Pháp luật về phân cấp quản lý quảng cáo thương mại tại Việt Nam hiện nay

PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI TẠI  
VIỆT NAM HIỆN NAY  
Trần Thị Mai Phước1*  
Tóm tắt: Bài viết này giới thiệu khái quát về pháp luật phân cấp quản lý quảng  
cáo thương mại theo quy định hiện hành. Trên cơ sở phân tích một số nội dung chưa  
hoàn thiện trong quy định của pháp luật về quản lý quảng cáo thương mại, tác giả đã  
đưa ra một số đề xuất sửa đổi Luật Thương mại và Luật Quảng cáo hiện hành, nhằm  
góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý quảng cáo thương mại. Trong đó,  
nổi bật là ý kiến đề xuất sáp nhập quy định về quản lý quảng cáo thương mại trong Luật  
Thương mại năm 2005 vào Luật Quảng cáo năm 2012, đồng thời xây dựng các nguyên  
tắc quản lý chung và quản lý quảng cáo đặc thù. Đặc biệt, các nhà làm luật cần xem  
phân cấp là một công cụ hỗ trợ đắc lực để xây dựng các nguyên tắc cho phù hợp, giúp  
hoạt động quản lý trong lĩnh vực này đạt hiệu quả cao hơn.  
Từ khóa: Pháp luật phân cấp quản lý, quảng cáo thương mại, Luật Thương mại,  
Luật Quảng cáo.  
Abstract: This article provides an overview of the law on decentralization of  
commercial advertising management according to current regulations. On the basis of  
analyzing a number of incomplete contents in the provisions of the law on management  
of commercial advertising, the author has made some suggestions for amend the current  
Commercial Law and the Law on Advertising, in order to contribute to the improvement  
of the commercial advertising management legal system. In which, remarkable is the  
suggestion to merge regulations on commercial advertising management in the  
Commercial Law 2005 into the Law on Advertising 2012, and at the same time to  
develop general management principles and specific advertising management. In  
particular, legislators need to consider decentralization as an effective support tool to  
develop appropriate principles, helping management activities in this field to be more  
effective.  
1 * Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh;  
Nghiên cứu sinh ngành Luật, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.  
228  
Keywords: Law on decentralization of management, commercial advertising,  
Commercial Law, Advertising Law.  
Giới thiệu  
Từ sau Hiến pháp 2013, thuật ngữ “phân cấp” đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các  
văn bản pháp luật và trên các phương tiện truyền thông ở Việt Nam. Trong lĩnh vực  
quản lý quảng cáo nói chung và quảng cáo thương mại nói riêng, mặc dù cũng đã có  
một số quy định thể hiện sự phân cấp quản lý. Thế nhưng, cả hai văn bản luật liên quan  
đến lĩnh vực này đều được ban hành trước Hiến pháp năm 2013, đó là Luật Thương mại  
năm 2005 và Luật Quảng cáo năm 2012. Có lẽ vì thế mà phân cấp chưa được sử dụng  
một cách khoa học và triệt để trong các văn bản này. Từ đó, các quy định của pháp luật  
hiện hành về quản lý quảng cáo thương mại (QCTM) đã bộc lộ nhiều hạn chế.  
Mặt khác, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng Luật Thương mại năm 2005 đang đứng  
trước yêu cầu bị thay thế hoặc ít nhất phải được sửa đổi, bổ sung ngay trong nhiệm kỳ  
Quốc hội này. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp và cấp thiết, thôi thúc tác giả nghiên  
cứu “Pháp luật về phân cấp quản lý quảng cáo thương mại tại Việt Nam hiện nay” để  
kịp thời góp thêm tiếng nói vào việc hoàn thiện các quy định này trong thời gian tới.  
1. Một số quy định của pháp luật về phân cấp quản lý quảng cáo thương mại tại  
Việt Nam và một số thuật ngữ được sử dụng trong bài  
1.1. Một số thuật ngữ được sử dụng trong bài  
Trước khi đề cập đến pháp luật về phân cấp quản lý QCTM, thiết nghĩ cần phải làm rõ  
một số thuật ngữ được sử dụng trong bài viết này.  
