Giáo trình Sức bền vật liệu - Nguyễn Phú Bình

TRƯỜNG TRUNG CẤP CẦU ĐƯỜNG VÀ DẠY NGHỀ  
KHOA CẦU ĐƯỜNG  
----------  
BÀI GIẢNG  
MÔN HỌC : SỨC BỀN VẬT LIỆU  
Giáo viên  
Bộ môn  
: Nguyễn Phú Bình  
: Cơ sở  
Hệ đào tạo : Trung cấp Cầu đường  
Thời gian  
Số tiết  
: 24 tháng  
: 40 tiết  
Chương 1  
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ SỨC BỀN VẬT LIỆU  
Sức bền vật liệu là một môn học nghiên cứu các phương pháp tính toán về độ bền,  
độ cứng và độ ổn định của các bộ phận công trình hay chi tiết máy dưới tác dụng của  
ngoại lực, sự thay đổi nhiệt độ...  
Ở môn học Cơ học lý thuyết, ta mới xét sự cân bằng của vật thể (xem là rắn tuyệt  
đối) dưới tác dụng của hệ lực phẳng. Nhưng thực tế,các vật thể mà ta khảo sát, nghiên cứu  
đều là vật rắn thực, điều đó bắt buộc ta phải xét đến sự biến dạng của vật thể trong quá  
trình chịu tác dụng của hệ lực (bên ngoài). Trong phạm vi môn học này, sẽ giới thiệu một  
số khái niệm cơ bản về ngoại lực, nội lực... và các giả thiết nhằm đơn giản cho việc nghiên  
cứu và tính toán.  
1.1. Những khái niệm cơ bản về ngoại lực, nội lực, ứng suất, biến dạng  
1.1.1. Các giả thiết đối với vật liệu  
Môn học Sức bền vật liệu, đối tượng mà ta nghiên cứu  
khảo sát vật rắn thực: đó là một thanh, một cấu kiện hay một bộ  
phận công trình nào đó. Thường hình dạng của vật rắn thực  
được nghiên cứu có dạng thanh thẳng, thanh cong hoặc thanh  
bất kỳ (hình 1.1). Vật liệu cấu tạo nên thanh có thể là thép,  
gang... Tuy vậy, khi nghiên cứu nếu xét đến mọi tính chất thực  
của vật thể sẽ phức tạp, do đó để đơn giản chúng ta chỉ những  
tính chất cơ bản và lược bỏ đi những tính chất thứ yếu không  
có ảnh hưởng lớn đến kết quả nghiên cứu và tính toán. Muốn  
H×nh 1.1  
vậy, chúng ta phải đề ra các giả thiết cơ bản, nêu lên một số  
tính chất chung cho vật liệu. Các giả thuyết về vật liệu là:  
a) Giả thiết 1: Vật liệu có tính liên tục, đồng chất và đẳng hướng.  
Một vật liệu được xem là liên tục và đồng chất khi trong thể tích của vật thể đều có  
vật liệu (hoàn toàn không có khe hở) và tính chất của vật liệu ở mọi điểm trong vật thể đều  
như nhau.  
Tính đẳng hướng của vật liệu nghĩa là tính chất của vật liệu theo mọi phương đều  
như nhau. Giả thiết này phù hợp với thép, đồng còn với gạch, đá, gỗ thì không hoàn toàn  
phù hợp.  
b) Giả thiết 2: Giả thuyết vật liệu làm việc trong giai đoạn đàn hồi và tính đàn hồi của vật  
liệu xem là đàn hồi tuyệt đối.  
Trong thực tế, dù lực bé đến đâu, vật liệu cũng không có tính đàn hồi tuyệt đối.  
Song qua thực nghiệm cho thấy: khi lực chưa vượt quá một giới hạn nhất định thì biến  
dạng dư trong vật thể là bé nên có thể bỏ qua được và biến dạng của vật thể được xem là  
tỷ lệ thuận với lực gây ra biến dạng đó. Giả thuyết này chính là nội dung định luật Húc.  
Thực tế giả thuyết này chỉ phù hợp với vật liệu là thép, đồng…  
c) Giả thiết 3: Biến dạng của vật thể do ngoại lực gây ra được xem là bé.  
Giả thiết này thừa nhận được vì trong thực tế biến dạng của vật thể so với kích  
thước của chúng nói chung là rất nhỏ. Từ giả thiết 3 này, trong quá trình chịu lực, trong  
nhiều trường hợp, ta có thể xem điểm đặt của ngoại lực là không thay đổi khi vật thể bị  
biến dạng.  
1.1.2. Các khái niệm về ngoại lực, nội lực, phương pháp mặt cắt  
T¶i träng  
q
a) Ngoại lực: Ngoại lực là lực tác động từ  
những vật thể khác hoặc môi trường xung quanh  
lên vật thể đang xét.  
P
m
Ngoại lực bao gồm: Lực tác động (còn gọi  
là tải trọng) và phản lực liên kết (xem hình 1.2).  
Có thể phân loại ngoại lực theo nhiều cách, ở đây  
ta phân loại ngoại lực theo hai cách:  
- Theo cách tác dụng của các ngoại lực: có  
thể chia ngoại lực thành hai loại: tập trung và lực  
phân bố.  
Ph¶n lùc  
H×nh 1.2  
P
Lùc tËp trung  
M«men tËp trung m  
+ Lực tập trung: là lực tác dụng lên vật thể  
trên một diện tích truyền lực rất bé so với kích  
thước của vật thể, nên ta coi như một điểm trên  
vật.  
H×nh 1.3  
q=const  
Ví dụ: Áp lực của bánh xe lửa trên đường  
ray là một lực tập trung. Lực tập trung có thể là  
lực đơn vị Niutơn (N), hoặc ngẫu lực (hay  
mômen tập trung), đơn vị của mômen tập trung là  
Niutơn mét (Nm).  
a)  
b)  
q=f(z)  
Cách biểu diễn lực tập trung và mômen tập trung  
(xem hình 1.3).  
H×nh 1.4  
+ Lực phân bố: là lực tác dụng liên tục trên một đoạn dài hay trên một diện tích  
truyền lực nhất định trên vật thể.  
Ví dụ: Áp lực gió lên tường biên của nhà là phân bố theo diện tích. Lực phân bố  
theo chiều dài có đơn vị N/m. Lực phân bố theo diện tích có đơn vị N/m2. Lực phân bố có  
trị số bằng nhau tại mọi điểm (được gọi là lực phân bố đều – hình 1.4a) hoặc không bằng  
nhau (được gọi là lực phân bố không đều) (hình 1. 4b).  
- Theo tính chất tác dụng (về thời gian) của tải trọng có thể chia ngoại lực thành hai  
loại: tải trọng tĩnh và tải trọng động.  
+ Tải trọng tĩnh là tải trọng khi tác dụng lên vật thể có trị số tăng dần từ không đến  
một giá trị nhất định và sau đó không thay đổi (hoặc thay đổi rất ít).  
Ví dụ: Trọng lượng của mái nhà, áp lực của nước lên thành bể.  
+Tải trọng động là loại tải trọng, hoặc có giá trị thay đổi trong thời gian rất ngắn từ  
giá trị không đến giá trị cuối cùng hoặc làm cho vật thể bị dao động.  
Ví dụ: Lực của búa máy đóng vào đầu cọc, động đất…  
b) Nội lực:  
Trong một vật thể giữa các phân tử có các lực liên kết để giữ cho vật thể có hình  
dạng nhất định. Khi ngoại lực tác dụng, các lực liên kết đó sẽ tăng lên để chống lại sự biến  
dạng do ngoại lực gây ra. Độ tăng đó của lực liên kết được gọi là nội lực.  
