Giáo trình Quản trị chất lượng

LỜI NÓI ĐẦU  
Tập bài giảng Quản trị chất lượng được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phục  
vụ công tác dạy và học học phần Quản trị chất lượng cho đối tượng là sinh viên đại  
học ngành Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định.  
Tập bài giảng được xây dựng với bố cục gồm 5 chương, được trình bày trên 200  
trang đánh máy, kết thúc mỗi chương có phần bài đọc thêm và câu hỏi ôn tập.  
Cách tiếp cận khi xây dựng tập bài giảng Quản trị chất lượng theo hướng khái  
quát hóa nội dung nhưng giảm thiểu tính hàn lâm trong trình bày, diễn đạt để phù hợp  
với đối tượng chính là sinh viên đại học ngành Quản trị kinh doanh của Trường Đại  
học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định.  
Trong quá trình xây dựng tập bài giảng, nhóm tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu;  
đặc biệt có sử dụng trích dẫn hoặc phát triển ý tưởng, nội dung của nhiều tác giả (nêu  
trong phần danh mục tài liệu tham khảo). Chúng tôi xin được sử dụng tài liệu của quý vị  
với vai trò là nền tảng cơ bản xây dựng tập bài giảng này nhằm góp phần phát triển  
những lý thuyết về Quản trị chất lượng đến gần với người đọc, người học hơn, tăng  
cường tính phổ biến về lý thuyết Quản trị chất lượng trong nền kinh tế thị trường.  
Cuối cùng, nhóm tác giả chúng tôi xin gửi những lời cám ơn trân trọng nhất tới  
các nhà nghiên cứu, các học giả, bạn bè, đồng nghiệp... đã cung cấp cho chúng tôi  
những tư liệu, những lời góp ý quý giá để chúng tôi hoàn thành tập bài giảng này.  
NHÓM TÁC GIẢ  
1
MỤC LỤC  
2
3
4
5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƢỢNG  
1.1. Chất lƣợng sản phẩm  
1.1.1. Sản phẩm và phân loại sản phẩm  
1.1.1.1. Khái niệm sản phẩm  
Trong nền kinh tế hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra để trao đổi trên thị trƣờng. Mỗi  
sản phẩm đƣợc sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định của ngƣời tiêu dùng.  
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và những tiến bộ kinh tế  
- xã hội, nhu cầu của con ngƣời về các loại sản phẩm ngày càng lớn về số lƣợng, đa  
dạng về chủng loại, mẫu mãvà yêu cầu cao hơn về chất lƣợng. Ngày nay, sản phẩm do  
các doanh nghiệp sản xuất ra không chỉ đáp ứng những yêu cầu về giá trị sử dụng vật  
chất mà về cả yếu tố tinh thần, văn hóa của ngƣời tiêu dùng. Theo ISO 9000:2000  
trong phần thuật ngữ thì sản phẩm đƣợc định nghĩa là "kết quả của các hoạt động hay  
các quá trình". Nhƣ vậy, sản phẩm đƣợc tạo ra từ tất cả mọi hoạt động bao gồm cả  
những hoạt động sản xuất ra vật phẩm vật chất cụ thể và các dịch vụ.  
Tất cả các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực củanền kinh tế quốc dân đều tạo ra  
hoặc cung cấp "sản phẩm" của mình cho xã hội. Hơn nữa bất kỳ một yếu tố vật chất  
hoặc một hoạt động nào do doanh nghiệp tạo ra nhằm đáp ứng những nhu cầu bên  
trong và bên ngoài doanh nghiệp đềuđƣợc gọi là sản phẩm. Quan niệm này đã phát  
triển khái niệm sản phẩm đến phạm vi rộng lớn hơn bao trùm mọi kết quả từ hoạt động  
của các doanh nghiệp không kể đƣợc tiêu dùng nội bộ hay bên ngoài doanh nghiệp.  
Sản phẩm đƣợc hình thành từ các thuộc tính vật chất hữu hình vàvô hình tƣơng  
ứng với 2 bộ phận cấu thành là phần cứng và phần mềm của sản phẩm.  
Phần cứng của sản phẩm là các thuộc tính vật chất hữu hình thể hiện dƣới một  
hình thức cụ thể rõ ràng bao gồm những vật thể bộ phận và những sản phẩm đƣợc lắp  
ráp, nguyên vật liệu đã chế biến. Các thuộc tính phần cứng phản ánh giá trị sử dụng  
khác nhau nhƣ chức năng, công dụng kỹ thuật, kinh tế của sản phẩm. Tính hữu ích của  
các thuộc tính sản phẩm này phụ thuộc rất chặt chẽ vào mức độ đầu tƣ của lao động và  
trình độ kỹ thuật sử dụng trong quá trình sảnxuất của các doanh nghiệp.  
Phần mềm của sản phẩm bao gồm các loại dịch vụ cung cấp cho khách hàng các  
yếu tố nhƣ thông tin, khái niệm các dịch vụ đi kèm…. Đáp ứng những nhu cầu tinh  
thần, tâm lý xã hội của khách hàng. Những yếu tố phần mềm của sản phẩm ngày càng  
thu hút sự chú ý của khách hàng nhiều hơn. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt nhƣ  
hiện nay, chính những yếu tố phần mềm lại tạo ra nhiều lợi thế cạnh trạnh khó sao  
chép hơn là những yếu tố phần cứng của sảnphẩm. Cấu trúc của một sản phẩm hoàn  
chỉnh có thể đƣợc biểu diễn khái quát theo sơ đồ sau:  
1
       
Phần cứng: Hữu hình  
* Vật thể bộ phận  
* Sản phẩm đƣợc lắp ráp  
* Nguyên vật liệu  
SẢN PHẨM  
Phần mềm: Vô hình  
* Các dịch vụ  
* Các khái niệm  
* Thông tin …  
Hình 1.1. Cấu trúc của một sản phẩm hoàn chỉnh  
1.1.1.2. Phân loại sản phẩm  
Trong cuộc sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất hàng ngày, con ngƣời sử dụng  
rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Nhu cầu của con ngƣời rất phức tạp và phát triển  
theo hƣớng ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Để thỏa mãn nhu cầu đa dạng đó  
của con ngƣời, các doanh nghiệp sản xuất ra hàng trăm nghìn loại sản phẩm với công  
dụng và chức năng tên gọi khác nhau. Để tạo điều kiện dễ dàng thuận lợi trong công  
tác quản trị và tổ chức sản xuất - kinh doanh trên thị trƣờng, ngƣời ta phân loại sản  
phẩm thành những nhóm khác nhau. Đối với doanh nghiệp, mỗi cách phân loại nhằm  
những mục đích riêng, tạo cơ sở cho việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kinh tế - kỹ  
thuật, cho công tác quản trị, bảo quản, vận chuyển và các hoạt động dịch vụ kèm theo  
thích hợp. Ở phạm vi nền kinh tế quốc dân, việc phân loại sản phẩm giúp các cơ quan  
quản lý Nhà nƣớc dễquản trị và có cơ sở để định hƣớng chính sách phát triển cơ cấu  
sản phẩm hợp lý trong từng thời kỳ.  
