Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH...  
VỀ BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM  
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN  
VŨ DUY LINH*  
Bài báo tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của các quy định về bị hại trong  
hệ thống pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau. Trong mỗi giai đoạn, bị hại  
đều có những đặc trưng riêng về khái niệm cũng như địa vị pháp lý của họ.  
Từ khóa: Tố tụng hình sự, bị hại, cá nhân, pháp nhân, bồi thường thiệt hại do tội  
phạm gây ra, hệ thống pháp luật Việt Nam.  
Ngày nhận bài: 18/11/2020; Biên tập xong: 20/11/2020; Duyệt đăng: 20/11/2020  
The article clarifies the formation and development of regulations on victim in  
the Vietnamese legal system through different stages which has its own characteristics  
about their concept and legal status.  
Keyword: Criminal procedure, victims, individuals, legal entities, compensation  
for damage caused by crimes, Vietnamese legal system.  
ị hại là một trong những đối niệm, quyền và nghĩa vụ của họ. Theo tác  
tượng tham gia tố tụng hình sự  
(TTHS) quan trọng không chỉ ở  
Việt Nam mà còn ở các quốc gia khác. Tại  
các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Nga,  
thường xuyên có một số lượng đáng kể các  
công trình khoa học cũng như các hội thảo  
nghiên cứu về bị hại.  
Có thể nói rằng, trải qua suốt quá trình  
lịch sử, khái niệm cũng như địa vị pháp lý  
của bị hại đã có những thay đổi đáng kể  
trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đến  
giai đoạn hiện đại ngày nay, quy định về  
bị hại được bổ sung, điều chỉnh tương đối  
rõ ràng và cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình  
sự (BLTTHS). Gần đây, các nhà khoa học  
TTHS của Việt Nam đã bắt đầu chú ý nhiều  
đến bị hại, đến địa vị pháp lý cũng như  
sự tham gia của họ vào quá trình TTHS.  
Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng, trên  
cả bình diện lý luận và thực tiễn vẫn còn  
không ít bất cập trong lĩnh vực bị hại.  
giả, sự phát triển các quy định về bị hại ở  
Việt Nam có thể chia làm năm giai đoạn  
như sau:  
Giai đoạn đầu tiên: Giai đoạn phong  
kiến (đến trước năm 1945)  
B
Đây là giai đoạn rất dài trong lịch sử  
Việt Nam, chứng kiến sự hình thành,  
thịnh suy của nhiều triều đại phong kiến,  
và sự kết thúc của nó được đánh dấu với  
sự kiện thoái vị của Bảo Đại - vị vua cuối  
cùng triều Nguyễn năm 1945. Ở giai đoạn  
này, hệ thống pháp luật Việt Nam mang  
dấu ấn đậm nét của pháp luật Trung  
Quốc, hay nói đúng hơn là pháp luật của  
các triều đại phong kiến Trung Quốc. Có  
thể kể đến ba Bộ luật tiêu biểu và có sức  
ảnh hưởng lớn nhất đến xã hội phong  
kiến Việt Nam, bao gồm: Bộ luật Hồng  
Đức (Quốc triều hình luật) ban hành năm  
1428, Bộ luật Trị binh bạo phạm năm 1511;  
Bộ luật Hoàng Việt luật lệ (hay còn gọi là  
Luật Gia Long) năm 1811. Tuy nhiên,  
trong tất cả các văn bản pháp luật kể trên,  
Trong các giai đoạn phát triển của hệ  
thống pháp luật Việt Nam, bị hại được  
quan tâm ở các mức khác nhau và được  
nhìn nhận một cách khác nhau cả về khái  
* Tiến sĩ, Khoa Luật, Học viện An ninh nhân dân  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát  
3
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH...  