Như vậy, nội lực chỉ xuất hiện khi có ngoại lực đó. Nhưng do tính chất cơ học của  
vật liệu, nội lực chỉ tăng đến một trị số nhất định nếu ngoại lực tăng quá lớn, nội lực không  
tăng được nữa, lúc này vật liệu bị biến dạng quá mức và bị phá hỏng. Vì vậy, việc xác định  
nội lực phát sinh trong vật thể khi chịu tác dụng của ngoại lực là một vấn đề cơ bản của  
SBVL.  
c) Phương pháp mặt cắt:  
Giả sử có một vật thể cân bằng dưới tác dụng ngoại lực, tưởng tượng dùng một mặt  
phẳng cắt vật thể đó ra hai phần A và B (hình 1.5a).  
Giả sử bỏ đi phần B, giữ lại phần A để xét. Rõ ràng để phần A được cân bằng, thì  
trên mặt cắt phải có hệ lực phân bố. Hệ lực này chính là những nội lực cần tìm (hình 1.5b).  
Hệ nội lực đó chính là của phần B tác dụng lên phần A. Từ đây ta có thể suy rộng ý  
nghĩa của nội lực là: “Nội lực là lực tác động của bộ phận này lên bộ phận kia của vật  
thể”.  
a)  
b)  
c)  
P
1
P
1
P
6
P
6
P
2
P
2
P
5
P
5
A
B
A
B
P
3
P
3
P
4
P
4
H×nh 1.5  
Dựa vào khái niệm đó và căn cứ vào nguyên lý tác dụng và phản tác dụng, trên mặt cắt  
phần B cũng có nội lực: đó chính là lực tác dụng của phần A lên phần B. Nội lực trên mặt  
cắt phần A và phần B có trị số bằng nhau, cùng phương nhưng ngược chiều, vì vậy khi tính  
nội lực, tùy ý có thể xét một trong hai phần vật thể. Mặt khác, vì phần A (hoặc phần B) cân  
bằng nên nội lực và ngoại lực tác dụng lên phần đó tạo thành một hệ lực cân bằng. Căn cứ  
vào điều kiện cân bằng tĩnh học của phần đang xét ta có thể tính được nội lực đó.  
Trong trường hợp vật thể đàn hồi là một thanh, mặt cắt được xét là mặt cắt ngang  
thì khi ta thu gọn hợp lực của hệ nội lực về trọng tâm O của mặt cắt, sẽ cho ta một lực R và  
một mômen Mo. Nói chung R và Mo có phương, chiều bất kỳ trong không gian. Ta phân  
tích R thành ba thành phần (hình 1.6), thành phần trên trục z gọi là lực dọc và ký hiệu là  
Nz, các thành phần trên trục x và y gọi là lực cắt và ký hiệu là Qx, Qy; mômen MO cũng  
được phân tích thành ba thành phần quay chung quanh ba trục là Mx, My, Mz. Các mômen:  
Mx, My được gọi là mômen uốn và Mz được gọi là mômen xoắn. Sáu thành phần đó được  
gọi là sáu thành phần của nội lực.  
Dùng các phương trình cân bằng tĩnh học ta có thể xác định được các thành phần  
nội lực đó theo các ngoại lực. Với các phương  
trình hình chiếu lên các trục toạ độ:  
P
1
P
6
z = 0; y =0; x = 0  
ta tìm được Nz , Qy, Qx.  
Với các phương trình mômen đối với các trục  
toạ độ:  
Mz = 0; Mx = 0; My = 0  
ta tìm được Mz, Mx, My.  
Ta thường gặp tải trọng nằm trong mặt  
phẳng đối xứng yOz. Khi đó các thành phần  
nội lực: Qx = 0, Mz = 0, My = 0. Như vậy trên  
các mặt cắt lúc này chỉ còn 3 thành phần nội  
lực Nz ,Qy và Mx. Như vậy phương pháp mặt  
P
P
2
3
P
P
5
4
a)  
B
A
A
y
Q
y
P
1
M
x
M
z
z
P
P
2
3
b)  
N
z
M
y
Q
x
x
cắt  
các thành phần nội lực trên mặt cắt ngang bất  
kỳ của thanh khi thanh chịu tác dụng của ngoại lực.  
cho phép ta xác định được  
H×nh 1.6  
Cần chú ý rằng nếu ta xét sự cân bằng của một phần nào đó thì nội lực trên mặt cắt  
có thể coi như ngoại lực tác dụng lên phần đó.  
1.1.3 Ứng suất  
Căn cứ vào giả thuyết cơ bản 1 về sự liên tục của vật liệu, ta có thể giả định nội lực  
phân bố liên tục trên toàn mặt cắt, để biết sự phân bố nội lực ta hãy đi tìm trị số của nội lực  
tại một điểm nào đó trong vật thể.  
Giả sử tại điểm K chẳng hạn, xung quanh điểm K lấy một diện tích khá nhỏ F. Hợp lực  
ΔP  
P  
của nội lực trên diện tích F là P. Ta có tỷ số:  
Ptb được gọi là ứng suất trung bình tại K.  
tb  
ΔF  
P P  
P
được gọi là ứng suất tại K, còn gọi là ứng suất  
Khi cho F 0 thì  
và  
tb  
toàn phần. Như vậy: ứng suất toàn phần tại P tại điểm bất kỳ trên mặt cắt là tỷ số giữa trị  
số nội lực tác dụng trên phân tố diện tích bao quanh điểm K đó với chính diện tích đó.  
Đơn vị của ứng suất P là: N/m2; kN/m2; MN/m2.  
Từ định nghĩa trên ta có thể xem ứng suất toàn phần P là trị số nội lực trên một đơn  
vị diện tích. Biểu diễn ứng suất toàn phần P bằng một véc tơ đi qua điểm đang xét trên mặt  
cắt:  
P
- Phân ứng suất toàn phần  
ra thành hai thành phần: ứng suất  
P
thành phần có phương tiếp tuyến với mặt cắt được gọi là ứng suất  
tiếp, ứng suất thành phần có phương vuông góc với mặt cắt được gọi  
là ứng suất pháp (hình 1.7). Ứng suất tiếp ký hiệu là (đọc là tô).  
Ứng suất pháp ký hiệu là (đọc là xích ma). Nếu là góc hợp bởi  
ứng suất toàn phần P và phương pháp tuyến thì:  
H×nh 1.7  
= P.cos;  
= P sin;  
1.1.4. Các loại biến dạng:  
P
P
P
a)  
b)  
Vật thể khảo sát (dưới dạng thanh) là vật rắn  
thực. Dưới tác dụng của ngoại lực, vật rắn có biến  
dạng ít hay nhiều. Trong mục này ta xét các biến  
dạng của vật rắn thực (thanh) khi chịu tác dụng  
của lực.  
Khi thanh chịu tác dụng của những lực đặt dọc  
theo trục thanh thì thanh bị giãn ra hay co lại. Ta  
gọi thanh chịu kéo hay nén (hình 1.8). Trong quá  
trình biến dạng trục thanh vẫn thẳng (đường đứt  
nét biểu diễn hình dạng của thanh sau khi biến  
dạng).  
Khi thanh chịu tác dụng của các lực vuông  
góc với trục thanh, trục thanh bị uốn cong, ta gọi  
thanh chịu uốn (hình 1.9).  