- Trước hết là từ “phân cấp” hay “phân cấp quản lý” được các tác giả Nguyễn Cửu Việt  
và Trương Đắc Linh (2011) nhận định rằng “thực ra như là một, vì muốn quản lý thì  
thường phải “phân cấp”, phân cấp là để tiện quản lý. “Phân cấp quản lý” là “khái  
niệm Việt Nam”, nhưng có lẽ nó xuất xứ từ nước ngoài với nguyên tắc phi tập trung  
hóa quản lý, hay phân quyền và tản quyền” (tr.4). Đúng như thế, trên thế giới, nhiều tài  
liệu nước ngoài sử dụng từ “phân quyền” hay “phi tập trung” thay vì sử dụng từ “phân  
cấp” hay “phân cấp quản lý” như ở Việt Nam. Tác giả Mai Văn Thắng (2012) cho rằng  
“phân quyền” bắt nguồn từ tiếng Anh là “decentralization” hay “decentralisation”. Thế  
nhưng, các tác giả Vũ Thành Tự Anh và Lê Xuân Bá thì sử dụng từ “devolution” để nói  
229  
về phân quyền còn từ “decentralization” khi nói về phân cấp. Đây cũng là quan điểm  
của rất nhiều tác giả Việt Nam khi đề cập đến các thuật ngữ này. Khi đọc tài liệu tiếng  
Anh, tác giả thấy cùng là từ “decentralization” nhưng tùy vào ngữ cảnh mà có khi dịch  
là “phân cấp”, có lúc dịch là “phân quyền”. Như vậy, mới nói về thuật ngữ tiếng Anh  
đã thấy tính đa dạng của phân cấp, còn nghiên cứu về nội dung thì đúng là “Nội hàm  
của khái niệm này cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất” (Phạm Hồng Thái, Nguyễn  
Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Chí, 2011). Trong bài viết này, tác giả thống nhất sử dụng  
từ “phân cấp”, được chuyển ngữ chủ yếu từ thuật ngữ “decentralization” trong tiếng  
Anh.  
Trên thế giới, “Phân cấp có nghĩa là chuyển giao trách nhiệm quản lý, huy động và phân  
bổ nguồn lực từ trung ương đến các đơn vị cấp bộ, ngành và các địa phương. Ngoài ra,  
sự phân cấp có thể được hiểu theo hai chiều: thứ nhất đó là nơi nào mà người ra quyết  
định được xác định? và người ra quyết định chịu trách nhiệm về tới đối tượng nào?”  
(Norman Uphoff, 1986, tr.221-222). Hay “phân cấp là một cải cách dân chủ, nhằm tìm  
cách chuyển giao chính trị, cơ quan hành chính, tài chính và lập kế hoạch từ trung ương  
đến chính các chính quyền địa phương. Nó tìm cách thúc đẩy sự tham gia của cộng  
đồng, trao quyền cho người dân địa phương đưa ra quyết định của riêng [họ] và nâng  
cao trách nhiệm giải trình. Nó cũng nhằm mục đích giới thiệu hiệu quả và hiệu lực trong  
việc tạo ra và quản lý các nguồn lực và trong việc cung cấp các dịch vụ”  
(Decentralisation Secretariat (1994), dẫn theo Jesper Steffensen in Anwar Shah with  
Sana Shah (Ed), 2006, p.94).  
Ở Việt Nam, nhìn từ góc độ pháp luật thì cả từ “phân cấp” lẫn “phân cấp quản lý” hay  
“phân cấp quản lý nhà nước” đều chưa từng được định nghĩa trong một văn bản pháp  
luật nào. Do vậy, có rất nhiều nghiên cứu đưa ra định nghĩa hoặc giải thích tương đối  
khác nhau về phân cấp. Chẳng hạn: “Phân cấp chính là phân quyền giữa trung ương và  
địa phương” (Nguyễn Cửu Việt, 1997); “Phân cấp là phân ra, chia thành các cấp, các  
hạng” (Nguyễn Như Ý, 1999); “Phân cấp có sự chuyển giao quyền lực quản lý xuống  
các cấp dưới để thực hiện cho sát dân và sát tình hình thực tiễn, đồng thời, để giảm bớt  
khối lượng cho cấp trên khỏi phải trực tiếp giải quyết những việc sự vụ. Việc phân cấp  
phải gắn trách nhiệm với quyền hạn rõ ràng và bảo đảm tính thống nhất từ trung ương  
đến cơ sở” (Tô Tử Hạ, 2003); “Phân cấp là quá trình chuyển giao quyền hạn và trách  
nhiệm từ chính quyền trung ương cho các chính quyền địa phương hay cho khu vực  
kinh tế tư nhân” (Vũ Thành Tự Anh, 2012). Hay “phân cấp là việc “chuyển giao trách  
nhiệm” lập kế hoạch, quản lý, tạo và phân bổ nguồn lực từ Chính phủ trung ương cho  
230  
các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan khác thuộc cơ cấu tổ chức bộ máy chính phủ trung  
ương và các đơn vị cấp dưới hay chính quyền địa phương trong hệ thống hành chính  
thứ bậc” (Bùi Thị Thùy Nhi, 2019)…  
Tương tự, phân cấp quản lý nhà nước cũng là thuật ngữ chưa có sự thống nhất trong  
giới nghiên cứu. Nếu như các tác giả Nguyễn Cửu Việt và Trương Đắc Linh (2011) cho  
rằng “Phân cấp quản lý” là “sự phân chia các đơn vị hành chính - lãnh thổ, tổ chức chính  
quyền địa phương và phân định thẩm quyền hợp lý giữa các cấp chính quyền tương ứng  
cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của mỗi cấp để nhằm thực thi hiệu  
quả hơn quyền lực nhà nước” (tr.4-5) thì theo tác giả Phạm Duy Nghĩa (2012a), “phân  
cấp quản lý nhà nước là phân công, phân nhiệm trong nội bộ nền hành chính quốc gia,  
trong đó trước hết là phân chia thẩm quyền giữa cấp trung ương và cấp địa phương”.  
