Hình thức của di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ  
VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ  
Lưu Thị Phấn*  
*ThS. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Nhìn lại quá trình phát triển hệ thống pháp luật về thừa kế ở nước ta, có  
thể thấy, hình thức của di chúc đã được quan tâm và quy định sơ khai  
ngay từ những văn bản pháp luật thời kỳ phong kiến và ngày càng được  
hoàn thiện qua các văn bản pháp luật sau này. Tuy nhiên, bên cạnh những  
thành tựu đạt được, quy định của pháp luật về hình thức di chúc hiện  
hành vẫn còn bộc lộ những mặt hạn chế trong quá trình áp dụng vào thực  
tiễn, đặc biệt trong công tác giải quyết các tranh chấp về thừa kế, đặt ra  
yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.  
Từ khóa: Hình thức di chúc,  
pháp luật dân sự.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 27/5/2021  
: 24/6/2021  
: 28/6/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
Keywords: Form of will, civil law.  
Article History:  
Looking back at the development of the inheritance legal system in in our  
country, it can be seen that the form of wills has been paid attention to  
and primordially regulated right from legal documents during the feudal  
period. The form is increasingly being improved in later legal documents.  
However, besides the achievements, the current law on the form of wills  
still reveals limitations in the process of applying it in practice, especially  
in resolving disputes over inheritance, set out requirements that need to be  
further reviewed for amendments in the coming time.  
Received  
Edited  
: 27 May. 2021  
: 24 Jun. 2021  
: 28 Jun. 2021  
Approved  
1. Thời kỳ phong kiến  
có giá trị. Nếu biết chữ mà viết lấy thì được”.  
Như vậy, theo quy định của Bộ luật, bên cạnh  
hình thức tự viết chúc thư còn có loại chúc thư  
phải nhờ quan trưởng viết thay và chứng kiến.  
Ngoài hình thức viết, Điều 388 Bộ luật Hồng  
Đức còn cho phép lập di chúc miệng: “Nếu có  
lệnh của ông bà và chúc thư thì phải làm theo  
đúng, trái thì mất phần mình”. Bộ luật không  
quy định mệnh lệnh này được phát ra trong  
tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh nào; vì vậy,  
có thể hiểu mệnh lệnh có thể được nói ra bất  
cứ lúc nào cũng đều có giá trị.  
Về hình thức của di chúc, Bộ luật Hồng  
Đức quy định gồm di chúc miệng (chúc ngôn)  
và di chúc viết. Đồng thời, Bộ luật áp dụng  
nguyên tắc tự do lập di chúc và quyết định  
nội dung di chúc. Khi mở thừa kế, nếu người  
để lại di sản có lập chúc thư thì di sản sẽ chia  
theo chúc thư đó; trường hợp không có chúc  
thư, di sản sẽ được chia theo pháp luật. Đây là  
những nền tảng cơ bản được các văn bản pháp  
luật về thừa kế sau này kế thừa, phát triển và  
hoàn thiện.  
Thời nhà Nguyễn, do sự lệ thuộc về chính  
trị nên pháp luật triều Nguyễn là bản sao chép  
pháp luật của nhà Thanh (Trung Quốc). So với  
Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long của triều  
Nguyễn“khôngcònnhữngđiềukhoảnliênquan  
Điều 366 Bộ luật Hồng Đức quy định:  
“Những người làm chúc thư văn khế mà không  
nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng  
kiến, thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo  
việc nặng nhẹ. Chúc thư văn khế ấy không  
50  
Số 20(444) - T10/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đến hương hỏa, chúc thư, đến chế độ tài sản của  
vợ chồng”1.  
đến di chúc miệng mà chủ yếu quy định về  
di chúc viết.  
2. Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945)  
Như vậy, so với pháp luật thời kỳ phong  
kiến, pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những  
bước phát triển về tư duy pháp lý và kỹ thuật  
lập pháp, nhấn mạnh việc người lập di chúc  
phải tự viết và ký vào bản di chúc. Viết đủ nội  
dung mà chưa ký thì cũng vẫn chỉ là dự thảo.  
