Giáo trình Sinh lý bệnh. Miễn dịch

GIỚI THIỆU HỌC PHẦN  
SINH LÝ BỆNH - MIỄN DỊCH  
Đối tượng: Cao đẳng  
- Số tín chỉ:  
- Số tiết:  
02 (2/0)  
30 Tiết  
+ Lý thuyết:  
+ Thực hành:  
30 tiết  
0 tiết  
- Thời điểm thực hiện:  
Học kỳ III  
MỤC TIÊU HỌC PHẦN  
1. Trình bày được những khái niệm cơ bản về bệnh, bệnh nguyên, bệnh sinh.  
2. Trình bày được các rối loạn chuyển hóa trong cơ thể người, quá trình viêm,  
sốt....  
3. Trình bày được sinh lý bệnh các cơ quan và sinh lý bệnh qúa trình lão hóa.  
4. Giải thích được cơ chế bệnh sinh của một số bệnh thường gặp.  
5. Trình bày và phân tích được một số khái niệm trong miễn dịch đại cương và  
miễn dịch bệnh lý.  
6. Nhận định, đánh giá được tình trạng người bệnh phù hợp về trạng thái bệnh  
lý và quá trình bệnh lý.  
7. Lập được kế hoạch chăm sóc, tập luyện phục hồi chức năng cho người bệnh  
phù hợp và hiệu quả.  
8. Nhận định và tiên lượng được người bệnh phù hợp về mặt lâm sàng với hình  
ảnh và xét nghiệm dựa theo cơ chế bệnh sinh.  
9. Ứng dụng được sinh lý bệnh, miễn dịch giải thích cho người bệnh các quá  
trình nhận định, đánh giá, chăm sóc, tập luyện.  
10. Rèn luyện được kỹ năng tư duy, tự học và làm việc nhóm hiệu quả.  
11. Nhận thức được vai trò của môn học trọng việc giải thích cơ chế hình thành  
bệnh, quá trình bệnh lý, trạng thái bệnh lý trong chẩn đoán, chăm sóc người bệnh và  
nghiên cứu khoa học.  
NỘI DUNG HỌC PHẦN  
Số  
trang  
STT  
Tên bài  
Giới thiệu môn sinh lý bệnh  
Số tiết  
1
1
3
1
Khái niệm về bệnh  
2
3
4
5
6
1
1
1
1
1
8
Bệnh nguyên  
14  
18  
24  
35  
42  
Bệnh sinh  
Sinh lý bệnh quá trình viêm  
Sinh lý bệnh điều hòa thân nhiệt – Sốt  
Rối loạn chuyển hóa nước, điện giải và Rối loạn thăng bằng  
acid – base  
7
2
Rối loạn chuyển hóa Glucid  
8
2
2
53  
59  
Rối loạn chuyển hóa Protid  
Rối loạn chuển hóa Lipid  
Sinh lý bệnh tạo máu  
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
2
64  
2
70  
Sinh lý bệnh hô hấp  
2
76  
Sinh lý bệnh tuần hoàn  
Sinh lý bệnh tiêu hóa  
2
85  
2
92  
Sinh lý bệnh gan – mật  
Sinh lý bệnh chức năng thận  
Sinh lý bệnh quá trình lão hóa  
Đại cương về miễn dịch học cơ bản  
Miễn dịch bệnh lý  
2
99  
2
104  
110  
120  
125  
130  
2
2
2
Tổng số  
30  
ĐÁNH GIÁ  
- Hình thức thi: Tự luận.  
- Thang điểm: 10  
- Cách tính điểm:  
+ Điểm chuyên cần: 10%  
+ Điểm kiển tra thường xuyên: 01 bài kiểm tra lý thuyết trọng số 20%.  
+ Điểm thi kết thúc học phần: 01 bài thi tự luận trọng số 70%  
Công thức tính: Điểm HP = Điểm CC * 0.1 + TX * 0.2 + KTHP * 0.7)  
2
BÀI 1  
GIỚI THIỆU MÔN SINH LÝ BỆNH  
MỤC TIÊU HỌC TẬP:  
1. Trình bày được tính chất và vai trò của môn Sinh lý bệnh trong Y học.  
2. Trình bày được các bước và tầm quan trọng của phương pháp thực nghiệm  
trong y học.  
NỘI DUNG  
1. Đại cương  
1.1. Định nghĩa  
Sinh lý bệnh là môn học nghiên cứu về những thay đổi chức năng của cơ thể, cơ  
quan, mô và tế bào khi chúng bị bệnh.  
Từ đó rút ra các quy luật hoạt động của cơ quan, hệ thống cơ quan bị bệnh, các  
quá trình bệnh lý điển hình…để hiểu quy luật hoạt động của bệnh nói chung.  
Một cơ quan có thể bị nhiều bệnh khác nhau. Ví dụ: Phổi có thể bị các bệnh khác  
nhau như: viêm phổi, abces phổi, xơ phổi, tràn dịch màng phổi…. Mỗi một bệnh đó có  
những đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm đặc trưng, nhưng tất cả các bệnh ấy lại có một  
dấu hiệu chung thuộc về chức năng của phổi như: khó thở, tím, ho…đó là sinh lý bệnh  
cơ quan bộ phận.  
Một số bệnh có thể xảy ra ở nhiều cơ quan khác nhau như: viêm, rối loạn vi tuần  
hoàn, rối loạn chuyển hóa, phản ứng miễn dịch… Một số bệnh có thể do nhiều nguyên  
nhân gây ra như: sốt, viêm, mất nước, mất muối… Những quá trình bệnh lý này rất hay  
gặp trong thực tế, đó là sinh lý bệnh đại cương.  
Sự tổng quát hóa cao nhất trong nghiên cứu sinh lý bệnh nhằm trả lời các câu hỏi  
như: bệnh là gì? Các bệnh diễn ra theo những quy luật nào? Quá trình lành bệnh và tử  
vong diễn ra như thế nào?  
1.2. Nội dung môn học  
Khi sinh lý bệnh đã phát triển đầy đủ, nó được định nghĩa như trên và bao gồm 2  
nội dung lớn là sinh lý bệnh đại cương và sinh lý bệnh các cơ quan hệ thống.  
* Sinh lý bệnh đại cương: Có thể chia thành 2 phần nhỏ:  
- Sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung, nghĩa là các quá trình bệnh có thể gặp  
ở nhiều bệnh cụ thể (viêm, sốt, rối loạn chuyển hóa, rối loạn miễn dịch, lão hóa, đói, rối  
loạn phát triển mô, sinh lý bệnh mô liên kết…) và:  
- Các khái niệm và quy luật chung nhất về bệnh, như:  
+ Bệnh là gì (các quan niệm);  
+ Nguyên nhân chung của bệnh;  
+ Cơ chế phát sinh, diễn biến, kết thúc của bệnh nói chung;  
3
+ Tính phản ứng của cơ thể với bệnh.  
* Sinh lý bệnh cơ quan: Nghiên cứu sự thay đổi hoạt động tạo huyết, hô hấp, tuần hoàn,  
tiêu hóa, chức năng gan, bài tiết, nội tiết, thần kinh… khi các cơ quan này bị bệnh.  
2. Tính chất, vai trò của môn sinh lý bệnh  
2.1. Tính chất tổng hợp:  
- Môn sinh lý bệnh đi từ các hiện tượng bệnh lý cụ thể tìm cách khái quát hóa  
thành những quy luật hoạt động của cơ thể bị bệnh.  
- Sinh lý bệnh vận dụng nhiều thành quả khoa học của các môn khoa học khác,  
sử dụng các phương pháp của chuyên ngành khác để nghiên cứu và giải thích cơ chế các  
biểu hiện lâm sàng cơ chế thay đổi các xét nghiệm.  