Có trường hợp, dưới tác dụng của ngoại lực,  
một phần này của thanh có xu hướng trượt trên  
phần khác. Biến dạng trong trường hợp này gọi là  
biến dạng trượt. Ví dụ: Trường hợp chịu lực của  
đinh tán (hình 1.10).  
P
H×nh 1.8  
P
P
P
P
H×nh 1.9  
a)  
b)  
P
P
Khi ngoại lực nằm trong mặt phẳng vuông  
góc với trục thanh và tạo thành các ngẫu lực  
trong mặt phẳng đó thì làm cho thanh bị xoắn  
(hình 1.11). Sau biến dạng các đường sinh ở bề  
mặt ngoài trở thành các đường xoắn ốc.  
Ngoài các trường đơn giản đó, trong thực tế  
còn gặp nhiều trường hợp chịu lực phức tạp. Biến  
dạng của thanh có thể vừa kéo đồng thời vừa uốn,  
vừa xoắn.  
H×nh 1.10  
m
m
H×nh 1.11  
dx  
Xét biến dạng một phân tố trên một thanh  
biến dạng, tách ra khỏi thanh một phân tố hình  
a)  
b)  
dx+dx  
H×nh 1.12  
hộp rất bé. Biến dạng của phân tố có thể ở một trong các dạng sau:  
- Nếu trong quá trình biến dạng mà góc vuông của phân tố không thay đổi, chỉ có các  
cạnh của phân tố bị co giãn, ta nói phân tố có biến dạng kéo hoặc nén (hình 1.12a).  
- Nếu trong quá trình biến dạng, các cạnh của phân tố không thay đổi nhưng các góc  
vuông của phân tố bị thay đổi không vuông góc nữa, ta nói phân tố có biến dạng trượt  
(hình 1.12b).  
Gọi là độ thay đổi của góc vuông thì được gọi là góc trượt.  
Với một vật thể bị biến dạng dưới tác dụng của ngoại lực, nói chung các điểm trong  
lòng vật thể không còn ở vị trí cũ nữa, mà chúng dời đến một vị trí mới nào đó. Độ chuyển  
dời đó gọi là chuyển vị.  
1.2. Nguyên lý độc lập tác dụng  
“
Nội dung của nguyên lý độc lập tác dụng: Kết quả tác dụng gây ra do một hệ lực  
thì bằng tổng kết quả gây ra do từng lực trong hệ đó tác dụng một cách riêng biệt”.  
Thí dụ: Xét dầm AB trên hình 1.13. Dưới tác  
dụng của lực P1, P2 điểm C có độ chuyển dời CC’. Sơ đồ  
chịu lực của dầm AB có thể phân thành hai sơ đồ chịu  
lực:  
P
1
P
2
a)  
C
A
B
- Với sơ đồ dầm chỉ chịu tác dụng của P1 thì độ  
dịch chuyển của điểm C là CC1.  
C
b
a
c
- Với sơ đồ dầm chỉ chịu tác dụng của P2 thì độ  
dịch chuyển của điểm C là CC2.  
P
1
b)  
C
Theo nguyên lý độc lập tác dụng thì:  
A
B
B
CC’ = CC1 + CC2.  
C
1
P
2
* Chú ý: Nguyên lý độc lập tác dụng của các lực  
chỉ sử dụng được trong điều kiện vật liệu tuân theo giả  
thiết 2 và 3.  
c)  
C
C
A
2
H×nh 1.13  
CÂU HỎI CHƯƠNG 1  
1. Nêu những giả thiết cơ bản về vật liệu của môn học SBVL? Nguyên lý độc lập tác dụng  
của lực?  
2. Ngoại lực, nội lực là gì? Phân loại chúng như thế nào?  
3. Ứng suất là gì? Có mấy loại ứng suất? Đơn vị của ứng suất?  
4. Trình bày phương pháp mặt cắt để xác định nội lực?  
Chương 2  
ĐẶC TRƯNG HÌNH HỌC CỦA TIẾT DIỆN  
2.1. Khái niệm ban đầu  
Xét hai trường hợp chịu uốn của một thanh như  
trên hình vẽ (hình 2.1). Bằng trực giác ta dễ dàng  
nhận thấy rằng: nếu tác dụng lực như hình vẽ 2.1a  
thanh sẽ có khả năng chịu lực lớn hơn cách tác dụng  
lực như trường hợp trên hình vẽ 2.1b. Như vậy ở  
đây khả năng chịu lực của thanh còn tuỳ thuộc vào  
phương tác dụng của lực đối với mặt cắt.. Do vậy,  
ngoài đặc trưng hình học là diện tích mặt cắt F của  
thanh, còn có những đặc trưng hình học khác của  
mặt cắt ngang. Trong chương này chúng ta sẽ  
nghiên cứu các đặc trưng hình học nói trên.  
a)  
b)  
P
x
z
x
y
P
2.2 Mômen tĩnh của hình phẳng  
Giả sử có một hình phẳng có diện tích F nằm  
trong mặt phẳng của hệ trục toạ độ xOy (hình 2.2).  
y
H×nh 2.1  
z
Xét một vi phân diện tích dF có toạ độ là x, y. Nếu lấy tích phân biểu thức ydF và xdF trên  
toàn bộ diện tích F ta được:  
S ydF  
x
y
F
(2.1)  
F
S xdF  
y
F
x
dF  
Sx, Sy gọi là mômen tĩnh của hình phẳng  
diện tích F đối với trục Ox, Oy.  
Nếu dùng đơn vị diện tích là m2, chiều dài là m thì đơn vị  
của mômen tĩnh là m3.  
Nếu biết được diện tích của hình và toạ độ trọng tâm của nó đối  
với hệ trục xOy ta có:  
có  
y
x
O
H×nh 2.2  
ydF ycF  
F
(2.2)  
xdF x F  
c
F
Trong đó: yc, xc là toạ độ trọng tâm C của hình phẳng hay khoảng cách (có mang  
dấu) từ trọng tâm C của hình đến các trục toạ độ Ox, Oy.  
F - là diện tích của hình.  
Do đó ta có thể viết:  
S y F  
x
C
(2.3)  
Sy xC F  
Từ (2.3) có thể rút ra công thức xác định toạ độ trọng tâm C của hình phẳng:  
S
y   
xc   
yc   
F
Sx  
(2.4)  
F   
Khi xC = yC = 0 tức là trục x và trục y đi qua trọng tâm của hình thì Sx = Sy = 0. Cho  
nên mômen tĩnh của diện tích hình phẳng đối với trục bất kỳ đi qua trọng tâm của nó luôn  
bằng không. Người ta gọi trục đi qua trọng tâm của hình là trục trung tâm. Giao điểm của  
hai trục trung tâm thì được gọi là trọng tâm của mặt cắt. Mômen tĩnh của hình phẳng có  
thể có dấu (+) hoặc (-) tuỳ thuộc vào dấu của toạ độ trong các công thức (2.1), (2.4).  
Chú ý: Khi tính mômen tĩnh của hình phẳng có dạng phức tạp, ta chia hình đó ra  
thành nhiều hình đơn giản, sau đó lấy tổng đại số các mô men tĩnh của các hình đơn giản  
hợp thành.  
2.3. Mômen quán tính của hình phẳng  
2.3.1. Các định nghĩa về mômen quán tính  
Giả sử có một hình phẳng có diện tích F, một hệ trục Oxy đi qua trọng tâm của hình  
(hình 2.2).  
- Nếu lấy tích phân biểu thức y2dF, x2dF trên toàn bộ diện tích F của hình ta được:  
2
J y dF  
x
F
(2.5)  
J x2 dF  
y
F
Jx, Jy gọi là mômen quán tính của hình phẳng có diện tích F đối với trục Ox và Oy.  