Đây cũng là hình thức quan trọng được các  
văn bản pháp luật sau này ghi nhận và ngày  
càng hoàn thiện hơn về cách thức ký tên, đánh  
số cho chặt chẽ.  
Tại xứ Nam Kỳ, Bộ Dân luật giản yếu đã  
được ban hành để áp dụng riêng cho lãnh thổ  
Nam Kỳ. Tuy nhiên, trong Bộ Dân luật giản  
yếu tất cả những vấn đề về nghĩa vụ, khế ước,  
thừa kế… đều không được quy định.  
Tại Bắc Kỳ, Bộ Dân luật Bắc Kỳ được xây  
dựng dựa trên nền tảng của Bộ luật Dân sự  
(BLDS) Pháp năm 1804, có kế thừa nhiều quy  
định của Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia  
Long. Bộ luật này không nhắc đến hình thức  
di chúc miệng mà chủ yếu quy định về di chúc  
viết chi tiết hơn so với trước đây: Điều 323  
Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định: “Chúc thư phải  
làm thành tờ chữ, hoặc do nô te lập hoặc làm  
thành chứng thư có hay không có viên chức  
thị thực”.  
3. Thời kỳ 1945 – 1975  
Từ năm 1954 đến năm 1975, Việt Nam tạm  
thời bị chia cắt thành hai miền với hai hệ thống  
chính trị, pháp lý khác nhau. Ở miền Bắc vẫn  
tiếp tục sử dụng một số luật lệ ở Bắc-Trung-  
Nam của giai đoạn trước.  
Ở miền Nam, áp dụng Bộ Dân luật năm  
1972, về cơ bản vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc về  
kỹ thuật lập pháp và tư duy pháp lý của BLDS  
Pháp. Cấu trúc và nội dung có nhiều điểm  
tương đồng với Bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng  
Việt Trung kỳ Hộ Luật. Bộ luật cũng không  
nhắc đến di chúc miệng mà chỉ bao gồm các  
chúc thư viết: chúc thư tự tả (Điều 574); chúc  
thư công chính (Điều 575), và chúc thư bí mật  
(Điều 573). Theo đó, chúc thư tự tả là chúc thư  
tự viết và chúc thư công chính là chúc thư có  
công chứng thị thực giống như thời kỳ Pháp  
thuộc, chỉ khác về mặt câu chữ. Còn chúc thư  
bí mật là “chúc thư niêm phong kín do người  
lập di chúc trình cho Chưởng khế trước mặt  
hai nhân chứng và khai rằng đó là chúc thư  
của mình viết lấy và thủ ký. Chưởng khế sẽ lập  
biên bản tiếp nhận, nếu người lập di chúc vì lẽ  
gì không thể ký vào biên bản thì phải ghi rõ”  
(Điều 578). Đây là điểm mới so với chúc thư  
các thời kỳ trước vì chúc thư được niêm phong  
kín chứ không bắt buộc phải đọc và cho người  
khác biết như các quy định trước kia.  
- Đối với chúc thư không có viên chức thị  
thực: “phải do chính mình lập chúc thư viết  
lấy tất cả và ký tên. Nếu do người khác tá tả thì  
phải có ít là hai người làm chứng. Người lập  
chúc thư, người tá tả, người chứng phải ký tên.  
Phàm người không biết chữ lập chúc thư  
không có viên chức thị thực thì phải làm tại  
trước mặt ít ra là hai người chứng biết viết, biết  
đọc. Các người chứng ấy phải cùng với người  
tá tả ký tên vào trong chúc thư” (Điều 326).  
- Đối với chúc thư làm thành chứng thư  
có viên chức thị thực: “phải do chính mình  
người lập chúc thư viết ra, hoặc đọc cho người  
khác viết hộ, tại trước mặt Lý trưởng nơi trú  
quán mình, và ít ra phải có hai người chứng  
đã thành niên” (Điều 324). Trường hợp, nếu  
người lập chúc thư và các người chứng đều  
không biết chữ thì Lý trưởng phải biên chú  
vào trong chúc thư (Điều 325).  
