Hình thức của di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
Lưu Thị Phấn*
*ThS. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Nhìn lại quá trình phát triển hệ thống pháp luật về thừa kế ở nước ta, có
thể thấy, hình thức của di chúc đã được quan tâm và quy định sơ khai
ngay từ những văn bản pháp luật thời kỳ phong kiến và ngày càng được
hoàn thiện qua các văn bản pháp luật sau này. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu đạt được, quy định của pháp luật về hình thức di chúc hiện
hành vẫn còn bộc lộ những mặt hạn chế trong quá trình áp dụng vào thực
tiễn, đặc biệt trong công tác giải quyết các tranh chấp về thừa kế, đặt ra
yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.
Từ khóa: Hình thức di chúc,
pháp luật dân sự.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 27/5/2021
: 24/6/2021
: 28/6/2021
Abstract:
Article Infomation:
Keywords: Form of will, civil law.
Article History:
Looking back at the development of the inheritance legal system in in our
country, it can be seen that the form of wills has been paid attention to
and primordially regulated right from legal documents during the feudal
period. The form is increasingly being improved in later legal documents.
However, besides the achievements, the current law on the form of wills
still reveals limitations in the process of applying it in practice, especially
in resolving disputes over inheritance, set out requirements that need to be
further reviewed for amendments in the coming time.
Received
Edited
: 27 May. 2021
: 24 Jun. 2021
: 28 Jun. 2021
Approved
1. Thời kỳ phong kiến
có giá trị. Nếu biết chữ mà viết lấy thì được”.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật, bên cạnh
hình thức tự viết chúc thư còn có loại chúc thư
phải nhờ quan trưởng viết thay và chứng kiến.
Ngoài hình thức viết, Điều 388 Bộ luật Hồng
Đức còn cho phép lập di chúc miệng: “Nếu có
lệnh của ông bà và chúc thư thì phải làm theo
đúng, trái thì mất phần mình”. Bộ luật không
quy định mệnh lệnh này được phát ra trong
tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh nào; vì vậy,
có thể hiểu mệnh lệnh có thể được nói ra bất
cứ lúc nào cũng đều có giá trị.
Về hình thức của di chúc, Bộ luật Hồng
Đức quy định gồm di chúc miệng (chúc ngôn)
và di chúc viết. Đồng thời, Bộ luật áp dụng
nguyên tắc tự do lập di chúc và quyết định
nội dung di chúc. Khi mở thừa kế, nếu người
để lại di sản có lập chúc thư thì di sản sẽ chia
theo chúc thư đó; trường hợp không có chúc
thư, di sản sẽ được chia theo pháp luật. Đây là
những nền tảng cơ bản được các văn bản pháp
luật về thừa kế sau này kế thừa, phát triển và
hoàn thiện.
Thời nhà Nguyễn, do sự lệ thuộc về chính
trị nên pháp luật triều Nguyễn là bản sao chép
pháp luật của nhà Thanh (Trung Quốc). So với
Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long của triều
Nguyễn“khôngcònnhữngđiềukhoảnliênquan
Điều 366 Bộ luật Hồng Đức quy định:
“Những người làm chúc thư văn khế mà không
nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng
kiến, thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo
việc nặng nhẹ. Chúc thư văn khế ấy không
50
Số 20(444) - T10/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
đến hương hỏa, chúc thư, đến chế độ tài sản của
vợ chồng”1.
đến di chúc miệng mà chủ yếu quy định về
di chúc viết.
2. Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945)
Như vậy, so với pháp luật thời kỳ phong
kiến, pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những
bước phát triển về tư duy pháp lý và kỹ thuật
lập pháp, nhấn mạnh việc người lập di chúc
phải tự viết và ký vào bản di chúc. Viết đủ nội
dung mà chưa ký thì cũng vẫn chỉ là dự thảo.
Đây cũng là hình thức quan trọng được các
văn bản pháp luật sau này ghi nhận và ngày
càng hoàn thiện hơn về cách thức ký tên, đánh
số cho chặt chẽ.
Tại xứ Nam Kỳ, Bộ Dân luật giản yếu đã
được ban hành để áp dụng riêng cho lãnh thổ
Nam Kỳ. Tuy nhiên, trong Bộ Dân luật giản
yếu tất cả những vấn đề về nghĩa vụ, khế ước,
thừa kế… đều không được quy định.