- Nếu lấy tích phân biểu thức x.y.dF trên toàn bộ diện tích của hình, ta có:  
J xydF  
(2. 6)  
xy  
F
Jxy gọi là mômen quán tính ly tâm của hình phẳng có diện tích F đối với hệ trục Oxy.  
Gọi là khoảng cách từ vi phân diện tích dF đến điểm O (gốc toạ độ) nằm trong  
mặt phẳng của hình (hình 2.2). Lấy tích phân biểu thức ρ2dF trên toàn bộ diện tích, ta  
được:  
J0 ρ2 dF  
(2 7)  
F
J0 gọi là mômen quán tính độc cực của hình phẳng đối với điểm O.  
ρ2 x2 y2  
Theo hình 2.2 ta có:  
(2.8)  
J0 ρ2dF (x2 y2 )dF y2dFx2dF  
Thay 2.8 vào 2.7 ta có:  
F
F
F
F
J0 Jx Jy  
Hay là:  
(2.9)  
Vậy: Mômen quán tính độc cực của hình phẳng bằng tổng các mômen quán tính  
của hình phẳng đối với hai trục vuông góc giao nhau tại điểm đó.  
Đơn vị của các loại mômen quán tính kể trên là m4.  
Các loại mômen quán tính đối với một trục (Jx, Jy) hay đối với một điểm (J0) luôn  
luôn có dấu dương vì trong các biểu thức định nghĩa của chúng ta có các bình phương  
khoảng cách x, y và . Còn mômen quán tính ly tâm (Jxy) có thể có dấu dương hoặc âm tuỳ  
thuộc vào dấu các toạ độ x, y và do đó có thể bằng 0.  
Chú ý: Khi xác định mômen quán tính của các hình có dạng phức tạp, ta cũng chia  
hình thành các hình đơn giản để tính, sau đó cộng các mômen quán tính của hình đơn giản  
hợp thành.  
2.3.2. Trục quán tính chính trung tâm  
Nếu mômen quán tính ly tâm của một hình đối với một hệ trục Oxy bằng không thì  
ta gọi hệ trục Oxy là hệ trục quán tính chính, gọi tắt là hệ trục chính:  
Jxy = 0  
Người ta cũng chứng minh được rằng với hệ trục quán tính chính Oxy, mômen  
quán tính của hình phẳng đối với một trong hai trục đó là cực đại (Jmax) còn đối với trục kia  
là cực tiểu (Jmin) so với bất kỳ trục nào khác, đi qua gốc O của hệ trục. Nếu hệ trục chính  
có gốc trùng với trọng tâm hình phẳng thì được gọi là hệ trục quán tính chính trung tâm.  
Hệ trục quán tính chính trung tâm là hệ trục mômen tĩnh và mômen quán tính ly tâm luôn  
bằng không:  
S S 0  
x
y
J 0  
xy  
Mômen quán tính của hình phẳng đối với hệ trục chính trung tâm gọi là mômen quán tính  
chính trung tâm.  
Các hình phẳng có ít nhất một trục đối xứng thì rất dễ dàng xác định được hệ trục  
quán tính chính trung tâm. Hệ trục chính trung tâm đó gồm trục  
trung tâm vuông góc với trục đối xứng. Ta chứng minh điều  
này:  
đối xứng và trục  
y
x
x
Giả sử có hình chữ T (hình 2.3) có trục đối xứng y, trục  
trung tâm x vuông góc với y đi qua trọng tâm O của hình. Nếu  
xem hình đã cho ghép bởi hai hình A và B thì mômen quán  
tính ly tâm của toàn hình là:  
dF  
dF  
A B  
Jxy JAxy JBxy  
x
O
Trong đó: JAxy , JBxy là mômen quán tính ly tâm của hình A và B  
A
F
B
F
đối với hệ trục Oxy.  
Ta xét phân tố đối xứng dF. Trên mỗi phần A và B, tung độ y  
của phân tố có cùng trị số và dấu. Hoành độ x của phân tố có  
cùng trị số dấu nhưng ngược dấu. Do đó sau khi thực hiện tích  
phân x.y.dF theo công thức (2.6) trong mỗi phần A và B được:  
H×nh 2.3  
JAxy  JB  
Jxy  JBxy JAxy 0  
xy . Vậy:  
Mặt khác trọng tâm O của mặt cắt nằm trên trục đối xứng y nên từ O nếu vẽ trục x vuông  
góc với trục y, ta sẽ có hệ trục Oxy là hệ trục quán tính chính trung tâm của hình chữ T. Đó  
là điều phải chứng minh.  
Nếu một hình phẳng có hai hoặc nhiều trục đối xứng thì từ kết quả ta có thể suy ra  
rằng hai trục đối xứng vuông góc với nhau tạo thành một hệ trục quán tính chính trung  
tâm.  
Để giải quyết các bài toán sau này về chịu lực của thanh ta cần phải biết các trục  
quán tính chính trung tâm của mặt cắt thanh.  
Trong thực tế thường gặp những mặt cắt có trục đối xứng, còn mặt cắt không trục  
đối xứng thì ít gặp, nên việc xác định hệ trục quán tính chính trung tâm của mặt cắt thường  
dễ dàng hơn.  
2.3. 3. Mômen quán tính của một số hình đơn giản  
a. Hình chữ nhật:  
Một hình chữ nhật có chiều dài là h, chiều rộng là b. Hệ trục quán tính chính trung  
tâm là Oxy, trong đó trục x song song với cạnh b, trục y song  
song với cạnh h (hình 2.4). Ta tính mômen quán tính trung tâm  
Jx. Theo công thức định nghĩa, ta có:  
y
Jx y2dF  
dF  
F
x
Xét một vi phân diện tích dF giới hạn bởi hai đường song  
song với trục y và cách nhau bởi một đoạn dy. Diện tích của nó  
là:  
O
dF b.dy  
Áp dụng công thức 2.5, ta được:  
b
h
y3  
2
H×nh 2.4  
h/2  
h/2  
y2bdy b  
J y2dF  
=
. Vậy:  
x
3
h
F
2
bh3  
12  
Jx   
(2.11)  
Đó là công thức tính mômen quán tính chính trung tâm của hình chữ nhật đối với  
trục trung tâm x.  
Bằng phương pháp tương tự, ta tính được mômen quán tính của hình chữ nhật đối  
với trục trung tâm y:  
hb3  
Jy =  
(2.12)  
12  
b. Hình tam giác:  
Có một hình tam giác, cạnh đáy là b, chiều cao h,  
hệ trục Oxy, trong đó trục x song song với cạnh đáy b  
và đi qua trọng tâm C của tam giác (hình 2.5). Để tính  
Jx ta lấy vi phân diện tích dF là dải phân tố song song  
với trục x, có chiều dày dy, với:  
y
b
dF  
x
C
dF = by.dy  
b
2
H×nh 2.5  
h y  
by  
b
b
h
2h  
3
3
Trongđó :  
by   
y .  
h
b 2h  
Thay vào, ta có:  
dF = bydy =  
y dy  
h 3  
Áp dụng công thức 2.5 ta được :  
2h  
3
2h  
3
b 2h  
b 2h  
h 9  
y4  
4
Jx y2dF   
y y2dy   
y3   
h
h 3  
h  
3
F
3
bh3  
36  
J   
(2.13)  
x
y
Đó là công thức tính mômen quán tính của hình tam giác đối  
với trục trung tâm x song song với cạnh đáy b.  
dF  
x
c. Hình tròn:  
O
D
H×nh 2.6  
Để đơn giản, ta tính mômen quán tính của hình tròn đối với điểm C (chính là trọng tâm  
J0 ρ2dF  
mặt cắt), theo định nghĩa :  
F
Trong đó chọn dF là hình được giới hạn bởi hai đường tròn có bán kính: , (+ d) và hai  
đường bán kính lập với trục x góc , (d) như hình 2.6.  