Tại Trung Kỳ, Hoàng Việt Trung kỳ Hộ  
luật sao chép lại hầu hết các điều khoản của  
Bộ Dân luật Bắc Kỳ, nhưng không đề cập  
1 Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử (xuất bản tại Sài Gòn năm 1973).  
Số 20(444) - T10/2021  
51  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
4. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay  
minh mẫn, thì coi như di chúc miệng đó bị huỷ  
bỏ”. Tuy nhiên, Pháp lệnh Thừa kế không quy  
định thủ tục để hủy bỏ và ai có quyền tuyên  
bố hủy bỏ di chúc miệng, làm cho quy định  
này được hiểu theo nhiều nghĩa và áp dụng  
không thống nhất. Mặt khác, cũng như Thông  
tư 81, Pháp lệnh Thừa kế thừa nhận giá trị của  
di chúc miệng nhưng không quy định thủ tục  
ghi chép lại di chúc miệng.  
4.1. Hình thức của di chúc tại Thông tư  
số 81/TANDTC ngày 24/7/1981  
Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981  
của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải  
quyết các tranh chấp về thừa kế (Thông tư 81)  
quy định về hình thức di chúc tại mục A nội  
dung IV:  
- Ghi nhận chính thức về di chúc miệng  
“Di chúc miệng phải có người làm chứng  
bảo đảm”, đây là điểm tiến bộ so với các thời  
kỳ trước.  
- Về di chúc viết có công chứng, chứng  
thực, Pháp lệnh Thừa kế quy định rõ cơ quan  
có thẩm quyền là cơ quan công chứng hoặc Ủy  
ban nhân dân chứng thực (Điều 14); cơ quan  
đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của Việt Nam  
ở nước ngoài chứng thực (Điều 15).  
- Hình thức di chúc viết được bổ sung di  
chúc được lập trong điều kiện đặc biệt: di chúc  
có thể do cơ quan, đơn vị nơi đương sự làm  
việc xác nhận; nếu người có tài sản đang đi  
trên phương tiện giao thông hay đang ở trong  
một cơ sở chữa bệnh mà gặp tình huống phải  
cấp bách lập di chúc thì sự chứng nhận của  
người phụ trách của phương tiện giao thông  
hay cơ sở chữa bệnh cũng được coi là hợp lệ.  
- Về di chúc viết có giá trị như di chúc được  
chứng thực (Điều 16): Đây là loại di chúc  
tương ứng với di chúc được lập trong trường  
hợp đặc biệt của Thông tư 81 nhưng Pháp lệnh  
Thừa kế có bổ sung thêm một số trường hợp,  
đặc biệt là trường hợp di chúc của người đang  
bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù,  
đang cải tạo có xác nhận của người phụ trách  
cơ sở giam giữ, cải tạo. Điều này thể hiện sự  
công bằng, không phân biệt đối xử giữa người  
bình thường với người đang bị tạm giam, bị  
phạt tù, đang cải tạo.  
- Công nhận chúc thư tự viết không có  
công chứng, chứng thực như các thời kỳ trước  
nhưng ghi chi tiết hơn: “nếu di chúc không có  
sự chứng nhận hợp lệ, nhưng có người làm  
chứng bảo đảm, hoặc xác định được di chúc  
đó đúng là do người có di sản tự nguyện lập ra  
(như đúng là chữ viết và chữ ký của người có  
di sản, thời gian và địa điểm ghi trong di chúc  
cũng phù hợp…) thì cũng có giá trị”.  
- Về di chúc không có công chứng, chứng  
thực, Pháp lệnh Thừa kế cơ bản quy định như  
Thông tư 81, có bổ sung thêm yếu tố “minh  
mẫn, không bị lừa dối và không trái với quy  
định của pháp luật”.  