Tại Bắc Kỳ, Bộ Dân luật Bắc Kỳ được xây
dựng dựa trên nền tảng của Bộ luật Dân sự
(BLDS) Pháp năm 1804, có kế thừa nhiều quy
định của Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia
Long. Bộ luật này không nhắc đến hình thức
di chúc miệng mà chủ yếu quy định về di chúc
viết chi tiết hơn so với trước đây: Điều 323
Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định: “Chúc thư phải
làm thành tờ chữ, hoặc do nô te lập hoặc làm
thành chứng thư có hay không có viên chức
thị thực”.
3. Thời kỳ 1945 – 1975
Từ năm 1954 đến năm 1975, Việt Nam tạm
thời bị chia cắt thành hai miền với hai hệ thống
chính trị, pháp lý khác nhau. Ở miền Bắc vẫn
tiếp tục sử dụng một số luật lệ ở Bắc-Trung-
Nam của giai đoạn trước.
Ở miền Nam, áp dụng Bộ Dân luật năm
1972, về cơ bản vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc về
kỹ thuật lập pháp và tư duy pháp lý của BLDS
Pháp. Cấu trúc và nội dung có nhiều điểm
tương đồng với Bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng
Việt Trung kỳ Hộ Luật. Bộ luật cũng không
nhắc đến di chúc miệng mà chỉ bao gồm các
chúc thư viết: chúc thư tự tả (Điều 574); chúc
thư công chính (Điều 575), và chúc thư bí mật
(Điều 573). Theo đó, chúc thư tự tả là chúc thư
tự viết và chúc thư công chính là chúc thư có
công chứng thị thực giống như thời kỳ Pháp
thuộc, chỉ khác về mặt câu chữ. Còn chúc thư
bí mật là “chúc thư niêm phong kín do người
lập di chúc trình cho Chưởng khế trước mặt
hai nhân chứng và khai rằng đó là chúc thư
của mình viết lấy và thủ ký. Chưởng khế sẽ lập
biên bản tiếp nhận, nếu người lập di chúc vì lẽ
gì không thể ký vào biên bản thì phải ghi rõ”
(Điều 578). Đây là điểm mới so với chúc thư
các thời kỳ trước vì chúc thư được niêm phong
kín chứ không bắt buộc phải đọc và cho người
khác biết như các quy định trước kia.
- Đối với chúc thư không có viên chức thị
thực: “phải do chính mình lập chúc thư viết
lấy tất cả và ký tên. Nếu do người khác tá tả thì
phải có ít là hai người làm chứng. Người lập
chúc thư, người tá tả, người chứng phải ký tên.
Phàm người không biết chữ lập chúc thư
không có viên chức thị thực thì phải làm tại
trước mặt ít ra là hai người chứng biết viết, biết
đọc. Các người chứng ấy phải cùng với người
tá tả ký tên vào trong chúc thư” (Điều 326).
- Đối với chúc thư làm thành chứng thư
có viên chức thị thực: “phải do chính mình
người lập chúc thư viết ra, hoặc đọc cho người
khác viết hộ, tại trước mặt Lý trưởng nơi trú
quán mình, và ít ra phải có hai người chứng
đã thành niên” (Điều 324). Trường hợp, nếu
người lập chúc thư và các người chứng đều
không biết chữ thì Lý trưởng phải biên chú
vào trong chúc thư (Điều 325).
Tại Trung Kỳ, Hoàng Việt Trung kỳ Hộ
luật sao chép lại hầu hết các điều khoản của
Bộ Dân luật Bắc Kỳ, nhưng không đề cập
1 Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử (xuất bản tại Sài Gòn năm 1973).
Số 20(444) - T10/2021
51
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
4. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
minh mẫn, thì coi như di chúc miệng đó bị huỷ
bỏ”. Tuy nhiên, Pháp lệnh Thừa kế không quy
định thủ tục để hủy bỏ và ai có quyền tuyên
bố hủy bỏ di chúc miệng, làm cho quy định
này được hiểu theo nhiều nghĩa và áp dụng
không thống nhất. Mặt khác, cũng như Thông
tư 81, Pháp lệnh Thừa kế thừa nhận giá trị của
di chúc miệng nhưng không quy định thủ tục
ghi chép lại di chúc miệng.
