Hoàn thiện pháp luật khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay
DOI: 10.31276/VJST.63(10).34-40
Khoa học xã hội và nhân văn
Hoàn thiện pháp luật khoa học và công nghệ
ở Việt Nam hiện nay
Bùi Tuấn Thành1*, Vũ Đức Đam Quang2
1Bộ Khoa học và Công nghệ
2Bộ Tài nguyên và Môi trường
Ngày nhận bài 6/9/2021; ngày gửi phản biện 8/9/2021; ngày nhận phản biện 27/9/2021; ngày chấp nhận đăng 30/9/2021
Tóm tắt:
Hoàn thiện pháp luật về khoa học và công nghệ (KH&CN) ở Việt Nam hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết, nhất
là trong bối cảnh nước ta đang hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang
diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu. Bên cạnh vai trò, đặc điểm của pháp luật về KH&CN, nghiên cứu này còn chỉ ra
những nội dung, tiêu chí và điều kiện cơ bản đảm bảo công tác hoàn thiện pháp luật về KH&CN. Dựa trên các nội
dung đó, bài viết đánh giá những ưu, nhược điểm của hệ thống pháp luật về KH&CN của Việt Nam hiện nay, từ đó
đề xuất những giải pháp hỗ trợ công tác hoàn thiện pháp luật về KH&CN, góp phần đưa hoạt động KH&CN của
nước ta phát triển bền vững, đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Từ khóa: hoàn thiện pháp luật, khoa học và công nghệ, pháp luật về khoa học và công nghệ, Việt Nam.
Chỉ số phân loại: 5.5
quả nghiên cứu góp phần đưa pháp luật về KH&CN trở thành
bệ phóng cho các hoạt động thuộc lĩnh vực này trong tương lai
tại Việt Nam.
Mở đầu
KH&CN nói chung và pháp luật về KH&CN nói riêng đóng
vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, đưa nền kinh tế quốc gia phát triển theo hướng bền
vững, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu như hiện nay. Ở Việt Nam,
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về KH&CN
Theo Luật KH&CN năm 2013, “Khoa học là hệ thống tri
thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện
tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Công nghệ là giải pháp, quy
trình, bꢀ quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Hoạt động KH&CN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên
cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng
pháp luật về KH&CN đã được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh
khác nhau nhưng các nghiên cứu này còn hạn chế cả về số lượng
và nội dung chuyên sâu, do vậy phần nào ảnh hưởng đến quá
trình hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Chính vì thế, trong
thời gian gần đây, pháp luật về KH&CN đang được tiếp tục hoàn
thiện nhằm kịp thời giải quyết những bất cập, bao gồm: (1) Hệ
thống pháp luật còn cồng kềnh, phức tạp; (2) Các quy định hiện công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động
hành thiếu sự đồng bộ; (3) Một số nội dung thiếu thống nhất,
chưa sát thực tế; (4) Các quy định liên quan đến thanh toán, phê
duyệt, triển khai và nghiệm thu dự án trong hoạt động KH&CN
còn rườm rà, cơ chế phân bổ ngân sách cho hoạt động này còn
nhiều bất cập; (5) Công tác phối hợp nhằm triển khai thực thi các
văn bản pháp luật về KH&CN ở các bộ ban ngành, địa phương
còn thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, pháp luật về KH&CN cần được
sửa đổi, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập, tạo cơ sở pháp
lý cho môi trường đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực KH&CN
được cải thiện theo hướng thông thoáng, nâng cao quyền tự do,
bình đẳng trong kinh doanh giữa các tổ chức, doanh nghiệp.
sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN” (Khoản 1, 2, 3, Điều 3)
[1]. Pháp luật về KH&CN là tổng hợp các quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực KH&CN
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường hiệu lực quản
lý nhà nước về KH&CN, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực KH&CN [2, 3].
Pháp luật về KH&CN có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật về KH&CN điều chỉnh nhiều quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực KH&CN, bao gồm mối quan hệ giữa
các cá nhân và tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức, nhằm duy trì,
phát triển mối quan hệ xã hội giữa các đối tượng trên theo hướng
trật tự, tuân thủ luật pháp, đảm bảo sự công bằng. Thứ hai, pháp
luật về KH&CN có phạm vi điều chỉnh rộng, từ tổ chức bộ máy
nhà nước về quản lý KH&CN; công tác tổ chức thực hiện các
Xuất phát từ các lý do nêu trên, nhóm tác giả đã chọn chủ đề:
“Hoàn thiện pháp luật về KH&CN ở Việt Nam hiện nay” nhằm
đánh giá thực trạng pháp luật về KH&CN của Việt Nam giai
đoạn 2010-2020, qua đó xây dựng các quan điểm và đề xuất giải
pháp hoàn thiện pháp luật về KH&CN ở Việt Nam hiện nay. Kết hoạt động KH&CN (nghiên cứu khoa học, nghiên cứu phát triển
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]
63(10) 10.2021
34
Khoa học xã hội và nhân văn
tư, pháp luật về KH&CN là nền tảng hỗ trợ vững chắc cho quá
trình mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Thứ năm, pháp luật về KH&CN có vai trò cải thiện chất lượng
đời sống con người và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tổ chức,
cá nhân trong hoạt động KH&CN.
Completing laws on science and
technology in Vietnam today
Tuan Thanh Bui1*, Duc Dam Quang Vu2
1Ministry of Science and Technology
2Ministry of Natural Resources and Environment
Pháp luật về KH&CN có những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước
về KH&CN nằm ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
nhau, cơ bản dựa trên những quy định của Luật KH&CN năm
2013 và Thông tư số 01/2021/TT-BKHCN ngày 1/3/2021 của
Bộ KH&CN [1, 6]. Thứ hai, các quy định của pháp luật về tổ
chức, hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực KH&CN được
quy định tại mục 1, Chương II của Luật KH&CN năm 2013 [1].