2.3. Tính lý luận:  
- Sinh lý bệnh học cho phép giải thích cơ chế của bệnh và các hiện tượng bệnh  
lý nói chung, đồng thời làm sáng tỏ các quy luật chi phối sự hoạt động của cơ thể, cơ  
quan, tổ chức và tế bào khi bị bệnh. Do đó, trong đào tạo ngoài nhiệm vụ trang bị kiến  
thức môn học nó còn có nhiệm vụ trang bị phương pháp lý luận và cách ứng dụng các  
lý luận đó khi học các môn lâm sàng và nghiệp vụ khác.  
- Có lý luận và biết vận dụng trong thực tế sẽ giúp người cán bộ y tế làm tốt công  
tác phòng bệnh, chữa bệnh và có các quyết định xử lý đúng đắn.  
2.3. Cơ sở của y học hiện đại:  
- Y học hiện đại là thời kỳ tiếp theo của y học cổ truyền, nó kế thừa những tinh  
hoa của y học cổ truyền để phát triển và thay thế hẳn y học cổ truyền.  
- Ở Việt Nam, thời điểm xâm nhập y học hiện đại là năm 1902, năm thành lập  
trường đại học y khoa Đông Dương. Do vậy phương châm ra là “Khoa học hóa Đông  
y” và sau đó thay bằng “Kết hợp Đông - Tây y”.  
- Giải phẫu học và Sinh lý học là hai môn học quan trọng cung cấp những hiểu  
biết về cấu trúc và hoạt động của cơ thể con người bình thường. Trên cơ sở hai môn học  
trên, y học hiện đại nghiên cứu trên người bệnh để hình thành môn bệnh học và Sinh lý  
bệnh là môn học cơ sở. Hiện nay trong công tác đào tạo, Sinh lý bệnh được xếp vào môn  
học tiền lâm sàng, tạo cơ sở về kiến thức và phương pháp để sinh viên học tốt các môn  
lâm sàng.  
3. Phương pháp nghiên cứu trong sinh lý bệnh  
3.1. Khái niệm  
GS. Thomas “Thực nghiệm trên súc vật và quan sát trên người bệnh là phương  
pháp cơ bản của sinh lý bệnh”. Phương pháp thực nghiệm trong Y học được Claude  
Bernard phát triển và tổng kết từ gần 200 năm trước đây, đã giúp cho các nhà Y học nói  
chung và Sinh lý bệnh nói riêng có một vũ khí quan trọng trong nghiên cứu. Mục đích  
của y học thực nghiệm là phát hiện được những quy luật hoạt động của cơ thể bị bệnh  
qua các mô hình thực nghiệm trên súc vật.  
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu xuất phát từ sự quan sát  
khách quan từ các hiện tượng tự nhiên (hiện tượng bệnh lý xảy ra), sau đó dùng các kiến  
4
thức hiểu biết từ trước tìm cách cắt nghĩa chúng (gọi là đề ra giả thuyết); sau đó dùng  
một hay nhiều thực nghiệm để chứng minh giả thuyết đúng hay sai (có thể thực nghiệm  
trên mô hình súc vật).  
3.2. Các bước trong một nghiên cứu thực nghiệm  
3.2.1. Bước 1: Quan sát và đề xuất vấn đề  
- Trước một hiện tượng bệnh lý, dù là nhà y học cổ truyền hay y học hiện đại,  
người ta đều quan sát và nhận xét hiện tượng bệnh lý. Từ mấy ngàn năm trước,  
Hyppocrate đã nhận thấy dịch mũi trong suốt, máu ở tim thì đỏ và nóng, máu ở lách thì  
sẫm hơn, quánh hơn. Điều này đến nay vẫn đúng. Bước một làm tốt sẽ tạo cho bước sau  
thuận lợi hơn trên con đường tìm đến chân lý.  
- Ngày nay, ngoài quan sát bằng giác quan, người ta còn sử dụng nhiều dụng cụ,  
máy móc, thiết bị để quan sát như: dụng cụ đo huyết áp, máy đo đường máu, siêu âm,  
cộng hưởng từ hạt nhân…Nhờ vậy có thể thu được tối đa số lượng thông tim về hiện  
tượng bệnh lý mà ta quan sát.  
3.2.2. Bước 2: Đề giả thuyết  
Sau khi quan sát (chủ quan hay khách quan), người ta tìm cách cắt nghĩa và giải  
thích những điều quan sát được. Những người quan sát có thể đồng thời phát hiện giống  
nhau nhưng cũng có thể khác nhau; cũng có thể giải thích khác nhau về cùng một hiện  
tượng mà họ cùng quan sát; tuy nhiên những giải thích trên mang tính chủ quan của con  
người, tuỳ thuộc vào quan điểm triết học của người quan sát mà nội dung giải thích cũng  
khác nhau (duy tâm, duy vật, biện chứng hay siêu hình). Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ  
phát triển của y học mà ý nghĩa cũng thay đổi.  
Từ quan sát, Hypocrate (500 năm BC) đã cho rằng: dịch mũi trong do não tiết ra;  
thể hiện tình trạng cơ thể bị lạnh; máu đỏ do tim tiết ra, thể hiện tình trạng nóng; còn  
máu đen do lách tiết ra, thể hiện tình trạng ẩm; và mật vàng do gan tiết ra, thể hiện tình  
trạng khô. Mọi bệnh lý xảy ra do sự mất cân bằng của 4 chất dịch trên.  
Phương pháp thực nghiệm do Claude Bernarde đã yêu cầu nhà khoa học:  
- Quan sát thật tỉ mỉ, khách quan. Càng nhiều thông tin trung thực thì giả thuyết  
càng dễ gần chân lý.  
- Khi giải thích, càng vận dụng những kết quả lý luận đã có càng làm cho việc  
đặt giả thuyết càng có nhiều cơ hội tiếp cận chân lý. Ngày nay, cần lưu ý đến những  
thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau, và tuỳ theo điều kiện cụ thể mà vận  
dụng cho thích hợp.  
Người bệnh đến với thầy thuốc với những triệu chứng cần được phát hiện bằng  
mọi cách một cách khách quan. Trước tiên người thầy thuốc phải dùng ngũ quan của  
mình để quan sát; sau đó kết hợp với những phương tiện kỹ thuật cận lâm sàng để tăng  
cường phát hiện những hiện tượng mà khả năng quan sát con người không làm được.  
Các xét nghiệm cận lâm sàng và thăm dò chức năng cho những kết quả khách quan,  
chính xác và nhạy hơn những điều mà bản thân thầy thuốc thu nhận được bằng ngũ quan  
của mình, song những kỹ thuật ấy cũng do con người làm ra nên chúng phải  
5
được tuân thủ những quy tắc và điều kiện thực hiện thì mới có đủ sức tin cậy. Khả năng  
quan sát của người thầy thuốc chỉ có thể phát triển khi được tiếp xúc với người bệnh  
thường xuyên.  
Sau khi có đầy đủ các dữ kiện ở người bệnh, người thầy thuốc hình thành trong  
trí óc của mình một mô hình bệnh lý nhất định. Đồng thời so sánh mô hình này với các  
mô hình khác (có được qua học tập, kinh nghiệm) để xem nó giống mô hình nào nhất  
và định hướng chẩn đoán phù hợp nhất. Nhưvậy chẩn đoán chỉ là một giả thuyết mà  
người thầy thuốc đặt ra dựa trên những quan sát khách quan thu được.  
3.2.3. Chứng minh giả thuyết bằng các thực nghiệm  
Đây là bước bắt buộc, nhưng Y học cổ truyền đã không có điều kiện thực hiện  
mà chỉ dừng lại ở bước 1, tức là quan sát; rồi giải thích sau khi thử áp dụng "Y lý" của  
mình trong thực tiễn.  