Dung hòa các quan điểm trên, tiếp cận dưới góc độ pháp luật về quản lý nhà nước, trong  
bài viết này, tác giả tạm định nghĩa: Phân cấp là quá trình chuyển giao quyền hạn và  
trách nhiệm từ chính quyền trung ương đến các bộ, ngành và đến chính quyền địa  
phương trong hệ thống hành chính. Còn Phân cấp quản lý là quá trình chuyển giao  
quyền hạn và trách nhiệm quản lý từ chính quyền trung ương đến các bộ, ngành và đến  
chính quyền địa phương trong hệ thống hành chính.  
- Quảng cáo thương mại được Điều 102 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa “là  
hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt  
động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”.  
- Kết nối các thuật ngữ trên, ta có thể hiểu rằng pháp luật về phân cấp quản lý quảng  
cáo thương mại là hệ thống các quy định của pháp luật về việc chuyển giao quyền hạn  
và trách nhiệm quản lý hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu  
với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình; từ chính quyền  
trung ương đến các bộ, ngành và đến chính quyền địa phương trong hệ thống hành  
chính.  
1.2. Một số quy định của pháp luật về phân cấp quản lý quảng cáo thương mại tại  
Việt Nam  
Về pháp luật về phân cấp quản lý QCTM có hai vấn đề cơ bản được quy định trong  
Luật Quảng cáo năm 2012 là: Nội dung quản lý nhà nước về quảng cáo (Điều 4) và việc  
231  
quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo (được  
nhắc đến tại Điều 5 và nhiều điều luật khác).  
* Nội dung quản lý nhà nước về quảng cáo  
Điều 4 Luật Quảng cáo năm 2012 quy định các Nội dung quản lý nhà nước về hoạt  
động quảng cáo bao gồm: “1/.Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm  
pháp luật về hoạt động quảng cáo; 2/.Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy  
hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển hoạt động quảng cáo; 3/.Phổ biến, giáo dục pháp  
luật về hoạt động quảng cáo; 4/.Chỉ đạo hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học,  
công nghệ trong hoạt động quảng cáo; 5/.Chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác đào tạo,  
bồi dưỡng nhân lực cho hoạt động quảng cáo; 6/.Tổ chức thực hiện công tác khen  
thưởng trong hoạt động quảng cáo; 7/.Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quảng  
cáo; và 8/.Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt  
động quảng cáo”.  
Như vậy, để góp phần đẩy mạnh hoạt động quảng cáo phát triển ổn định và đúng pháp  
luật thì việc quản lý nhà nước về quảng cáo cần được thực hiện đúng và đầy đủ các nội  
dung trong chuỗi hoạt động nêu trên. Bắt đầu từ việc Ban hành, tổ chức thực hiện các  
văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáo; Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược quy  
hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển; Phổ biến, giáo dục pháp luật… cho đến việc  
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong việc thực hiện  
hoạt động quảng cáo.  
* Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo và phân cấp thẩm quyền quản  
lý nhà nước về hoạt động quảng cáo thương mại  
Để thực hiện các nội dung quản lý nhà nước tại Điều 4, tất nhiên một cơ quan không  
thể thực hiện được mà đòi hỏi phải có sự phân công, phối hợp giữa nhiều cơ quan khác  
nhau. Thông qua quy định tại Điều 5 Luật Quảng cáo và các Điều 26, 27 Nghị định  
181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013, ta thấy các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động  
quảng cáo – với các nhiệm vụ được phân cấp, bao gồm:  
- Chính phủ: thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo.  