thuật ngữ “bị hại” chưa được sử dụng, từ năm 1858 đến Cách mạng tháng Tám  
thay vào đó, các nhà làm luật thời bấy giờ  
sử dụng các thuật ngữ khác như “người  
trình báo về tội phạm” hoặc “người được  
bồi thường”. Đồng thời, pháp luật trong  
giai đoạn này cũng quy định rằng “người  
được bồi thường” hoặc “người trình báo  
về tội phạm”, bằng cách trình bày về thiệt  
hại của mình do tội ác gây ra, có quyền  
kiện trước tòa án (công đường), nghĩa là  
nếu người đó không khai báo thì vụ án  
có thể không được tòa án (quan tòa) xem  
xét. Điều 75 của Bộ luật Trị binh bạo phạm  
năm 1511 đã quy định “... nếu ai đó phạm  
tội, và chỉ cần có người trình báo điều này với  
quan tòa, thì hành vi phạm tội của anh ta sẽ  
bị trừng phạt”1. Ngoài ra, trong quá trình  
thi hành án, quyền được bồi thường thiệt  
hại của “người được bồi thường” hoặc  
“người trình báo về tội phạm” cũng được  
đề cập trong các văn bản pháp luật giai  
đoạn này. Điều 75 Bộ luật Hồng Đức có  
nêu: “Nếu quan tòa nhận tiền bồi thường mà  
không đưa nó cho người được bồi thường thì  
sẽ bị phạt tiền”2.  
năm 1945, Việt Nam là thuộc địa của  
Pháp, do đó hệ thống pháp luật, đặc biệt  
là luật TTHS chịu ảnh hưởng không nhỏ  
của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa  
(Romano-Germanic). Trong thời gian này,  
ở nước ta tồn tại ba hệ thống pháp luật ở  
ba miền khác nhau (Bắc kỳ, Trung kỳ và  
Nam kỳ). Do Nam kỳ lúc này là xứ thuộc  
địa sử dụng luật TTHS của Pháp nên các  
quy định về bị hại trong thời gian này ở  
Nam kỳ là tương đối đầy đủ và tiến bộ.  
Trong khi đó, Trung kỳ là xứ độc lập nên  
vẫn bảo lưu và sử dụng Luật Gia Long  
truyền thống. Ở Bắc kỳ, do là xứ bảo hộ  
nên hệ thống pháp luật có nhiều sự giao  
thoa về luồng tư tưởng giữa truyền thống  
phong kiến phương Đông và hiện đại  
phương Tây. Lúc này, luật ở Bắc kỳ không  
sử dụng các thuật ngữ “người được bồi  
thường” hoặc “người trình báo về tội  
phạm”, thay vào đó là thuật ngữ “người  
tố giác” (Điều 9 và Điều 39). Tuy nhiên,  
Bộ luật Bắc kỳ chỉ quy định thuật ngữ như  
vậy chứ không đưa ra khái niệm của nó.  
Như đã đề cập, trong thời kỳ này, hệ  
thống pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng  
nặng nề của tư tưởng Nho giáo Trung  
Quốc, tức là pháp luật công nhận quyền  
sở hữu tuyệt đối của vua và các tầng lớp  
quan lại đối với tài sản. Bên cạnh đó,  
quan hệ vua - tôi, quan lại - dân thường,  
vợ - chồng, cha - con… trước pháp luật là  
không bình đẳng. Ví dụ như chồng đánh  
vợ sẽ không bị coi là tội, nhưng vợ đánh  
chồng thì sẽ bị xử tội nặng, hoặc cũng  
là trộm cắp, nhưng trộm cắp tài sản nhà  
quan lại sẽ bị xử tội nặng hơn. Các vấn đề  
nêu trên cũng trực tiếp ảnh hưởng đến địa  
vị pháp lý của bị hại trong thời bấy giờ.  
Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1945 đến  
năm 1988  
Sau Cách mạng Tháng Tám năm  
1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa  
(VNDCCH) ra đời. Thuật ngữ “người bị  
hại” lần đầu tiên được sử dụng như một  
khái niệm trong luật tố tụng hình sự trên  
cơ sở Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối  
cao VNDCCH số 16/TATC ngày 27/9/1974.  