Thứ ba, các quy định của pháp luật về hoạt động của các cá nhân
trong lĩnh vực KH&CN được quy định trong Luật KH&CN và
Nghị định số 08/2014/NĐ-CP [7] quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật KH&CN. Thứ tư, các quy
định của pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể trong lĩnh vực KH&CN được quy định trong Luật
KH&CN năm 2013, Nghị định số 08/2014/NĐ-CP và các nội
dung trong Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ
[1, 7-9]… Thứ năm, các quy định của pháp luật về ngân sách
tài chính trong lĩnh vực KH&CN được đề cập trong nhiều luật,
nghị định, thông tư… thuộc hệ thống pháp luật về KH&CN. Thứ
sáu, các quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra xử lý các
hành vi vi phạm trong lĩnh vực KH&CN được quy định tại Luật
KH&CN và một số nghị định của Chính phủ như Nghị định số
51/2019/NĐ-CP ngày 13/6/2019. Thứ bảy, các quy định của pháp
luật về thi đua khen thưởng trong lĩnh vực KH&CN được quy định
rõ trong Luật KH&CN cũng như một số nghị định, thông tư,
bao gồm Nghị định số 08/2014/NĐ-CP, Thông tư 18/2015/TT-
BKHCN ngày 12/10/2015 của Bộ KH&CN. Thứ tám, các quy
Received 6 September 2021; accepted 30 September 2021
Abstract:
Completing laws on science and technology in Vietnam
is an urgent issue, especially in the context that our
country is integrating deeply with the world economy
and the 4.0 revolution is taking place strongly globally.
In addition to the role and characteristics of the law
on science and technology, this article points out its
basic contents, criteria, and conditions to ensure the
improvement of the law on science and technology. Based
on those contents, the article evaluates the advantages
and disadvantages of Vietnam’s current legal system
on science and technology, thereby offering practical
solutions to improve the law on science and technology
effectively, bringing Vietnam’s science and technology
activities to sustainable development, achieving the goals
set by the Party and State.
Keywords: completing laws, law on science and
technology, science and technology, Vietnam.
Classification number: 5.5
công nghệ, các dịch vụ KH&CN…); biện pháp bảo đảm duy trì định của pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN
được quy định rõ ràng trong Luật KH&CN, Luật Công nghệ cao,
hay một số thông tư có liên quan như Thông tư số 12/2018/TT-
BKHCN ngày 31/8/2018 của Bộ KH&CN [10, 11].
và phát triển KH&CN và thực hiện quản lý nhà nước về KH&CN.
Thứ ba, chủ thể của quan hệ pháp luật về KH&CN rất đa dạng và
phong phú, bao gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực
KH&CN hoặc có liên quan đến hoạt động KH&CN tại Việt Nam.
Thứ tư, pháp luật về KH&CN mới được hình thành và phát triển
trong những năm gần đây, cụ thể là Luật KH&CN mới ra đời
năm 2000. Thứ năm, pháp luật về KH&CN gồm nhiều quy định
trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Các văn bản
này bao gồm các luật về KH&CN (Luật KH&CN, Luật Sở hữu
trí tuệ, Luật Công nghệ cao…), nghị định, thông tư… liên quan
đến lĩnh vực KH&CN.
Hoàn thiện pháp luật về KH&CN bao gồm các hoạt động của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức, cá nhân được
Nhà nước trao quyền, tiến hành sửa đổi bổ sung, điều chỉnh và
ban hành mới các quy phạm pháp luật về KH&CN làm cho pháp
luật về KH&CN tương đối đầy đủ, đồng bộ, có tính khả thi để
điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh
vực KH&CN.
Để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về KH&CN cần sử
dụng 5 tiêu chí cơ bản, gồm: (1) Tính đồng bộ, thống nhất, trong
đó các nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế trong các văn bản
pháp luật về KH&CN có sự liên kết chặt chẽ với nhau, không
mâu thuẫn, triệt tiêu nhau; việc hoàn thiện pháp luật về KH&CN
phải phù hợp với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống
pháp luật nói chung; (2) Tính toàn diện và tính phù hợp, tức là
nội dung hoàn thiện luật phải có logic, tuân theo sự thống nhất,
Pháp luật về KH&CN đóng vai trò quan trọng trong chính
trị, kinh tế và xã hội của đất nước [2-5]. Thứ nhất, pháp luật về
KH&CN có vai trò thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng
về phát triển KH&CN. Thứ hai, pháp luật về KH&CN là công
cụ pháp lý để Nhà nước quản lý mọi hoạt động KH&CN. Thứ
ba, pháp luật về KH&CN có vai trò quan trọng trong việc điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực KH&CN. Thứ
35
63(10) 10.2021
Khoa học xã hội và nhân văn
đồng bộ mà hệ thống văn bản pháp luật đã quy định trước đó,
thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa những quy phạm pháp luật;
(3) Tính khả thi, tức là nội dung hoàn thiện phải phù hợp với hệ
thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, phù hợp với thực tế xã
hội, tình hình hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân
trong lĩnh vực KH&CN; (4) Tính tương thích với pháp luật của
các nước phát triển trên thế giới. Đó là sự tiếp thu, kế thừa và
chọn lọc những nội dung pháp luật quốc tế, nhất là pháp luật của
các quốc gia phát triển trên thế giới vào nội dung pháp luật hiện
hành trong nước; (5) Tính khoa học trong quá trình xây dựng,
hoàn thiện pháp luật về KH&CN, đó là việc hoàn thiện các nội
dung pháp luật về KH&CN đều dựa trên và phản ánh nhu cầu
phát triển khách quan của xã hội và mục tiêu phát triển hoạt động
KH&CN của Nhà nước.
Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về KH&CN
ở Việt Nam
Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về KH&CN
ở Việt Nam
Trước khi có Luật KH&CN năm 2000, đã có hơn 400 văn
bản quy phạm pháp luật về KH&CN được các cơ quan có thẩm
quyền của Nhà nước ban hành. Tuy nhiên, hầu hết các văn bản
này đều ở cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cấp Bộ, ngành,
và chỉ giới hạn là những văn bản cá biệt, hoặc có liên quan đến
một số nội dung KH&CN, hiệu lực pháp lý còn hạn chế, chưa
đầy đủ, đồng bộ và mang tính hệ thống [13].
Giai đoạn từ năm 2000-2013, với sự ra đời của Luật KH&CN
năm 2000, các văn bản pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn
thiện rất căn bản. Pháp luật về KH&CN giai đoạn này kế thừa
và nâng tầm hiệu lực của những quy định trước đó về KH&CN.
Đặc biệt, Luật KH&CN được thông qua đã tạo cơ sở quan trọng,
thống nhất trong việc xây dựng pháp luật về KH&CN, hạn chế và
khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không đồng bộ [14,
15]. Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật KH&CN
ngày càng được hoàn thiện đã cụ thể hóa được nhiều cơ chế,
chính sách, biện pháp thiết thực để thực hiện các quy định của
Luật KH&CN nhằm đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và phát
triển KH&CN. Tuy nhiên, Luật KH&CN năm 2000 được ban
hành trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) năm 2007, ở giai đoạn này, Việt Nam vẫn là một nước
kém phát triển, mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu
vực còn hạn chế. Do đó, pháp luật về KH&CN còn thiếu tính
đồng bộ, nhiều bất cập, quy định không còn phù hợp với thực
tiễn đã bộc lộ trong thời gian qua [13].
Ngoài ra, để hoàn thiện pháp luật về KH&CN, cần phải đảm
bảo các điều kiện cơ bản: về chꢀnh trị, bao gồm môi trường chính
trị, các chuẩn mực chính trị, quan điểm, chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước; về con người, cụ thể, cần có
đội ngũ nhân sự đủ về số lượng và chất lượng để đáp ứng được
những tiêu chí đã đề ra; về pháp luật, luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như
các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động KH&CN cần có
những nội dung cho phép sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn
bản pháp luật hiện hành theo hướng tạo điều kiện cho các tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực KH&CN,
đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế hiện nay; về cơ sở vật chất trang thiết bị và nguồn lực tài
chꢀnh, cần trang bị đủ cơ sở vật chất, máy móc, công cụ, hệ
thống công nghệ thông tin phục vụ quá trình làm việc của các cán
bộ công nhân viên trong quá trình phân tích, nghiên cứu và đề xuất
các nội dung hoàn thiện pháp luật về KH&CN [4, 5, 12].
Giai đoạn từ 2013 đến nay, pháp luật về KH&CN đã có bước
phát triển lớn với 7 luật, bao gồm Luật KH&CN năm 2013, Luật
Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Tiêu chuẩn và
Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật
Năng lượng nguyên tử và Luật Công nghệ cao. Bên cạnh việc
ban hành các văn bản trong lĩnh vực KH&CN, Bộ KH&CN cũng
tích cực phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng các văn bản có nội
dung liên quan đến KH&CN như Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch...
Nhờ có các văn bản được ban hành tương đối đầy đủ, hoạt động
KH&CN đã có bước phát triển tích cực; nhu cầu trao đổi, chuyển
giao, mua bán công nghệ ngày càng gia tăng, mạng lưới các tổ
chức trung gian tư vấn, đánh giá, môi giới hoạt động công nghệ
được tăng cường [16, 17].
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống
kê và sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp, cụ thể:
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp được sử dụng
trên cơ sở thu thập các văn bản pháp luật về KH&CN ở Việt
Nam, các công trình nghiên cứu đã công bố, từ đó chọn lọc theo
từng chủ đề, từng văn bản luật theo các năm để so sánh, tổng hợp
đánh giá các văn bản hiện hành.
- Phương pháp thống kê, phân loại và phân tích nguồn tài
liệu thứ cấp là các luật, văn bản luật về KH&CN từ trước năm
2000 đến nay để biết được thực trạng pháp luật về KH&CN ở
Việt Nam. Từ đó chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế, bất
cập của pháp luật về KH&CN cũng như những nguyên nhân của
những hạn chế này.
Thực trạng pháp luật về KH&CN ở Việt Nam hiện nay
Về cơ cấu tổ chức, chức năng, quyền hạn của các cơ quan
quản lý nhà nước về KH&CN: pháp luật về KH&CN đã quy
định rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước về KH&CN; cơ cấu
tổ chức, chức năng, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước
về KH&CN được xây dựng theo nguyên tắc đồng bộ và khoa
học. Những nội dung này đều liên tục được chỉnh sửa, bổ sung
và hoàn thiện cho phù hợp với các luật khác như Luật Đầu tư,
Luật Quy hoạch, Luật Bảo vệ môi trường…, nhằm đáp ứng nhu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin từ những nghiên
cứu trước đó và những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực
tiễn nhằm đưa ra quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về KH&CN.