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản  
lý nhà nước về hoạt động quảng cáo, có nhiệm vụ: xây dựng trình cơ quan có thẩm  
232  
quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền cơ chế, chính sách, pháp luật về hoạt  
động quảng cáo; hướng dẫn, đôn đốc công tác xây dựng quy hoạch quảng cáo ngoài trời  
tại địa phương; thành lập Hội đồng thẩm định và tổ chức thẩm định sản phẩm quảng  
cáo; tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý trong hoạt động  
quảng cáo; thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm về quảng cáo theo quy định  
của pháp luật; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quảng cáo; các nhiệm vụ khác theo quy  
định của pháp luật.  
- Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện các nhiệm vụ về: a) Thực hiện các nhiệm vụ  
về quản lý quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng  
cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin theo  
quy định của pháp luật; b) Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi Giấy phép ra kênh, chương  
trình chuyên quảng cáo trên báo nói, báo hình; c) Tiếp nhận thủ tục thông báo ra phụ  
trương chuyên quảng cáo đối với báo in; d) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp  
luật trong hoạt động quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm  
và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ  
thông tin.  
- Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương có trách nhiệm:  
a).Phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước về quảng cáo; quản  
lý nhà nước về nội dung quảng cáo đối với các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt  
thuộc ngành, lĩnh vực được phân công; b).Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm  
pháp luật về quảng cáo đối với các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt thuộc phạm vi  
quản lý của mình; c).Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quảng cáo thuộc  
lĩnh vĩnh vực được phân công quản lý.  
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền  
hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về quảng cáo theo thẩm quyền.  
Quy định này thể hiện sự phối hợp cần thiết giữa các cơ quan quản lý chuyên môn về  
lĩnh vực được quảng cáo. Chẳng hạn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần phối hợp  
với Bộ Thông tin và Truyền thông khi quảng cáo sản phẩm trên báo chí; trên phương  
tiện điện tử, thiết bị đầu cuối, thiết bị viễn thông; với Bộ xây dựng và Bộ Giao thông  
vận tải khi quy hoạch quảng cáo ngoài trời; với Bộ Y tế khi quảng cáo các loại thực  
phẩm hay thuốc Tây; với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn khi quảng cáo các  
loại thuốc được sử dụng trong nông nghiệp,… Trong lĩnh vực QCTM, nhất thiết cần có  
sự phối hợp với Bộ Công thương.  
233  
- Ủy ban nhân dân các cấp: thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo trong  
phạm vi địa phương theo thẩm quyền. Quy định này cũng thống nhất với nội dung tại  
khoản 4 Điều 8 Luật Thương mại, rằng “Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản  
lý nhà nước về các hoạt động thương mại tại địa phương theo sự phân cấp của Chính  
phủ”.  
Theo quy định hiện hành thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với  
hoạt động quảng cáo trên địa bàn theo thẩm quyền, có các nhiệm vụ: “1.Cấp, cấp lại,  
sửa đổi, bổ sung, thu hồi Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của doanh nghiệp  
quảng cáo nước ngoài; 2.Tổ chức xây dựng, phê duyệt và chỉ đạo thực hiện quy hoạch  
quảng cáo ngoài trời trên địa bàn; 3. Tổ chức, hướng dẫn thực hiện các quy định của  
pháp luật về quảng cáo tại địa phương; 4.Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ  
quản lý và nghiệp vụ về quảng cáo tại địa phương; 5.Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi  
phạm về hoạt động quảng cáo theo thẩm quyền; 6.Báo cáo định kỳ việc quản lý hoạt  
động quảng cáo trên địa bàn gửi về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 31  
tháng 12 hằng năm và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm  
quyền; và 7.Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật” (Điều 28 Nghị định  
181/2013/NĐ-CP).  
Ngoài ra, nếu như ở trung ương có bộ và cơ quan ngang bộ tham gia quản lý thì ở địa  
phương, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cũng có chức năng tham mưu, giúp  
UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước. Chẳng hạn, Sở Thông tin và Truyền thông tham gia  
quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam và tham  
mưu cho UBND cấp tỉnh về “quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất  
bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công  
nghệ thông tin…”; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu về “quảng cáo (trừ quảng  
cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên  
các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin) ở địa phương theo  
quy định của pháp luật…”.  