Có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại sản phẩm nhƣ phân loại theo chức năng,  
công dụng của sản phẩm, theo đặc điểm công nghệ sản xuất, theo nguyên liệu sử dụng,  
theo thành phần hoá học. Dƣới góc độ của quản trị chất lƣợng, ngƣời ta chỉ xem xét  
cách phân loại căn cứ vào công dụng chức năng của sản phẩm.  
Cách phân loại phổ biến nhất là căn cứ vào công dụng của sản phẩm. Trong số  
những sản phẩm có cùng công dụng, ngƣời ta lại có thể chia thành các nhóm sản phẩm  
dựa theo mục đích, lĩnh vực, đối tƣợng, điều kiện và thời gian sử dụng...  
Theo mục đích sử dụng, sản phẩm đƣợc chia làm ba loại: sản phẩm dùng để đáp  
ứng nhu cầu của sản xuất sản phẩm, để tiêu dùng và sản phẩm để bán. Mỗi doanh  
nghiệp phải có những giải pháp trọng tâm khác nhau để đảm bảo cho sản phẩm sản  
xuất ra phù hợp với mục đích và yêu cầu của ngƣời sử dụng. Trong nhóm sản phẩm  
tiêu dùng, căn cứ vào thời gian sử dụng lại chia thành các sản phẩm tiêu dùng  
thƣờngxuyên và sản phẩm lâu bền. Cứ nhƣ vậy, sự phân loại sản phẩm thành những  
2
 
nhóm nhỏ với những đòi hỏi cụ thể riêng biệt về giá trị sử dụng, yêu cầu bảo quản,  
quản trị...  
Những sản phẩm có cùng chức năng, công dụng đáp ứng một mục đích tiêu dùng  
nhất định lại do các doanh nghiệp khác nhau sản xuất và cung cấp. Để phục vụ công  
tác quản trị, phân biệt các loại sản phẩm có nguồn gốc sản xuất ra từ những đơn vị  
khác nhau, thông thƣờng các cơ quan quản trị nhà nƣớc về chất lƣợng yêu cầu mỗi  
doanh nghiệp phải sử dụng nhãn hiệu sản phẩm riêng biệt. Nhãn hiệu đƣợc đăng ký và  
thống nhất hoá, tiêu chuẩn hoá về quy cách và chất lƣợng và đƣợc bảo hộ nhãn hiệu  
khi đã đăng ký với cơ quan quản trị nhà nƣớc về chất lƣợng dùng để phân biệt hàng  
hoá cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau. Trên nhãn hiệu có ghi những thông tin  
cần thiết về chất lƣợng, số đăng ký, tiêu chuẩn chất lƣợng, các quy định về điều kiện  
và phạm vi sử dụng, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo hành nhằm bảo vệ ngƣời sản xuất  
cũng nhƣ ngƣời tiêu dùng. Các doanh nghiệp dùng nhãn hiệu hàng hoá là để cung cấp  
những thông tin cần thiết về sản phẩm và khẳng định chất lƣợng sản phẩm của mình  
trƣớc ngƣời tiêu dùng trên thị trƣờng.  
1.1.2. Chất lượng sản phẩm và vai trò của chất lượng sản phẩm  
1.1.2.1. Quan niệm chất lượng sản phẩm  
Khái niệm chất lƣợng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu, ngày nay đƣợc sử dụng phổ  
biến và rất thông dụng hằng ngày trong cuộc sống cũng nhƣ trong sách báo. Bất cứ ở  
đâu hay trong tài liệu nào, chúng ta đều thấy xuất hiện thuật ngữ chất lƣợng. Tuy  
nhiên, hiểu thế nào là chất lƣợng sản phẩmlại là vấnđể không đơn giản. Chất lƣợng sản  
phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật  
– kinh tế, xã hội. Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau  
về chất lƣợng sản phẩm. Mỗi khái niệm đều có những cơ sở khoa học nhằm giải quyết  
những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế. Đứng trên những góc độ khác nhau  
và tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể đƣa  
ra những quan niệm về chất lƣợng xuất phát từ ngƣời sản xuất, ngƣời tiêu dùng, từ sản  
phẩm hay từ đòi hỏi của thị trƣờng.  
Quan niệm siêu việt cho rằng chất lƣợng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của sản  
phẩm. Khi nói đến sản phẩm có chất lƣợng, ví dụ nói về ôtô ngƣời ta nghĩ ngay tới  
những xe nổi tiếng nhƣ Rolls -Royce, Mercedes... Quan niệm này mang tính triết học,  
trừu tƣợng, chất lƣợng không thể xác định một cách chính xác nên nó chỉ có ý nghĩa  
đơn thuần trong nghiên cứu.  
Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lƣợng sản phẩm đƣợc phản ánh  
bởi các thuộc tính đặc trƣng của sản phẩm đó. Chẳng hạn, theo quan niệm của Liên Xô  
(cũ) thì: "Chất lƣợng là tập hợp những tính chất của sản phẩm chế định tính thích hợp  
của sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu xác định phù hợp với công dụng của nó",  
3
   
hoặc một định nghĩa khác: "Chất lƣợng là một hệ thống đặc trƣng nội tại của sản phẩm  
đƣợc xác định bằng những thông sốcó thể đo đƣợc hoặc so sánh đƣợc, những thông số  
này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc giá trị sử dụng của nó". Quan niệm này đã đồng  
nghĩa chất lƣợng sản phẩm với số lƣợng cácthuộc tính hữu ích của sản phẩm. Tuy  
nhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhƣng không đƣợc ngƣời tiêu dùng  
đánh giá cao.  
Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lƣợng là sựhoàn hảo và phù hợp  
của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã xác định  
trƣớc. Định nghĩa này cụ thể, mang tính thực tế cao, đảm bảo nhằm mục đích sản xuất  
ra những sản phẩm đạt yêu cầu tiêu chuẩn đã đề ra từ trƣớc, tạo cơ sở thực tiễn cho các  
hoạt động điều chỉnh các chỉ tiêu chất lƣợng. Tuy nhiên, quan niệm chất lƣợng này chỉ  
phản ánh mối quan tâm của ngƣời sản xuất đến việc đạt đƣợc những chỉ tiêu chất  
lƣợng đặt ra. Chẳng hạn, chất lƣợng đƣợc định nghĩa là tổng hợp những tính chất đặc  
trƣng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn những yêu cầu định trƣớc cho nó trong  
điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.  
Trong nền kinh tế thị trƣờng, ngƣời ta đƣa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về  
chất lƣợng sản phẩm. Những khái niệm chất lƣợng này xuất phát và gắn bó chặt chẽ  
với các yếu tố cơ bản của thị trƣờng nhƣ nhu cầu, cạnh tranh, giá cả... Có thể gọi  
chúng dƣới một nhóm chung là quan niệm "chất lƣợng hƣớng theo thị trƣờng". Đại  
diện cho những quan niệm này là những khái niệm chất lƣợng sản phẩm của các  
chuyên gia quản trị chất lƣợng hàng đầu thế giới nhƣ W. Edwards Deming và Joseph  
Juran ở Nhật Bản, Philip Crosby ở Mỹ… Trong nhóm quan niệm này lại có các cách  
tiếp cận khác nhau.  
Xuất phát từ ngƣời tiêu dùng, chất lƣợng đƣợc định nghĩa là sự phù hợp của sản  
phẩm với mục đích sử dụng của ngƣời tiêu dùng. Chẳng hạn, trong cuốn "Chất lƣợng  
là thứ cho không”, Philip Crosby định nghĩa: "Chất lƣợng là sự phù hợp với yêu cầu”.  
Theo ông đây là yêu cầu của ngƣời tiêu dùng và ngƣời sản xuất; hay theo tiến sỹ W.  
Edwards Deming thì: "Chất lƣợng là sự phù hợp với mục đích sử dụng"…  
Xuất phát từ một giá trị, chất lƣợng đƣợc hiểu là đại lƣợng đo bằng tỷ số giữa lợi  
ích thu đƣợc từ tiêu dùng sản phẩm với chi phi phải bỏ ra để đạt dƣợc lợi ích đó. Theo  
quan niệm này, nhiều định nghĩa đƣợc đặt ra, chẳng hạn: "Chất lƣợng là cung cấp  
những sản phẩm và dịch vụ ở giá mà khách hàng chấp nhận"; hoặc "Chất lƣợng là cái  
mà khách hàng phải trả đúng với cái họ nhận đƣợc"; hoặc theo A.P. Viavilov, một  
chuyên gia quản trị chất lƣợng của Liên Xô (cũ) thì: "Chất lƣợng là một tập hợp những  
tính chất của sản phẩm chứa đựng mức độ thích ứng của nó để thỏa mãn những nhu  
cầu nhất định theo công dụng của nó với những chi phí xã hội cần thiết".  
4
Xuất phát từ tính cạnh tranh của sản phẩm, chất lƣợng cung cấp những thuộc tính  
mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt nó với sản phẩm cùng loại trên thị trƣờng.  
Ngoài những quan niệm này, trong nền kinh tế thị trƣờng, ngƣời ta còn đƣa ra  
nhiều định nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào phục vụ những mục đích cụ thể nhằm duy  
trì và phát triển thị trƣờng hay sự cải tiến không ngừng chất lƣợng sản phẩm.  
Những quan niệm hƣớng theo thị trƣờng đƣợc đa số các nhà nghiên cứu và các  
doanh nhân tán đồng vì nó phản ánh đúng nhu cầu đích thực của ngƣời tiêu dùng, giúp  
doanh nghiệp đạt đƣợc mục tiêu thỏa mãn khách hàng, củng cố đƣợc thị trƣờng và giữ  
đƣợc thành công lâu dài.  
Ngày nay ngƣời ta thƣờng nói đến chất lƣợng tổng hợp bao gồm chất lƣợng sản  
phẩm, chất lƣợng dịch vụ sau khi bán và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc mức chất lƣợng đó.  
Quan niệm này đặt chất lƣợng sản phẩm trong mối quan niệm chặt chẽ với chất lƣợng  
của dịch vụ, chất lƣợng các điều kiện giao hàng và hiệu quả của việc sử dụng các  
nguồn lực.  
Để giúp cho hoạt động quản trị chất lƣợng trong các doanh nghiệp đƣợc thống  
nhất, dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO  
9000, phần thuật ngữ ISO 9000 đã đƣa ra định nghĩa chất lƣợng: "Chất lƣợng là mức  
độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu". Yêu cầu có nghĩa  
là những nhu cầu hay mong đợi đƣợc nêu ra hay tiềm ẩn. Do tác dụng thực tế của nó,  
nên định nghĩa này đƣợc chấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinh doanh  
quốc tế ngày nay. Định nghĩa chất lƣợng trong ISO 9000 là thể hiện sự thống nhất  
giữa các thuộc tính nội tại khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan  
của khách hàng.  
1.1.2.2. Các thuộc tính chất lượng sản phẩm  
Mỗi sản phẩm đều cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính có giá trị sử dụng khác  
nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời. Chất lƣợng của các thuộc tính này phản  
ánh mức độ chất lƣợng đạt đƣợc của sản phẩm đó. Mỗi thuộc tính chất lƣợng của sản  
phẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản ánh khả  
năng đáp ứng nhu cẩu của ngƣời tiêu dùng. Các thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với  
nhau tạo ra một mức độ chất lƣợng nhất định của sản phẩm. Đối với những nhóm sản  
phẩm khác nhau, những yêu cầu về thuộc tính chất lƣợng cũng khác nhau. Tuy nhiên  
những thuộc tính chung nhất phản ánh chất lƣợng sản phẩm gồm:  
Các thuộc tính kỹ thuật phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm. Nhóm này  
đặc trƣng cho các thuộc tính xác định chức năng tác dụng chủ yếu của sản phẩm đƣợc  
quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và đặc tính về cơ, lý, hóa  
của sản phẩm. Các yếu tố này đƣợc thiết kế theo những tổ hợp khác nhau tạo ra chức  
5
 
năng đặc trƣng cho hoạt động của sản phẩm và hiệu quả của quá trình sửdụng sản  
phẩm đó.  