Các thực nghiệm khoa học thường xây dựng các mô hình thực nghiệm trên súc  
vật từ những quan sát lâm sàng để chứng minh cho các giả thuyết đề ra. Các thực nghiệm  
này được tiến hành chủ động cấp diễn hoặc trường diễn, cho các hình ảnh bệnh lý sinh  
động theo thời gian thực nghiệm. Thực nghiệm có thể tiến hành trên từng tổ chức, từng  
cơ quan cô lập và trên cơ thể nguyên vẹn; hoặc phối hợp với nhau và tiến hành trên cơ  
thể sống (in vivo) hoặc trong ống nghiệm (in vitro).  
Nếu chẩn đoán đúng thì quyết định được biện pháp điều trị thích hợp và bệnh  
khỏi. Như vậy điều trị cũng là một bằng chứng thực nghiệm. Cần lưu ý bằng chứng này  
cũng có những điều kiện riêng cuả nó. Ví dụ sức đề kháng của cơ thể cần thiết cho quá  
trình tự khỏi của bệnh, hỗ trợ cho người thầy thuốc cũng như điều trị và làm cho quá  
trình tự lành bệnh được nhanh hơn. Cũng có bệnh tuy chẩn đoán ra nhưng khoa học hiện  
nay vẫn chưa điều trị khỏi. Cuối cùng nếu bệnh quá nặng, điều trị không phù  
hợp thì người bệnh chết và phương pháp giải phẫu thi thể và chẩn đoán sinh thiết là một  
bằng chứng thực nghiệm vô cùng quý giá. Muốn có kết quả cần thiết phải có các phương  
pháp đúng, Claude Bernard: “Chỉ có những phương pháp tốt mới cho phép chúng ta  
phát triển và sử dụng tốt hơn những khả năng mà tự nhiên đã phú cho chúng ta”. Muốn  
vậy phải có được những nhận xét lâm sàng chính xác, khách quan; đề ra những giả  
thuyết đúng đắn, khoa học; tìm các phương pháp thực nghiệm thích hợp để chứng minh  
cho sự phù hợp giữa thực tế lâm sàng và giả thuyết đã nêu; từ đó rút ra được những quy  
luật chung nhất của bệnh lý và cuối cùng là ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả trong thực  
tế (đối với công tác phòng bệnh và điều trị).  
3.3. Đức tính phải có  
Nhà nghiên cứu cần có nhiều đức tính nhưng cần phải có 3 đức tính cơ bản nhất  
- Tỷ mỉ: Nhất là trong bước quan sát  
- Chính xác: Giác quan và máy móc đều có sai số lớn hay nhỏ, phải thực hiện các  
đo đạc với độ chính xác cao nhất có thể.  
- Trung thực: Khi quan sát, đề ra giả thuyết hoặc khi làm thực nghiệm để chứng  
minh càng trung thực càng dễ dàng thành công và càng nhiều cơ hội tiếp cận chân lý.  
3.4. Vận dụng phương pháp thực nghiệm trong lâm sàng  
6
Người cán bộ y tế là người làm khoa học, quá trình khám để phát hiện đúng bệnh  
giống như quá trình phát hiện chân lý, nghĩa là tuân thủ theo đúng các bước đi trên.  
Chẩn đoán bệnh, chẩn đoán chăm sóc hay nhận định tình trạng bệnh thực chất là ứng  
dụng các bước của phương pháp thực nghiệm để tăng khả năng tìm ra được chân lý. Tác  
phong và đức tính của người cán bộ y tế trong trường hợp này vẫn là tỉ mỉ, chính xác,  
trung thực.  
LƯỢNG GIÁ  
1. Trình bày 3 tính chất của môn sinh lý bệnh học?  
2. Liệt kê 3 bước trong phương pháp thực nghiệm của sinh lý bệnh?  
3. Sau khi học phương pháp thực nghiệm, để làm tốt công tác thì đức tính cần phải có  
của cán bộ y tế là gì?  
7
BÀI 2  
KHÁI NIỆM VỀ BỆNH  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được quan niệm hiện nay về bệnh.  
2. Trình bày được các đặc điểm cơ bản để hiểu về bệnh.  
3. Phân biệt được bệnh, quá trình bệnh lý, trạng thái bệnh lý.  
NỘI DUNG  
1. Khái niệm về bệnh  
Kể từ thời nguyên thủy cuả y học, trải qua trên 5000 năm, khái niệm về bệnh  
thay đổi theo thời gian, phụ thuộc chủ yếu 2 yếu tố:  
- Trình độ văn minh của xã hội đương thời  
- Thế giới quan (bao gồm cả triết học) của mỗi thời đại.  
Trong một xã hội có thể đồng thời xuất hiện nhiều khái niệm về bệnh, kể cả  
những khái niệm đối lập nhau, đó là điều bình thường - nó nói lên những quan điểm học  
thuật khác nhau có thể cùng tồn tại trong khi chờ đợi sự ngã ngũ.  
Một quan niệm về bệnh bao giờ cũng chi phối các nguyên tắc chữa bệnh, phòng  
bệnh. Do đó nó có vai trò rất lớn trong thực hành.  
1.1. Một số khái niệm trong lịch sử  
1.1.1. Thời nguyên thủy  
Bệnh là sự trừng phạt của các đấng siêu linh đối với con người ở trần thế. Ở  
đây có sự lẫn lộn giữa bản chất của bệnh với nguyên nhân gây bệnh. Đáng chú ý là quan  
niệm này bước sang thế kỷ XXI vẫn tồn tại ở những bộ tộc lạc hậu hoặc một bộ phận  
dân cư trong xã hội văn minh. Tuy nhiên trên thực tế người nguyên thủy đã bắt đầu biết  
dùng thuốc mà không chỉ phó mặc số phận cho thần linh.  
1.1.2. Thời các nền văn minh cổ đại  
* Trung Quốc cổ đại:  
Trong những thời kỳ cổ đại, mỗi nền văn minh đều có những triết lý khác nhau  
về vũ trụ, về con người, về sự sống… Chúng là cơ sở cho những khái niệm về bệnh của  
từng thời kỳ. Ví dụ như trong thời kỳ cổ Trung Hoa, quan niệm về vũ trụ là vạn vật đều  
do hai lực là âm, dương và năm nguyên tố là ngũ hành hình thành (kim, mộc, thuỷ, hoả,  
thổ). Con người một thứ tiểu vũ trụ nên mọi trạng thái đều phụ thuộc vào trạng thái cân  
bằng giữa hai lực và ngũ hành ấy.  
Các nhà y học Trung Quốc cổ đại cho rằng: Bệnh là sự mất cân bằng âm, dương  
và sự rối loạn quan hệ tương sinh tương khắc của ngũ hành trong cơ thể.  
Lý luận âm dương ngũ hành có vẻ mơ hồ, trừu tượng nhưng các thầy thuốc  
Đông y khi áp dụng vào trong điều trị bệnh đã thu được kết quả rất khả quan, không thể  
phủ nhận.  
8
* Hy Lạp và La Mã cổ đại  
Có hai trường phái lớn:  
- Trường phái Pythogore (600 năm trước CN) cho rằng: Trong cơ thể có 4 yếu  
tố Thổ (khô), Khí (ẩm), Hỏa (nóng), Thủy (lạnh) phù hợp về tỷ lệ và sự cân bằng sẽ tạo  
ra sức khỏe và ngược lại sẽ sinh bệnh. Cách chữa bệnh: cũng là điều chỉnh lại, bổ sung  
cái thiếu và yếu, kiềm chế cái mạnh và thừa.  