4.1. Hình thức của di chúc tại Thông tư
số 81/TANDTC ngày 24/7/1981
Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981
của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải
quyết các tranh chấp về thừa kế (Thông tư 81)
quy định về hình thức di chúc tại mục A nội
dung IV:
- Ghi nhận chính thức về di chúc miệng
“Di chúc miệng phải có người làm chứng
bảo đảm”, đây là điểm tiến bộ so với các thời
kỳ trước.
- Về di chúc viết có công chứng, chứng
thực, Pháp lệnh Thừa kế quy định rõ cơ quan
có thẩm quyền là cơ quan công chứng hoặc Ủy
ban nhân dân chứng thực (Điều 14); cơ quan
đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của Việt Nam
ở nước ngoài chứng thực (Điều 15).
- Hình thức di chúc viết được bổ sung di
chúc được lập trong điều kiện đặc biệt: di chúc
có thể do cơ quan, đơn vị nơi đương sự làm
việc xác nhận; nếu người có tài sản đang đi
trên phương tiện giao thông hay đang ở trong
một cơ sở chữa bệnh mà gặp tình huống phải
cấp bách lập di chúc thì sự chứng nhận của
người phụ trách của phương tiện giao thông
hay cơ sở chữa bệnh cũng được coi là hợp lệ.
- Về di chúc viết có giá trị như di chúc được
chứng thực (Điều 16): Đây là loại di chúc
tương ứng với di chúc được lập trong trường
hợp đặc biệt của Thông tư 81 nhưng Pháp lệnh
Thừa kế có bổ sung thêm một số trường hợp,
đặc biệt là trường hợp di chúc của người đang
bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù,
đang cải tạo có xác nhận của người phụ trách
cơ sở giam giữ, cải tạo. Điều này thể hiện sự
công bằng, không phân biệt đối xử giữa người
bình thường với người đang bị tạm giam, bị
phạt tù, đang cải tạo.
- Công nhận chúc thư tự viết không có
công chứng, chứng thực như các thời kỳ trước
nhưng ghi chi tiết hơn: “nếu di chúc không có
sự chứng nhận hợp lệ, nhưng có người làm
chứng bảo đảm, hoặc xác định được di chúc
đó đúng là do người có di sản tự nguyện lập ra
(như đúng là chữ viết và chữ ký của người có
di sản, thời gian và địa điểm ghi trong di chúc
cũng phù hợp…) thì cũng có giá trị”.
- Về di chúc không có công chứng, chứng
thực, Pháp lệnh Thừa kế cơ bản quy định như
Thông tư 81, có bổ sung thêm yếu tố “minh
mẫn, không bị lừa dối và không trái với quy
định của pháp luật”.
4.2. Hình thức của di chúc tại Pháp lệnh
Thừa kế năm 1990
4.3. Hình thức của di chúc tại Bộ luật
Dân sự năm 1995
Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 (Pháp lệnh
Thừa kế) bổ sung, sửa đổi một số điểm so với
Thông tư 81 như sau:
Bộ luật Dân sự năm 1995 sử dụng khái
niệm “di chúc bằng văn bản” thay khái niệm
“di chúc viết” của các thời kỳ trước. Có thể
hiểu “di chúc bằng văn bản” bao gồm cả di
chúc đánh máy và di chúc viết. Đồng thời
BLDS năm 1995 bổ sung quy định, di chúc tự
đánh máy hay nhờ người khác đánh máy phải
- Về di chúc miệng, Điều 18 Pháp lệnh
Thừa kế ghi rõ điều kiện lập di chúc miệng
phải “trong trường hợp tính mạng bị đe doạ
nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết
được” và “sau ba tháng kể từ ngày lập di chúc
miệng, nếu người lập di chúc còn sống và
52
Số 20(444) - T10/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
có công chứng/chứng thực thì mới có hiệu
lực2. Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền
lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của
dân tộc mình.
di chúc mới có hiệu lực.
BLDS năm 1995 cũng quy định chặt chẽ
việc viết, ký di chúc. “Di chúc không được viết
tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm
nhiều trang, thì mỗi trang phải được đánh số
thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người
lập di chúc” (khoản 2 Điều 656).
- Khắc phục bất cập của Pháp lệnh Thừa
kế về di chúc miệng, BLDS năm 1995 quy
định: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp,
nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối
cùng của mình trước mặt ít nhất hai người
làm chứng và ngay sau đó những người làm
chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ”
(khoản 1 Điều 654). Theo đó, thủ tục lập nội
dung di chúc miệng là những người làm chứng
phải ghi chép lại bằng văn bản ngay sau đó.