2. Một số nội dung chưa hoàn thiện về hệ thống pháp luật trong lĩnh vực phân cấp  
quảng cáo thương mại  
Theo quy định của Luật Quảng cáo hiện hành, nhìn chung thì thẩm quyền quản lý  
QCTM được phân cấp tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ quy định thì pháp  
luật về phân cấp quản lý QCTM còn một số vấn đề chưa thực sự hoàn thiện. Có thể kể  
đến một số nội dung sau:  
234  
- Thứ nhất: Từ ngày 31 tháng 7 năm 2007, Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại đã hợp  
nhất thành Bộ Công Thương. Thế nhưng, Luật Thương mại hiện hành vẫn còn sử dụng  
tên cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động thương mại là Bộ Thương mại (thay vì sử  
dụng Bộ Công Thương). Mặc dù sự thay đổi này đã tồn tại 14 năm và đến nay, Luật  
này đã được sửa đổi hai lần bởi các luật có liên quan.  
- Thứ hai: Bộ Công thương có chức năng quản lý nhà nước về thương mại, trong đó bao  
gồm 4 hoạt động xúc tiến thương mại là khuyến mại, QCTM, trưng bày, hội chợ triển  
lãm thương mại. Đối với hoạt động QCTM, Bộ có nhiệm vụ “hướng dẫn, kiểm tra về  
nội dung, điều kiện hoạt động QCTM, thương hiệu, hội chợ, triển lãm thương mại,  
khuyến mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ ở trong và ngoài nước theo quy  
định của pháp luật”. Thế nhưng, Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn  
chưa có quy định nào cho thấy Bộ Công thương tham gia quản lý hoạt động quảng cáo,  
mặc dù bản chất của các quảng cáo đều là QCTM. Thậm chí, trong Nghị định số  
09/2018/NĐ-CP, tất cả các cụm từ liên quan đến “Cung cấp dịch vụ xúc tiến thương  
mại” đều kèm theo điều kiện “không bao gồm dịch vụ quảng cáo”. Điều này có nghĩa  
rằng hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán  
hàng hóa do Bộ Công thương quản lý không bao gồm dịch vụ quảng cáo.  
Hơn nữa, Luật Thương mại năm 2005 cũng không có quy định nào dẫn chiếu đến việc  
áp dụng Luật Quảng cáo trong quản lý QCTM.  
- Thứ ba: các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền chính trong quản lý nhà  
nước về hoạt động QCTM giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Công thương  
cũng rất khó xác định. Đối với hoạt động quảng cáo thông thường thì Luật Quảng cáo  
quy định “Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện  
quản lý nhà nước”. Thế nhưng, đối với hoạt động QCTM thì Luật Quảng cáo không đề  
cập đến, còn Luật Thương mại thì lại không quy định trách nhiệm quản lý chính thuộc  
về Bộ nào. Sở dĩ QCTM được quy định trong Luật Thương mại là vì tính chất của sản  
phẩm được quảng cáo và các vấn đề liên quan rõ ràng thuộc phạm vi quản lý của Bộ  
Công thương. Thế nhưng vấn đề quảng cáo lại liên quan đến hình ảnh, văn hóa tức là  
thuộc phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đây chính là nguyên nhân  
gây tranh cãi về thẩm quyền chính trong hoạt động QCTM trên thực tế.  
- Thứ tư: Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ  
thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo, có nhiệm vụ quản lý trực tiếp mảng  
quảng cáo ngoài trời và quảng cáo có yếu tố nước ngoài. Bộ Thông tin và Truyền thông  
235  
thực hiện các nhiệm vụ về quản lý quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên  
xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông,  
công nghệ thông tin theo quy định của pháp luật; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi  
giấy phép ra kênh, chương trình quảng cáo đối với báo nói, báo hình… Theo đó, có  
nhiều văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hai Bộ đối với hoạt  
động quảng cáo nhưng lại chưa có một văn bản nào nêu rõ cơ chế phối hợp quản lý  
quảng cáo giữa hai Bộ này với nhau và giữa hai bộ với các cơ quan liên quan khác nhằm  
hạn chế việc thương nhân phải “gõ nhiều cửa” để được cấp phép quảng cáo (trong các  
trường hợp phải có giấy phép theo quy định). Giả định khi một thương nhân nộp hồ sơ  
thông báo quảng cáo. Pháp luật yêu cầu trong hồ sơ phải có văn bản của Sở Quy hoạch  
– Kiến trúc thỏa thuận về kiến trúc, quy hoạch, bản phối cảnh vị trí đặt biển quảng cáo,  
bản sao giấy phép xây dựng công trình quảng cáo. Điều này có nghĩa là trước khi nộp  
hồ sơ tại Sở quản lý về văn hóa, ngoài việc đến những nơi liên quan khác để chuẩn bị  
các giấy tờ (có công chứng) khác, người nộp hồ sơ phải đến Sở Quy hoạch – Kiến trúc  
để có được văn bản thỏa thuận nói trên. Nếu có cơ chế phối hợp tốt thì các cơ quan này  
sẽ có sự liên thông trong việc tạo ra một bộ hồ sơ quảng cáo “một cửa” hoàn chỉnh.  