Ta có:  
dF ρ.d.dρ ρ.dρ.d  
R 2π  
ρ2 .ρdρ.d  
J    
0
0
0
Khai triển biểu thức tích phân, ta có:  
πD4  
J0   
0,1D4  
(2.14)  
(2.15)  
(2.16)  
32  
Vì tính đối xứng của hình tròn, ta có Jx = Jy.  
Ta có:  
J0 = Jx + Jy  
D4 R4  
Suy ra:  
Jx = Jy=  
0,05D4  
64  
4
Do đó, khi trục trung tâm y thẳng góc với trục x, ta có: Jx = Jy.  
Vậy theo công thức (4.9):  
J0 = Jx + Jy = 2Jx  
R4 D4  
2
J0 =  
0,1D4  
32  
(2.16) là công thức tính mômen quán tính độc cực của hình tròn.  
d. Hình vành khăn  
Mômen quán tính của hình vành khăn đối với trục trung tâm bất kỳ x của hình bằng  
hiệu của mômen quán tính của hình tròn có đường kính lớn với mômen quán tính của hình  
tròn có đường kính nhỏ, tức là:  
R4 r4  
y
Jx=  
4
π R4  
4
4
πD4  
64  
Jx   
(1η4 )   
(1η4 )  
x
0,05D4 (1η4 )  
(2.17)  
Trong đó: là tỷ số giữa hai bán kính hoặc tỷ số giữa hai đường  
O
r
d
kính nhỏ và lớn:  
  
R
D
d=2r  
D=2R  
Bằng phương pháp tương tự như trên, ta chứng minh được công  
thức tính mômen độc cực của hình vành khăn đối với trọng tâm của  
hình:  
H×nh 2.7  
R4  
D4  
J0 =  
(14 )   
(14 ) 0,1(14 )  
2
32  
(2.18)  
2.3.4. Mômen quán tính với các trục song song  
Ở đây ta sẽ nghiên cứu cách tính mômen quán tính của hình phẳng đối với trục song  
song với trục trung tâm của hình, mà đối với trục đó, ta đã biết trước mômen quán tính của  
hình. Xét một hình phẳng có diện tích F. Hệ trục Ox, Oy vuông góc đi qua trọng tâm O của  
hình.  
Hệ trục O1x1y1 song song với hệ trục Oxy. Khoảng cách giữa các trục song song x và x1 là  
a, giữa y và y1 là b. Xét vi phân diện tích dF có toạ độ x, y và x1, y1 (hình 2.8). Các toạ độ  
có liên hệ sau:  
x x b  
y1  
y
1
(2.19)  
y1 y a  
Theo công thức định nghĩa của mômen quán  
tính (2.5) đối với hệ trục O1x1y1 ta có:  
b
x
dF  
Jx y12dF  
y
(2.20)  
x
x
1
y1  
F
O
a
Thay y1 bằng biểu thức của nó trong (2.20) và lấy tích phân  
1
:
O1  
1
x
Jx (y a)2 dF (y2 a2 2ay)dF  
(2.21)  
1
F
F
H×nh 2.8  
Jx y2dFa2 dF 2a ydF  
1
F
F
F
(2.22) Căn cứ vào công thức (2.21) và (2.22), ta có thể viết:  
Jy Jx a2F2aSx  
(2.23)  
1
Vì trục x là trục trung tâm, do đó Sx = 0, do đó :  
Jx Jx a2F  
(2.24)  
(2.25)  
1
Với phương pháp tương tự như trên, ta sẽ được:  
Jy Jy b2F  
1
* Chú ý Các công thức (2.24) và (2.25) chỉ dùng được khi trục x và y đi qua trọng tâm của  
hình.  
Từ (2.24) và (2.25) ta có thể phát biểu như sau:“Mô men quán tính của một hình phẳng đối  
với một trục bất kỳ bằng mô men quán tính của hình đối với trục trung tâm song song với  
nó cộng với tích của diện tích F của hình với bình phương khoảng cách hai trục”.  
Các công thức (2.24) và (2.25) gọi là công thức chuyển trục song song Chúng rất tiện  
dùng để tính mômen quán tính của các hình phức tạp do bởi nhiều hình đơn giản (chữ nhật,  
tròn…) ghép lại.  
* Chú ý: Ta thấy J luôn luôn lớn hơn Jx vì số hạng thứ hai trong công thức bao giờ cũng  
x1  
mang dấu dương, cho nên đối với một hệ trục song song mômen quán tính của hình phẳng  
đối với trục trung tâm là mômen quán tính nhỏ nhất.  
2.4. Bán kính quán tính  
Bán kính quán tính của hình phẳng F đối với trục x, trục y được định nghĩa bằng  
biểu thức:  
Jx  
F
i   
x
(2.26)  
Jy  
F
iy   
Trong đó: ix, iy là bán kính quán tính của hình phẳng F đối với trục Ox, Oy.  
Jx, Jy là mômen quán tính của hình phẳng F đối với trục Ox, Oy  
F - là diện tích của hình phẳng.  
Nếu xOy là hệ trục chính trung tâm của hình phẳng thì ix, iy gọi là bán kính chính trung  
tâm của hình đó. Đơn vị của ix, iy là cm, dm, m.  
Trên đây ta đã có công thức tính mômen quán tính của các hình đơn giản nếu chia các  
mômen quán tính đó cho các diện tích tương ứng của mỗi hình, ta được bán kính quán tính  
của:  
- Hình chữ nhật đối với các trục chính trung tâm x, y:  
Jx  
F
bh3  
12  
ix   
h  
0,289h  
(2,27)  
12bh  
b3h  
12  
12  
12  
Jy  
iy   
b  
0,289b  
F
12bh  
- Hình tròn với các trục chính trung tâm x:  
πR4  
4ππ 2  
R
2
D
4
ix   
(2.28)  
2.5. Môđuyn chống uốn của mặt cắt  
Môđuyn chống uốn của mặt cắt đối với trục x và y được định nghĩa bằng biểu thức :  
Jx  
Wx   
ymax  
Jy  
(2.29)  
W   
y
xmax  
Trong đó :  
Wx, Wy là mô đuyn chống uốn đối với các trục x và y.  
Jx, Jy là mô men quán tính của mặt cắt F đối với hai trục x và y  
max, ymax là khoảng cách từ những điểm xa nhất ở về hai phía của mặt cắt đối với trục  
x
x và y.  
Đơn vị của môđuyn chống uốn là m3.  
Dưới đây là trị số môđuyn chống uốn của một số mặt cắt thường gặp:  
2.5.1. Mặt cắt hình chữ nhật  
y
- Mô đuyn chống uốn đối với trục x:  
Ta thấy những điểm thuộc cạnh AD và BC có khoảng cách  
tới trục x lớn nhất:  
B
C
h
2
bh3  
12  
Jx  
bh3 bh2  
ymax  
với Jx   
nên: Wx   
h
2
ymax  
6
x
12  
O
bh2  
Wx   
(2.30)  
6
D
- Mô đuyn chống uốn với trục y:  
Ta cũng thấy các điểm thuộc cạnh AB và CD có khoảng  
cách tới trục y lớn nhất, nghĩa là:  
A
b/2 b/2  
b
b
2
hb3  
H×nh 2.9  
xmax  
và Jy   
.