- Trường phái Hyppocrate (500 năm trước CN), không chỉ thuần túy như  
trường phái trên mà còn trực tiếp quan sát cơ thể sống. Ông cho rằng cơ thể có 4 dịch  
tồn tại theo tỷ lệ riêng, có quan hệ cân bằng với nhau để tạo ra sức khỏe, đó là:  
+ Máu đỏ: do tim sản xuất, mang tính nóng; ông nhận xét rằng khi cơ thể bị sốt thì  
tim đập nhanh và da đỏ. Đó là do tim tăng cường sản xuất máu đỏ.  
+ Dịch nhầy: do não sản xuất, mang tính lạnh; ông nhận xét rằng khi cơ thể bị  
lạnh thì dịch mũi chảy ra rất nhiều.  
+ Máu đen: do lách sản xuất, mang tính ẩm.  
+ Mật vàng: do gan sản xuất, mang tính khô  
Bệnh phát sinh là do mất cân bằng về tỷ lệ và quan hệ giữa 4 loại dịch đó. Lý  
thuyết của Hyppocrate có ảnh hưởng rất lớn đối với y học châu Âu thời cổ đại. Bản thân  
ông là nhà y học cổ truyền vĩ đại, có công lao rất lớn, ví dụ đã tách y học khỏi ảnh hưởng  
của tôn giáo, chủ trương chẩn đoán bằng phát hiện triệu chứng khách quan, đề cao đạo  
đức y học, ông cũng là tác giả của “lời thề thầy thuốc” truyền tụng đến ngày nay. Bằng  
những quan sát và thực nghiệm là nền tảng cho y học sau này, Ông được coi là ông tổ  
của ngành Y học nói chung.  
* Các nền văn minh khác  
- Cổ Ai cập: Bệnh là do hít phải khí “xấu” và không trong sạch  
- Cổ Ấn Độ: Ảnh hưởng của đạo Phật, đạo Phật cho rằng con người có linh hồn,  
nếu nó còn ngự trị trong thể xác là sống, đe dọa thoát khỏi thể xác là bệnh, thoát hẳn  
khỏi thể xác là chết.  
1.1.3. Thời kỳ Trung cổ và Phục hưng  
* Thời kỳ Trung cổ IV - XII): Bệnh là sự trừng phạt của Chúa đối với tội lỗi  
của con người. Thời này những nhà y học có quan điểm tiến bộ bị ngược đãi  
* Thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XVI - XVII), Y học có nhiều bước tiến nhảy vọt,  
có nhiều thuyết ra đời đặt nền móng cho y học hiện đại. Các thuyết đều cố vận dụng  
những thành tựu mới nhất của các khoa học khác.  
- Thuyết cơ học: Cơ thể như một cỗ máy, bệnh được ví như sự trục trặc của máy  
móc.  
- Thuyết hóa học: Bệnh tật là do sự thay đổi tỷ lệ các hóa chất trong cơ thể, hoặc  
sự rối loạn của các phản ứng hóa học.  
- Thuyết lực sống: Lực sống (lực làm cho sinh vật sống và không thối rữa) cũng  
chi phối sức khỏe và bệnh tật của cơ thể bằng lượng và chất của nó.  
9
1.1.4. Thế kỷ XVIII – XIX: Đây là thời kỳ phát triển của y học hiện đại, với sự vững  
mạnh của Giải phẫu học và Sinh lý học. Rất nhiều quan niệm về bệnh ra đời dựa trên  
những kết quả đã được thực nghiệm kiểm tra và khẳng định  
- Thuyết bệnh lý tế bào: Bệnh là do các tế bào bị tổn thương, hoặc các tế bào tuy  
lành mạnh nhưng thay đổi về số lượng, vị trí và thời điểm xuất hiện.  
- Thuyết rối loạn hằng định nội môi: Claud Benard (nhà sinh lý học thiên tài) cho  
rằng: Bệnh xuất hiện khi có rối loạn hằng định nội môi trong cơ thể.  
- Freud (1856- 1939) cho rằng: Bệnh là do rối loạn và mất cân bằng giữa ý thức,  
tiềm thức, bản năng.  
1.2. Quan niệm về bệnh hiện nay  
1.2.1. Những yếu tố liên quan  
* Hiểu biết về bệnh qua các quan niệm về sức khỏe  
- WHO/OMS (1946) đưa ra định nghĩa: “Sức khỏe là tình trạng thoải mái về  
tinh thần, thể chất và giao tiếp xã hội chứ không phải chỉ là vô bệnh vô tật”. Đây là định  
nghĩa mang mục tiêu xã hội đang được chấp nhận rộng rãi.  
- Các nhà Y học cho rằng: “Sức khỏe là tình trạng lành lặn của cơ thể về cấu trúc,  
chức năng, cũng như khả năng điều hòa giữa cân bằng nội môi, phù hợp và thích nghi  
với sự thay đổi của ngoại cảnh.  
1.2.2. Mức trừu tượng và mức cụ thể trong định nghĩa về bệnh  
* Mức trừu tượng cao nhất khi xác định tổng quát về bệnh  
- “Bệnh là tình trạng tổn thương hoặc rối loạn về cấu trúc và chức năng, dẫn tới  
mất cân bằng nội môi và giảm khả năng thích nghi với ngoại cảnh”  
- Hoặc “Bệnh là sự thay đổi về lượng và chất các hoạt động sống của cơ thể do  
tổn thương cấu trúc và rối loạn chức năng, gây ra do tác hại từ môi trường hoặc từ bên  
trong cơ thể”, v..v...  
Định nghĩa này phải bao hàm được mọi bệnh lý từ rất nhỏ đến lớn.  
* Giảm mức trừu tượng hơn nữa, người ta định nghĩa bệnh như trong quá trình  
bệnh lý chung.  
- Đó là tình trạng bất thường gặp phổ biến (trong nhiều cơ thể bị các bệnh khác  
nhau), có tính chất tương tự nhau, không phụ thuộc nguyên nhân, vị trí tổn thương, loài  
và cùng tuân theo một quy luật.  
* Tăng mức cụ thể hơn nữa, khi ta cần xác định loại bệnh  
Nói khác, đó là quan niệm coi mỗi bệnh như một “đơn vị phân loại”. Ví dụ viêm  
phổi (không phải viêm nói chung), sốt thương hàn (không phải sốt nói chung), bệnh ung  
thư da (không phải quá trình u nói chung)...  
- Định nghĩa hiện nay đang được lưu hành là: “Bệnh là bất kỳ sự sai lệch nào về  
cấu trúc và chức năng của bất kỳ bộ phận, cơ quan, hệ thống nào của cơ thể biểu hiện  
bằng một bộ triệu chứng đặc trưng giúp cho thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và  
chẩn đoán phân biệt, mặc dù nhiều khi ta chưa rõ về nguyên nhân, về bệnh lý học và  
tiên lượng” (Từ điển Y học Dorlands 2000).  
10  
Định nghĩa ở mức này rất có ích trong thực tiễn: để phân lập một bệnh và để đề  
ra tiêu chuẩn chẩn đoán nó, đồng thời tìm cách chữa và xác định thế nào là khỏi bệnh  
và mức độ khỏi.  