63(10) 10.2021
36
Khoa học xã hội và nhân văn
cầu thực tiễn của đời sống, xã hội. Đồng thời, các luật cùng văn
bản hướng dẫn thi hành đã thiết lập được nhiều cơ chế phù hợp với
nhu cầu thực tiễn xã hội.
thuộc lĩnh vực KH&CN. Chính vì thế, việc đánh giá các kết quả
nghiên cứu chưa phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
Về hoạt động của các cá nhân trong lĩnh vực KH&CN:
Luật KH&CN đã quy định những nội dung về hoạt động của
các cá nhân trong lĩnh vực KH&CN một cách rõ ràng về chức
danh; quyền và nghĩa vụ của cá nhân hoạt động KH&CN; đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; ưu đãi, thu hút sử dụng nhân
tài KH&CN. Đối với các Nghị định, Thông tư… hướng dẫn
thi hành, những nội dung về hoạt động của các cá nhân trong
lĩnh vực KH&CN cũng không mâu thuẫn, chồng chéo với các
nội dung còn lại và với các nội dung đã được ban hành trước đó.
Những nội dung này đều được xây dựng và ban hành dựa trên
nhu cầu và mục tiêu phát triển KH&CN của Nhà nước.
Tuy nhiên, qua quá trình tổng hợp các luật, văn bản luật về
KH&CN có thể nhận ra một số quy định chưa đảm bảo tính khoa
học. Chẳng hạn, trong Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
[18], lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật chưa làm rõ
những đối tượng tham gia vào việc xây dựng quy chuẩn Việt
Nam nên gây khó khăn cho công tác phân loại vai trò, quyền và
trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành khi quản lý xây dựng các
tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm hàng hóa.
Ngoài ra, khi phân tích các văn bản luật về KH&CN cho thấy,
nội dung liên quan đến cơ cấu tổ chức, chức năng và quyền hạn
của các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN trong các văn bản
luật về lĩnh vực này ở một số đạo luật còn thiếu. Cụ thể, Luật
Chuyển giao công nghệ [9] hiện nay còn hạn chế trong một số
quy định về vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong công
tác thẩm định công nghệ đối với các dự án đầu tư có chuyển giao
công nghệ từ các nước khác vào Việt Nam, hoặc từ Việt Nam
ra nước ngoài, cũng như chuyển giao nội bộ trong các tỉnh của
nước ta. Điều này vô hình trung tạo ra những cơ sở, kẽ hở pháp
luật cho các dòng công nghệ bị cấm hoặc hạn chế đầu tư tràn
vào Việt Nam.
Mặc dù vậy, qua phân tích và tổng hợp thông tin từ các văn
bản luật về hoạt động của các cá nhân trong lĩnh vực KH&CN,
bao gồm Luật KH&CN năm 2013, Nghị định số 40/2014/NĐ-
CP ngày 12/5/2014 [1, 20] quy định việc sử dụng, trọng dụng
cá nhân hoạt động KH&CN, có thể thấy những chính sách đãi
ngộ dành cho cá nhân được đánh giá là vẫn chưa tương xứng
với chất xám mà các nhà khoa học bỏ ra để thực hiện các công
trình nghiên cứu về KH&CN. Tiêu biểu là việc các nhà khoa học
đang hưởng lương theo hệ số hành chính, điều này là chưa hợp
lý, chưa tạo được động lực khuyến khích các cá nhân hoạt động
tích cực trong các nhiệm vụ, dự án KH&CN. Ngoài ra, trong quá
trình thống kê các văn bản luật, nhóm tác giả nhận thấy, trong
hệ thống pháp luật về KH&CN còn thiếu các quy định liên quan
đến hoạt động quy hoạch đội ngũ các chuyên gia KH&CN, bao
gồm những chuyên gia KH&CN trong nước, chuyên gia Việt
Nam đang làm việc ở nước ngoài và chuyên gia người nước
ngoài làm việc tại Việt Nam. Trong khi đó, đội ngũ chuyên gia
này, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia KH&CN trong nước chính
là lực lượng nòng cốt thực hiện các nhiệm vụ, dự án KH&CN.
Về tổ chức, hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực
KH&CN: các nội dung quy định trong hệ thống văn bản pháp
luật đều bám sát vào chính sách và đường lối của Đảng và Nhà
nước, có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thuận lợi để Nhà
nước quản lý tốt các hoạt động KH&CN. Ngoài ra, những nội
dung này hoàn toàn dựa trên thực trạng và nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, từ đó đề ra những quy định, hướng dẫn để các tổ chức
hoạt động hiệu quả, tự do, sáng tạo trong khuôn khổ quy định của
pháp luật. Ngôn ngữ trong các văn bản luật quy định nội dung tổ
chức và hoạt động của các tổ chức trong lĩnh vực KH&CN cũng
đã đảm bảo được tính ngắn gọn, cô đọng, súc tích và rõ ràng.
Nhìn chung, những quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ
chức trong lĩnh vực KH&CN được áp dụng một cách công bằng,
hợp lý trong thực tế, đẩy mạnh sự phát triển của các hoạt động
KH&CN theo hướng bền vững, đạt được những mục tiêu mà
Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Về bảo vệ các quyền và lợi ꢀch hợp pháp của các chủ thể
trong lĩnh vực KH&CN: các nội dung về bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực
KH&CN được quy định chặt chẽ, đồng bộ và thống nhất, tạo
điều kiện cho Nhà nước quản lý hoạt động KH&CN, đồng thời
khuyến khích các chủ thể tham gia và cống hiến tích cực cho
hoạt động KH&CN. Ngoài ra, pháp luật về KH&CN đã có nhiều
quy định về ứng dụng và thực thi hiệu quả kết quả nghiên cứu,
phổ biến kiến thức KH&CN trong đời sống xã hội, phù hợp với
hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với nhu cầu và thực tiễn
xã hội cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng khi
hoạt động trong lĩnh vực này. Với những quy định như trên, hệ
thống pháp luật về KH&CN đã đảm bảo được tính khoa học, nội
dung dễ dàng được hiểu và áp dụng trong thực tiễn với độ chính
xác cao, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của các hoạt động
KH&CN theo hướng tích cực, hiệu quả.