Tuy nhiên, thuật ngữ “ngay sau đó” lại không
thể xác định được. Điều này đã gây ra khó
khăn cho Tòa án trong việc thẩm định giá trị
của di chúc miệng và muốn bác bỏ nó thì cũng
thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng. Thực tế đã xảy
ra trường hợp tòa án từ chối di chúc được ghi
chép lại và ký tên, điểm chỉ vào ngày hôm sau
so với thời điểm người để lại di sản thể hiện ý
chí cuối cùng3.
4.4. Hình thức của di chúc tại Bộ luật
Dân sự năm 2005
BLDS năm 2005 có một số thay đổi quan
trọng trong quy định về hình thức của di chúc
như sau:
- Sửa đổi hình thức “Di chúc bằng văn bản
có chứng nhận của Công chứng nhà nước”
(khoản 4 Điều 653 BLDS năm 1995) thành
“Di chúc bằng văn bản có công chứng” (khoản
3 Điều 650 BLDS năm 2005). Đây là thời
kỳ Nhà nước có chủ trương xã hội hóa công
chứng, ngoài công chứng nhà nước còn có văn
phòng công chứng tư nhân nên việc sửa đổi là
phù hợp4.
- Di chúc miệng được bổ sung thêm điều
kiện “trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày
người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng
thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng
thực” (khoản 5 Điều 652). Ấn định chính xác
khoảng thời gian phải thực hiện thủ tục công
chứng/chứng thực là “năm ngày” nhằm loại
trừ trường hợp người làm chứng có thể tự ý
sửa chữa, viết lại nhiều lần hay đánh tráo văn
bản ghi nội dung di chúc miệng.
- BLDS năm 1995 bổ sung quy định về di
chúc có công chứng, chứng thực: “Di chúc của
người bị hạn chế về thể chất hoặc của người
không biết chữ phải được người làm chứng
lập thành văn bản và có chứng nhận của Công
chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban
nhân dân xã, phường, thị trấn” (khoản 3 Điều
655). Như vậy, trong trường hợp người lập
di chúc khiếm khuyết một số chức năng nhất
định như không đọc được, hoặc không nghe,
không thấy được, hoặc không ký hay điểm chỉ
được vào di chúc, việc lập di chúc bắt buộc
phải có sự tham gia của người làm chứng thì
- Sửa đổi khoản 2 Điều 654 BLDS năm
1995 về di chúc miệng từ “bị huỷ bỏ” thành
“mặc nhiên bị hủy bỏ” (khoản 2 Điều 651
BLDS năm 2005) bảo đảm sự rõ ràng trong
quy định của điều luật.
2 Chu Xuân Minh, Di chúc hợp pháp không có công chứng, chứng thực, https: //tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-
luat/di-chuc-hop-phap-khong-co-cong-chung-chung-thuc, truy cập ngày 10/5/2021..
3 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị quốc gia 2013 (xuất bản lần
thứ hai), Bản án số 48-50.
4 Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020
đã xác định: “Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan
công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này”; Luật Công chứng năm
2006 quy định chi tiết các văn phòng công chứng tư nhân.
Số 20(444) - T10/2021
53
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
4.5. Hình thức của di chúc theo quy định
của Bộ luật Dân sự năm 2015
chép. Vì vậy, trường hợp người lập di chúc
tự viết thì không cần người làm chứng nhưng
tự đánh máy thì vẫn cần có người làm chứng
(không bắt buộc phải có công chứng, chứng
thực). Tuy nhiên, cần phân biệt trường hợp
người lập di chúc không tự mình viết ở đây
là những người không bị hạn chế về thể chất
và biết chữ để biết được người đánh máy hộ
có đánh máy đúng các nội dung theo ý chí
của mình hay không, khác với trường hợp di
chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc
của người không biết chữ được người làm
chứng lập thành văn bản thì bắt buộc phải có
công chứng, chứng thực.
So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015
đã sửa đổi một số quy định về hình thức của di
chúc như sau:
- Loại bỏ quy định: “Người thuộc dân tộc
thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết
hoặc tiếng nói của dân tộc mình” (Điều 649
BLDS năm 2005). Việc loại bỏ này nhằm bảo
đảm sự tương thích với quy định của Hiến
pháp – công dân có quyền dùng tiếng nói và
chữ viết của dân tộc mình - quyền của công
dân được pháp luật bảo hộ, không cần thiết
phải quy định trong BLDS.
