Đổi mới quy trình lập pháp ở Việt Nam trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ĐỔI MỚI QUY TRÌNH LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN  
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ  
Lê Thị Khánh Huyền  
ThS. Công ty Ứng dụng kỹ thuật và sản xuất, Bộ Quốc phòng  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tạo ra những biến chuyển  
mạnh mẽ, chưa có tiền lệ trong đời sống kinh tế - xã hội, làm nảy sinh những vấn  
đề mới về pháp lý, tác động trực tiếp tới hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp  
luật của mỗi quốc gia. Trong quá trình này, hoạt động lập pháp ở Việt Nam cần  
thiết phải tiếp tục được đổi mới toàn diện, trong đó phải được chú trọng hơn đối  
với quy trình lập pháp.  
Từ khóa: Cuộc Cách mạng lần  
thứ tư, quy trình lập pháp.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/02/2021  
: 14/3/2021  
: 17/3/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
The fourth industrial revolution has provided strong and unprecedented changes  
in the socio-economic life, giving new legal issues that directly impact on  
development and improvements of the laws of each country. Under this process,  
the legislative performance in Vietnam needs to continue to be comprehensively  
reformed, in which it is required to pay more attention to the legislative process.  
Keywords: The fourth revolution,  
the legislative process.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 20 Feb. 2021  
: 14 Mar. 2021  
: 17 Mar. 2021  
Approved  
1. Tính tất yếu đổi mới quy trình lập  
pháp ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
năm qua đã có nhiều tiến bộ vượt bậc,  
góp phần quan trọng vào hoàn thiện hệ  
thống pháp luật, xây dựng Nhà nước  
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng  
trước sự tác động mạnh mẽ của CMCN  
4.0, để đáp ứng nhu cầu phát triển của  
đất nước trong thời kỳ mới, quy trình  
lập pháp ở nước ta cần được tiếp tục đổi  
mới, cụ thể là:  
Việt Nam là quốc gia đang trong quá  
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và  
hội nhập quốc tế; cuộc Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) mở ra  
nhiều cơ hội và thách thức cho quá trình  
phát triển kinh tế - xã hội, trong đó bao  
gồm cả hoạt động lập pháp. Mặc dù, quy  
trình lập pháp ở Việt Nam trong nhiều  
Thứ nhất, vận dụng các thành tựu khoa  
học, công nghệ của CMCN 4.0 vào hoàn  
thiện quy trình lập pháp là tất yếu khách  
Số 07(431) - T4/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quan trong quá trình phát triển kinh tế - xã  
hội trong bối cảnh CMCN 4.0.  
đối với phát triển kinh tế, phát triển các tiện  
ích cho đời sống mà còn hữu ích trong hoạt  
động lập pháp, thúc đẩy quá trình chuyển  
đổi từ quy trình lập pháp truyền thống sáng  
quy trình lập pháp hiện đại với sự trợ giúp  
của công nghệ phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ  
nhân tạo, công nghệ số, v.v.. vào quá trình  
phân tích chính sách luật, tổng kết đánh  
giá tác động các quy phạm pháp luật (RIA)  
trong quá trình soạn thảo các dự luật, phân  
tích thực tiễn và xây dựng mô hình dự báo  
để từ đó đưa ra các phương án lựa chọn  
cho nhà lập pháp.  
Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 14/5/2017  
của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Cuộc  
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu  
hướng phát triển dựa trên nền tảng tích  
hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa -  
vật lý - sinh học với sự đột phá của  
Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đang  
làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế  
giới. (...) đang tạo ra tác động mạnh mẽ,  
ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời  
sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay  
đổi phương thức và lực lượng sản xuất  
của xã hội”. Thực tiễn cho thấy, CMCN  
4.0 với những công nghệ nổi trội, chưa  
từng có trong tiền lệ như in 3D, robot,  
trí tuệ nhân tạo, Internet kết nối vạn vật  
(IoT), mạng xã hội, điện toán đám mây,  
di động, phân tích dữ liệu lớn (S.M.A.C),  
công nghệ nano (CNNN), sinh học, vật  
liệu mới, v.v.. đã và đang làm thay đổi  
nhiều lĩnh vực của cuộc sống theo “cấp  
số nhân”; trong đó, đặc biệt thúc đẩy đến  
việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng  
cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong  
chuỗi sản phẩm; tạo ra sự thay đổi lớn  
về hình thái kinh doanh dịch vụ; tạo ra  
nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp khởi  
nghiệp sáng tạo; giảm đáng kể chi phí  
giao dịch, vận chuyển; tạo cơ hội đầu tư  
hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực  
công nghệ số.  