4.2. Hình thức của di chúc tại Pháp lệnh  
Thừa kế năm 1990  
4.3. Hình thức của di chúc tại Bộ luật  
Dân sự năm 1995  
Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 (Pháp lệnh  
Thừa kế) bổ sung, sửa đổi một số điểm so với  
Thông tư 81 như sau:  
Bộ luật Dân sự năm 1995 sử dụng khái  
niệm “di chúc bằng văn bản” thay khái niệm  
“di chúc viết” của các thời kỳ trước. Có thể  
hiểu “di chúc bằng văn bản” bao gồm cả di  
chúc đánh máy và di chúc viết. Đồng thời  
BLDS năm 1995 bổ sung quy định, di chúc tự  
đánh máy hay nhờ người khác đánh máy phải  
- Về di chúc miệng, Điều 18 Pháp lệnh  
Thừa kế ghi rõ điều kiện lập di chúc miệng  
phải “trong trường hợp tính mạng bị đe doạ  
nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết  
được” và “sau ba tháng kể từ ngày lập di chúc  
miệng, nếu người lập di chúc còn sống và  
52  
Số 20(444) - T10/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
có công chứng/chứng thực thì mới có hiệu  
lực2. Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền  
lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của  
dân tộc mình.  
di chúc mới có hiệu lực.  
BLDS năm 1995 cũng quy định chặt chẽ  
việc viết, ký di chúc. “Di chúc không được viết  
tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm  
nhiều trang, thì mỗi trang phải được đánh số  
thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người  
lập di chúc” (khoản 2 Điều 656).  
- Khắc phục bất cập của Pháp lệnh Thừa  
kế về di chúc miệng, BLDS năm 1995 quy  
định: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp,  
nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối  
cùng của mình trước mặt ít nhất hai người  
làm chứng và ngay sau đó những người làm  
chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ”  
(khoản 1 Điều 654). Theo đó, thủ tục lập nội  
dung di chúc miệng là những người làm chứng  
phải ghi chép lại bằng văn bản ngay sau đó.  
Tuy nhiên, thuật ngữ “ngay sau đó” lại không  
thể xác định được. Điều này đã gây ra khó  
khăn cho Tòa án trong việc thẩm định giá trị  
của di chúc miệng và muốn bác bỏ nó thì cũng  
thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng. Thực tế đã xảy  
ra trường hợp tòa án từ chối di chúc được ghi  
chép lại và ký tên, điểm chỉ vào ngày hôm sau  
so với thời điểm người để lại di sản thể hiện ý  
chí cuối cùng3.  
4.4. Hình thức của di chúc tại Bộ luật  
Dân sự năm 2005  
BLDS năm 2005 có một số thay đổi quan  
trọng trong quy định về hình thức của di chúc  
như sau:  
- Sửa đổi hình thức “Di chúc bằng văn bản  
có chứng nhận của Công chứng nhà nước”  
(khoản 4 Điều 653 BLDS năm 1995) thành  
“Di chúc bằng văn bản có công chứng” (khoản  
3 Điều 650 BLDS năm 2005). Đây là thời  
kỳ Nhà nước có chủ trương xã hội hóa công  
chứng, ngoài công chứng nhà nước còn có văn  
phòng công chứng tư nhân nên việc sửa đổi là  
phù hợp4.  
- Di chúc miệng được bổ sung thêm điều  
kiện “trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày  
người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng  
thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng  
thực” (khoản 5 Điều 652). Ấn định chính xác  
khoảng thời gian phải thực hiện thủ tục công  
chứng/chứng thực là “năm ngày” nhằm loại  
trừ trường hợp người làm chứng có thể tự ý  
sửa chữa, viết lại nhiều lần hay đánh tráo văn  
bản ghi nội dung di chúc miệng.  