12  
Jy  
hb3 hb2  
hb2  
6
Do đó ta cũng có : Wy   
Wy   
(2.31)  
b
2
xmax  
6
12  
2. 5.2. Mặt cắt hình tròn:  
Đối với mặt cắt hình tròn ta có :  
πD4  
64  
D
2
Jx   
và ymax  
x
Jx  
π
πD3  
D4   
O
Nên: Wx   
D
2
ymax  
32  
64  
πD3  
Wx Wy   
0,1D3  
(2.32)  
D
32  
Ở cuối giáo trình này có giới thiệu những đặc trưng hình  
học của các loại thép hình (thép dát) sản xuất theo quy phạm.  
H×nh 2.10  
2.6. Thí dụ tính toán  
- Ví dụ 1: Xác định hệ trục quán tính chính trung tâm và mômen quán tính chính trung tâm  
của mặt cắt trên hình 2.11. Các kích thước trên hình vẽ tính bằng milimet  
(mm).  
- Bài giải: Trước hết ta phải xác định trọng tâm C của mặt cắt. Ta thấy mặt cắt có một  
trục đối xứng y, do đó trọng tâm C của mặt cắt sẽ nằm trên y.  
Ta chia mặt cắt ra làm 3 hình chữ nhật I, II, III và chọn trục xo nằm ngang đi qua trọng tâm  
của hình I. Từ công thức 4.4:  
y
S
SI SII SIII  
x0  
x0  
x0  
x0  
I
yc   
. Ta có:  
F
F
x
0
Mômen tĩnh của hình I là SIxo= 0.  
Mômen tĩnh của hình II và III là:  
O
C
yC  
SIIxo = SIIIxo = 14x3x(-9) = -378 (cm3).  
- Diện tích mặt cắt: F = FI + FII + FIII  
= 12x4 + 2x14x3 = 132 (cm2).  
- Tung độ yc của trọng tâm C bằng:  
2(378)  
x
III  
II  
yC   
 5,72 cm.  
132  
30  
30  
Tung độ yc có dấu (-) nghĩa là trọng tâm C của mặt cắt  
nằm trên trục y, về phía dưới trục xo cách trục xo một  
khoảng yc = 5,72 cm.  
Qua C kẻ trục x thẳng góc với trục y hệ trục xCy là hệ  
trục quán tính trung tâm cần tìm.  
120  
H×nh 2.11  
Mô men quán tính chính trung tâm của mặt cắt là Jx và Jy.  
Ta có:  
Jx= JIx+ JII + JIII  
x x  
Trong đó: JIx, JII , JIIIx là mômen quán tính của hình I, II, III đối với trục x.  
x
Vì trục x không đi qua trọng tâm hình I, II, III nên áp dụng công thức chuyển trục song  
song, ta được:  
1243  
JIx   
(-5,72)2 124 1635cm4  
12  
3143  
JIxI JIxII   
(95,72)2 314 1138cm4  
12  
Do đó mômen quán tính của toàn bộ mặt cắt đối với trục trung tâm x là:  
Jx = 1635 + 2x1138 = 3911 cm4  
Tính toán tương tự như trên đối với trục trung tâm y, ta cũng có:  
I
II  
III  
Jy = Jy + Jy + Jy  
4123  
Trong đó: JIy   
576 cm4  
12  
1433  
JIyI JIyII   
(1,53)2 143 882 cm4  
y
B
A
C
D
12  
Do đó:  
Jy = 576 + 2x882 = 2340 cm4  
F
E
G
H
* Ta cũng có thể tính Jy bằng phương pháp khác:  
Coi mặt cắt gồm một hình chữ nhật ABCD và một hình chữ nhật rỗng  
EFGH (hình 2.12). Ta tính được: Jy = JIy - Jy  
II  
JIy là mômen quán tính của hình chữ nhật ABCD.  
18123  
JyI   
2592 cm4  
12  
JII là mômen quán tính của hình chữ nhật EFGH  
y
(184)(126)3  
H×nh 2.12  
JIyI   
252 cm4  
12  
Do đó:  
Vậy:  
Jy 2592 252 2340 cm4  
J
max = Jx = 3911 cm4 ; Jmin = Jy = 2340 cm4  
- Thí dụ 2: Tính mômen quán tính chính trung tâm của mặt cắt ghép bởi hai thép hình chữ  
[ số hiệu 16 như hình 2.13. Biết khoảng cách giữa hai thép [ là 2d = 4 cm.  
- Bài giải: Thép N016 tra bảng phụ lục ta có:  
y
y0  
- Toạ độ trọng tâm zo = 1,79 cm.  
- Diện tích mặt cắt là 18 cm2.  
- Mômen quán tính đối với trục trung tâm  
là 741 cm4 và đối với trục yo là 62,6 cm4.  
x0  
II  
I
Mô men quán tính chính trung tâm đối với trục x là Jx.  
Đây là hình ghép nên ta có:  
Jx = JIx + JII  
x
C
O
x
Vì hình I và hình II đều là thép chữ số hiệu như nhau  
và trục x đi qua trọng tâm hình I và hình II, do đó ta có:  
JIx = JĩI = Jxo = 741 cm4  
2d  
z
0
x
Jx = 2Jxo = 2741 = 1482 cm4  
Tương tự như trên ta cũng có: Jy = JIy + JII  
H×nh 2.13  
y
4
JIy = JII = Jyo + b2F 62,6 ( 1,79)2 18 321cm4 .  
y
2
Vậy mômen quán tính chính trung tâm của toàn mặt cắt đối với trục y là:  
Jy = 2x321 = 642 cm4  
y
- Thí dụ 3: Hãy tính bán kính quán tính và môđuyn chống uốn  
đối với trục x của mặt cắt chữ I trên hình 2.14. Kích thước trên  
hình lấy bằng cm.  
II  
- Bài giải: Trước hết ta tính mômen quán tính của mặt cắt đối  
I
với trục x:  
x
Chia mặt cắt ra làm ba hình: I, II, III, ta có:  
C
Jx = JIx + JII + JIII  
x
x
1.2  
1,2(36)3  
+ Mômen quán tính của I: Jx   
4665,6 cm4  
12  
III  
+ Mômen quán tính của hình II và III:  
Từ hình vẽ ta thấy hình II và III đối xứng nên có diện  
bằng nhau, vì vậy:  
JII JIII  
36(2)3  
18  
18  
tích  
=
H×nh 2.14  
x
x
=
(181)2 362 26016 cm4 .  
12  
Do đó: Jx = 4665,6 + 2x26016 = 56697,6 cm4.  
- Bán kính quán tính của mặt cắt đối với trục x. Áp dụng công thức:  
Jx  
ix  
, với: F = F1 + F2 + F3 = 36x1,2 + 2x36x2 = 187,2 cm2.  
F
Jx  
F
56697,6  
Do đó : ix   
17,4 cm hay ix = 0,174 m.  
187,2  
- Môđuyn chống uốn đối với trục x:  
Jx  
40  
2
Áp dụng công thức: Wx   
, trong đó: ymax  
20 cm.  
ymax  
Jx  
56697,6  
20  
Do đó:  
Wx   
2834,88 cm3 .  
ymax  
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG 2  
1. Nêu đặc trưng hình học của hình phẳng. Viết công thức định nghĩa của chúng và cho  
biết các đơn vị thường dùng của các đại lượng Jx, Jy, J0, Sx, Sy.  