Thứ hai, đổi mới quy trình lập pháp Việt  
Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 nhằm đáp  
ứng yêu cầu phát sinh các quan hệ pháp lý  
mới trong gian đoạn hiện nay.  
Trước sự tác động mạnh mẽ, vượt trội  
của CMCN 4.0, chất lượng hệ thống pháp  
luật ở Việt Nam đã và đang bộ lộ những hạn  
chế nhất định, đó là:  
Một là, thay đổi về không gian của các  
quan hệ pháp luật: Xuất hiện và ngày càng  
phổ biến các giao dịch “phi biên giới”,  
thậm chí “phi chủ thể”; chủ thể thực hiện  
các hoạt động truyền thông, quảng cáo;  
các hành vi, hoạt động thương mại, các  
giao dịch dân sự, v.v.. không bó hẹp trong  
phạm vi lãnh thổ quốc gia và một chủ thể  
pháp lý thông thường1.  
Hai là, thay đổi về thời gian của các  
quan hệ pháp luật: Cách tính thời gian làm  
việc, nghỉ ngơi không còn phù hợp; cách  
xác định thời điểm có hiệu lực của các giao  
Những tính năng vượt trội của công  
nghệ trong CMCN 4.0 không chỉ hữu dụng  
1 PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh - PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018,  
tr. 67-68.  
4
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
dịch dân sự…2. Thực tế hiện nay, các giao  
dịch dân sự có thể thực hiện 24/7 thông  
qua sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và  
truyền thông như dịch vụ E-Banking của  
các ngân hàng, v.v...  
sự biến đổi nhanh chóng của các quan hệ  
xã hội và sự kết hợp giữa yếu tố kinh tế, xã  
hội và công nghệ trong các quan hệ xã hội,  
các hiện tượng xã hội, như Uber, Grap,  
các giao dịch thương mại, dân sự trên môi  
trường điện tử, v.v.. Những yêu cầu này  
không dễ giải quyết nếu quy trình lập pháp  
ở nước ta vẫn theo mô hình và công nghệ  
lập pháp truyền thống; cho nên, việc đổi  
mới quy trình lập pháp phù hợp với bối  
cảnh CMCN 4.0 ở nước ta nhằm đáp ứng  
yêu cầu giải quyết tốt những tồn tại, hạn  
chế trên.  
Ba là, thay đổi về chủ thể của các quan  
hệ pháp luật: Nếu như trong pháp luật  
truyền thống, chủ thể tham gia các quan  
hệ pháp luật là cá nhân hoặc pháp nhân  
(nghĩa là các chủ thể này thuộc về xã hội  
con người tự nhiên), nhưng trong bối cảnh  
CMCN 4.0, robot ngày một phổ biến và  
dần trở thành một chủ thể chính tham gia  
các quan hệ xã hội.  
Thứ ba, quy trình lập pháp của Việt Nam  
hiện nay đã và đang đối mặt với những  
thách thức mới trong bối cảnh CMCN 4.0.  
Bốn là, thay đổi về nội dung quan hệ  
pháp luật: Với sự phát triển mạnh mẽ của  
công nghệ IoT (Internet of Things), trong  
xã hội xuất hiện nhiều hành vi pháp lý mới  
như giao dich tiền ảo, đánh bạc trực tuyến,  
khủng bố, lừa đảo, bắt nạt trên mạng…  
Nội dung điều chỉnh của pháp luật không  
chỉ giới hạn trong các đối tượng truyền  
thống mà được mở rộng hơn, bởi nhiều  
đối tượng mới và quan hệ xã hội mới xuất  
hiện, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và  
CMCN 4.0, như: tiền ảo; các ứng dụng từ  
blockchain; tài sản ảo; không gian giao  
dịch trên môi trường ảo; mối quan hệ giữa  
cá nhân, pháp nhân với người nhân tạo -  
robot sinh học.  
Trong bối cảnh CMCN 4.0, các quan  
hệ xã hội diễn ra rất nhanh chóng, nhiều  
quan hệ xã hội mới phát sinh đòi hỏi phải  
có các quy phạm pháp luật mới điều chỉnh.  