5. Những hạn chế, bất cập trong quy định
của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức
của di chúc và kiến nghị
- Về di chúc miệng, BLDS năm 2015 chỉ
còn giữ lại trường hợp “tính mạng một người
bị cái chết đe dọa” (Điều 629) và loại bỏ trường
hợp “do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác”
(khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2005). Việc bỏ
quy định này tạo ra một quy định ngắn gọn,
chặt chẽ và dễ áp dụng.
5.1. Những hạn chế, bất cập
- Về di chúc miệng
Theo quy định của Điều 629 BLDS năm
2015, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp
khi đáp ứng đủ các điều kiện về hình thức,
gồm: ít nhất 02 người làm chứng; ngay lập
tức người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên
hoặc điểm chỉ; công chứng/chứng thực trong
thời hạn 05 ngày làm việc; mặc nhiên bị hủy
bỏ sau 03 tháng nếu người lập di chúc còn
sống, minh mẫn, sáng suốt.
Nếu di chúc miệng tại BLDS năm 2005
không nêu rõ là cần công chứng hoặc chứng
thực nội dung bản di chúc hay xác nhận chữ
ký/điểm chỉ của người làm chứng, thì BLDS
năm 2015 đã bổ sung thêm quy định chỉ “xác
nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm
chứng” (khoản 5 Điều 630).
- Về di chúc bằng văn bản có người làm
chứng, BLDS năm 2015 bổ sung quy định về
di chúc đánh máy: “Trường hợp người lập di
chúc không tự mình viết bản di chúc thì có
thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác
viết hoặc đánh máy bản di chúc nhưng phải
có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập
di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc
trước mặt những người làm chứng; những
người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ
của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”
(Điều 634).
Vì vậy, nếu chỉ vi phạm một trong các điều
kiện nêu trên thì di chúc miệng sẽ bị coi là vô
hiệu. Trên thực tế, do di chúc miệng được lập
trong tình trạng đặc biệt, có tính cấp bách nên
dễ bị vô hiệu hơn loại hình di chúc khác:
Thứ nhất, trường hợp ông bà, cha mẹ ốm
đau/bị tai nạn sắp mất dặn dò con cháu bằng
lời nói rất phổ biến, đa số các trường hợp này
con cháu sẽ tự nguyện nghe theo lời dặn dò,
thực hiện trên cơ sở đạo đức, truyền thống văn
hóa mà không quan tâm đến vấn đề việc lập
di chúc miệng đó có đáp ứng đủ các điều kiện
luật định hay không hoặc có thực hiện nhưng
không đầy đủ các thủ tục. Do vậy, khi xảy ra
tranh chấp, các bên đưa nhau ra Tòa thì di chúc
So với di chúc tự viết, di chúc đánh máy
dễ đọc, dễ nhìn hơn nhưng lại không có giá
trị bằng di chúc tự viết và dễ dàng bị sao
54
Số 20(444) - T10/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
miệng rất bất lợi, lúc đó hội đồng xét xử sẽ đối
chiếu với các quy định của luật, dù cho lời nói
của người để lại di chúc thể hiện đúng ý chí
của họ nhưng tình trạng di chúc miệng bị hủy
bỏ là rất phổ biến.
họ không thực hiện khiến di chúc bị vô hiệu thì
quyền và lợi ích của những người thừa kế sẽ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong trường hợp
này, sẽ phát sinh trách nhiệm của người làm
chứng, điều này là không hợp lý8.
Xem xét một số bản án cho thấy, các Tòa
án cũng có quan điểm khác nhau. Có quan
điểm cho rằng nếu di chúc miệng không đủ
thủ tục nhưng có bản ghi âm lời nói, có người
làm chứng thì vẫn có hiệu lực5 (chủ yếu là thời
kỳ thi hành BLDS năm 2005 trở về trước), còn
đa số quan điểm là không công nhận hiệu lực
của di chúc miệng6.
Thứ ba, do di chúc miệng được lập trong
tình trạng đặc biệt “tính mạng một người bị
cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng
văn bản”. Vì vậy, để đáp ứng được quy định
“người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên
hoặc điểm chỉ” ngay lập tức và thực hiện công
chứng, chứng thực “trong thời hạn 05 ngày”.