Các yếu tố thẩmmỹ đặc trƣng cho sự truyền cảm, sự hợp lývề hình thức, dáng vẻ,  
kết cấu, kích thƣớc, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc, trang trí, tính thời trang.  
Tuổi thọ của sản phẩm: Đây là yếu tố đặc trƣng cho tính chất của sản phẩm giữ  
đƣợc khả năng làm việc bình thƣờng theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian  
nhất định trên cơsở đảm bảo đúng các yêu cầu về mục đích, điều kiện sử dụng và chế  
độ bảo dƣỡng quy định. Tuổi thọ là một yếu tố quan trọng trong quyết định lựa chọn  
mua hàng của ngƣời tiêu dùng.  
Độ tin cậy của sản phẩm: Độ tin cậy đƣợc coi là một trong những yếu tố quan  
trọng nhất phản ánhchất lƣợng của một sản phẩm và đảm bảo cho doanh nghiệp có khả  
năng duy trì và phát triển thị trƣờng của mình.  
Độ an toàn của sản phẩm: Những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng, vận hành sản  
phẩm, an toàn đối với sức khỏe ngƣời tiêu dùng và môi trƣờng là yếu tố tất yếu, bắt  
buộc phải có đối với mỗi sản phẩm trong điều kiện tiêu dùng hiện nay. Thuộc tính này  
đặc biệt quan trọng đối với những sản phẩmtrực tiếp ảnh hƣởng đến sức khoẻ ngƣời  
tiêu dùng nhƣ các đồ thực phẩm ăn uống, thuốc chữa bệnh... Khi thiết kế sản phẩm  
luôn phải coi đây là thuộc tính cơ bản không thể thiếu đƣợc của một sản phẩm.  
Mức độ gâyô nhiễm của sản phẩm. Cũng giống nhự độ an toàn, mức độ gây ô  
nhiễm đƣợc coi là một yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất phải tuân thủ khi đƣa sản  
phẩm của mình ra thị trƣờng.  
Tính tiện dụng: phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận chuyển, bảo  
quản, dễ sử dụng của sản phẩm và khả năng thay thế khi có những bộ phận bị hỏng.  
Tính kinh tế của sản phẩm: Đây là yếu tố quan trọng đối với những sản phẩm khi  
sử dụng có tiêu hao nguyên liệu, năng lƣợng. Tiết kiệm nguyên liệu, năng lƣợng trong  
sử dụng trở thành một trong những yếu tố quan trọng phản ánh chất lƣợng và khả năng  
cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trƣờng.  
Ngoài những thuộc tính hữu hình có thể đánh giá cụ thể mức chất lƣợng sản  
phẩm, còn có các thuộc tính vô hình khác không biểu hiện một cách cụ thể dƣới dạng  
vật chất nhƣng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với khách hàng khi đánh giá chất  
lƣợng của một sản phẩm. Ngày nay, những dịch vụ đi kèm sản phẩm, đặc biệt là dịch  
vụ sau khi bán đang trở thành một trong những thuộc tính quan trọng trong thành phần  
của chất lƣợng sản phẩm. Trong nhiều trƣờng hợp, chúng đóng vai trò cơ bản cho sự  
thành công của các doanhnghiệp trên thị trƣờng. Tên, nhãn hiệu, danh tiếng, uy tín của  
sản phẩm đƣợc coi nhƣ yếu tố chất lƣợng vô hình tácđộnglên tâm lý lựa chọn của  
khách hàng, thu hút sự chú ý và kích thích ham muốn mua hàng của họ.  
6
Nhƣ vậy, chất lƣợng sản phẩm đƣợc tạo ra bởi toàn bộ thuộc tính của sản phẩm  
có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất hữu hình và vô hình của ngƣời tiêu dùng.  
Chúng phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ phù hợp của từng thuộc tính chất lƣợng với  
những yêu cầu và sự tác động tổng hợp của các thuộc tính này. Mỗi thuộc tính có tầm  
quan trọng khác nhau tuỳ thuộc vào loại sản phẩm, mục đích và yêu cầu sử dụng của  
ngƣời tiêu dùng. Trách nhiệm của các doanh nghiệp là xác định đƣợc mức chất lƣợng  
tổng hợp giữa các thuộc tính này một cách hợp lý nhất đối với từng loại sản phẩm.  
1.1.2.3. Các yêu cầu và đặc điểm của chất lượng sản phẩm  
Chất lƣợng sản phẩm là một khái niệm phức tạp và tổng hợp cần đƣợc xem xét  
đánh giá một cách đầy đủ, thận trọng. Chất lƣợng sản phẩm chính là kết quả của sự  
phối hợp thống nhất giữa lao động với các yếu tố công nghệ, kỹ thuật, kinh tế và văn  
hoá xã hội. Bao hàm trong chất lƣợng là một tập hợp các thuộc tính thể hiện thông qua  
các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đặc trƣng phù hợp với môi trƣờng xã hội và trình độ phát  
triển công nghệ trong từng thời kỳ. Trƣớc hết, chất lƣợng là khả năng đáp ứng các yêu  
cầu về chức năng kỹ thuật phản ánh giá trị sử dụng mà sản phẩm có thể đạt đƣợc. Các  
thuộc tính chất lƣợng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều thành phần, bộ phận  
hợp thành nhƣ nguyên, nhiên, vật liệu, máy móc thiết bị, lao động sống, công nghệ kỹ  
thuật. Chất lƣợng không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật củasản phẩm mà còn phản ánh  
trình độ, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nƣớc, mỗi khu vực trong từng  
thời kỳ. Vì vậy, cần đặt chất lƣợng sản phẩm trong mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố  
ảnh hƣởng đến nó.  
Sản phẩm khi đƣa ra thị trƣờng, trở thành hàng hoá phải thỏa mãn đƣợc khách  
hàng về cả hai mặt giá trị sử dụng và giá trị. Xuất phát từ bản chất của sản phẩm luôn  
có hai đặc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng phản ánh công dụng cụ thể  
của sản phẩm và chính công dụng này làm nên tính hữu ích của nó. Ngƣời tiêu dùng  
mua sản phẩm trƣớc hết vì chúng có giá trị sử dụng thỏa mãn mục đích yêu cầu của  
họ. Chính vì vậy, trƣớc đây khi nói đến chất lƣợng, các doanh nghiệp thƣờng ít chú ý  
mặt giá trị của sản phẩm nên dễ xảy ra tình trạng ngƣời sản xuất chỉ lo làm ra sản  
phẩm không thỏa mãn đƣợc yêu cầu của khách hàng về mặt kinh tế. Sản phẩm không  
tiêu thụ đƣợc bị ứ đọng. Do đó, khi nói chất lƣợng sản phẩm không thể chỉ nói đến giá  
trị sửdụng của sản phẩm mà phải đề cập đến cả mặt giá trị và các dich vụ khác có liên  
quan trực tiếp đến sản phẩm.  