Thậm chí, nếu có cơ chế phối hợp tốt có thể xem giấy phép quảng cáo trên phương tiện  
này là một trong những hồ sơ quan trọng để được quảng cáo trên phương tiện khác,  
giảm bớt các loại giấy tờ không cần thiết cho người nộp hồ sơ quảng cáo trong trường  
hợp cùng một sản phẩm nhưng quảng cáo trên nhiều phương tiện khác nhau.  
- Thứ năm: liên quan đến việc phân cấp thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động  
QCTM, chưa có quy định cụ thể nào về việc quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển  
quảng cáo. Điều này xuất phát từ nguyên nhân Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được  
giao nhiệm vụ “xây dựng trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo  
thẩm quyền cơ chế, chính sách, pháp luật về hoạt động quảng cáo”. Song, cơ chế, chính  
sách, pháp luật về hoạt động QCTM thì lại không thể thực hiện bởi Bộ này (vì tác giả  
cho rằng nó thuộc về sự thông hiểu của Bộ Công thương nhiều hơn).  
- Đối với các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về QCTM. Hiện tại, Nghị định  
98/2020/NĐ-CP không xử lý hành vi vi phạm hành chính về QCTM. Còn Nghị định  
38/2021/NĐ-CP thì không bao quát hết việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực  
quảng cáo đặc thù như QCTM. Từ đó, dẫn đến tình trạng nhiều hành vi QCTM bị Điều  
109 Luật Thương mại nghiêm cấm nhưng không bị Nghị định 38/2021/NĐ-CP xử phạt.  
Chẳng hạn các hành vi: Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước hạn chế kinh doanh  
(khoản 3); Quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa  
236  
được phép cung ứng trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảng cáo (khoản 4); Lợi  
dụng QCTM gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân (khoản 5).  
Từ việc thiếu vắng các quy định xử phạt nêu trên dẫn đến việc bỏ lọt các hành vi vi  
phạm trên thực tế, khiến cho việc thi hành pháp luật nói chung và Luật Thương mại nói  
riêng chưa nghiêm. Giả định thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh  
doanh thực hiện việc quảng cáo các mặt hàng này thì cơ quan có thẩm quyền áp dụng  
quy định nào để xử lý? Hoặc trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi “quảng cáo  
các sản phẩm, hàng hóa chưa được phép lưu thꢀng, dịch vụ chưa được phép cung ứng  
trên thị trường Việt Nam tại thời điểm quảng cáo” thì cơ sở nào để xử phạt hành vi  
trên? Hoặc nếu có hành vi vi phạm khoản 5 Điều 109 Luật Thương mại thì chủ thể vi  
phạm chỉ có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự chứ không  
bị xử phạt hành chính.  
Ngoài ra, Điều 197 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) quy định về Tội  
quảng cáo gian dối “Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ, đã bị xử phạt  
vi phạm hành chính về hành vi này...”. Thế nhưng, hiện không có một quy định nào xử  
phạt vi phạm hành chính về hành vi quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ. Nếu có  
quy định đầy đủ và quản lý tốt hơn thì phải chăng hành vi quảng cáo sai sự thật của  
nhiều nghệ sĩ trong thời gian gần đây phải bị xử lý nghiêm. Thế nhưng chủ thể phát  
hiện ra những sai phạm, thậm chí gây áp lực cho các nghệ sĩ phải lên tiếng xin lỗi dư  
luận và thừa nhận hành vi vi phạm của mình chính là cộng đồng mạng chứ không phải  
là một cơ quan quản lý nhà nước nào. Do vậy, còn có quá nhiều vấn đề cần bàn về quản  
lý quảng cáo thương mại.  