2. Thế nào là trục trung tâm, trục chính, hệ trục chính trung tâm? Cho ví dụ?  
3. Mô men quán tính trung tâm là gì?  
4. Chứng minh công thức chuyển trục song song để xác định mô men quán tính Jx của hình  
phẳng.  
y
y
5. Tính mômen quán tính chính trung  
tâm của các mặt cắt cho như hình vẽ  
2.15. Biết kích thước trên hình vẽ là  
mm.  
6. Một mặt cắt có hình dạng và kích  
thước (mm) như hình 2.16. Hãy xác  
định:  
x
C
x
- Mô men quán tính và mô men tĩnh với  
trục y.  
- Mô men quán tính chính trung tâm Jx,  
Jy?  
20  
100  
200  
20  
40  
7. Cho mặt cắt ngang hình chữ T, kích  
thước (cm) như hình vẽ 2.17.  
H×nh 2.15  
H×nh 2.16  
Xác định hệ trục quán tính trung tâm của hình phẳng Cxy. Xác định mô men quán tính Jx.  
Xác định mô men tĩnh của hình phẳng Sx.  
8. Thanh ghép gồm hai thép [30 (hình 2.18). Xác định khoảng cách a để mặt cắt có hai mô  
men quán tính chính trung tâm bằng nhau (Jx = Jy).  
y
y
y
a)  
b)  
x
x
x
a
a
8
4
8
H×nh 2.17  
H×nh 2.18  
Chương 3.  
KÉO (NÉN) ĐÚNG TÂM  
3.1. Khái niệm về kéo (nén) đúng tâm, lực dọc và biểu đồ lực dọc  
3.1.1. Khái niệm về kéo ( nén) đúng tâm  
P
P
Trong chương này ta sẽ nghiên cứu trường  
hợp chịu lực đơn giản nhất của thanh thẳng là khi  
thanh chịu kéo hoặc nén đúng tâm.  
Khi ta tác dụng vào các đầu thanh hai lực  
song song ngược chiều, có phương trùng với  
phương của trục thanh và có trị số giống nhau, ta  
sẽ có:  
a)  
P
P
b)  
H×nh 3.1  
- Hoặc thanh chịu kéo đúng tâm nếu lực hướng ra khỏi mặt cắt (hình 3.1a).  
- Hoặc thanh chịu nén đúng tâm nếu lực hướng vào mặt cắt hình (3.1b).  
Từ đó ta có định nghĩa: “Thanh chịu kéo (nén) đúng tâm khi trên mọi mặt cắt ngang  
của thanh chỉ có một thành phần lực dọc Nz”.  
Dưới đây ta sẽ nghiên cứu nội lực phát sinh trong thanh chịu kéo (nén) đúng tâm.  
3.1.2. Lực dọc - biểu đồ lực dọc  
a). Lực dọc:  
Giả sử xét một thanh chịu kéo đúng tâm bởi lực P. Để tính nội lực tại mặt cắt bất kỳ  
của thanh ta thường dùng phương pháp mặt cắt (hình 3.2).  
Tưởng tượng cắt thanh tại mặt cắt 1-1, xét cân bằng phần A.  
Muốn cho phần A cân bằng, thì hợp các nội lực trên mặt phải là nội lực N đặt tại  
trọng tâm mặt cắt và trùng với trục thanh. Lực N  
đó gọi là lực dọc.  
1
P
P
Trị số lực dọc N được xác định từ điều kiện cân  
A
A
B
a)  
b)  
bằng tĩnh học của phần A (hoặc phần B), là tổng  
hình chiếu của các lực tác dụng lên phần đang xét  
xuống phương trục thanh (trục z) phải bằng không:  
1
P
N
z
z
F
H×nh 3.2  
z = - P + N = 0 hay N = P.  
Dấu của lực dọc được quy ước như sau:  
- N mang dấu dương (+) khi nó là lực kéo (N có chiều hướng ra ngoài mặt cắt).  
- N mang dấu âm (-) khi nó là lực nén (N có chiều đi vào mặt cắt).  
Từ trường hợp xét trên ta có trình tự xác định lực dọc Nz theo phương pháp mặt cắt  
như sau:  
+ Dùng mặt cắt tưởng tưởng cắt thanh thành hai phần, giữ lại phần đơn giản để  
xét.  
+ Từ điều kiện cân bằng tĩnh học chiếu các lực đang xét xuống theo phương trục  
thanh (trục z) phải bằng 0. Từ đó ta xác định được Nz.  
Nếu kết quả tính được là dương thì đó là lực kéo ngược lại là lực nén.  
b). Biểu đồ lực dọc:  
Để biểu diễn sự biến thiên lực dọc tại các mặt cắt dọc theo trục thanh, ta vẽ một đồ thị  
gọi là biểu đồ lực dọc N.  
Vậy: “Biểu đồ lực dọc là đường biểu diễn sự biến thiên lực dọc tại các mặt cắt dọc theo  
trục thanh”.  
Sau khi đã tính được lực dọc tại các mặt cắt khác nhau ta tiến hành vẽ biểu đồ lực dọc.  
Để vẽ biểu đồ lực dọc thường chọn trục hoành song song với trục thanh (hay còn gọi là  
đường chuẩn), còn nội lực biểu thị bằng đường vuông góc với trục hoành (trục z). Trình tự,  
cách vẽ biểu đồ lực dọc như sau:  
- Chia thanh thành các đoạn bằng cách lấy điểm đặt lực tập trung, điểm đầu và cuối  
tải trọng phân bố làm ranh giới phân chia đoạn.  
- Trên mỗi đoạn viết một biểu thức xác định nội lực theo hoành độ z: Nz=f(z), căn  
cứ vào các biểu thức trên ta vẽ được biểu đồ cho từng đoạn.  
Nếu: Nz= const biểu đồ là đoạn thẳng song song với trục z, Nz là hàm bậc nhất (khi q=  
const) thì biểu đồ là đường thẳng xiên.  
3.2. Ứng suất trên mặt cắt ngang  
3.2.1 Ứng suất trên mặt cắt ngang  
Để tính ứng suất trên mặt cắt, trước hết ta khảo  
sát biến dạng của thanh khi chịu kéo hoặc nén đúng tâm.  
Xét một thanh chịu kéo đúng tâm, trước khi thanh chịu  
lực, ta kẻ trên bề mặt ngoài của thanh những đường  
thẳng vuông góc với trục của thanh biểu thị cho các mặt  
cắt của thanh và những đường thẳng song song với trục  
của thanh biểu thị cho các thớ dọc của thanh (hình 3.3a).  
Sau khi tác dụng lực kéo P, ta thấy những đoạn  
thẳng vuông góc với trục thanh di chuyển xuống phía  
dưới, nhưng vẫn thẳng và vuông góc trục, còn những  
đường thẳng song song với trục thanh thì dịch lại gần  
với nhau, nhưng vẫn thẳng và song song với trục của  
thanh (hình 3.3b). Với giả thiết biến dạng xảy ra bên  
trong thanh tương tự như biến dạng quan sát được bên  
mặt ngoài thanh, ta có thể kết luận:  
a)  
b)  
1
1
1
1
P
F
1. Các mặt cắt của thanh vẫn phẳng và vuông góc  
với trục thanh.  
2. Các thớ dọc của thanh vẫn thẳng và song song với  
trục thanh.  
H×nh 3.3  
Dựa vào hai kết luận trên, ta có thể thấy nội lực phân bố trên mặt cắt phải có phương  
song song với trục thanh, tức là có phương vuông góc với mặt cắt. Vậy trên mặt cắt của  
thanh chịu kéo (hoặc nén) chỉ có ứng suất pháp .  