Đồng thời, người bị hại được hiểu là “công  
dân bị tội phạm trực tiếp gây tổn hại về thể  
chất, tài sản hoặc tinh thần”3. Như vậy, có  
thể thấy rằng trong khuôn khổ khái niệm  
người bị hại trong Nghị quyết này, chỉ một  
cá nhân được đề cập, cụ thể là một công  
dân. Theo đó, pháp nhân hoặc những  
Cũng cần lưu ý rằng trong giai đoạn  
1ꢀ Trị binh bạo phạm - Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, người không phải là công dân Việt Nam  
II, tr.60 và 231 (1998), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
thì không thể được công nhận là bị hại.  
2ꢀ Quốc triều hình luật - Đại Việt sử ký toàn thư,  
tập I, II, tr.60 và 231 (1998), Nxb Khoa học xã hội, 3ꢀ Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án  
Hà Nội.  
nhân dân tối cao Việt Nam.  
4
Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
VŨ DUY LINH  
Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1988 đến theo giấy triệu tập này lại không hề được  
năm 2003  
đề cập đến. Sự thiếu sót này, theo tác giả,  
là không tạo nên một thói quen pháp lý  
cần thiết ở người bị hại, đồng thời cũng  
là nguyên nhân gây cản trở cho quá trình  
điều tra các vụ án hình sự trong giai đoạn  
nêu trên.  
Giai đoạn này ghi một dấu mốc quan  
trọng, BLTTHS đầu tiên của nước Cộng  
hòa Xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt  
Nam số 7-LCT/HĐNN8 đã được Quốc hội  
thông qua ngày 28/6/1988. Trong bộ luật  
này, khái niệm người bị hại được đề cập tại  
Giai đoạn thứ tư: Từ năm 2003 đến  
khoản 1 Điều 39. Theo đó, người bị hại là năm 2015  
“người bị tổn hại về thể chất hoặc tài sản hoặc  
tổn hại về mặt tinh thần do tội phạm gây ra”.  
Bên cạnh đó, cũng trong Điều 39, khoản 2  
quy định về quyền của người bị hại, cụ thể  
là: “Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp  
của họ có quyền đưa ra chứng cứ và những  
yêu cầu; được thông báo về kết quả điều tra; đề  
nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người  
giám định, người phiên dịch theo quy định của  
Bộ luật này; có quyền đề nghị mức bồi thường  
và các biện pháp bảo đảm bồi thường; tham gia  
phiên toà; khiếu nại quyết định của cơ quan  
điều tra, Viện kiểm sát; kháng cáo bản án và  
quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng  
như về hình phạt đối với bị cáo”. Tuy đã có  
những bước tiến đáng kể về trình độ lập  
pháp, song nếu so sánh các quy định về bị  
hại của BLTTHS 1988 với các Bộ luật sau  
này thì có thể nhận ra rất nhiều điểm hạn  
chế như: phạm vi các quyền hẹp hơn đáng  
kể, khái niệm chưa rõ ràng và đầy đủ… Sự  
hạn chế này đã gây rất nhiều khó khăn cho  
người bị hại trong việc chủ động và tích  
cực tham gia vào trong quá trình tố tụng  
cũng như việc bảo đảm lợi ích chính đáng  
của họ trong giải quyết các vụ án hình sự.  
Giai đoạn này chứng kiến sự ra đời  
của BLTTHS năm 2003 được đánh giá là  
văn bản luật có nhiều tiến bộ trong quan  
điểm pháp lý về người tham gia tố tụng  
nói chung, địa vị tố tụng của bị hại cũng  
vì thế mà được nâng cao. Tại Điều 51 Bộ  
luật này, khái niệm người bị hại đã phần  
nào được thay đổi, cụ thể là “người bị hại là  
người bị tội phạm gây tổn hại về thể chất, tài  
sản hoặc tinh thần”. Không chỉ có sự thay  
đổi về mặt sắp xếp câu từ trong khái niệm  
về người bị hại trong BLTTHS năm 2003,  
nội dung các quy định khác liên quan đến  
người bị hại cũng được thay đổi đáng kể,  
phạm vi quyền và nghĩa vụ của người bị  
hại được mở rộng, địa vị pháp lý của họ  
qua đó cũng được làm vững chắc thêm.  