Tuy nhiên, hoạt động lập pháp Việt Nam  
còn khá lạc hậu, thời gian thông qua một  
dự luật diễn ra rất lâu: “Thông thường, để  
trải qua các quy trình kể trên, một dự án  
luật thường mất ít nhất 18 tháng nhưng  
thực tế, một dự án luật từ lúc xây dựng  
đến lúc thông qua có thể mất khoảng 2-3  
năm. Một số trường hợp, từ khi khởi thảo  
tới lúc thông qua còn mất nhiều thời gian  
hơn nữa”3. Trong khi đó, thực tiễn cuộc  
sống sẽ diễn biến nhanh hơn rất nhiều  
khả năng đáp ứng của quy trình xây dựng  
luật hiện tại. Điều đó cho thấy, việc tiếp  
tục tìm các giải pháp để đẩy nhanh hơn  
nữa hoạt động lập pháp là rất cần thiết.  
Những yêu cầu mới này đòi hỏi hệ  
thống pháp luật Việt Nam phải tiếp tục  
hoàn thiện theo hướng đầy đủ, kịp thời,  
đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với  
2 PGS. TS. Nguyễn Thị Quế Anh - PGS. TS. Ngô Huy Cương (Đồng chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần thứ  
tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018, tr. 69-70.  
3 TS. Phan Chí Hiếu và TS. Nguyễn Văn Cương (Đồng Chủ biên) (2019), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
và những vấn đề pháp lý đặt ra, Nxb. Tư pháp, tr.55.  
Số 07(431) - T4/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
2. Những yêu cầu đặt ra đối với quy  
trình lập pháp ở nước ta trong điều kiện  
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
Bên cạnh đó, các quan hệ xã hội trong  
bối cảnh này, “các văn bản luật điều chỉnh  
các vấn đề mới phát sinh từ việc ứng dụng  
công nghệ mới của CMCN 4.0 thường giải  
quyết những vấn đề mang bản chất pha trộn  
giữa khía cạnh kinh tế, công nghiệp và pháp  
lý”4. Chính vì thế, cơ quan lập pháp có thể  
còn e ngại khi biểu quyết thông qua một dự  
luật trong khi chưa thực sự hiểu bản chất  
pháp lý của các hiện tượng kinh tế - xã hội -  
công nghệ mới đó.  
Theo quy định của Luật Ban hành văn  
bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được  
sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020,  
quy trình lập pháp bao gồm các giai đoạn  
sau: (1) Lập chương trình xây dựng luật;  
(2) Soạn thảo; lấy ý kiến; chỉnh lý tiếp thu,  
giải trình, đăng tải, thẩm định, xem xét;  
(3) Thẩm tra; (4) Xem xét, cho ý kiến; (5)  
Thảo luận; chỉnh lý; lấy ý kiến; chỉnh lý;  
(6) Xem xét, thông qua; hoàn thiện về kỹ  
thuật văn bản; công bố. Các giai đoạn này  
có thể được gộp lại thành 4 bước chính  
sau đây: (1) Sáng kiến lập pháp; (2) Soạn  
thảo dự án; (3) Thảo luận và thông qua;  
(4) Công bố, ban hành.  
Tuy nhiên, nếu không bắt kịp nhịp  
độ phát triển của thế giới và khu vực, đi  
chung trên “chuyến tàu CMCN 4.0”, Việt  
Nam sẽ phải đối mặt những thách thức,  
như tụt hậu về khoa học và công nghệ,  
suy giảm năng lực cạnh tranh trong sản  
xuất, kinh doanh; dư thừa lao động có  
kỹ năng và trình độ thấp, gây phá vỡ thị  
trường lao động truyền thống, ảnh hưởng  
tới tình hình kinh tế - xã hội đất nước;  
mất an toàn, an ninh thông tin, xâm phạm  
bản quyền, v.v.. Cuộc cách mạng công  
nghiệp này cũng đặt ra những thách thức  
đối với một số ngành, lĩnh vực cụ thể, đặc  
biệt yêu cầu cao hơn về bảo đảm an toàn,  
an ninh thông tin mạng; yêu cầu bảo vệ  
quyền con người trong hoạt động thương  
mại điện tử và số hóa các hoạt động của  
đời sống xã hội; v.v..  
Trong bối cảnh CMCN 4.0, nhu cầu đẩy  
nhanh tiến độ lập pháp đã tạo áp lực lên yêu  
cầu bảo đảm chất lượng của sản phẩm lập  
pháp. Để bảo đảm sự hài hòa giữa tiến độ và  
chất lượng của các văn bản quy phạm pháp  
luật, tác giả cho rằng, quy trình lập pháp ở  
nước ta cần phải chú trọng đến các yêu cầu  
sau đây:  
Thứ nhất, tách bạch quy trình xây dựng  
chính sách và quy trình soạn thảo văn bản  
luật; tăng cường tính công khai, minh bạch  
trong xây dựng, ban hành văn bản.  