Mặt khác dựa vào kết luận thứ nhất, ta thấy: khi bị biến dạng các thớ dọc bị chắn bởi  
cùng một mặt cắt (ví dụ mặt cắt 1-1) đều có độ giãn dài bằng nhau, do đó theo định luật  
Húc, nội lực phải phân bố đều trên mặt cắt, tức là ứng suất pháp tại mọi điểm trên mặt cắt  
phải có trị số bằng nhau.  
Vậy ta có thể viết được biểu thức liên hệ giữa những nội lực phân bố trên mặt cắt với  
lực N của chúng như sau:  
N = F  
N
Từ đó rút ra:  
σ   
F
N  
F
Tổng quát ta có thể viết:  
σ   
(3.1)  
Công thức (3.1) cho phép tính ứng suất pháp nếu biết được lực dọc N và diện tích F  
của mặt cắt. Trong công thức (3.1) thì N là trị số tuyệt đối của lực dọc tại mặt cắt cần tìm  
ứng suất, lấy dấu dương (+) khi lực dọc là lực kéo, lấy dấu (-) khi lực dọc là lực nén. Công  
thức (3.1) có thể phát biểu như sau: ((Trị số ứng suất pháp trên mặt cắt thanh chịu kéo hay  
nén đúng tâm bằng tỷ số giữa lực dọc ở mặt cắt đó với diện tích mặt cắt đó )).  
Người ta chứng minh được rằng ứng suất pháp trên mặt cắt vuông góc với trục  
thanh đạt trị số lớn nhất so với ứng suất pháp trên bất cứ mặt cắt nghiêng nào.  
Ở đây ta thấy được ứng suất pháp phân bố đều trên mặt cắt của thanh, nhưng điều này  
chỉ đúng với những mặt cắt không nằm gần nơi có mặt cắt thay đổi đột ngột hoặc gần nơi  
có điểm đặt lực. Trong thực tế ở những mặt cắt rất gần điểm đặt lực cũng như gần nơi có  
mặt cắt thay đổi đột ngột thì ứng suất phân bố không đều, mà ở đó xuất hiện ứng suất tập  
trung .  
Ví dụ: Tại mặt cắt 1-1 của  
thanh chịu kéo như hình 3.4 thì  
ứng suất phân bố đều trái lại ở mặt  
cắt 2-2 ứng suất phân bố không  
đều mà tại mép lỗ ứng suất có trị  
số lớn hơn ứng suất ở mặt cắt 1-1.  
Tỷ số giữa ứng suất lớn nhất với  
ứng suất trung bình (xem như  
ứng suất phân bố đều trên  
P
P
d)  
2
1
2
1
2
1
2
1
c)  
1
1
b)  
a)  
P
P
P
P
mặt cắt qua lỗ) gọi là hệ số tập  
H×nh 3.4  
trung ứng suất, ký hiệu tt:  
σtt  
αtt   
:
σ
thường trị số tt nằm trong khoảng (1,2 3).  
3.2.1. Biến dạng dọc và biến dạng ngang  
Khi chịu kéo chiều dài thanh sẽ dài thêm ra, nhưng chiều ngang co bớt lại (hình  
3.5). Hoặc khi chịu nén thì chiều dài thanh ngắn lại nhưng chiều ngang thanh rộng ra (hình  
3.6). Thanh bị biến dạng được vẽ bằng nét đứt.  
Chiều dài thanh thay đổi một đoạn l = l1 - l, l gọi là biến dạng dọc tuyệt đối. Nếu chiều  
dài thanh dài ra, l có trị số dương. Nếu chiều dài thanh ngắn đi, l có trị số âm, l gọi là  
độ giãn dọc tuyệt đối (khi l > 0), hoặc độ co dọc tuyệt đối (khi l < 0 ).  
Để so sánh biến dạng dọc của thanh có chiều dài khác nhau, người ta đưa ra khái niệm biến  
dạng dọc tương đối (epxilon) tức là biến dạng dọc tuyệt đối trên một đơn vị chiều dài  
thanh và được tính bằng công thức:  
Δl  
ε   
(3.2)  
l
Trong đó là một hư số cùng  
dấu với l. Như đã nói ở trên  
dưới tác dụng của lực kéo P,  
chiều dài thanh dài ra nhưng  
chiều ngang hẹp lại một đoạn  
b = b1- b, b gọi là biến dạng  
ngang tuyệt đối, b mang trị số  
dương nếu chiều ngang tăng  
thêm: b mang trị số âm nếu  
chiều ngang hẹp lại. Để so sánh  
biến dạng ngang của những  
thanh có kích thước ngang khác  
nhau, người ta dùng khái niệm  
biến dạng ngang tương đối 1,  
tức là biến dạng ngang tuyệt  
P
P
l
l =l+l  
1
H×nh 3.5  
P
P
l =l-l  
1
l
H×nh 3.6  
đối trên một đơn vị chiều ngang thanh, và được tính theo công thức:  
Δb  
εl   
b
(3.3)  
Trong đó 1 là một hư số có cùng dấu với b.  
Nhiều thí nghiệm cho thấy giữa và 1 có một liên hệ với nhau như sau:  
εl  
μ    
hay εl  με  
(3.4)  
ε
Dấu (-) trước tỷ số 1 và chứng tỏ chúng luôn ngược dấu nhau, nghĩa là nếu chiều dài  
thanh dài thêm thì chiều ngang thanh hẹp bớt lại và ngược lại.  
Trong biểu thức (3.4), (muy) là hệ số Poátxông hay hệ số biến dạng ngang, nó  
đặc trưng cho tính đàn hồi của vật liệu. Trị số được xác định bằng thí nghiệm, hệ số này  
là một hư số, tuỳ từng loại vật liệu khác nhau trị số cũng khác nhau và nằm trong  
khoảng từ 0 đến 0,5.  
Biến dạng dọc tuyệt đối l được tính như sau:  
Qua thí nghiệm kéo nén những mẫu vật liệu khác nhau, nhà vật lý Rôbe Húc đã tìm  
thấy: Khi lực tác động P chưa vượt qua một giới hạn nào đó (giới hạn này tuỳ theo từng  
loại vật liệu) thì biến dạng dọc tuyệt đối l của mẫu thí nghiệm luôn luôn tỷ lệ thuận với  
lực P và biểu thức của nó có dạng:  
Pl  
Δl   
Δl   
(*) , nếu chú ý rằng N = P thì ta có thể viết:  
EF  
Nl  
(**)  
EF  
Trong đó: E gọi là mô đuyn đàn hồi khi kéo (nén) của vật liệu.  
Nó là một hằng số vật lý đặc trưng cho khả năng chống lại sự biến dạng khi chịu lực kéo  
hay nén của từng loại vật liệu trong phạm vi biến dạng đàn hồi.  
Trị số E được xác định bằng thí nghiệm. Đơn vị tính: MN/m2.  
Trị số E của một số vật liệu thông thường cho trong bảng (3.2).  
Tích số EF gọi là độ cứng khi kéo (nén) đúng tâm. Nếu thanh có độ cứng EF lớn thì biến  
dạng dọc tuyệt đối l nhỏ và ngược lại. Trị số l có thể mang dấu (+) hoặc (-) tuỳ thuộc  
vào dấu của lực dọc N.  
Δl  
N
Biểu thức (*) và (**) có thể viết thành :  
(3.5)  
l
EF  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 95 trang Thùy Anh 21360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Sức bền vật liệu - Nguyễn Phú Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_suc_ben_vat_lieu_nguyen_phu_binh.pdf