Có thể nói rằng, trong hệ thống các  
quy phạm pháp luật Việt Nam giai đoạn  
này, Luật Phòng, chống mua bán người  
số 66/2011/QH12 ngày 29/3/2011 chiếm  
một vị trí quan trọng, là một bước tiến  
trong việc xây dựng các quy định cũng  
như thực hiện các quyền của người bị hại.  
Văn bản luật này đã sử dụng thuật ngữ  
“nạn nhân” và định nghĩa nó trong khoản  
4 Điều 2. Theo đó, “nạn nhân là một người  
bị tấn công bởi các hành vi phạm tội do luật  
này quy định”4. Hơn nữa, Luật này cũng  
đề cập đến vấn đề nếu có đủ cơ sở để công  
nhận một người cụ thể là nạn nhân thì cơ  
quan có thẩm quyền phải ra “quyết định  
công nhận nạn nhân” cho người đó.  
Khoản 3 Điều 39 BLTTHS năm 1988  
quy định về nghĩa vụ của người bị hại,  
theo đó “Người bị hại phải có mặt theo giấy  
triệu tập của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,  
Toà án; nếu từ chối khai báo mà không có lý  
do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm  
theo Điều 242 Bộ luật hình sự”. Liên quan  
đến quy định này, chỉ yêu cầu người bị  
hại phải có mặt theo giấy triệu tập của  
những người tiến hành tố tụng, tuy nhiên  
Một điểm chung có thể chỉ ra trong khái  
niệm về bị hại ở các giai đoạn đến trước  
trách nhiệm pháp lý nếu không có mặt 4ꢀ Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát  
5
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH...  
năm 2015 đó là chỉ có “cá nhân” được coi áp dụng pháp luật liên quan đến bị hại  
là bị hại, còn pháp nhân thì không. Điều  
này được nhiều nhà khoa học và cả những  
người làm công tác thực tiễn cho là bất hợp  
lý, bởi lẽ trong thực tiễn xét xử các vụ án  
tại Việt Nam, thường có những trường  
hợp không chỉ một cá nhân, mà cả một  
pháp nhân cũng có thể trở thành bị hại  
trong vụ án hình sự. Đơn cử như bản án  
hình sự số 182/2011/HSST ngày 30/12/2011  
của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí  
Minh “Trần Phước Toàn phạm tội lừa đảo  
chiếm đoạt tài sản của ngân hàng thương  
mại Sacombank”; hoặc bản án số 201/2011/  
HSST ngày 23/5/2011 của Tòa án nhân  
dân thành phố Hà Nội trong vụ án hình  
sự “Nguyễn Tuấn Anh thực hiện hành  
vi lừa đảo, tham ô tài sản với số tiền hơn  
6,4 tỷ đồng của Ngân hàng thương mại  
Agribank”. Các bản án này coi ngân hàng  
thương mại Sacombank và Agribank là bị  
hại trong vụ án hình sự. Những sự việc  
như vậy đã bổ sung kịp thời cho những  
thiếu sót của pháp luật về việc công nhận  
một pháp nhân là bị hại trong TTHS. Nghĩa  
là, theo quy định của BLTTHS giai đoạn  
này, để tham gia vào vụ án hình sự với tư  
cách là người bị hại, pháp nhân phải kiến  
nghị đối với những người có thẩm quyền,  
điều này đã gây khó khăn không chỉ cho  
bị hại mà còn cả cho các cơ quan, người  
có thẩm quyền tiến hành TTHS. Vì vậy, đa  
số các học giả và các chuyên gia Việt Nam  
cho rằng để đảm bảo quyền của một pháp  
nhân, cần phải thừa nhận họ là bị hại giống  
như cá nhân trong khái niệm5.  