Thực tiễn này đặt ra cho quy trình lập  
pháp ở Việt Nam cần phải được đổi mới  
toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế -  
xã hội nước ta, cũng như yêu cầu đẩy mạnh  
chuyển đổi số nhằm theo đáp ứng kịp yêu  
cầu của CMCN 4.0.  
Theo yêu cầu này, cần phải xác định  
rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan  
trong quá trình lập pháp, phát huy vai trò  
đề xuất, xây dựng chính sách luật và bảo  
vệ chính sách luật của Chính phủ; Chính  
phủ phải có quyền và phải được tạo điều  
4 TS. Phan Chí Hiếu và TS. Nguyễn Văn Cương (Đồng Chủ biên) (2019), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư  
và những vấn đề pháp lý đặt ra, Nxb. Tư pháp, tr. 55.  
6
Số 07(431) - T4/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
kiện để bảo vệ chính sách của mình trong  
suốt quy trình lập pháp5; phát huy vai trò  
thẩm tra, cho ý kiến và thông qua luật của  
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội.  
Bên cạnh đó, trong quá trình lập pháp,  
cần phải tiếp tục thực hiện công khai,  
minh bạch, huy động và sử dụng tốt trí  
tuệ của cộng đồng trong quá trình hoàn  
thiện các dự thảo luật trước khi Quốc hội  
thông qua.  
các vấn đề công nghệ trong quá trình  
xây dựng luật, cần đưa vào quá trình  
lập pháp cách thức tham vấn chuyên gia  
công nghệ và doanh nghiệp. Mặc dù, cả  
công nghệ và pháp luật đều điều chỉnh  
đến các quan hệ xã hội, đều tác động đến  
quyền và lợi ích của các chủ thể trong  
xã hội, nhưng sự tác động đó khác nhau  
cả về mục đích, quy mô. Nếu như công  
nghệ tác động đến các khía cạnh của đời  
sống xã hội với tốc độ rất nhanh chóng,  
không theo tuần tự; không bảo đảm sự  
bình đẳng giữa các chủ thể (chủ thể nào  
chủ động, tích cực, có sự am hiểu sâu  
sắc sẽ thụ hưởng được những lợi ích từ  
quá trình này; những chủ thể thiếu chủ  
động, thiếu tri thức và kỹ năng về công  
nghệ có thể bị tác động tiêu cực của quá  
trình); xuất phát từ lợi ích tư hoặc của  
một nhóm xã hội (nhóm xã hội có lợi  
ích từ việc triển khai và ứng dụng công  
nghệ). Trong khi đó, pháp luật tác động  
đến các khía cạnh của đời sống xã hội  
chậm hơn, sự ra đời của các quy phạm  
pháp luật thường có “độ trễ nhất định”  
so với thực tiễn; đảm bảo sự công bằng,  
khách quan của các chủ thể trước pháp  
luật; xuất phát từ lợi ích công.  
Ở bước sáng kiến lập pháp, chủ thể  
chịu trách nhiệm sáng kiến lập pháp phải  
trả lời chính xác câu hỏi: tại sao phải xây  
dựng luật này hoặc tại sao phải sửa luật  
này? luật này cần phải ban hành (hay  
sửa) ngay để đáp ứng yêu cầu quản lý  
nhà nước hay “đón đầu” trong thời gian  
tới?, v.v.. Để xử lý thỏa đáng những câu  
hỏi nêu ra, cần phải có được câu trả lời  
chính xác trong thời gian sớm nhất. Vì  
vậy, trong điều kiện của CMCN 4.0,  
cần phải sử dụng trí tuệ nhân tạo, điện  
toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn  
(S.M.A.C), v.v.. vào tổng kết, đánh giá  
thực tiễn triển khai, thực hiện các quy  
phạm pháp luật trong cuộc sống, từ đó  
phân tích, đánh giá mức độ cần thiết và  
cấp thiết của dự án luật.  
Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy  
phạm pháp luật đã quy định các bước lấy  
ý kiến doanh nghiệp và lấy ý kiến nhân  
dân cũng như cho phép huy động chuyên  
gia. Tuy nhiên, trên thực tế cần đảm bảo  
quá trình tham vấn đó được thực hiện  
một cách linh hoạt hơn và đảm bảo sự  
công khai, minh bạch và chịu sự giám  
sát của công chúng. Quá trình tham vấn  
cũng cần phải đảm bảo sự khách quan,  
Thứ hai, kết hợp giữa huy động trí tuệ,  
sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa  
học và nhân dân với sự trợ giúp của công  
nghệ 4.0 vào quá trình soạn thảo, đánh giá  
tác động và thảo luận các dự án luật.  