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phân cấp quản lý quảng cáo thương  
mại tại Việt Nam  
Qua phân tích một số nội dung nêu trên, trong phạm vi có hạn của bài viết, tác giả chỉ  
đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến phân cấp QCTM như sau:  
- Sửa đổi nội dung khoản 2 Điều 8 Luật Thương mại thành “Bộ Cꢀng thương chịu trách  
nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động mua bán hàng  
hóa và các hoạt động thương mại cụ thể được quy định tại Luật này. Việc phối hợp quản  
lý hoạt động quảng cáo thương mại được thực hiện theo quy định của pháp luật về  
quảng cáo”  
237  
- Theo đó, toàn bộ nội dung về QCTM trong Luật Thương mại nên được sáp nhập vào  
Luật Quảng cáo. Tức là song song với việc sửa đổi Luật Thương mại, cần sửa đổi Luật  
Quảng cáo theo hướng “quy hoạch” tất cả các loại quảng cáo về một mối và xây dựng  
nguyên tắc quản lý quảng cáo chung và nguyên tắc đặc thù cho từng loại.  
- Việc xây dựng các nguyên tắc quản lý quảng cáo, cần thể hiện rõ vai trò chủ đạo của  
cơ quan quản lý chuyên ngành. Trong đó, có 3 điểm đáng lưu ý là:  
+ Khi phân chia các loại quảng cáo cũng như phân định vai trò quản lý của ngành thì  
có thể căn cứ vào hai vấn đề cốt lõi của hoạt động quảng cáo, đó là “nội dung” và  
“phương tiện” quảng cáo. Bởi lẽ, đại đa số các loại quảng cáo đều là QCTM; Có nhiều  
trường hợp, sản phẩm đồng thời được quảng cáo trên nhiều phương tiện khác nhau  
(trong đó có cả quảng cáo ngoài trời); Một sản phẩm được quảng cáo vừa là quảng cáo  
có yếu tố nước ngoài, vừa là QCTM, vừa quảng cáo ngoài trời, vừa quảng cáo trên các  
phương tiện khác. Do vậy, nếu xuất phát từ yêu cầu quản lý “nội dung quảng cáo” thì  
cơ quan chủ trì quản lý hoạt động quảng cáo là Bộ Công thương, nếu như nội dung  
quảng cáo có tính chất thương mại. Còn nếu xuất phát từ yêu cầu quản lý “phương tiện  
quảng cáo” thì cơ quan chủ trì quản lý hoạt động quảng cáo là Bộ Thông tin và Truyền  
thông…  
+ Phân cấp quản lý là yếu tố quan trọng nhằm làm rõ vai trò của từng ngành và từng  
cấp chính quyền trong quản lý quảng cáo. Điều này nhằm tránh được chồng chéo về  
thẩm quyền cũng như chia sẻ áp lực quản lý cho các cơ quan liên quan.  
+ Cơ chế phối hợp quản lý cần chú trọng đến việc đơn giản hóa thủ tục hành chính  
nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động quảng cáo. Vì thế,  
thủ tục đăng ký hoạt động quảng cáo và thủ tục thẩm tra cấp giấy chứng nhận hoạt động  
quảng cáo (đối với các trường hợp cần ý kiến thẩm định của nhiều cơ quan khác nhau)  
thì phải tính toán đến thủ tục “một cửa” ngay trong Luật này.  
Do vậy, khi xây dựng nguyên tắc quản lý quảng cáo, Quốc hội cần tính toán đến những  
yếu tố này để quy định cho phù hợp. Thiết nghĩ, các nguyên tắc quản lý quảng cáo cần  
được luật hóa trong Luật Quảng cáo để tăng tính khoa học, thống nhất và khả thi trong  
việc xây dựng và áp dụng pháp luật.  
Kết luận  
238  
Pháp luật về phân cấp quản lý QCTM ở Việt Nam hiện nay dù đang được điều chỉnh  
bởi nhiều văn bản. Song, để việc quản lý thống nhất, khoa học và hiệu quả hơn thì trước  
hết, cần phải sắp xếp và “quy hoạch” lại những quy định liên quan đến công tác quản  
lý quảng cáo trong Luật Quảng cáo và Luật Thương mại hiện hành. Trong đó, việc xây  
dựng các nguyên tắc quản lý trong quảng cáo là điều tối quan trọng cần được giải quyết  
ngay trong lần sửa đổi tiếp theo của hai văn bản luật này. Theo đó, các văn bản dưới  
luật cần dựa trên các nguyên tắc căn bản Luật định để hướng dẫn áp dụng cho thống  
nhất.  
Trên tinh thần đó, vấn đề phân cấp quản lý cần được xem là một công cụ cần được sử  
dụng và sử dụng một cách có hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về quảng cáo  
nói chung và quảng cáo thương mại nói riêng/.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Văn bản của nhà nước  
1. Quốc hội, 2013. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam.  
2. Quốc hội, 2005. Luật Thương mại.  
3. Quốc hội, 2012. Luật Quảng cáo  
4. Quốc hội, 2015, 2019. Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa  
phương.  