để làm cơ sở cho việc đưa ra các quy  
định mới về bị hại. Thuật ngữ “bị hại”  
chính thức được sử dụng và định nghĩa  
tại Điều 62 BLTTHS năm 2015: “Bị hại  
là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất,  
tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị  
thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây  
ra hoặc đe dọa gây ra”. Có thể nói rằng,  
đây là BLTTHS đầu tiên công nhận pháp  
nhân là bị hại. Tuy nhiên, về mặt khoa  
học pháp lý, vẫn còn một số các tranh  
cãi xảy ra trong quy định khái niệm về  
bị hại của Bộ luật này:  
Một là, BLTTHS năm 2015 đưa ra thuật  
ngữ “trực tiếp” khi gây tổn hại cho bị hại  
của tội phạm.  
Trong một nghiên cứu của mình, tác  
giả Đinh Thị Mai cho rằng cho rằng việc  
sử dụng thuật ngữ “trực tiếp” trong luật  
tố tụng hình sự có thể hạn chế những  
người tuy không trực tiếp bị tội phạm gây  
thiệt hại nhưng họ có quyền và lợi ích bị  
xâm phạm liên quan đến việc phạm tội  
như nhân thân của bị hại6… Tuy nhiên,  
theo tác giả, việc sử dụng thuật ngữ “trực  
tiếp” như vậy trong luật TTHS là hoàn  
toàn hợp lý.  
Hai là, một số nhà khoa học đặt ra câu  
hỏi là trong trường hợp bị đe dọa gây hại,  
người này có nên được công nhận là nạn  
nhân hay không?  
Một số học giả Việt Nam cho rằng thiệt  
hại do tội phạm gây ra cho bị hại là thiệt  
hại thực tế, tức là những gì đã xảy ra trên  
thực tế và đang diễn ra trên thực tế. Trong  
trường hợp bị đe dọa gây hại, người đó  
không nên được coi là bị hại.  
Giai đoạn thứ năm: Từ năm 2015 đến nay  
Năm 2015, BLTTHS mới của nước  
CHXHCN Việt Nam được thông qua,  
quy định những điều khoản mới về bị  
hại. Nhà lập pháp đã tính đến những lỗ  
hổng trong các quy định về bị hại của  
BLTTHS trước đó, cũng như đánh giá  
Trong khi đó, một số tác giả khác cho  
rằng, tùy theo cấu thành của tội phạm để  
xem xét vấn đề này. Nếu trong các vụ án  
mà tội phạm hình sự có cấu thành hình  
những bất cập, hạn chế trong thực tiễn thức thì không thể công nhận một người  
6ꢀ  
5ꢀ Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật  
Tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội  
Đinh Thị Mai (2016). Quyền của người bị hại  
trong luật TTHS Việt Nam  
6
Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
VŨ DUY LINH  
là bị hại nếu họ chỉ bị đe dọa gây ra thiệt tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; iv)  
hại. Còn đối với các tội phạm có cấu thành  
vật chất thì thiệt hại thực tế không phải là  
một dấu hiệu bắt buộc. Vì vậy, nếu một  
người bị tội phạm đe dọa gây thiệt hại  
thì trong trường hợp này, họ có thể được  
công nhận là bị hại.7  
Theo chúng tôi, phạm vi bị hại không  
thể chỉ giới hạn ở những người bị thiệt hại  
thực sự. Do đó, một người bị gây hại bởi  
tội phạm, trong mọi trường hợp (dù là  
cấu thành vật chất và hình thức) nên được  
công nhận là bị hại trong một vụ án hình  
sự. Dấu hiệu “gây ra” hoặc “đe dọa gây  
thiệt hại của tội phạm” cần được phản  
ánh trong khái niệm “bị hại”.  
Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề  
nghị thay đổi người định giá, người dịch  
thuật; v) Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị  
cáo và người tham gia phiên tòa và một số  
quyền khác.  