Ví dụ, bị tai nạn tại vùng hẻo lánh, bị lạc
đường khi đi thám hiểm, không có công cụ để
ghi chép lại... hay trường hợp 02 người làm
chứng có điều kiện ghi chép lại và ký tên hoặc
điểm chỉ nhưng mất quá 05 ngày mới được
giải cứu và lúc đó mới có điều kiện làm thủ tục
công chứng, chứng thực, khi đó, đối chiếu với
thời hạn thì đã bị quá hạn.
Thứ hai, pháp luật hiện hành không quy
định cụ thể nghĩa vụ thực hiện việc công
chứng hoặc chứng thực di chúc miệng là do
ai thực hiện (người thừa kế được hưởng di sản
hay những người làm chứng). Điều này gây ra
cách hiểu khác nhau: có ý kiến cho rằng, người
hưởng di sản phải thực hiện việc công chứng,
chứng thực di chúc; ý kiến khác lại cho rằng,
việc tiến hành công chứng hoặc chứng thực
này chỉ có thể do người làm chứng thực hiện7.
Do pháp luật quy định chưa rõ nghĩa vụ dẫn
đến tình trạng, người hưởng di sản và người
làm chứng trông chờ nhau, dẫn đến quá thời
hạn “05 ngày làm việc”. Khi xảy ra tranh chấp,
các bên có thể đổ lỗi cho nhau, gây khó khăn
cho việc giải quyết của Tòa án. Bên cạnh đó,
nếu cho rằng, người làm chứng bắt buộc phải
thực hiện việc công chứng, chứng thực, nhưng
- Về cách thức ký tên, điểm chỉ di chúc
bằng văn bản
Về hình thức của di chúc, BLDS năm 2015
quy định di chúc không được viết tắt hoặc viết
bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì
mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ
ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”. Như
vậy, tất cả di chúc viết tay và di chúc đánh máy
đều phải ký hoặc điểm chỉ vào từng trang. Nếu
vi phạm thì di chúc không được công nhận.
5 Ví dụ: Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2007/ DSST ngày 5/9/2007 của Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Nam
Định: Ông K lập di chúc miệng khi còn minh mẫn và tự nguyện, ông con trai là T có thu băng ghi âm lại, có
lời khai của 2 người làm chứng là bà L và ông D (hàng xóm). Vì vậy, Tòa án công nhận hiệu lực của di chúc
miệng dù di chúc không được người làm chứng ghi chép lại và không đi công chứng theo thủ tục luật định;
Hay Bản án số 14/2006/DSPT ngày 15/2/2006 của Tòa phúc thẩm, TAND tối cao thành phố Hồ Chí Minh công
nhận hiệu lực di chúc miệng khi chỉ đáp ứng điều kiện có 2 người làm chứng và cùng ký vào văn bản ghi chép
lại ý nguyện của người để lại di chúc.
6 Ví dụ: Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2017/DS-PT ngày 28/07/2017 của TAND tỉnh Yên Bái về tranh
chấp chia thừa kế: Di chúc có người làm chứng nhưng nội dung không được ghi chép lại bằng văn bản và bị
quá thời hạn quy định của pháp luật cho phép nên Hội đồng xét xử đã không công nhận hiệu lực của di chúc.
Quan điểm này còn thể hiện tại nhiều bản án khác như: Bản án số 26/2019/DS-ST ngày 08/08/2019 của TAND
quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp thừa kế; Bản án số 22/2018/DS-PT ngày 25/12/2018 của
TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp thừa kế tài sản, v.v..
7
Đoàn Phú, Còn bất cập trong quy định về di chúc, thừa kế, http://baodongnai.com.vn/phapluat/202105/con-
bat-cap-trong-quy-dinh-ve-di-chuc-thua-ke-3057415/, truy cập ngày 20/5/2021.