Tuy nhiên, khi tổng hợp và phân loại các luật, văn bản luật
về KH&CN, một số quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ
chức trong lĩnh vực KH&CN chưa đáp ứng được tiêu chí về tính
đồng bộ, thống nhất. Chẳng hạn, nội dung liên quan đến sử dụng
đất để góp vốn, huy động vốn, vay vốn, các hoạt động liên doanh
liên kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN được quy định
trong nhiều văn bản (như Luật KH&CN năm 2013, Nghị định
số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016…) với những quy định khác
nhau khiến các bên thi hành luật gặp lúng túng khi triển khai [1,
19]. Bên cạnh đó, phân tích những nghiên cứu trước đó và thực
tiễn cho thấy, pháp luật về KH&CN ở Việt Nam chưa xây dựng
Tuy nhiên, khi tổng hợp và phân tích nội dung của các văn
được các quy định và tiêu chí để đánh giá, định giá công nghệ, bản luật về KH&CN, nhóm tác giả nhận thấy, một số quy định
hiệu quả triển khai các đề tài, dự án, chương trình KH&CN, về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong lĩnh
cũng như hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp
vực KH&CN còn thiếu. Cụ thể, thiếu quy chế xét thăng hạng
37
63(10) 10.2021
Khoa học xã hội và nhân văn
chức danh nghề nghiệp đối với những cá nhân giữ ngạch viên
chức KH&CN. Sự thiếu sót này đã ảnh hưởng tới quyền lợi của
cá nhân viên chức chuyên ngành KH&CN. Ngoài ra, chế độ tiền
lương, chương trình đãi ngộ, chính sách thu hút nhân tài, chuyên
gia trong và ngoài nước (mặc dù đã được đề cập trong Điều
22 của Luật KH&CN năm 2013) chưa đủ mạnh và hấp dẫn để
khuyến khích các nhà khoa học, trí thức Việt Nam ở nước ngoài
về nước làm việc. Một số quyền thuộc Luật Sở hữu trí tuệ như
quyền đăng ký sáng chế, sở hữu sáng chế chưa thúc đẩy được
việc khai thác, thương mại hóa khiến giá trị đầu tư của Nhà nước
trở nên kém hiệu quả, chưa thúc đẩy được nguồn lực đổi mới
sáng tạo của cả nền kinh tế [3, 8].
tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN theo
hướng phù hợp với thực tiễn phát triển KH&CN quốc gia, cũng
như tình hình hoạt động của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong
lĩnh vực này. Điều đó đảm bảo sự phù hợp, thống nhất với hệ
thống văn bản pháp luật về KH&CN, đồng thời có thể áp dụng
hiệu quả và công bằng trong thực tiễn cuộc sống. Nhờ thế, công
tác kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh
vực KH&CN được tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác,
minh bạch và công bằng, được các đối tượng tham gia hoạt động
KH&CN hưởng ứng và ủng hộ.
Mặc dù vậy, vẫn còn những bất cập xung quanh các nội dung
này. Khi tổng hợp, phân tích các văn bản pháp luật liên quan
đến xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực KH&CN nhận
thấy, các nội dung liên quan đến xử phạt các vi phạm trong lĩnh
vực KH&CN chủ yếu theo hình thức xử phạt hành chính. Hình
thức xử phạt này chưa có tác động mạnh mẽ trong việc răn đe
các đối tượng làm trái phát luật, tạo nhiều kẽ hở trong hoạt động
KH&CN, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến sở hữu trí
tuệ và chuyển giao công nghệ. Một số văn bản luật (như Nghị
định số 107/2013/NĐ-CP ngày 20/9/2013 [21]) mới chỉ quy định
những hình thức xử phạt hành chính đối với các vi phạm, chứ chưa
đưa ra hình thức phạt bổ sung cũng như chưa có biện pháp khắc
phục hậu quả. Ngoài ra, quá trình so sánh và tổng hợp các văn bản
luật cho thấy các quy định về xử lý các hành vi vi phạm trong
lĩnh vực KH&CN hiện nay còn thiếu tính khoa học, đồng bộ khi
hệ thống các đơn vị có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với
các vi phạm hiện nay có quá nhiều đầu mối. Chẳng hạn như các
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý (Điều 12, 13 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP
ngày 29/8/2013) và những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong sở hữu công nghiệp (Điều 14 Nghị định số 99/2013/NĐ-
CP) đều thuộc thẩm quyền xử phạt của các cơ quan như thanh tra
KH&CN, quản lý thị trường, hải quan… [22].
Về ngân sách tài chꢀnh trong lĩnh vực KH&CN: các nội dung
về ngân sách tài chính được quy định chặt chẽ và chi tiết, có sự
liên kết chặt chẽ với nhau, hướng đến sự thuận lợi, chính xác, và
công bằng cho Nhà nước và cơ quan có thẩm quyền. Nội dung
về ngân sách tài chính trong lĩnh vực KH&CN rất chú trọng đến
tính khả thi khi áp dụng trong thực tế đời sống, vừa đảm bảo
vai trò quản lý của Nhà nước, vừa hỗ trợ cho các chủ thể về tài
chính, vốn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN [12].
Nhờ thế, cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN được cải thiện,
các tổ chức KH&CN đang dần được tự chủ về tài chính và quy
trình cấp kinh phí cho các nhà khoa học được rút ngắn về thời
gian và thủ tục. Hoạt động của các quỹ hỗ trợ, đầu tư cũng được
quy định chặt chẽ, logic, rõ ràng, đảm bảo tính khoa học, giúp
hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN được tiến hành dễ dàng,
nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn.