- BLDS năm 1995 bổ sung quy định về di  
chúc có công chứng, chứng thực: “Di chúc của  
người bị hạn chế về thể chất hoặc của người  
không biết chữ phải được người làm chứng  
lập thành văn bản và có chứng nhận của Công  
chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban  
nhân dân xã, phường, thị trấn” (khoản 3 Điều  
655). Như vậy, trong trường hợp người lập  
di chúc khiếm khuyết một số chức năng nhất  
định như không đọc được, hoặc không nghe,  
không thấy được, hoặc không ký hay điểm chỉ  
được vào di chúc, việc lập di chúc bắt buộc  
phải có sự tham gia của người làm chứng thì  
- Sửa đổi khoản 2 Điều 654 BLDS năm  
1995 về di chúc miệng từ “bị huỷ bỏ” thành  
“mặc nhiên bị hủy bỏ” (khoản 2 Điều 651  
BLDS năm 2005) bảo đảm sự rõ ràng trong  
quy định của điều luật.  
2 Chu Xuân Minh, Di chúc hợp pháp không có công chứng, chứng thực, https: //tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-  
luat/di-chuc-hop-phap-khong-co-cong-chung-chung-thuc, truy cập ngày 10/5/2021..  
3 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị quốc gia 2013 (xuất bản lần  
thứ hai), Bản án số 48-50.  
4 Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020  
đã xác định: “Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan  
công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này”; Luật Công chứng năm  
2006 quy định chi tiết các văn phòng công chứng tư nhân.  
Số 20(444) - T10/2021  
53  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
4.5. Hình thức của di chúc theo quy định  
của Bộ luật Dân sự năm 2015  
chép. Vì vậy, trường hợp người lập di chúc  
tự viết thì không cần người làm chứng nhưng  
tự đánh máy thì vẫn cần có người làm chứng  
(không bắt buộc phải có công chứng, chứng  
thực). Tuy nhiên, cần phân biệt trường hợp  
người lập di chúc không tự mình viết ở đây  
là những người không bị hạn chế về thể chất  
và biết chữ để biết được người đánh máy hộ  
có đánh máy đúng các nội dung theo ý chí  
của mình hay không, khác với trường hợp di  
chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc  
của người không biết chữ được người làm  
chứng lập thành văn bản thì bắt buộc phải có  
công chứng, chứng thực.  
So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015  
đã sửa đổi một số quy định về hình thức của di  
chúc như sau:  
- Loại bỏ quy định: “Người thuộc dân tộc  
thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết  
hoặc tiếng nói của dân tộc mình” (Điều 649  
BLDS năm 2005). Việc loại bỏ này nhằm bảo  
đảm sự tương thích với quy định của Hiến  
pháp – công dân có quyền dùng tiếng nói và  
chữ viết của dân tộc mình - quyền của công  
dân được pháp luật bảo hộ, không cần thiết  
phải quy định trong BLDS.  
5. Những hạn chế, bất cập trong quy định  
của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức  
của di chúc và kiến nghị  
- Về di chúc miệng, BLDS năm 2015 chỉ  
còn giữ lại trường hợp “tính mạng một người  
bị cái chết đe dọa” (Điều 629) và loại bỏ trường  
hợp “do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác”  
(khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2005). Việc bỏ  
quy định này tạo ra một quy định ngắn gọn,  
chặt chẽ và dễ áp dụng.  
5.1. Những hạn chế, bất cập  
- Về di chúc miệng  
Theo quy định của Điều 629 BLDS năm  
2015, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp  
khi đáp ứng đủ các điều kiện về hình thức,  
gồm: ít nhất 02 người làm chứng; ngay lập  
tức người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên  
hoặc điểm chỉ; công chứng/chứng thực trong  
thời hạn 05 ngày làm việc; mặc nhiên bị hủy  
bỏ sau 03 tháng nếu người lập di chúc còn  
sống, minh mẫn, sáng suốt.  
Nếu di chúc miệng tại BLDS năm 2005  
không nêu rõ là cần công chứng hoặc chứng  
thực nội dung bản di chúc hay xác nhận chữ  
ký/điểm chỉ của người làm chứng, thì BLDS  
năm 2015 đã bổ sung thêm quy định chỉ “xác  
nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm  
chứng” (khoản 5 Điều 630).  