Cần phải nhấn mạnh rằng, sự bổ sung  
các quyền trên là vô cùng cần thiết và có  
ý nghĩa, một mặt giúp bảo vệ một cách  
thiết thực quyền và lợi ích chính đáng  
của bị hại; mặt khác là cơ sở quan trọng  
để những người có thẩm quyền tiến hành  
tố tụng thực hiện các hoạt động của mình  
một cách thuận lợi, khách quan và khoa  
học8. Tuy nhiên, theo tác giả, một số  
quyền được quy định bổ sung như vừa  
liệt kê cũng cần được cơ quan nhà nước  
Như vậy, dựa trên những phân tích  
trên, tác giả cho rằng nên định nghĩa hợp có thẩm quyền ban hành văn bản hướng  
lý hơn về bị hại như sau: “Bị hại là cá nhân dẫn, giải thích rõ hơn, cụ thể hơn nhằm  
trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài  
sản hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về thể chất,  
tinh thần, tài sản; cũng như pháp nhân bị  
thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra  
hoặc đe dọa gây ra”. Bị hại tham gia tố tụng  
trong vụ án hình sự, có quyền và nghĩa vụ  
riêng do pháp luật TTHS xác lập.  
Bên cạnh quy định khái niệm về bị hại,  
hệ thống các quyền của người tham gia tố  
tụng này cũng được quy định tại khoản  
2 Điều 62 BLTTHS năm 2015, bao gồm 14  
quyền cụ thể được đề cập từ điểm (a) đến  
điểm (o). Nghiên cứu quy định về quyền  
của bị hại, tác giả đưa ra một ý kiến như sau:  
bảo đảm những quyền này được thực thi  
có hiệu quả trên thực tế.  
Thứ hai, luật có đề cập đến người đại  
diện của bị hại, tuy nhiên lại không hề  
quy định ai có thể là người đại diện của  
người bị hại. Điều này dẫn đến một thực  
tế là hiện nay, khi xác định người đại diện  
của bị hại, những người có thẩm quyền  
tiến hành tố tụng vẫn phải dựa vào quy  
định về người đại diện trong pháp luật  
dân sự. Đây thực sự là một điểm bất hợp  
lý. Chính vì vậy, theo tác giả, Điều 62 cần  
phải bổ sung ai có thể là người đại diện  
của bị hại trong các vụ án hình sự.  
Thứ nhất, các quyền được pháp luật  
cung cấp cho bị hại quy định tại khoản 2  
Điều 62 BLTTHS năm 2015 so với khoản 2  
Điều 51 BLLTTHS năm 2003 đã được bổ  
sung đáng kể, bao gồm: i) Được cơ quan tố  
tụng thông báo, giải thích quyền và nghĩa  
vụ của họ; ii) Đưa ra chứng cứ; iii) Trình  
bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật  
liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền  
Thứ ba, có một quyền rất quan trọng  
được hầu hết luật TTHS của các nước phát  
triển như Nga, Hoa Kỳ hay các nước EU  
trang bị cho bị hại, đó là quyền được từ  
chối khai báo, làm chứng chống lại chính  
họ hoặc người thân của họ trong quá  
trình tiến hành tố tụng. Thiết nghĩ đây  
là tư tưởng pháp lý rất tiến bộ, vừa đảm  
8ꢀ Đặng Hoàng Phương (2015) Địa vị pháp lý của  
7ꢀ  
Lê Cảm (2015), Các nghiên cứu chuyên khảo bị hại trong TTHS - Áp dụng trong thực tiễn TTHS  
về phần chung Luật hình sự, Tập 1, Nxb Công an trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ,  
nhân dân, Hà Nội.  
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát  
7
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH...  
bảo tính nhân văn, nhân đạo, vừa là cách này thực hiện việc dẫn giải, mà chính vì một  
để giảm thiểu và loại bỏ những lời khai,  
chứng cứ không khách quan, không trung  
thực được đưa ra bởi bị hại. Chính vì vậy,  
khoản 2 Điều 62 nên bổ sung quyền này  
đối với bị hại để thỏa mãn các yêu cầu trên.  