3. Một số điểm cần chú ý để hiểu khái niệm bệnh  
Theo tiến hóa luận, mọi sinh vật khởi điểm từ những chất hữu cơ, được tổ chức  
lại thành các sinh vật bậc thấp (cơ thể đơn bào) rồi tiếp tục tiến hóa thành các sinh vật  
bậc cao (cơ thể đa bào). Sinh vật bậc cao với những cơ quan có những hoạt động biệt  
hóa và chức năng khác nhau nhưng đều nhằm đến một mục đích chung là duy trì sự sống  
cho cơ thể sinh vật đó. Vì vậy, từ thế giới vi mô sang vĩ mô, tất cả những màng ngăn  
cách (màng nhân, màng tế bào, màng mạch, da,...) chỉ có tính chất tương đối do  
chúng có quan hệ trao đổi chất, quan hệ tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau nhưng vẫn  
giữ được tính chất riêng của nó. Như thế, sinh vật nói chung và con người nói riêng có  
tính thống nhất giữa nội môi và ngoại môi. Thống nhất nhưng vẫn có mâu thuẩn vì ngoại  
môi thì luôn luôn thay đổi, biến động trong khi nội môi thì đòi hỏi một sự ổn định để có  
thể hoạt động bình thường. Muốn duy trì được sự ổn định của nội môi, cơ thể phải có  
khả năng thích nghi bù trừ. Quan niệm như thế sẽ giúp cho người thầy thuốc có được  
một thái độ xử lý đúng về bệnh trong thực tế cuộc sống như sau:  
2.1. Bệnh có tính chất của một cân bằng mới kém bền vững  
Sự hằng định của nội môi là kết quả của một cân bằng sinh lý: sinh sản = hủy  
hoại. Ví dụglucose máu, hồng cầu,... Khi cơ thể bị bệnh vẫn có một sự cân bằng, đó là  
cân bằng bệnh lý:  
- Yếu tố gây bệnh (hủy hoại bệnh lý = Phản ứng cơ thể (phòng ngự sinh lý). Cân  
bằng bệnh lý là một cân bằng kém bền, thay đổi theo hướng hồi phục về cân bằng sinh  
lý (nếu cân bằng lệch về phòng ngự sinh lý) hoặc diễn tiến theo chiều hướng ngày càng  
trầm trọng để đi đến kết thúc là tử vong (nếu cân bằng nghiêng về hủy hoại bệnh lý).  
Tóm lại, yếu tố gây bệnh tác hại lên cơ thể sống làm rối loạn hoạt động bình  
thường kéo cơ thể về một chiều, phản ứng cơ thể qua sự phòng ngự, kéo cơ thể về chiều  
đối nghịch. Kết quả sẽ tạo ra một cân bằng mới kém bền vì, hoặc đưa đến hồi phục hoặc  
đi đến tử vong.  
Thái độ cần có: Tôn trọng cân bằng sinh lý. Điều trị là nhằm hạn chế những hiện  
tượng hủy hoại bệnh lý, tăng cường sự phòng ngự sinh lý nhằm đưa cơ thể bị bệnh sớm  
trở về lại cân bằng sinh lý bình thường.  
2.2. Bệnh giới hạn khả năng thích nghi của cơ thể  
Trong khi ngoại môi luôn luôn thay đổi mà nội môi lại đòi hỏi một sự hằng định  
để hoạt động. Tình trạng đó bắt buộc cơ thể bình thường phải luôn luôn tìm cách vận  
dụng những cơ chế thích nghi mạnh mẽ để đối phó lại với những thay đổi thường xuyên  
và đột ngột của môi trường và hoàn cảnh sống.  
Khi cơ thể bị bệnh, khả năng thích nghi vẫn còn song rõ ràng nó đã bị hạn chế  
rất nhiều. Ví dụ khả năng điều hòa nhiệt ở người bị sốt, khả năng điều hòa glucose máu  
trên những bệnh nhân xơ gan,...  
11  
Thái độ cần có: Xem trọng công tác phòng bệnh, khuyến khích việc rèn luyện  
thân thể (nhằm tăng sự thích nghi), bảo vệ khả năng thích nghi của cơ thể, hạn chế những  
kích thích quá mạnh.  
2.3. Bệnh hạn chế sinh hoạt bình thường  
- Con người là một động vật sống có tổ chức thành cộng đồng, xã hội. Do vậy,  
phải xem xét bệnh dưới góc cạnh này để thấy rằng: Bệnh làm giới hạn khả năng học tập,  
lao động, sáng tạo. Bệnh ảnh hưởng đến sinh hoạt cá nhân và làm tăng phí tổn của xã  
hội qua công tác y tế.  
- Thái độ cần có: Công tác phòng chống phải nhằm trước tiên vào những bệnh có  
tính chất xã hội, áp dụng phương châm phóng bệnh trong điều trị để trả bệnh nhân về  
sinh hoạt bình thường sớm và ưu tiên bảo tồn những cơ quan chức năng.  
- Tóm lại, một quan niệm đúng sai về bệnh sẽ quyết định thái độ đúng sai trong  
công tác đấu tranh chống lại bệnh tật. Cho nên khi quan niệm về bệnh, chỉ nên chú trọng  
đến những khái niệm có tính thực dụng hơn là những khái niệm mang nhiều tính chất  
triết lý nhưng lại có tác dụng tiêu cực, hạn chế việc ứng dụng trong thực tế.  
4. Cách xếp loại bệnh  
Có nhiều cách phân loại, trên thực tế người ta phân loại bệnh theo  
- Cơ quan mắc bệnh: bệnh tim, bệnh gan, bệnh thận,  
- Nguyên nhân gây bệnh: bệnh nhiễm khuẩn, bệnh nghề nghiệp,  
- Tuổi và giới: Bệnh sản phụ, bệnh nhi, bệnh tuổi già,  
- Sinh thái, địa dư: Bệnh xứ lạnh, bệnh nhiệt đới,  
- Bệnh sinh: bệnh dị ứng, bệnh tự miễn,  
5. Các thời kỳ của một bệnh  
Điển hình, một bệnh có thể trải qua 4 thời kỳ:  
- Thời kỳ ủ bệnh (tiềm tàng): không có biểu hiện lâm sàng. Nhiều bệnh cấp tính  
có thể không có thời kỳ này (bỏng, điện giật,).  
- Thời kỳ khởi phát: xuất hiện một số triệu chứng đầu tiên khó chẩn đoán chính xác  
(xét nghiệm có vai trò rất lớn)  
- Thời kỳ toàn phát: triệu chứng đầy đủ và điển hình nhất, tuy nhiên vẫn có những  
thể không điển hình.  
- Thời kỳ kết thúc: Có thể khác nhau tùy bệnh, tùy cá thể bệnh nhân: khỏi, chết,  
di chứng, trở thành mạn tính,  
6. Quá trình bệnh lý và trạng thái bệnh lý  
6.1. Quá trình bệnh lý:  
- Là một tập hợp các phản ứng tại chỗ và toàn thân trước tác nhân gây bệnh,  
diễn biến theo thời gian, dài hay ngắn là tùy sự tương quan giữa yếu tố gây bệnh và tính  
đề kháng của cơ thể.  
- Quá trình bệnh lý có thể vẫn diễn biến khi đã hết nguyên nhân. Ví dụ: Bỏng,  
viêm, sốt...  
12  
6.2. Trạng thái bệnh lý  
- Cũng là quá trình bệnh lý, nhưng diễn biến hết sức chậm (năm, thập kỷ), có khi  
được coi như không diễn biến.  
- Ví dụ: Một cánh tay bị liệt vĩnh viễn là một quá trình bệnh lý vì các cơ teo dần  
theo thời gian. Nhưng khi nó đã teo tối đa có thể được coi là trạng thái bệnh lý. Khi  
một sẹo đã hình thành đầy đủ cũng coi là một trạng thái bệnh lý.  
- Thường thì trạng thái bệnh lý là hậu quả của quá trình bệnh lý. Đôi khi trạng  
thái bệnh lý chuyển thành quá trình bệnh lý.  
LƯỢNG GIÁ  
1. Thế nào là một bệnh, thế nào là một quá trình bệnh lý? Cho ví dụ và ứng dụng thực  
tiễn?  
2. Thế nào là một trạng thái bệnh lý? Cho ví dụ?  
3. Tại sao: Bệnh có tính chất là một cân bằng kém bền vững? Cho ví dụ?  
4. Giải thích tại sao: Bệnh giới hạn khả năng thích nghi của cơ thể? Biện pháp và thái  
độ ứng xử cần và nên làm với người bệnh?  
