những gì chúng ta đang có, đó là  
sự thông minh, cần cù, khéo léo của người  
Việt.  
Ở từng quốc gia phát triển về kinh tế, đều  
có một nền văn hoá kinh doanh riêng. Như  
ở Nhật Bản, từ ông chủ đến nhân viên đều Nguyên Vũ... để xây dựng một nền văn hóa  
cần cù, nghiêm túc trong công việc, những kinh doanh mang bản sắc Việt Nam trong thời  
kỳ hội nhập quốc tế hiện nay./.  
công nhân Nhật có truyền thống gắn bó suốt  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thị Ngọc Anh: Văn hóa kinh doanh của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.  
2. Nguyễn Hoàng Ánh: Văn hóa kinh doanh Việt Nam trên đưꢀng phát triển và hội nhập, Tạp chí Hoạt động  
Khoa học số 550, tháng 03/2005.  
3. Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng: Kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá, Nxb Tri Thức, Hà Nội,  
2010.  
4. Đỗ Minh Cương: Văn hóa kinh doanh và Triết lý kinh doanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.  
5. Vương Quân Hoàng: Văn minh làm giàu và nguồn gốc của cải, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.  
6. Nguyễn Thị Ngọc Oanh: Tìm hiểu hoạt động kinh doanh và văn hóa kinh doanh cổ truyền của ngưꢀi Việt  
Nam, Tạp chí Triết học, số 03/2010.  
7. Trương Hữu Quỳnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hân: Đại cương Lịch sử Việt Nam toàn tập, Nxb Giáo dục,  
Hà Nội, 2001.  
pdf 7 trang Thùy Anh 14760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đôi nét về văn hóa kinh doanh của Việt Nam trong lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoi_net_ve_van_hoa_kinh_doanh_cua_viet_nam_trong_lich_su.pdf