Chất lƣợng sản phẩm đƣợc hình thành trong tất cả mọi hoạt động, mọi quá trình  
tạo ra sản phẩm. Chất lƣợng sản phẩm phải đƣợc xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ,  
thống nhất giữa các quá trình trƣớc, trong và sau sản xuất: nghiên cứu thiết kế, chuẩn  
bị sản xuất, sản xuất và sửdụng sản phẩm. Phải đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng  
yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và công nghệ liên quan đến mọi  
7
 
hoạt động trong toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh. Các yếu tố tác  
động đến chất lƣợng mang tính nhiều vẻ, có yếu tố bên trong và bên ngoài, có yếu tố  
trực tiếp và gián tiếp, nguyên nhân và kết quả.  
Chất lƣợng sản phẩm có tính tƣơng đối cần đƣợc xem xét trong mối quan hệ chặt  
chẽ với thời gian và không gian. Chất lƣợng sản phẩm không ở trạng thái cố định, mà  
thay đổi theo từng thời kỳ phụ thuộc vào sự biến động của các yếu tố sản xuất của  
khoa học - công nghệ và tiến bộ kỹ thuật và yêu cầu của từng thị trƣờng. Trên những  
thị trƣờng khác nhau có những yêu cầu chất lƣợng khác nhau đối với cùng một loại  
sản phẩm. Chất lƣợng sản phẩm cần phải xem xét trong mốiquan hệ chặt chẽ với điều  
kiện và môi trƣờng kinh doanh, tình hình và khả năng phát triển kinh tế xã hội và công  
nghệ trong mỗi thời kỳ và của từng nƣớc, từng khu vực thị trƣờng cụ thể.  
Chất lƣợng cần đƣợc đánh giá trên cả hai mặt chủ quan và khách quan. Tính chủ  
quan của chất lƣợng thể hiện thông qua chất lƣợng trong sự phù hợp hay còn gọi chất  
lƣợng thiết kế. Đó là mức độ phù hợp của thiết kế đối với nhu cầu của khách hàng. Nó  
phản ánh nhận thức của khách hàng về chất lƣợng sản phẩm. Nâng cao loại chất lƣợng  
này có ảnh hƣởng trực tiếp đến tăng khả năng tiêu thụ của sản phẩm. Tính khách quan  
thể hiện thông qua các thuộc tính vốn có trong từng sản phẩm. Nhờ tính khách quan  
này chất lƣợng có thể đo lƣờng đánh giá thông qua các tiêu chuẩn, chỉ tiêu cụ thể. Tính  
khách quan của chất lƣợng thể hiện thông qua chất lƣợng tuân thủ thiết kế. Đó là mức  
độ phù hợp của các đăc tính chất lƣợng sản phẩm so với tiêu chuẩn thiết kế đặt ra.  
Loại chất lƣợng này phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất đăc điểm và trình độ công nghệ,  
trình độ tổ chức quản trị, sảnxuất của các doanh nghiệp. Nâng cao chất lƣợng loại này  
giúp doanh nghiệp giảm chi phí chất lƣợng.  
Chất lƣợng sản phẩm chỉ thể hiện đúng trong những điều kiện tiêu dùng xác định  
phù hợp với mục đích tiêu dùng cụ thể. Không thể có chất lƣợng sản phẩm chung cho  
tất cả mọi điều kiện, mọi đối tƣợng. Đặc điểm này đòi hỏi việc cung cấp những thông  
tin cần thiết về sản phẩm cho ngƣời tiêu dùng là một trong những yêu cầu không thể  
thiếu đƣợc đối với các nhà sản xuất.  
1.1.2.4. Vai trò của chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh  
Trong môi trƣờng phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành một  
yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi  
doanh nghiệp. Theo M.E. Poter (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp  
đƣợc thể hiện thông qua hai chiến lƣợc cơ bản là phân biệt hoá sản phẩm và chi phí  
thấp. Chất lƣợng sản phẩm trở thành một trong những chiến lƣợc quan trọng nhất làm  
tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Xu thế toàn cầu hoá mở ra thị trƣờng rộng  
lớn hơn nhƣng cũng làm tăng thêm lƣợng cung trên thị trƣờng. Ngƣời tiêu dùng có  
quyển lựa chọn nhà sản xuất, cung ứng một cách rộng rãi hơn. Yêu cầu về chất lƣợng  
8
 
của thị trƣờng nƣớc ngoài rất khắt khe. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp  
nƣớc ngoài rất lớn, chất lƣợng sản phẩm cao, chi phí sản xuất hợp lý. Tình hình đó đặt  
ra những thách thức to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tham gia thị  
trƣờng thế giới. Chất lƣợng sản phẩm sẽ là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất cho sự  
tham gia của sảnphẩm Việt Nam vào thị trƣờng quốc tế và nâng cao khả năng cạnh  
tranh của các doanh nghiệp nƣớc ta.  
Chất lƣợng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút ngƣời mua. Mỗi sản phẩm có rất  
nhiều các thuộc tính chất lƣợng khác nhau. Các thuộc tính này đƣợc coi là một trong  
những yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.Khách hàng  
hƣớng quyết định lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm có các thuộc tính phù hợp  
với sở thích, nhu cầu và khả năng, điều kiện sử dụng của mình. Họ so sánh các sản  
phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng nào có những thuộc tính kinh tế - kỹ thuật thỏa  
mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy, sản phẩm có các thuộc tính chất  
lƣợng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định lựa chọn mua hàng và  
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.  
Khi sản phẩm chất lƣợng cao, ổn định, đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng sẽ  
tạo ra một biểu tƣợng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào nhãn mác của sản phẩm.  
Nhờ đó uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp đƣợc nâng cao, có tác động lớn đến  
quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng. Nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên  
thị trƣờng nhờ chất lƣợng cao là cơ sở cho khả năng duy trì và mở rộng thị trƣờng, tạo  
sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.  