13  
BÀI 3  
KHÁI NIỆM VỀ BỆNH NGUYÊN  
MỤC TIÊU :  
1. Trình bày được khái niệm về bệnh nguyên.  
2. Trình bày được mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh, quy  
luật nhân quả trong bệnh nguyên.  
3. Trình bày được nguyên nhân trong và ngoài của các loại bệnh nguyên.  
NỘI DUNG  
1. Khái niệm về bệnh nguyên  
Từ thời văn minh cổ đại, con người đã biết được nhiều nguyên nhân gây ra các  
bệnh khác nhau trong những điều kiện khác nhau, nhưng mãi đến thế kỷ XIX, Y học  
mới rút ra được một số quy luật tác động của ngyên nhân gây bệnh - môn bệnh nguyên  
học mới hình thành và phát triển, đóng góp ngày càng to lớn cho lý luận và thực tiễn  
phòng, chữa bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe con người.  
Paplop đã nói: “Vấn đề phát hiện những nguyên nhân gây bệnh là một vấn đề cơ  
bản trong y học và chỉ khi nào biết rõ những nguyên nhân ấy mới tiến hành điều trị được  
chính xác; hơn nữa mới ngăn ngừa chúng đột nhập vào cơ thể. Và điều này là quan trọng  
bậc nhất”.  
1.1. Định nghĩa  
Bệnh nguyên là môn học nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh và các điều kiện  
ảnh hưởng tới nguyên nhân trong phát sinh bệnh.  
Bệnh nguyên có vai trò quan trọng về lý luận và thực tiễn.  
- Về lý luận: nâng cao hiểu biết về bản chất, phương thức xâm nhập, cơ chế tác  
động, mối quan hệ giữa các yếu tố làm bệnh phát sinh để có phương hướng nghiên cứu  
và hành động.  
- Về thực tiễn: biết rõ nguyên nhân và các điều kiện gây bệnh thì đề ra được các  
biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả.  
1.2. Quan niệm chủ yếu trước đây về bệnh nguyên  
1.2.1. Thuyết nguyên nhân đơn thuần (một nguyên nhân)  
Thuyết này cho một bệnh là do một nguyên nhân quyết định và chỉ một nguyên  
nhân ấy thôi cũng đủ để gây ra bệnh. Thuyết nguyên nhân đơn thuần phát triển từ thời  
Pasteur và Kock phát hiện vi khuẩn là nguyên nhân gây nên một số bệnh. Phát hiện ấy  
làm cho giới nghiên cứu thời bấy giờ đi đến thái độ cực đoan, cho rằng vi khuẩn là  
nguyên nhân của mọi bệnh tật, có vi khuẩn là có bệnh. Thực tế chứng minh ngược lại  
rằng có nhiều bệnh không do vi khuẩn gây ra và có thể có sự hiện diện của vi khuẩn  
nhưng không xảy ra bệnh.  
14  
Thuyết này phiến diện vì đã quá chú trọng đến nguyên nhân mà tách cơ thể sống  
ra khỏi môi trường sống tức các điều kiện cho bệnh phát sinh.  
Thuyết cũng không đề cập đến cơ chế bảo vệ của cơ thể và phủ nhận các ảnh  
hưởng quan trọng khác trong bệnh nguyên học.  
1.2.2. Thuyết điều kiện gây bệnh  
- Ngược với thuyết nguyên nhân đơn thuần, thuyết điều kiện cho rằng bệnh phát  
sinh là do tác dụng tổng hợp của nhiều điều kiện khác nhau (trong đó có cả nguyên nhân)  
và chúng có tác dụng như nhau, không có điều kiện nào là chính, điều kiện nào là phụ  
cả. Do quan niệm đơn giản như trên, thuyết không phản ảnh được tính đặc hiệu của  
bệnh.  
- Thuyết này mang rất nhiều tính chất tiêu cực do nó đưa ra cùng một lúc nhiều  
điều kiện cần phải thỏa mãn thì mới giải quyết được vấn đề bệnh tật.  
- Do không phân biệt được nguyên nhân và điều kiện hoặc không phân biệt được  
vai trò của mỗi yếu tố trong quá trình gây bệnh nên có ảnh hưởng xấu đến công tác  
phòng bệnh và điều trị.  
1.2.3. Thuyết thể tạng  
Thuyết thể tạng cho nguyên nhân gây bệnh là do đặc điểm của cơ thể người bệnh,  
là do thể tạng (terrain = cơ địa) của họ, do di truyền. Cơ sở của thuyết này là từ thuyết  
di truyền máy móc, không kể đến các yếu tố ngoại cảnh, là cơ sở cho thuyết phân biệt  
chủng tộc và những quan niệm duy tâm về bệnh phát triển.  
Cũng giống như hai thuyết trên, thuyết này cũng phiến diện và tiêu cực vì nó cho  
rằng không thể làm gì được với một bệnh đã được "chương trình hóa" từ trước khi con  
người sinh ra.  
Tuy nhiên cũng cần chú ý phân biệt rằng: có trường hợp thể tạng là điều kiện  
thuận lợi cho bệnh phát triển, có trường hợp thể tạng chính là nguyên nhân của bệnh.  
2. Quan niệm hiện nay về bệnh nguyên  
2.1. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh  
- Nguyên nhân quyết định, điều kiện phát huy tác dụng của nguyên nhân.  
+ Không có nguyên nhân thì bệnh không thể phát sinh, có nguyên nhân nhưng  
thiếu điều kiện thì bệnh chưa phát sinh được.  
Ví dụ bệnh lao chỉ xuất hiện khi có sự hiện diện của vi trùng Koch, nhưng sự  
hiện diện của vi trùng Koch chưa đủ để gây ra bệnh nếu thiếu các điều kiện như suy  
giảm sức đề kháng của cơ thể, suy dinh dưỡng,...  
+ Nguyên nhân quyết định tính đặc hiệu của bệnh. Nguyên nhân và những điều  
kiện nhất định gây nên một bệnh gọi chung là các yếu tố bệnh nguyên.  
- Trong những hoàn cảnh nhất định, nguyên nhân có thể trở thành điều kiện.  
Trong hoàn cảnh này, yếu tố bệnh nguyên này đóng vai trò nguyên nhân nhưng trong  
hoàn cảnh khác cũng chính nó lại đóng vai trò điều kiện.  
Ví dụ ăn uống kém chất bổ dưỡng, thiếu vệ sinh là nguyên nhân dẫn đến suy dinh  
dưỡng nhưng lại là điều kiện làm dễ cho các bệnh nhiễm khuẩn xảy ra.  
15  
2.2. Quy luật nhân quả trong bệnh nguyên học  
- Mỗi hậu quả đều có nguyên nhân và nguyên nhân có trước hậu quả. Nếu xem  
bệnh là hậu quả thì phải có nguyên nhân nhất định nào đó tác động và nguyên nhân ấy  
đã tác động trước khi bệnh xảy ra.  
Quan niệm này có ý nghĩa quyết định luận trong bệnh lý học. Mặc dù trong y học  
hiện còn rất nhiều bệnh chưa rõ nguyên nhân, nhưng điều đó không có nghĩa là do những  
bệnh ấy không có nguyên nhân mà do trình độ khoa học chưa cho phép tìm ra nguyên  
nhân. Khoa học phát triển không ngừng, mỗi ngày cái chưa biết phải lùi dần nhường  
chỗ cho cái đã biết. Tin tưởng vào quyết định luận khoa học sẽ làm tăng tính tích cực  
nghiên cứu về nguyên nhân và các điều kiện gây bệnh, tránh được quan niệm duy tâm  
thần bí về bệnh.  
- Có nguyên nhân nhưng không nhất thiết có hậu quả nếu như không có điều kiện.  