Qua phân tích nội dung của các văn bản luật về KH&CN,
quy định về tài chính trong pháp luật về KH&CN hiện nay đòi
hỏi chi tiết về tài chính trong quá trình triển khai dự án so với
kế hoạch ban đầu đề ra. Tuy nhiên, không giống như các dự án
đầu tư khác, rất khó có thể lên kế hoạch cụ thể đối với một công
trình nghiên cứu khoa học, nhất là trong lĩnh vực sáng tạo công
nghệ. Điều này đã tạo nhiều rủi ro và áp lực cho người thực
hiện bởi tình hình kinh tế, xã hội luôn có những biến động khó
lường. Ngoài ra, một số quy định trong hệ thống pháp luật về
KH&CN trong hoạt động quản lý tài chính quốc gia về KH&CN
còn bộc lộ tính chưa phù hợp khi phần lớn kinh phí cho hoạt
động KH&CN đến từ các doanh nghiệp, còn ngân sách nhà nước
chỉ chiếm khoảng 20-30%, mà chủ yếu chi cho các đề án, công
trình nghiên cứu mang tầm chiến lược quốc gia nên không huy
động được nhiều nguồn lực cho hoạt động này. Không chỉ vậy,
cơ chế mở rộng thị trường và khuyến khích sáng tạo vẫn còn
nhiều bất cập. Hiện nay, quy định về điều kiện tỷ lệ doanh thu
không được áp dụng cho các doanh nghiệp KH&CN mới thành
lập, chưa có doanh thu từ sản phẩm KH&CN. Trong khi đó, số
lượng các doanh nghiệp như vậy ở Việt Nam khá nhiều, một
phần do mới thành lập hoặc chuyển đổi từ hình thức công lập
sang tư nhân, phần khác do gặp nhiều khó khăn về vốn và điều
kiện tiếp cận thị trường [2].
Về thi đua khen thưởng trong lĩnh vực KH&CN: các nội
dung về thi đua khen thưởng trong lĩnh vực KH&CN được quy
định tại luật và các văn bản dưới luật đều thống nhất và đồng
bộ với nhau, không gây sự chồng chéo, mâu thuẫn và triệt tiêu
nhau. Chúng được quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn, hồ sơ xét
tặng khen thưởng và những tiêu chí này hoàn toàn khả thi khi áp
dụng vào thực tiễn. Ngoài ra, quyền và trách nhiệm của tập thể,
cá nhân nhận khen thưởng cũng được quy định nhằm đảm bảo
các tổ chức, cá nhân đều là những đối tượng xứng đáng. Điều
này đã cơ bản loại trừ được những lỗ hổng của luật pháp về thi
đua khen thưởng trong lĩnh vực KH&CN, tạo cơ hội công bằng,
lành mạnh cho tất cả các đối tượng tham gia xét duyệt.
Tuy nhiên, khi thống kê và phân tích các văn bản luật liên
quan đến hoạt động thi đua khen thưởng trong lĩnh vực KH&CN
có thể thấy, quy định về nguồn kinh phí dành cho hoạt động
này là thiếu tính khả thi, toàn diện và phù hợp khi chủ yếu đến
từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn kinh phí sự nghiệp
KH&CN nên còn hạn chế. Trong khi đó, để phát triển sự nghiệp
KH&CN của quốc gia cần rất nhiều hoạt động khuyến khích
bằng hình thức thi đua khen thưởng như vậy. Bên cạnh đó, một
Về thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh
vực KH&CN: pháp luật về KH&CN đã quy định rõ những hành
vi vi phạm, hình thức kỷ luật và trách nhiệm trong công tác kiểm
63(10) 10.2021
38
Khoa học xã hội và nhân văn
số nội dung cũng chưa phù hợp. Chẳng hạn, nguyên tắc xét tặng dụng đất để góp vốn, huy động vốn, vay vốn, các hoạt động liên
giải thưởng tại khoản 3, Điều 5 của Nghị định số 78/2014/NĐ-CP doanh liên kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN trong
ngày 30/7/2014 [23] có quy định: (1) Mỗi công trình chỉ được đề Luật KH&CN, Nghị định số 54/2016/NĐ-CP để thống nhất các
nghị xét tặng một giải thưởng trong một đợt xét tặng giải thưởng;
(2) Mỗi công trình chỉ được tặng một giải thưởng về KH&CN đã
làm hạn chế các giải thưởng và công trình, dự án có giá trị tham
gia xét giải thưởng. Nguyên tắc này sẽ bỏ sót nhiều công trình có
giá trị, mang tính thực tiễn cao cũng như chưa mang tính khuyến
khích đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động nghiên cứu
về KH&CN.
quy định; rà soát lại những đối tượng tham gia vào việc xây
dựng quy chuẩn Việt Nam trong Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn
kỹ thuật để phân loại vai trò, quyền và trách nhiệm của các Bộ,
ban, ngành khi quản lý xây dựng các tiêu chuẩn và quy chuẩn
kỹ thuật đối với các sản phẩm hàng hóa; rà soát lại hệ thống các
đơn vị có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với các vi phạm
trong lĩnh vực KH&CN để tránh sự chồng chéo, thiếu đồng bộ
khi xử phạt [18, 19].
Về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN: những nội dung
về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KH&CN đã bao hàm đủ các
chế định và quy phạm pháp luật cần thiết. Đó là 4 nguyên tắc trong
hội nhập quốc tế, bao gồm: tích cực, chủ động và đảm bảo độc lập,
chủ quyền, an ninh quốc gia; đa dạng hóa, đa phương hóa hợp tác,
đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực KH&CN; phát triển KH&CN
theo chuẩn mực quốc tế; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các
quốc gia tiên tiến. Ngoài ra, những hoạt động hội nhập quốc tế
cũng được quy định rất cụ thể. Đây đều là những nội dung hoạt
động thiết thực trong khuôn khổ các chương trình hợp tác quốc
tế về KH&CN, mang tính khả thi cao khi triển khai thực hiện
trong thực tế. Nhờ vậy, hoạt động hợp tác KH&CN giữa các tổ
chức, cá nhân của Việt Nam với các tổ chức, cá nhân của nước
ngoài được thực hiện theo hướng tích cực, đạt được những thành
tựu và mục tiêu đề ra.