Trong nhiều trƣờng hợp nâng cao chất lƣợng sản phẩm có ý nghĩa tƣơng đƣơng  
với tăng năng suất lao động xã hội. Giá trị sử dụng, lợi ích kinh tế - xã hội trên một  
đơn vị chi phí đầu vào tăng lên, tiết kiệm các nguồn lực cho sản xuất. Nhƣ vậy, chất  
lƣợng và năng suất là hai khái niệm đồng hƣớng. Với cùng một đơn vị nguồn lực đầu  
tƣ cho quá trình sản xuất, doanh nghiệp thu hút đƣợc nhiều hàng hóa hơn hoặc với giá  
trị sử dụng cao hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của ngƣời tiêu dùng.  
Đối với những sản phẩm là công cụ, phƣơng tiện sản xuất hoặc tiêu dùng có sử  
dụng nguyên liệu, năng lƣợng trong quá trình tiêu dùng thì chi phí trong vận hành khai  
thác sản phẩm là một thuộc tính chất lƣợng rất quan trọng. Sản phẩm càng hoàn thiện,  
chất lƣợng càng cao thì mức tiêu hao nguyên liệu năng lƣợng trong sử dụng càng ít. Cải  
tiến, nâng cao chất lƣợng sẽ góp phần tiết kiệm chi phí trong sản xuất và tiêu dùng sản  
phẩm. Mặt khác, tính hiện đại của sản phẩm cũng tạo điều kiện giảm phế thải trong quá  
trình sản xuất và tiêu dùng, nhờ đó giảm đƣợc các nguồn ô nhiễm môi trƣờng.  
Nâng cao chất lƣợng còn giúp cho ngƣời tiêu dùng tiết kiệm đƣợc thời gian và  
sức lực khi sử dụng sản phẩm do các doanh nghiệp cung cấp. Nó tạo cho ngƣời tiêu  
dùng những tiện lợi hơn và đƣợc đáp ứng nhanh hơn, đầy đủ hơn. Suy cho cùng đó là  
9
những lợi ích mà mục tiêu của việc sản xuất và cung cấp sản phẩm đƣa lại cho con  
ngƣời. Bởi vậy, chất lƣợng đã và luôn là yếu tố quan trọng số một đối với các doanh  
nghiệp và ngƣời tiêu dùng.  
Nâng cao chất lƣợng là giải pháp quan trọng tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm,  
tăng doanh thu và lợi nhuận, trên cơ sở đó đảm bảo kết hợp thống nhất các loại lợi ích  
trong doanh nghiệp và xã hội,tạo động lực phát triển cho mỗi doanh nghiệp. Nhờ đảm  
bảo, duy trì và nâng cao chất lƣợng, các doanh nghiệp, chủ sở hữu, ngƣời lao động,  
ngƣời tiêu dùng và toàn xã hội đều thu đƣợc những lợi ích thiết thực. Doanh nghiệp  
tăng khả năng cạnh tranh, phát triển thị trƣờng, mở rộng sản xuất, tạo việc làm và thu  
nhập ổn định cho ngƣời lao động; ngƣời tiêu dùng thỏa mãn nhu cầu với chi phí hợp  
lý; chủ sở hữu có nguồn thu tăng và cuối cùng là Nhà nƣớc tăng ngân sách và giải  
quyết những vấn đề xã hội.  
Tóm lại, trong điều kiện hiện nay, nâng cao chất lƣợng sản phẩm là cơ sở quan  
trọng cho việc đẩy mạnh quá trình hội nhập, giao lƣu kinh tế và mở rộng trao đổi  
thƣơng mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam. Chất lƣợng sản phẩm có ý nghĩa  
quyết định đến nâng cao khả năng cạnh tranh, khẳng định vị thế của sản phẩm hàng  
hoá Việt Nam và sức mạnh kinh tế của đất nƣớc trên thị trƣờng thế giới.  
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm  
Chất lƣợng sản phẩm đƣợc tạo ra trong toàn bộ chu kỳ sản xuất kinh doanh của  
các doanh nghiệp, bắt đầu từ khâu thiết kế sản phẩm tới các khâu tổ chức mua sắm  
nguyên vật liệu, triển khai quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Do tính chất  
phức tạp và tổng hợp của khái niệm chất lƣợng nên việc tạo ra và hoàn thiện chất  
lƣợng sản phẩm chịu tác động củarất nhiều các nhân tố thuộc môi trƣờng kinh doanh  
bên ngoài và những nhân tố bên trong của doanh nghiệp. Các nhân tố này có mối quan  
hệ chặt chẽ ràng buộc với nhau, tạo ra tác động tổng hợp đến chất lƣợng sản phẩm do  
các doanh nghiệp sản xuất ra.  
1.1.3.1. Những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài  
a. Tình hình phát triển kinh tế thế giới  
Những thay đổi gần đây trên toàn thế giới đã tạo ra những thách thức mới trong  
kinh doanh khiến các doanh nghiệp nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của chất lƣợng  
trong những năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI. Chất lƣợng đã trở  
thành ngôn ngữ phổ biến chung trên toàn cầu. Những đặc điểm của giai đoạn ngày nay  
đã đặt các doanh nghiệp phải quan tâm tới vấn đề chất lƣợng là:  
Xu hƣớng toàn cầu hóa với sự tham gia hội nhập của doanh nghiệp vào nền kinh  
tế thế giới của mọi quốc gia: Đẩy mạnh tự do thƣơng mại quốc tế.  
10  
   
Thị trƣờng  
Khoa  
học công  
nghệ  
Kinh tế  
thế giới  
Thỏa mãn khách hàng  
Quản trị  
Cơ chế  
chính  
sách  
Văn hóa  
xã hội  
Hình 1.2: Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng  
Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học – công nghệ, đặc biệt là sự phát  
triển của công nghệ thông tin đã làm thay đổi nhiều cách tƣ duy cũ và đòi hỏi các  
doanh nghiệp phải có khả năng thích ứng.  
Sự thay đổi nhanh chóng của những tiến bộ xã hội với vai trò của khách hàng  
ngày cang cao.  
Cạnh tranh tăng lên gay gắt cùng với sự bão hòa của thị trƣờng.  
Vai trò của các lợi thế về năng suất chất lƣợng đang trở thành hàng đầu.  