- Về di chúc bằng văn bản có người làm  
chứng, BLDS năm 2015 bổ sung quy định về  
di chúc đánh máy: “Trường hợp người lập di  
chúc không tự mình viết bản di chúc thì có  
thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác  
viết hoặc đánh máy bản di chúc nhưng phải  
có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập  
di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc  
trước mặt những người làm chứng; những  
người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ  
của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”  
(Điều 634).  
Vì vậy, nếu chỉ vi phạm một trong các điều  
kiện nêu trên thì di chúc miệng sẽ bị coi là vô  
hiệu. Trên thực tế, do di chúc miệng được lập  
trong tình trạng đặc biệt, có tính cấp bách nên  
dễ bị vô hiệu hơn loại hình di chúc khác:  
Thứ nhất, trường hợp ông bà, cha mẹ ốm  
đau/bị tai nạn sắp mất dặn dò con cháu bằng  
lời nói rất phổ biến, đa số các trường hợp này  
con cháu sẽ tự nguyện nghe theo lời dặn dò,  
thực hiện trên cơ sở đạo đức, truyền thống văn  
hóa mà không quan tâm đến vấn đề việc lập  
di chúc miệng đó có đáp ứng đủ các điều kiện  
luật định hay không hoặc có thực hiện nhưng  
không đầy đủ các thủ tục. Do vậy, khi xảy ra  
tranh chấp, các bên đưa nhau ra Tòa thì di chúc  
So với di chúc tự viết, di chúc đánh máy  
dễ đọc, dễ nhìn hơn nhưng lại không có giá  
trị bằng di chúc tự viết và dễ dàng bị sao  
54  
Số 20(444) - T10/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
miệng rất bất lợi, lúc đó hội đồng xét xử sẽ đối  
chiếu với các quy định của luật, dù cho lời nói  
của người để lại di chúc thể hiện đúng ý chí  
của họ nhưng tình trạng di chúc miệng bị hủy  
bỏ là rất phổ biến.  
họ không thực hiện khiến di chúc bị vô hiệu thì  
quyền và lợi ích của những người thừa kế sẽ  
bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong trường hợp  
này, sẽ phát sinh trách nhiệm của người làm  
chứng, điều này là không hợp lý8.  
Xem xét một số bản án cho thấy, các Tòa  
án cũng có quan điểm khác nhau. Có quan  
điểm cho rằng nếu di chúc miệng không đủ  
thủ tục nhưng có bản ghi âm lời nói, có người  
làm chứng thì vẫn có hiệu lực5 (chủ yếu là thời  
kỳ thi hành BLDS năm 2005 trở về trước), còn  
đa số quan điểm là không công nhận hiệu lực  
của di chúc miệng6.  
Thứ ba, do di chúc miệng được lập trong  
tình trạng đặc biệt “tính mạng một người bị  
cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng  
văn bản”. Vì vậy, để đáp ứng được quy định  
“người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên  
hoặc điểm chỉ” ngay lập tức và thực hiện công  
chứng, chứng thực “trong thời hạn 05 ngày”.  
Ví dụ, bị tai nạn tại vùng hẻo lánh, bị lạc  
đường khi đi thám hiểm, không có công cụ để  
ghi chép lại... hay trường hợp 02 người làm  
chứng có điều kiện ghi chép lại và ký tên hoặc  
điểm chỉ nhưng mất quá 05 ngày mới được  
giải cứu và lúc đó mới có điều kiện làm thủ tục  
công chứng, chứng thực, khi đó, đối chiếu với  
thời hạn thì đã bị quá hạn.  
Thứ hai, pháp luật hiện hành không quy  
định cụ thể nghĩa vụ thực hiện việc công  
chứng hoặc chứng thực di chúc miệng là do  
ai thực hiện (người thừa kế được hưởng di sản  
hay những người làm chứng). Điều này gây ra  
cách hiểu khác nhau: có ý kiến cho rằng, người  
hưởng di sản phải thực hiện việc công chứng,  
chứng thực di chúc; ý kiến khác lại cho rằng,  
việc tiến hành công chứng hoặc chứng thực  
này chỉ có thể do người làm chứng thực hiện7.  