8 Tham khảo ý kiến của luật sư Nguyễn Đức, Hội Luật gia tỉnh Đồng Nai.
Số 20(444) - T10/2021
55
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Tác giả cho rằng, quy định cứng này chỉ
phù hợp và bắt buộc với di chúc do người để
lại di chúc tự đánh máy, nhờ người đánh máy
hoặc nhờ người khác viết hộ. Người để lại di
chúc cần phải ký điểm chỉ vào từng trang để
xác nhận đó là ý chí của họ. Còn di chúc viết
tay là di chúc có giá trị cao nhất, thể hiện đầy
đủ, chính xác ý chí của người để lại di chúc,
thể hiện trên từng chữ của di chúc nhưng nếu
người viết không ký/điểm chỉ từng trang hoặc
quên không đánh số thứ tự thì khi có tranh
chấp vẫn không được công nhận là cách làm
chưa mềm dẻo, ảnh hưởng đến nguyện vọng
của người để lại di sản và quyền lợi của người
thừa kế.
trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về
sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.
Thứ hai, theo lẽ công bằng, người hưởng
di sản là người trực tiếp có quyền lợi, nghĩa vụ
đối với di sản phải là người có trách nhiệm đảm
bảo hiệu lực của di chúc, vì vậy, cần sửa đổi
khoản 5 Điều 630 BLDS năm 2015 theo hướng
bổ sung quy định rõ trách nhiệm công chứng,
chứng thực di chúc miệng là của người hưởng
di sản. Mặc dù đây là thủ tục “xác nhận chữ ký
hoặc điểm chỉ của người làm chứng” nhưng
người hưởng di sản phải chủ động đốc thúc, đi
cùng người làm chứng để thực hiện. Điều này
cũng không ảnh hưởng đến nội dung di chúc,
vì đây chỉ là thủ tục đảm bảo sự quản lý của
Nhà nước.
5.2. Kiến nghị
Thứ ba, sửa đổi Điều 629 BLDS năm 2015
theo hướng bổ sung quy định thời điểm bắt
đầu tính thời hạn, hoặc kéo dài thời hạn mà
những người làm chứng có thể ghi chép lại, ký
tên hoặc điểm chỉ và công chứng hoặc chứng
thực di chúc trong những trường hợp đặc biệt,
không đủ điều kiện để thực hiện theo đúng thời
hạn thông thường. Trường hợp này, những
người làm chứng phải chứng minh được họ rơi
vào tình trạng không có đủ điều kiện thực hiện
theo thời hạn quy định thông thường.
- Về di chúc miệng
Thứ nhất, để khắc phục những bất cập nêu
trên, tác giả cho rằng, Tòa án nhân dân tối cao
cần ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết
linh hoạt các tranh chấp về hiệu lực của di
chúc miệng theo hướng: Trường hợp di chúc
miệng không đảm bảo các yêu cầu về hình
thức công chứng, chứng thực, thời gian như
luật định nhưng nếu có 02 người làm chứng
và được ghi lại bằng hình ảnh, có băng ghi âm,
kết quả giám định khẳng định hình ảnh, âm
thanh phản ánh đúng sự thật, phù hợp với các
chứng cứ khác chứng minh bản di chúc thể
hiện đúng ý chí của người lập di chúc là có
thật, khách quan thì có thể xem xét công nhận
bản di chúc. Điều này cũng phù hợp với quy
định của khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015, đoạn ghi âm, hình ảnh là “tài liệu đọc
được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử”
và là nguồn của chứng cứ nếu đáp ứng được
các yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 95
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “Tài liệu nghe
được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu
được xuất trình kèm theo văn bản trình bày
của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu
nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác
nhận của người đã cung cấp cho người xuất
- Về cách thức ký tên, điểm chỉ di chúc
bằng văn bản
Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn
bản hướng dẫn cách giải quyết tranh chấp liên
quan đến hủy di chúc không đủ chữ ký theo
hướng mềm dẻo hơn. Theo đó, quy định di
chúc viết tay phải ký/điểm chỉ từng trang là
quy định khuyến khích mà không phải là quy
định bắt buộc. Thực hiện giám định chữ viết
trong bản di chúc viết tay có phải là cùng một
người viết ra hay không, có bị giả mạo không.
Nếu đúng là di chúc của họ, thể hiện được đó
là ý chí của họ thì việc họ chỉ ký trang cuối mà
không ký trong từng trang hoặc quên không
đánh số thứ tự cũng không ảnh hưởng đến
hiệu lực của di chúc
56
Số 20(444) - T10/2021
Bạn đang xem tài liệu "Hình thức của di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hinh_thuc_cua_di_chuc_trong_phap_luat_dan_su_viet_nam_qua_ca.pdf