Các cuộc khảo sát cho thấy các công ty thành công trên thị trƣờng là những  
doanh nghiêp đã nhận thức và giải quyết tốt bài toán chất lƣợng. Sản phẩm, dịch vụ  
sản xuất ra thỏa mãn khách hàng trong nƣớc và quốc tế. Nhiều doanh nghiệp đã tạo ra  
lợi thế độc quyền trong chất lƣợng về cạnh tranh. Đây là chìa khóa đảm bảo cho sự  
phát triển lâu dài, bền vững của các doanh nghiệp. Trong những năm vừa qua, các  
công ty Nhật Bản là những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực chất lƣợng. Sản  
phẩm của các công ty Nhật Bản đã đƣợc toàn thế giới tiếp nhận và đánh giá cao. Khả  
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhật Bản là rất lớn không chỉ về chất lƣợng sản  
phẩm mà còn ở giá cả hợp lý. Các doanh nghiêp trên thế giới không có con đƣờng nào  
khác là chấp nhận cạnh tranh. Những yếu tố hội nhập trên đây có tác động toàn diện  
sâu sắc đến chất lƣợng do các doanh nghiệp sản xuất ra.  
b. Tình hình thị trường  
Đây là nhân tố quan trọng nhất, là xuất phát điểm, tạo lực hút định hƣớng cho sự  
phát triển chất lƣợng sản phẩm. Sản phẩm chỉ có thể tồn tại khi nó đáp ứng đƣợc  
những mong đợi của khách hàng. Xu hƣớng phát triển và hoàn thiện chất lƣợng sản  
11  
phẩm phụ thuộc vào đặc điểm và xu hƣớng vận động của nhu cầu thị trƣờng. Nhu cầu  
càng phong phú, đa dạng và thay đổi nhanh càng cần hoàn thiện chất lƣợng để thích  
ứng kịp thời đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng. Yêu cầu về mức chất lƣợng đạt  
đƣợc của sản phẩm phải phản ánh đƣợc đặc điểm, tính chất của nhu cầu. Đến lƣợt  
mình, nhu cầu lại phụ thuộc vào tình trạng kinh tế, khả năng thanh toán, trình độ nhận  
thức, thói quen, truyền thống, phong tục tập quán, văn hoá, lối sống, và mục đích sử  
dụng sản phẩm của khách hàng. Xác định đúng nhu cầu, cấu trúc, đặc điểm và xu  
hƣớng vận động của nhu cầu là căn cứ đầu tiên, quan trọng nhất đến hƣớng phát triển  
chất lƣợng của sản phẩm.  
c. Trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ  
Trình độ chất lƣợng của sản phẩm không thể vƣợt quá giới hạn khả năng của  
trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ cùa một giai đoạn lịch sử nhất định. Chất lƣợng  
sản phẩm trƣớc hết thể hiện ở những đặc trƣng về trình độ kỹ thuật tạo ra sản phẩm đó.  
Các chỉ tiêu kỹ thuật này lại phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật, công nghệ sử dụng để tạo  
ra sản phẩm. Đây là giới hạn cao nhất mà chất lƣợng sản phẩm có thể đạt đƣợc. Tiến  
bộ khoa học - công nghệ tạo ra khả năng không ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm.  
Tác động của tiến bộ khoa học công nghệ là không có giới hạn, nhờ đó mà sản phẩm  
sản xuất ra luôn có các thuộc tính chất lƣợng với những chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật ngày  
càng hoàn thiện, mức thỏa mãn nhu cầu ngƣời tiêu dùng ngày càng tốt hơn.  
Tiến bộ khoa học - công nghệ tạo phƣơng tiện điều tra, nghiên cứu khoa học  
chính xác hơn, xác định đúng đắn nhu cầu và biến đổi nhu cầu thành đặc điểm sản  
phẩm chính xác hơn nhờ trang bị những thiết bị đo lƣờng, dự báo,thí nghiệm, thiết kế  
tốt hơn, hiện đại hơn.  
Công nghệ, thiết bị mới ứng dụng trong sản xuất giúp nâng cao các chỉ tiêu kinh  
tế - kỹ thuật của sản phẩm.  
Nhờ tiến bộ khoa học - công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên liệu mới tốt  
hơn, rẻ hơn nguồn nguyên liệu có sẵn.  
Khoa học quản trị phát triển hình thành những phƣơng pháp quản trị tiên tiến  
hiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn nhu cầu khách hàng và giảm chi  
phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tăng mức thỏa mãn khách hàng.  
d. Cơ chế, chính sách quản trị kinh tế của các quốc gia  
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trƣờng kinh doanh  
nhất định, trong đó môi trƣờng pháp lý kinh tế có tác động trực tiếp và to lớn đến việc  
tạo ra và nâng cao chất lƣợng sản phẩm của các doanh nghiệp.Cơ chế quản trị kinh tế  
tạo môi trƣờng thuận lợi cho đầu tƣ nghiên cứu nhu cầu, thiết kế sản phẩm. Nó cũng  
tạo ra sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp phải nâng cao chất lƣợng sản phẩm thông qua  
cơ chế khuyến khích cạnh tranh, bắt buộc các doanh nghiệp phải nâng cao tính tự chủ  
12  
sáng tạo trong cải tiến chất lƣợng. Mặt khác cơ chế quản trị kinh tếcòn là môi trƣờng  
lành mạnh, công bằng đảm bảo quyển lợi cho các doanh nghiệp sản xuất đầu tƣ cải  
tiến và nâng cao chất lƣợng sản phẩm và bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong lĩnh vực đảm  
bảo chất lƣợng sản phẩm. Một cơ chế phù hợp sẽ kích thích các doanh nghiệp đẩy  
mạnh đầu tƣ cải tiến, nâng cao chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ. Ngƣợc lại cơchế  
không khuyến khích sẽ tạo ra sự trì trệ, giảm động lựcnâng cao chất lƣợng.  
e. Các yêu cầu về văn hoá, xã hội  
Ngoài các yếu tố bên ngoài nêu trên, yếu tố văn hóa – xã hội của mỗi khu vực thị  
trƣờng, mỗi quốc gia, mỗi dân tộccó ảnh hƣởng rất lớn đến hình thành các đặc tính  
chất lƣợng sản phẩm. Những yêu cầu về văn hóa, đạo đức, xã hội và tập tục truyền  
thống, thói quen tiêu dùng có ảnh hƣởng trực tiếp tới các thuộc tính chất lƣợng của sản  
phẩm, đồng thời có ảnh hƣởng gián tiếp thông qua các quy định bắt buộc của mỗi sản  
phẩm phải thỏa mãn những đòi hỏi phù hợp với truyền thống, văn hoá, đạo đức, xã hội  
của cộng đồng xã hội. Chất lƣợng là toàn bộ những đặc tính thỏa mãn nhu cầu ngƣời  
tiêu dùng nhƣng không phải tất cả mọi nhu cầu cá nhân đều đƣợc thỏa mãn. Những  
đặc tính chất lƣợng của sản phẩm chỉ thỏa mãn toàn bộ những nhu cầu cá nhân nếu nó  
không ảnh hƣởng tới lợi ích của xã hội. Bởi vậy, chất lƣợng sản phẩm sản xuất ra phụ  
thuộc chặt chẽ vào môi trƣờng văn hoá xã hội của mỗi nƣớc.  