Thứ ba, ban hành một số văn bản/nội dung pháp luật về
KH&CN bao gồm: quy chế xét thăng hạng đối với chức danh
viên chức KH&CN; quy định liên quan đến hoạt động quy hoạch
đội ngũ các chuyên gia KH&CN, bao gồm những chuyên gia
KH&CN trong nước, các chuyên gia Việt Nam đang làm việc ở
nước ngoài và các chuyên gia người nước ngoài đang làm việc
tại Việt Nam; quy định vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước
trong công tác thẩm định, thẩm tra công nghệ đối với các công
nghệ được chuyển giao trong nước hay từ nước ngoài vào Việt
Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài. Ngoài ra, cần ban hành
văn bản hướng dẫn thi hành các quy định về hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực KH&CN, cũng như nội dung về nghĩa vụ của các
bên khi tham gia hợp tác quốc tế để các chủ thể có liên quan nắm
được, từ đó điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp, nhằm đạt
kết quả hợp tác cao nhất.
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những vấn đề như: một số quy
định về hợp tác quốc tế mới chỉ đề cập đến quyền của tổ chức,
cá nhân hoạt động trong lĩnh vực KH&CN chứ chưa đề cập đến
nội dung về nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp tác quốc tế
để các chủ thể có liên quan nắm được, từ đó điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp. Bên cạnh đó, chưa có các văn bản hướng
dẫn thi hành các quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
KH&CN, khiến các nội dung này thiếu tính khoa học và khả thi.
Do đây là lĩnh vực liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau nên
những cá nhân, tổ chức muốn tham gia hoạt động hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực KH&CN cần tham khảo, đối chiếu nhiều văn
bản luật thuộc các đạo luật khác nhau ở nhiều cấp độ từ Trung
ương đến địa phương.
Thứ tư, sửa đổi bổ sung một số chế định, quy định pháp
luật về KH&CN. Cụ thể, cần sửa đổi nguyên tắc xét tặng giải
thưởng tại Khoản 3, Điều 5 của Nghị định số 78/2014/NĐ-CP [20]
để mỗi công trình có thể được xét tặng một hoặc nhiều giải thưởng
khác nhau trong nhiều đợt. Có như thế mới không hạn chế các giải
thưởng cho các công trình xứng đáng và tạo động lực to lớn cho
các nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu có thêm nhiều công trình có
ý nghĩa. Nghị định số 107/2013/NĐ-CP cần thêm hình thức phạt
bổ sung cũng như biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành
vi vi phạm trong lĩnh vực KH&CN [21]. Sửa đổi bổ sung các
chương trình đãi ngộ, chính sách thu hút nhân tài, chuyên gia
trong và ngoài nước theo Luật KH&CN năm 2013, kết hợp với
tình hình thực tế quyền lợi của các đối tượng này hiện nay để tạo
động lực cho họ chuyên tâm hơn với lĩnh vực này.
Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về KH&CN ở Việt Nam
Từ thực trạng và những tồn tại nêu trên, chúng tôi xin đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về KH&CN ở
nước ta như sau:
Thứ năm, nâng cao trình độ, năng lực của các đại biểu quốc
hội và đội ngũ cán bộ công chức trong việc hoạch định chính
sách và hoàn thiện pháp luật về KH&CN thông qua việc tăng
Thứ nhất, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hoàn cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,
thiện pháp luật về KH&CN. Trong đó, cần nâng cao nhận thức xây dựng, hoàn thiện pháp luật về KH&CN. Ngoài ra, cần có
và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền về vai trò chính sách thu hút nhân tài cho công tác xây dựng, hoàn thiện
của KH&CN trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước pháp luật về KH&CN thông qua chế độ lương thưởng, hình thức
ta hiện nay. Đặc biệt, mỗi đảng viên cần không ngừng nâng cao vinh danh… Đồng thời, cần trang bị đầy đủ các công cụ hỗ trợ,
trình độ và hiểu biết của mình về pháp luật KH&CN nói chung, môi trường làm việc thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, công chức xây
hoàn thiện pháp luật về KH&CN nói riêng.
dựng, hoàn thiện pháp luật về KH&CN để họ yên tâm cống hiến.
Thứ hai, rà soát chỉnh sửa một số văn bản quy phạm pháp luật
Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trong xây dựng và hoàn
về KH&CN hiện hành. Cụ thể, rà soát nội dung liên quan đến sử
thiện pháp luật về KH&CN. Trước hết, cần tăng cường vai trò và
39
63(10) 10.2021
Khoa học xã hội và nhân văn
Technological Developments in Developing Countries 2005-2015, Information
and Communication UnitB-1049 Brussels.
quán triệt nhiệm vụ của các văn phòng đại diện KH&CN ở nước
ngoài trong việc cập nhật thông tin và tham mưu cho các nhà lập
pháp trong nước xây dựng và hoàn thiện pháp luật về KH&CN.
Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị chuyên đề, sự
kiện quốc tế về pháp luật nói chung, pháp luật về KH&CN nói
riêng. Đặc biệt, cần hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin
kết nối với nước ngoài để có thể giữ liên lạc và thường xuyên
trao đổi giữa các cán bộ lập pháp trong và ngoài nước. Đồng
thời, tăng cường các mối quan hệ hợp tác với các quốc gia có
nền KH&CN phát triển trên thế giới, thu hút các chuyên gia,
nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia nước
ngoài tham gia các chương trình, tham mưu cho hoạt động xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về KH&CN Việt Nam.