Do pháp luật quy định chưa rõ nghĩa vụ dẫn  
đến tình trạng, người hưởng di sản và người  
làm chứng trông chờ nhau, dẫn đến quá thời  
hạn “05 ngày làm việc”. Khi xảy ra tranh chấp,  
các bên có thể đổ lỗi cho nhau, gây khó khăn  
cho việc giải quyết của Tòa án. Bên cạnh đó,  
nếu cho rằng, người làm chứng bắt buộc phải  
thực hiện việc công chứng, chứng thực, nhưng  
- Về cách thức ký tên, điểm chỉ di chúc  
bằng văn bản  
Về hình thức của di chúc, BLDS năm 2015  
quy định di chúc không được viết tắt hoặc viết  
bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì  
mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ  
ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”. Như  
vậy, tất cả di chúc viết tay và di chúc đánh máy  
đều phải ký hoặc điểm chỉ vào từng trang. Nếu  
vi phạm thì di chúc không được công nhận.  
5 Ví dụ: Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2007/ DSST ngày 5/9/2007 của Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Nam  
Định: Ông K lập di chúc miệng khi còn minh mẫn và tự nguyện, ông con trai là T có thu băng ghi âm lại, có  
lời khai của 2 người làm chứng là bà L và ông D (hàng xóm). Vì vậy, Tòa án công nhận hiệu lực của di chúc  
miệng dù di chúc không được người làm chứng ghi chép lại và không đi công chứng theo thủ tục luật định;  
Hay Bản án số 14/2006/DSPT ngày 15/2/2006 của Tòa phúc thẩm, TAND tối cao thành phố Hồ Chí Minh công  
nhận hiệu lực di chúc miệng khi chỉ đáp ứng điều kiện có 2 người làm chứng và cùng ký vào văn bản ghi chép  
lại ý nguyện của người để lại di chúc.  
6 Ví dụ: Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2017/DS-PT ngày 28/07/2017 của TAND tỉnh Yên Bái về tranh  
chấp chia thừa kế: Di chúc có người làm chứng nhưng nội dung không được ghi chép lại bằng văn bản và bị  
quá thời hạn quy định của pháp luật cho phép nên Hội đồng xét xử đã không công nhận hiệu lực của di chúc.  
Quan điểm này còn thể hiện tại nhiều bản án khác như: Bản án số 26/2019/DS-ST ngày 08/08/2019 của TAND  
quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp thừa kế; Bản án số 22/2018/DS-PT ngày 25/12/2018 của  
TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp thừa kế tài sản, v.v..  
7
Đoàn Phú, Còn bất cập trong quy định về di chúc, thừa kế, http://baodongnai.com.vn/phapluat/202105/con-  
bat-cap-trong-quy-dinh-ve-di-chuc-thua-ke-3057415/, truy cập ngày 20/5/2021.  
8 Tham khảo ý kiến của luật sư Nguyễn Đức, Hội Luật gia tỉnh Đồng Nai.  
Số 20(444) - T10/2021  
55  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Tác giả cho rằng, quy định cứng này chỉ  
phù hợp và bắt buộc với di chúc do người để  
lại di chúc tự đánh máy, nhờ người đánh máy  
hoặc nhờ người khác viết hộ. Người để lại di  
chúc cần phải ký điểm chỉ vào từng trang để  
xác nhận đó là ý chí của họ. Còn di chúc viết  
tay là di chúc có giá trị cao nhất, thể hiện đầy  
đủ, chính xác ý chí của người để lại di chúc,  
thể hiện trên từng chữ của di chúc nhưng nếu  
người viết không ký/điểm chỉ từng trang hoặc  
quên không đánh số thứ tự thì khi có tranh  
chấp vẫn không được công nhận là cách làm  
chưa mềm dẻo, ảnh hưởng đến nguyện vọng  
của người để lại di sản và quyền lợi của người  
thừa kế.  
trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về  
sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.  