Như đã đề cập ở trên, trong thời kỳ  
CMCN 4.0, công nghệ cũng là một yếu  
tố điều chỉnh quan hệ xã hội. Vì vậy, để  
khắc phục sự bất đối xứng thông tin về  
5 TS. Nguyễn Sỹ Dũng, Ðộng lực của quy trình lập pháp, https://nhandan.com.vn/chinh-tri-hangthang/ong-  
luc-cua-quy-trinh-lap-phap-579267/, ngày 03/01/2020.  
Số 07(431) - T4/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
độc lập giữa chuyên gia và doanh nghiệp,  
đảm bảo các cơ quan xây dựng pháp luật  
không lệ thuộc vào ý kiến của bên nào6.  
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc sử dụng  
ứng dụng trợ lý ảo (chatbot) để gia tăng  
tính tương tác giữa cơ quan chủ trì soạn  
thảo với các đối tượng liên quan hoặc  
với người dân 24/7.  
thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu  
cầu phát triển nhanh, bền vững”7.  
Thứ ba, xây dựng quy trình lập pháp  
chuyên biệt nhằm áp dụng đối với văn bản  
pháp luật chuyên biệt, phù hợp với tính đặc  
thù của một số văn bản phục vụ cho yêu  
cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh cuộc  
CMCN 4.0.  
Bên cạnh việc phát huy vai trò của  
chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân vào  
quá trình xây dựng, thảo luận và đánh giá  
các dự luật thì việc ứng dụng các công  
nghệ 4.0 để phân tích, đánh giá tác động  
(RIA) thông qua các mô hình giả lập để  
dự báo những tác động của các quy phạm  
pháp luật của dự luật này đối với các quan  
hệ xã hội nếu dự luật đó được thông qua  
và triển khai vào cuộc sống, từ đó đưa  
ra các phương án để nhà lập pháp lựa  
chọn phương án tối ưu. Với sự trợ giúp  
của trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn  
(S.M.A.C), v.v.. sẽ giúp các nhà lập pháp  
mường tượng được viễn cảnh các quy  
phạm pháp luật này tác động đến các chủ  
thể trong xã hội như thế nào, từ đó điều  
chỉnh các quy phạm theo hướng đảm bảo  
tối đa quyền và lợi ích hợp pháp, chính  
đáng của các chủ thể pháp luật trong xã  
hội, theo đúng tinh thần của Đại hội XIII  
của Đảng: “Xây dựng hệ thống pháp luật  
đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả  
thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy  
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của  
người dân, doanh nghiệp làm trung tâm  
6
Để đáp ứng yêu cầu phản ứng nhanh  
và linh hoạt với các vấn đề mới phát sinh,  
Việt Nam cần xây dựng và áp dụng cơ  
chế thử nghiệm trong phạm vi ngành, lĩnh  
vực và thời gian nhất định (Sandbox).  
Theo đó, trong quy trình lập pháp cần  
phải gắn với trách nhiệm đề xuất dự án  
luật (nếu có thể) sau quá trình thử nghiệm  
để nếu việc thử nghiệm thành công thì  
thiết lập cơ chế pháp lý chung điều chỉnh  
các vấn đề mới này; cần nghiên cứu giản  
lược một số khâu trong quá trình lập pháp  
để việc ban hành luật điều chỉnh các vấn  
đề nêu trên được kịp thời hơn. Bên cạnh  
đó, cần nghiên cứu các ứng dụng công  
nghệ để xây dựng những nền tảng hoạch  
định chính sách cho phép đông đảo công  
chúng tham gia (Crowdlaw)8, cho phép  
công chúng, chuyên gia, doanh nghiệp  
tham gia một cách rộng rãi và tích cực  
hơn vào quá trình xây dựng luật. Ngoài  
ra, để đảm bảo khắc phục những điểm  
trống về mặt pháp luật, cần phát huy vai  
trò của tòa án trong việc tạo ra các án lệ  
và có quy trình phù hợp để xây dựng các  
quy tắc pháp luật từ các án lệ  
TS. Trần Thị Quang Hồng, “Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quy trình lập pháp ở  
Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2020, tr. 63  
7
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị  
quốc gia, Hà Nội, tr. 175  
8
TS. Trần Thị Quang Hồng, “Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quy trình lập pháp ở  
Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2020, tr. 62  
8
Số 07(431) - T4/2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 12520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đổi mới quy trình lập pháp ở Việt Nam trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoi_moi_quy_trinh_lap_phap_o_viet_nam_trong_dieu_kien_cuoc_c.pdf