[5] Maria de Icaza (2007), Inventions and patents, WIPO.
[6] Bộ Khoa học và Công nghệ (2021), Thông tư số 01/2021/TT-BKHCN
ngày 1/3/2021 Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan
chuyên môn về khoa học và công nghệ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện.
[7] Chính phủ (2014a), Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27/1/2014
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và
Công nghệ.
[8] Quốc hội (2005, 2009, 2019), Luật Sở hữu trꢀ tuệ 2005, sửa đổi năm
2009 và 2019.
[9] Quốc hội (2017), Luật Chuyển giao công nghệ.
[10] Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Thông tư số 18/2015/TT-
BKHCN ngày 12/10/2015 Quy định thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực khoa
học và công nghệ.
Kết luận
Hoàn thiện pháp luật về KH&CN là nhiệm vụ quan trọng,
cấp thiết nhằm đảm bảo các hoạt động và nhiệm vụ KH&CN
được tiến hành một cách thuận lợi, tạo nền tảng vững chắc cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh
tế quốc tế cũng như cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
[11] Bộ Khoa học và Công nghệ (2018), Thông tư số 12/2018/TT-BKHCN
Quy định về xây dựng, ký kết và quản lý các chương trình hợp tác quốc tế của
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia trong tài trợ thực hiện nhiệm
vụ khoa học và công nghệ, hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và
công nghệ quốc gia.
Bài viết này không chỉ nêu ra khái niệm, đặc điểm, vai trò và
nội dung của pháp luật về KH&CN mà còn đưa ra các tiêu chí và
điều kiện đảm bảo hoàn thiện pháp luật. Bên cạnh đó, quá trình
hình thành và phát triển của pháp luật về KH&CN cũng được
khái quát hóa để làm nổi bật tính cấp thiết của công tác hoàn
thiện pháp luật về KH&CN. Đặc biệt, với mỗi nội dung hoàn
thiện pháp luật về KH&CN, đã chỉ ra những ưu điểm, thành tựu
cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật về KH&CN ở
Việt Nam hiện nay. Từ đó, 6 giải pháp thiết thực đã được đề xuất.
Đáng chú ý, cần ban hành và sửa đổi một số quy phạm pháp luật
để tạo điều kiện cho phát triển KH&CN trong thời gian sớm
nhất, các biện pháp mang tính lâu dài hơn chính là nâng cao chất
lượng đội ngũ nhân sự thực hiện nhiệm vụ xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về KH&CN và mở rộng các mối quan hệ hợp tác
với nhiều quốc gia trên thế giới.
[12] Nguyễn Quang Thành, Lương Thị Huyền (2020), “Cơ chế quản lý
tài chính đối với các quỹ khoa học và công nghệ cấp quốc gia”, Tạp chꢀ Tài
chꢀnh, 12(2), 12tr.
[13] Đoàn Năng (2009), “Hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ
Việt Nam - 50 năm hình thành và phát triển”, Tạp chꢀ Hoạt động Khoa học,
9, tr.15-20.
[14] Nguyễn Như Phát (2015), Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất,
đồng bộ, minh bạch và hiệu quả trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội.
[15] Trần Văn Hải (2012), “Xây dựng Luật Khoa học và Công nghệ - Từ
tiếp cận so sánh”, Tạp chꢀ Nghiên cứu Lập pháp, 21, tr.29-35.
[16] Minh Đường (2008), “Khoa học và công nghệ đang thực sự trở thành
tapchicongsan.org.vn/nghien-cu/-/2018/1522/khoa-hoc-va-cong-nghe-dang-
thuc-su-tro-thanh-dong-luc-phat-trien-kinh-te---xa-hoi.aspx.
Những đánh giá và giải pháp trên đây là những đóng góp
mang tính sáng kiến pháp luật để giải quyết những hạn chế, tồn tại,
giúp hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về KH&CN nói
riêng hoàn thiện theo hướng hiệu quả hơn, đáp ứng được nhu cầu
thực tế trong phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
[17] Nguyễn Chí Hải, Phạm Mỹ Duyên (2020), Phát triển thị trường
khoa học và công nghệ - Khâu yếu của 4.0 tại Việt Nam, http://baochinhphu.
vn/Khoa-hoc-Cong-nghe/Phat-trien-thi-truong-KHCN-khau-yeu-cua-40-tai-
Viet-Nam/387722.vgp.
[18] Quốc hội (2006), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Quốc hội (2013), Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (Luật số:
29/2013/QH13).
[19] Chính phủ (2016), Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016
Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
[20] Chính phủ (2014b), Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014
Quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ.
[2] Phạm Chí Trung (2015), “Hoàn thiện quy định của pháp luật về chế
độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập”,
Tạp chꢀ Nghiên cứu Lập pháp, 21(301), 7tr.
[21] Chính phủ (2013a), Nghị định số 107/2013/NĐ-CP ngày 20/9/2013
Quy định về xử phạt vi phạm hành chꢀnh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
[3] Phan Xuân Dũng (2016), “Đẩy mạnh hoạt động khoa học và công
nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, https://
hoat-dong-khoa-hoc-va-cong-nghe-phuc-vu-su-nghiep-cong-nghiep-
hoa%2C-hien-dai-hoa-dat-nuoc.aspx.
[22] Chính phủ (2013b), Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013
Quy định xử phạt vi phạm hành chꢀnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
[23] Chính phủ (2014c), Nghị định số 78/2014/NĐ-CP ngày 30/7/2014
về Giải thưởng Hồ Chꢀ Minh, Giải thưởng Nhà nước và các giải thưởng khác
về khoa học và công nghệ.
[4] European Commission (2006), Scenarios for Future Scientific and
63(10) 10.2021
40
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_phap_luat_khoa_hoc_va_cong_nghe_o_viet_nam_hien_n.pdf