Thứ hai, theo lẽ công bằng, người hưởng  
di sản là người trực tiếp có quyền lợi, nghĩa vụ  
đối với di sản phải là người có trách nhiệm đảm  
bảo hiệu lực của di chúc, vì vậy, cần sửa đổi  
khoản 5 Điều 630 BLDS năm 2015 theo hướng  
bổ sung quy định rõ trách nhiệm công chứng,  
chứng thực di chúc miệng là của người hưởng  
di sản. Mặc dù đây là thủ tục “xác nhận chữ ký  
hoặc điểm chỉ của người làm chứng” nhưng  
người hưởng di sản phải chủ động đốc thúc, đi  
cùng người làm chứng để thực hiện. Điều này  
cũng không ảnh hưởng đến nội dung di chúc,  
vì đây chỉ là thủ tục đảm bảo sự quản lý của  
Nhà nước.  
5.2. Kiến nghị  
Thứ ba, sửa đổi Điều 629 BLDS năm 2015  
theo hướng bổ sung quy định thời điểm bắt  
đầu tính thời hạn, hoặc kéo dài thời hạn mà  
những người làm chứng có thể ghi chép lại, ký  
tên hoặc điểm chỉ và công chứng hoặc chứng  
thực di chúc trong những trường hợp đặc biệt,  
không đủ điều kiện để thực hiện theo đúng thời  
hạn thông thường. Trường hợp này, những  
người làm chứng phải chứng minh được họ rơi  
vào tình trạng không có đủ điều kiện thực hiện  
theo thời hạn quy định thông thường.  
- Về di chúc miệng  
Thứ nhất, để khắc phục những bất cập nêu  
trên, tác giả cho rằng, Tòa án nhân dân tối cao  
cần ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết  
linh hoạt các tranh chấp về hiệu lực của di  
chúc miệng theo hướng: Trường hợp di chúc  
miệng không đảm bảo các yêu cầu về hình  
thức công chứng, chứng thực, thời gian như  
luật định nhưng nếu có 02 người làm chứng  
và được ghi lại bằng hình ảnh, có băng ghi âm,  
kết quả giám định khẳng định hình ảnh, âm  
thanh phản ánh đúng sự thật, phù hợp với các  
chứng cứ khác chứng minh bản di chúc thể  
hiện đúng ý chí của người lập di chúc là có  
thật, khách quan thì có thể xem xét công nhận  
bản di chúc. Điều này cũng phù hợp với quy  
định của khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân  
sự 2015, đoạn ghi âm, hình ảnh là “tài liệu đọc  
được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử”  
và là nguồn của chứng cứ nếu đáp ứng được  
các yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 95  
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “Tài liệu nghe  
được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu  
được xuất trình kèm theo văn bản trình bày  
của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu  
nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác  
nhận của người đã cung cấp cho người xuất  
- Về cách thức ký tên, điểm chỉ di chúc  
bằng văn bản  
Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn  
bản hướng dẫn cách giải quyết tranh chấp liên  
quan đến hủy di chúc không đủ chữ ký theo  
hướng mềm dẻo hơn. Theo đó, quy định di  
chúc viết tay phải ký/điểm chỉ từng trang là  
quy định khuyến khích mà không phải là quy  
định bắt buộc. Thực hiện giám định chữ viết  
trong bản di chúc viết tay có phải là cùng một  
người viết ra hay không, có bị giả mạo không.  
Nếu đúng là di chúc của họ, thể hiện được đó  
là ý chí của họ thì việc họ chỉ ký trang cuối mà  
không ký trong từng trang hoặc quên không  
đánh số thứ tự cũng không ảnh hưởng đến  
hiệu lực của di chúc  
56  
Số 20(444) - T10/2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 17420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hình thức của di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhinh_thuc_cua_di_chuc_trong_phap_luat_dan_su_viet_nam_qua_ca.pdf