5. Chính phủ, 2013. Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013  
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quảng cáo.  
6. Chính phủ, 2017. Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08/5/2017 quy định chi tiết  
một số điều của biện pháp thi hành Luật Dược.  
7. Chính phủ, 2017. Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 08 năm 2017 quy  
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Cꢀng Thương.  
239  
8. Chính phủ, 2018. Nghị định số 123/2018/NĐ-CP ngày 17/9/2017 sửa đổi, bổ  
sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực  
nông nghiệp.  
9. Chính phủ, 2019. Nghị định số 11/2019/NĐ-CP ngày 30/01/2019 sửa đổi, bổ  
sung một số điều của các Nghị định có quy định thủ tục hành chính liên quan  
đến yêu cầu nộp bản sao giấy tờ có công chứng, chứng thực thuộc phạm vi chức  
năng quản lý của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch.  
10. Chính phủ, 2020. Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 quy  
định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn  
bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.  
11. Chính phủ, 2021. Nghị định 38/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 quy  
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo.  
12. Chính phủ, 2021. Nghị định số 70/2021/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 sửa  
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi  
hành một số điều của Luật Quảng cáo.  
13. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ, 2015. Thꢀng tư liên tịch số  
07/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 14 tháng 9 năm 2015 hướng dẫn chức  
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du  
lịch thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Phòng Văn  
hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực  
thuộc tỉnh.  
14. Bộ Thông tin - Truyền thông và Bộ Nội vụ, 2016. Thꢀng tư liên tịch số  
06/2016/TTLT-BTTTT-BNV ngày 10 tháng 3 năm 2016 hướng dẫn chức năng,  
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở thông tin và truyền thông thuộc  
ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; phòng văn hóa và thꢀng  
tin thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.  
Các tài liệu tham khảo khác  
15.  
Vũ Thành Tự Anh, 2012. Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam nhìn từ góc độ  
thể chế. Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu - Kinh tế Việt Nam 2012, triển vọng 2013:  
Đổi mới phân cấp trong cải cách thể chế.  
240  
16.  
Tô Tử Hạ (Chủ biên), 2003. Từ điển Hành chính. Nxb. Lao động xã hội.  
Phạm Duy Nghĩa, 2012. ‘Phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế - cơ  
17.  
sở lý luận, thực trạng và giải pháp’. Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu - Kinh tế Việt  
Nam 2012, triển vọng 2013: Đổi mới phân cấp trong cải cách thể chế.  
18.  
Bùi Thị Thùy Nhi, 2019. “Thực trạng phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam hiện  
nay”. Tạp chí Cꢀng thương, tháng 01/2020.  
19.  
Phạm Hồng Thái, Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Chí, 2011. Phân cấp quản  
lý nhà nước, Nxb. Công an nhân dân. Hà Nội 2011, tr.29.  
20.  
Mai Văn Thắng, 2012. “Mô hình phân quyền ở Liên bang Nga”. Tạp chí nghiên  
cứu lập pháp, tháng 6/2012.  
21.  
Nguyễn Cửu Việt, 1997. “Một số quan điểm về cải cách hành chính”. Tạp chí  
Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Số 4, tr.12.  
22.  
Nguyễn Cửu Việt, Trương Đắc Linh, 2011. “Sửa đổi Hiến pháp: Nhìn từ chiến  
lược phân cấp quản lý”. Tạp chí Khoa học pháp lý. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ  
Chí Minh, số 3/2011  
23.  
Nguyễn Như Ý (Chủ biên), 1999. Từ điển Tiếng Việt. Nxb. Văn hóa - Thông tin.  
Tài liệu tiếng nước ngoài  
24.  
Anwar Shah with Sana Shah (Ed). 2006. Local governance in developing  
countries. World Bank Publications.  
25.  
Norman Uphoff. 1986. Local Institutional Develepment: an anatical sourcebook  
with cases, Kumarian Press, West Harford.  
26.  
Besfat Dejen Engdaw. 2021. “Decentralization and Good Governance”.  
Handbook of Research on Nurturing Industrial Economy for Africa’s Development  
(pp.281-304), Chapter: 15Publisher: IGI. Project: Good governance, decentralization,  
and public policy./.  
241  
pdf 14 trang Thùy Anh 14800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về phân cấp quản lý quảng cáo thương mại tại Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_phan_cap_quan_ly_quang_cao_thuong_mai_tai_viet.pdf