Do tính chất phức tạp của hiện tượng sống, phản ứng tính của sinh vật phụ thuộc vào  
nhiều điều kiện (yếu tố gây bệnh thường là bên ngoài nên muôn hình muôn vẻ và yếu tố  
điều kiện thường là ở bên trong nên cực kỳ phức tạp) do vậy phản ứng tính thay đổi tùy  
theo từng cá thể mà ta thường gọi là yếu tố cơ địa. Vậy quy luật nhân quả đơn thuần  
không hoàn toàn đúng trong y học.  
- Cùng một nguyên nhân có thể có những hậu quả khác nhau tùy điều kiện cụ thể.  
Cùng một loại vi khuẩn nhưng tùy nơi tác dụng và tùy thuộc đáp ứng cơ thể mà hậu quả  
là bệnh cảnh có thể khác nhau. Người làm công tác phòng chống bệnh phải vận dụng sự  
hiểu biết của mình để từ những hậu quả khác biệt nhau đó tìm thấy được nguyên nhân  
hay nói cách khác phân biệt được hiện tượng (hậu quả) với bản chất (nguyên nhân)  
- Một hậu quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Viêm, sốt là những quá trình  
bệnh lý điển hình nhưng lại do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Đây chính là  
khó khăn của người cán bộ y tế trong việc chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Cần phải  
tìm hiểu vai trò của nguyên nhân và hậu quả trong những điều kiện cụ thể vật chất và  
tinh thần của người bệnh đặc biệt là những điều kiện xã hội vì không thể tách rời môi  
trường mà trong đó sự kiện xảy ra.  
Như vậy, khái niệm về bệnh nguyên học phải có tính chất toàn diện, nó nhìn nhận  
cả vai trò của nguyên nhân, điều kiện, thể tạng song mỗi yếu tố có tầm quan trọng và vị  
trí nhất định trong quá trình gây bệnh.  
Ngăn ngừa nguyên nhân, hạn chế tác dụng của điều kiện, tăng cường hoạt động  
tốt của thể tạng là toàn bộ sự tích cực của công tác điều trịvà dự phòng.  
2.3. Xếp loại bệnh nguyên  
2.3.1. Nguyên nhân bên ngoài  
- Yếu tố cơ học: chấn thương, sức ép  
- Yếu tố vật lý học: Nhiệt độ, tia phóng xạ, nước, dòng điện, áp suất, âm thanh,  
ánh sáng,…  
- Yếu tố hóa học: acid, kiềm, kim loại nặng, hóa chất độc hại (thuốc trừ sâu, thuốc  
diệt cỏ…  
16  
- Yếu tố sinh học: Các sinh vật từ đơn bào đến đa bào, rất nhiều loại có thể gây  
bệnh cho người. Có thể kể từ các loại thảo mộc như nấm đến các lọai như virus, vi khuẩn  
và ký sinh vật. Trong yếu tố sinh học đặc biệt phải kể đến yếu tố con người. Con người  
cũng là yếu tố bệnh nguyên thông qua yếu tố xã hội.  
- Yếu tố xã hội: Con người là một sinh vật tổ chức thành xã hội, có lao động, có  
tiến hóa, có mục đích đấu tranh với thiên nhiên để cải thiện cuộc sống. Thực vậy, vấn  
đề bệnh lý có liên quan chặt chẽ với sự tiến triển của xã hội, với tổ chức xã hội và với  
với yếu tố tâm lý xã hội.  
2.3.2. Nguyên nhân bên trong  
- Yếu tố di truyền: Bệnh di truyền  
- Yếu tố thể tạng: Thể tạng hay cơ địa là tổng hợp các đặc điểm chức năng và  
hình thái của cơ thể, hình thành nên trên cơ sở di truyền và quyết định phản ứng tính của  
cơ thể đối với tác nhân bên ngoài.  
LƯỢNG GIÁ  
1. Trong các thuyết về bệnh nguyên, anh/chị thấy thuyết nào có cơ sở khoa học hơn cả?  
Tại sao?  
2. Trình bày mối quan hệ giữa nguyên nhân gây bệnh và điều kiện gây bệnh?  
3. Trình bày mối quan hệ nhân quả trong bệnh nguyên học?  
17  
BÀI 4  
KHÁI NIỆM VỀ BỆNH SINH  
MỤC TIÊU  
1. Trình bày được vai trò của bệnh nguyên trong quá trình bệnh sinh  
2. Trình bày được các yếu tố của cơ thể ảnh hưởng đến quá trình bệnh sinh  
3. Giải thích được sự hình thành vòng xoắn bệnh lý và ý nghĩa thực tiễn  
4. Phân tích được những cách kết thúc quá trình bệnh sinh  
NỘI DUNG  
1. Khái niệm về bệnh sinh  
1.1. Định nghĩa  
Bênh sinh học (Pathogenesis) là môn học nghiên cứu về cơ chế phát sinh, phát  
triển, tiến triển và kết thúc của bệnh. Nếu như bệnh nguyên học là nhằm nghiên cứu  
bệnh tật do đâu mà có thì bệnh sinh học lại nghiên cứu bệnh tật xảy ra trong những  
trường hợp nào? yếu tố gây bệnh đã tác động lên cơ thể ra sao? quá trình bệnh lý diễn  
tiến như thế nào? tuân theo những quy luật gì?...  
Trong điều trị học, nếu biết được nguyên nhân để điều trị là tốt nhất nhưng nếu  
không biết được nguyên nhân thì điều trị theo cơ chế bệnh sinh cũng có thể giúp ngăn  
chặn sớm những phát triển xấu của bệnh và có thể giúp hạn chế được những tác hại của  
nó.  
Bệnh sinh liên quan chặt chẽ với bệnh nguyên. Diễn biến của bệnh phụ thuộc vào  
nhiều yếu tố, đáng chú ý nhất là: Yếu tố gây bệnh (bệnh nguyên) và tính phản ứng của  
cơ thể người bệnh.  
1.2. Vai trò của bệnh nguyên trong quá trình bệnh sinh  
Bệnh nguyên bao giờ cũng có trước, bệnh sinh xuất hiện sau.  
- Bệnh nguyên chỉ làm nhiệm vụ mở màn cho bệnh sinh xuất hiện. Khi bệnh đã  
phát sinh thì bệnh nguyên hết vai trò, bệnh sinh tự diễn biến và kết thúc. Ví dụ bỏng,  
chấn thương.  
- Bệnh nguyên tồn tại suốt quá trình bệnh sinh: Làm nhiệm vụ mở màn xong,  
bệnh nguyên lại tiếp tục đi cùng bệnh sinh cho đến khi kết thúc. Bệnh bị loại trừ khi yếu  
tố bệnh nguyên bị loại bỏ. Ví dụ bệnh do nhiễm độc, nhiễm khuẩn.  
Trong thực tế, có một số trường hợp bệnh nguyên vẫn tồn tại nhưng vô hiệu trước  
hệ thống phòng vệ của cơ thể (không gây bệnh cho người đó). Không biểu hiện thành  
bệnh nhưng yếu tố gây bệnh vẫn tồn lưu, đó là “người lành mang mầm bệnh” - là nguồn  
lây bệnh cho cộng đồng.  
Đặc tính của bệnh nguyên quyết định tính chất của bệnh sinh, quá diễn biến cũng  
như tình trạng bệnh phụ thuộc vào tính chất, liều lượng, cường độ, độc lực, nơi xâm  
nhập... của yếu tố gây bệnh.  
18  
- Số lượng, cường độ, độc lực: Yếu tố gây bệnh không những phải đủ số lượng,  
mật độ nhất định mà phải có cường độ, độc lực đủ mạnh tới một mức nào đó thì mới  
gây được bệnh.  