Khoản 4 Điều 62 quy định về nghĩa vụ  
của bị hại như sau: Bị hại có nghĩa vụ: a)  
Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm  
quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý  
vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc  
không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn  
giải; b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ  
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.  
Như vậy, Luật TTHS của Việt Nam  
không hề quy định trách nhiệm hình sự  
đối với việc vi phạm nghĩa vụ của bị hại  
như là trách nhiệm hình sự đối với việc  
trốn tránh khai báo hoặc trốn tránh khỏi  
các hoạt động điều tra bắt buộc; trách  
nhiệm hình sự đối với việc từ chối khai  
báo khi không có lý do chính đáng hoặc  
khai báo gian dối… Đây có thể coi là  
một thiếu sót, vì việc không quy định  
trách nhiệm hình sự đối với các hành vi  
này sẽ không thể xây dựng nên một thói  
quen pháp lý cần thiết đối với bị hại,  
không đảm bảo các điều kiện cần thiết  
để cơ quan chức năng tiến hành các hoạt  
động tố tụng, cũng như gây cản trở các  
hoạt động điều tra. Vì vậy, theo quan  
điểm của tác giả, rất cần thiết phải bổ  
sung quy định về trách nhiệm pháp lý  
nếu bị hại không thực hiện nghĩa vụ của  
mình hoặc thực hiện nghĩa vụ một cách  
sai trái.  
khi họ cố tình vắng mặt dù trước đó được  
Viện kiểm sát, Tòa án triệu tập hợp lệ, đúng  
theo quy định của pháp luật, mà họ vẫn  
không có mặt theo giấy triệu tập. Điều đó  
có nghĩa là họ đã tự nguyện khước từ quyền  
lợi hợp pháp mà pháp luật dành cho họ. Từ  
những phân tích vừa nêu, tác giả kiến nghị  
nên bỏ nội dung quy định tại điểm a khoản  
4 Điều 62 BLTTHS năm 2015 “trường hợp  
cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng  
hoặc không do trở ngại khách quan thì có  
thể bị dẫn giải” vì không phù hợp và thiếu  
tính khả thi trên thực tế./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Quốc hội, Bộ luật tố tụng hình sự năm  
2015;  
2. Lê Cảm (2015), Các nghiên cứu chuyên  
khảo về phần chung Luật hình sự, Tập 1, Nxb  
Công an nhân dân, Hà Nội;  
3. Quốc triều Hình luật (1995), Nhà xuất  
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;  
4. Hoàng Việt Luật lệ (1994) Nhà xuất bản  
Văn hóa thông tin, Hà Nội;  
5. Các bộ luật An Nam (1922), Nhà xuất  
bản Đông Dương, Hà Nội;  
6. Đinh Thị Mai (2014).Quyền của người bị  
hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà  
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội;  
Liên quan đến nghĩa vụ của bị hại, khoản  
4 Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định bị  
hại có thể bị dẫn giải trong trường hợp cố  
ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng  
hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt  
động điều tra, truy tố, xét xử. Từ thực tiễn  
thi hành BLTTHS năm 2003 cho thấy, hầu  
như không có trường hợp nào người bị hại  
bị dẫn giải trong giai đoạn truy tố, kể cả ra  
tòa án phục vụ việc xét xử. Lý do không  
7. Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật  
Tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.  
8. Đặng Hoàng Phương (2015) Địa vị pháp  
lý của bị hại trong tố tụng hình sự - Áp dụng  
trong thực tiễn tố tụng hình sự trên địa bàn  
thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Đại học  
phải vì thiếu cơ sở pháp lý để các cơ quan Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
8
Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
pdf 6 trang Thùy Anh 12200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflich_su_hinh_thanh_va_phat_trien_cac_quy_dinh_ve_bi_hai_tron.pdf