1.1.3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp  
a. Lực lượng lao động trong doanh nghiệp  
Con ngƣời là nhân tố trực tiếp tạo ra và quyết định đến chất lƣợng sản phẩm.  
Cùng với công nghệ, con ngƣời giúp doanh nghiệp đạt chất lƣợng cao trên cơ sở giảm  
chi phí. Chất lƣợng phụ thuộc lớn vào trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý  
thức trách nhiệm và tinh thần hiệp tác phối hợp giữa mọi thành viên và bộ phận trong  
doanh nghiệp. Năng lực và tinh thần của đội ngũ lao động, những giá trị chính sách nhân  
sự đặt ra trong mỗi doanh nghiệp có tác động sâu sắc toàn diện đến hình thành chất  
lƣợng sản phẩm tạo ra. Chất lƣợng không chỉ thỏa mãn nhu cầu khách hàng bên ngoài  
mà còn thỏa mãn nhu cầu khách hàng bên trong doanh nghiệp. Hình thành và phát triển  
nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc những yêu cầu về thực hiện mục tiêu chất lƣợng là một  
trong những nội dung cơ bản của quản trị chất lƣợng trong giai đoạn hiện nay.  
b. Khả năng về máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp  
Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động trong những điều kiện xác định về công  
nghệ. Trình độ hiện đại máy móc thiết bị và quy trình công nghệ của doanh nghiệp ảnh  
hƣởng rất lớn đến chất lƣợng sản phẩm, đặc biệt những doanh nghiệp tự động hoá cao,  
có dây chuyền sản xuất hàng loạt. Cơ cấu công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp và khả  
năng bố trí phối hợp máy móc thiết bị, phƣơng tiện sản xuất ảnh hƣởng lớn đến chất  
lƣợng các hoạt động, chất lƣợng sản phẩm của doanh nghiệp. Trong nhiều trƣờng hợp,  
13  
 
trình độ và cơ cấu công nghệ quyết định đến chất lƣợng sản phẩm tạo ra. Công nghệ lạc  
hậu khó có thể tạo ra sản phẩm chất lƣợng cao, phù hợp với nhu cầu của khách hàng  
cảvề mặt kinh tế và các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật. Quản trị máy móc thiết bị tốt, trong đó  
xác định đúng phƣơng hƣớng đầu tƣ phát triển sản phẩm mới, hoặc cải tiến nâng cao  
chất lƣợng sản phẩm trên cơ sở tận dụng công nghệ hiện có với đầu tƣ đổi mới là một  
biện pháp quan trọng nâng cao chất lƣợng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Khả năng  
đẩu tƣ đổi mới công nghệ lại phụ thuộc vào tình hình máy móc thiết bị hiện có, khả  
năng tài chính và huy động vốn của các doanh nghiệp. Sử dụng tiết kiệm có hiệu quả,  
kết hợp giữa công nghệ hiện có với đổi mới để nâng cao chất lƣợng sản phẩm là một  
trong những hƣớng quan trọng nâng cao chất lƣợng hoạt động của doanh nghiệp.  
c. Nguyên vậtliệu và hệ thông cung ứng nguyên vật liệu của doanh nghiệp  
Một trong những yếu tố đầu vào tham gia cấu thành sản phẩm và hình thành các  
thuộc tính chất lƣợng là nguyên vật liệu. Vì vậy, đặc điểm và chất lƣợng nguyên vật  
liệu ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng sản phẩm. Mỗi loại nguyên liệu khác nhau sẽ  
hình thành những đặc tính chất lƣợng khác nhau. Tính đồng nhất và tiêu chuẩn hoá của  
nguyên liệu là cơ sở quan trọng cho ổn định chất lƣợng sản phẩm. Để thực hiện các  
mục tiêu chất lƣợng đặt ra cần tổ chức tốt hệ thống cung ứng, đảm bảo nguyên liệu  
cho quá trình sản xuất. Tổ chức tốt hệ thống cung ứng không chỉ là đảm bảo đúng  
chủng loại, chất lƣợng, số lƣợng nguyên vật liệu mà còn đảm bảo đúng về mặt thời  
gian. Một hệ thống cung ứng tốt là hệ thống có sự phối hợp hiệp tác chặt chẽ đồng bộ  
giữa bên cung ứng và doanh nghiệp sản xuất. Trong môi trƣờng kinh doanh hiện nay,  
tạo ra mối quan hệ tin tƣởng ổn định với một số nhà cung ứng là biện pháp quan trọng  
đảm bảo chất lƣợng sản phẩm của doanh nghiệp.  
d. Trình độ tổ chức quản trị của doanh nghiệp  
Quản trị chất lƣợng dựa trên quan điểm lý thuyết hệ thống. Một doanh nghiệp là  
một hệ thống trong đó có sự phối hợp đổng bộ thống nhất giữa các bộ phận chức năng.  
Mức chất lƣợng đạt đƣợc trên cơ sở giảm chi phí phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ  
chức quản trị của mỗi doanh nghiệp. Chất lƣợng của hoạt động quản trị phản ánh chất  
lƣợng hoạt động củadoanh nghiệp. Sự phối hợp, khai thác hợp lý của các nguồn lực  
hiện có để tạo ra sản phẩm lại phụ thuộc vào nhận thức. Sự hiểu biết vế chất lƣợng và  
quản trị chất lƣợng, trình độ xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chƣơng trình,  
chính sách, mục tiêu kế hoạch chất lƣợng của cán bộ quản trị doanh nghiệp. Theo W.  
Edwards Deming thì có tới 85% những vấn đề về chất lƣợng do hoạt động quản trị gây  
ra. Vì vậy, hoàn thiện quản trị là cơ hội tốt cho nâng cao chất lƣợng sản phẩm, thỏa  
mãn nhu cầu của khách hàng cả vể chi phí và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật khác.  
14  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 207 trang Thùy Anh 17060 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Quản trị chất lượng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_quan_tri_chat_luong.pdf