- Nơi xâm nhập, thời gian tác dụng của bệnh nguyên: Cùng một chất độc, cùng  
một loại vi khuẩn sẽ gây nên các bệnh cảnh khác nhau khi chúng xâm nhập vào các bộ  
phận khác nhau của cơ thể vì mỗi cơ quan bộ phận có phản ứng tính khác nhau.  
2. Vai trò của cơ thể trong quá trình bệnh sinh  
2.1. Phản ứng tính của cơ thể  
Phản ứng tính là một tập hợp các đặc điểm của cơ thể có khả năng đáp ứng đối  
với một kích thích. Có nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài chi phối tính phản ứng của  
cơ thể.  
* Những yếu tố dễ ảnh hưởng đến phản ứng tính:  
- Tuổi: "mỗi tuổi mỗi bệnh" là nhận xét phổ biến trong dân gian. Thực vậy, một  
số bệnh là đặc thù của tuổi: trẻ em dễ mắc sởi, ho gà, đậu mùa,...các bệnh tim mạch, ung  
thư thường gặp ở tuổi già.  
- Giới: một số bệnh thường gặp ở nam giới như loét dạ dày-tá tràng, nhồi máu cơ  
tim, ung thư phổi,... Ngược lại, hay gặp ở nữ các bệnh viêm túi mật, ung thư vú, u xơ  
hoặc ung thư tử cung, viêm phần phụ,... Điều này được giải thích do khác biệt về hoạt  
động thần kinh nội tiết hoặc do sự khác biệt về công việc làm, về sinh hoạt, thói quen  
hằng ngày, ...  
- Hoạt động thần kinh nội tiết: ảnh hưởng rõ đến phản ứng tính và qua đó ảnh  
hưởng đến quá trình bệnh sinh.  
+ Trên súc vật thí nghiệm khi gây hưng phấn thần kinh (bằng cafein hay  
phénamin) thì phản ứng viêm sẽ mạnh hơn so với các con vật bị ức chế thần kinh (bằng  
bromur).  
+ Ở người, vào những lúc có thay đổi hoạt động nội tiết như dậy thì, tiền mãn  
kinh,... thường thấy thay đổi tính tình và cả phản ứng đối với những yếu tố bệnh nguyên  
nữa.  
- Yếu tố tâm lý học: Lời nói, thái độ của những người xung quanh đặc biệt là của  
người cán bộ y tế ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến tâm lý người bệnh. Lời nói ân cần, thông  
cảm; thái độ nhẹ nhàng, lịch sự khi giao tiếp của cán bộ y tế làm cho người bệnh yên  
tâm, tin tưởng, bệnh sẽ mau lành, tăng khả năng chịu đựng của con người với bệnh tật.  
- Yếu tố môi trường: ngoại môi ảnh hưởng đến phản ứng tính qua những yếu tố  
như ánh sáng, nhiệt độ, áp lực, môi trường sống ... Ánh sáng quá mạnh, nhiệt độ cao  
làm cho thần kinh dễ hưng phấn. Tình trạng thiếu ăn, đặc biệt thiếu protid làm phản ứng  
sút kém, dễ nhiễm khuẩn. Ngày nay người ta chú ý đến nhịp sinh học của cơ thể vào các  
thời điểm trong ngày, tháng, năm để đưa thuốc vào cơ thể hoặc can thiệp phẫu thuật sao  
cho có hiệu quả cao nhất.  
- Yếu tố xã hội: Đời sống kinh tế, chế độ xã hội, trình độ văn hóa cũng ảnh hưởng  
đến cơ cấu và tình hình bệnh tật của quần thể dân cư.  
- Dinh dưỡng: Đói và dịch thường đi đôi với nhau.  
19  
2.2. Ảnh hưởng qua lại giữa toàn thân và tại chỗ trong bệnh sinh  
- Toàn thân và tại chỗ: toàn thân khỏe mạnh thì sức đề kháng cục bộ  
sẽ tốt, do đó yếu tố gây bệnh sẽ khó xâm nhập vào hoặc nếu có thì cũng nhanh chóng  
bị loại bỏ. Vết thương cục bộ sẽ chóng lành nếu người bệnh được cung cấp đầy đủ chất  
dinh dưỡng.  
- Tại chỗ và toàn thân: một tổn thương tại chỗ, gây nên bất cứ do yếu  
tố bệnh nguyên nào, xét cho cùng cũng sẽ ảnh hưởng đến toàn thân. Cho nên cần quan  
niệm rằng quá trình bệnh lý cục bộ là biểu hiện tại chổ của tình trạng bệnh lý toàn thân.  
- Vòng xoắn bệnh lý  
+ Trong quá trình phát triển, bệnh thường tiến triển qua nhiều giai đoạn gọi là  
khâu, những khâu đó liên tiếp theo một trình tự nhất định và có liên quan mật thiết với  
nhau. Khâu trước là tiền đề, tạo điều kiện cho khâu sau hình thành và phát triển cho đến  
khi bệnh kết thúc. Chính bệnh sinh học nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh của các khâu đó  
cũng như mối tương tác giữa chúng với nhau. Đặc biệt quan trọng là trong nhiều quá trình  
bệnh lý, các khâu sau thường tác động ngược trở lại khâu trước làm cho bệnh ngày càng  
nặng thêm gọi là vòng xoắn bệnh lý.  
+ Như vậy, trong quá trình bệnh sinh, nguyên nhân ban đầu thường gây ra một số  
hậu quả nhất định, những hậu quả này lại trở thành nguyên nhân của những rối loạn mới  
và có thể dẫn tới những hậu quả khác hoặc tác động ngược trở lại. Nhiệm vụ của người  
thầy thuốc là phải phát hiện những khâu chính để điều trị thích đáng nhằm ngăn chặn  
vòng xoắn hoặc cắt đứt vòng xoắn bệnh lý để loại trừ những rối loạn và phục hồi chức  
năng.  
3. Diễn biến của quá trình bệnh sinh  
3.1. Thời kỳ ủ bệnh  
Thời kỳ này bắt đầu từ khi nhân tố gây bệnh tác động lên cơ thể cho đến khi các  
triệu chứng bệnh lý đầu tiên xuất hiện. Trong thời kỳ này diễn ra cuộc đấu tranh tích cực  
giữa tác nhân gây bệnh và cơ thể sống, nhưng do khả năng thích ứng, phòng ngự của cơ  
thể còn mạnh nên chưa phát sinh rối loạn.  
Trong thời kỳ ủ bệnh, nếu sức đề kháng của cơ thể mạnh, tiêu diệt được yếu tố gây  
bệnh thì bệnh sẽ không phát sinh nữa. Thời kỳ ủ bệnh dài hay ngắn là tùy theo tứng loại  
bệnh, từ chỉ trong nháy mắt (dòng điện mạnh), đến vài phút (rắn độc cắn), đến vài ngày  
(sởi), hoặc vài tháng (bệnh dại), thậm chí có bệnh thời gian ủ bệnh đến vài năm (bệnh  
phong có thể đến 20 năm),...  
Thời kỳ ủ bệnh có ý nghĩa quan trọng trong công tác dự phòng và điều trị. Trong  
thời kỳ này do khả năng phòng ngự sinh lý tốt, khả năng thích nghi của cơ thể còn rộng  
nên chưa có biểu hiện rối loạn hoạt động ra bên ngoài. Rèn luyện là một phương pháp  
làm cho lề thích nghi đó rộng thêm ra và làm cho bệnh khó phát triển. Cũng trong thời  
kỳ nầy, có thể tiến hành công tác kiểm dịch, cách ly và tiêm chủng dự phòng. Nếu bệnh  
kết thúc trong giai đoạn nầy thì gọi là bệnh ở thể ẩn.  
3.2. Thời kỳ khởi phát  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 129 trang Thùy Anh 19161 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Sinh lý bệnh. Miễn dịch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsinh_ly_benh_mien_dich.pdf