Thöc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam

HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
THÖC ĐẨY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ THAM GIA HOẠT ĐỘNG  
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VIỆT NAM  
BOOSTING SMES PARTICIPATION IN SUPPORTING INDUSTRY ACTIVITIES  
IN VIETNAM  
TS. Huỳnh Thanh Điền  
Tổng công ty 28 – Bộ Quốc phòng; Giảng viên Trƣờng Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Mục tiêu của bài viết nhằm khám phá những trở ngại thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ(SME) tham  
gia hoạt động ngành công nghiệp hỗ trợ (SI) của Việt Nam. Trên cơ sở khái quát mô hình về điều kiện  
thu hút SME vào lĩnh vực SI trên thế giới, tác giả phân tích cho điều kiện Việt Nam để chỉ ra những trở  
ngại. Kết quả cho thấy tồn tại ba trở ngại cơ bản cho quá trình tham gia SME hoạt động trong lĩnh vực  
SI bao gồm: nhu cầu SI trong nước chưa đủ hấp dẫn; rào cản gia nhập ngành SI của các SME lớn;  
chính sách trợ giúp SME chưa phát huy hiệu ứng. Từ đó, các chính sách thúc đẩy SME tham gia vào  
lĩnh vực SI theo hướng tháo gỡ những trở ngại nêu trên.  
Từ khoá: Doanh nghiệp vừa và nhỏ, SME, công nghiệp hỗ trợ, phát triển SME.  
ABSTRACT  
This article examines the obstacles when attracting Small and Medium Enterprise (SME)  
participating in Supporting Industry (SI) activities in Vietnam. Author analysis conditions in Vietnam  
based on models in conditions used to attract SME in SI over the world. The results suggest that there  
are three basic problems, including: the need for SI is not enough attracting; entering barriers to SI is  
considerably high; supporting policy for SME has not functioned. Therefore, this article will develop  
some solutions for this situation.  
Key words: Small and Medium Enterprise, SME, Supporting Industry, develop SME.  
1. Giới thiệu  
Trong lịch sử phát triển của các nền kinh tế, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)  
thƣờng khởi sự từ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (SI). Ở Việt Nam,  
SI đang là trở ngại lớn của nhiều trục trặc trong quá trình công nghiệp hoá, với một phần  
nguyên là chƣa thu hút đƣợc các SME tham gia. Mục tiêu của bài viết này nhằm khám phá  
những rào cản thu hút các SME tham gia hoạt động trong SI Việt Nam, để từ đó gợi ý các  
chính sách tháo gỡ.  
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, trƣớc hết tác giả tổng kết các điều kiện tiền đề thu  
hút SME tham gia hoạt động trong lĩnh vực SI từ kinh nghiệm của các nƣớc có SI phát triển.  
Trên cơ sở đó, xem xét các điều kiện này đối với hoạt động của các SME trong các lĩnh vực  
SI ở Việt Nam để chỉ ra những trợ ngại và nguyên nhân của quá trình tham gia SI đối với các  
SME. Từ đó, gợi ý chính sách thúc đẩy SME tham gia hoạt động trong lĩnh vực SI theo hƣớng  
tháo gỡ những trở ngại nêu trên nhằm góp phần phát triển triển SI để đóng góp tích chực vào  
quá trình công nghiệp hoá.  
2. Mô hình điều kiện thu hút SME tham gia trong lĩnh vực SI  
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, quá trình công nghiệp hoá luôn trọng tâm  
vào các ngành công nghiệp mũi nhọn (KI). Quá trình phát triển các KI ngày xuất hiện hai  
nhóm hoạt động là nhóm hoạt động lõi và nhóm hoạt động hỗ trợ của ngành. Thông thƣờng,  
các doanh nghiệp lớn thƣờng đảm nhận các công đoạn hoạt động cốt lõi với giá trị gia tăng  
cao, các SME sẽ đảm nhận công đoạn phụ trợ. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, những năm  
1940 khi ngành cơ khí phát triển mạnh, các doanh nghiệp cơ khí cần chuyên môn hóa hơn  
17  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
trong sản xuất sản phẩm hoàn thiện và tối thiểu hóa chi phí nên có nhu cầu đặt hàng linh kiện  
từ các doanh nghiệp khác, từ đó tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ  
(SMEs) tham gia sản xuất linh kiện cho ngành này, lúc đó SI cho ngành cơ khí ra đời  
(Ministry of Economy, Trade and Industry, 2003a). Để thúc đẩy các SME hoạt động trong SI,  
Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ và định hƣớng hoạt động của SMEs.  
Tƣơng tự nhƣ Nhật Bản, các quốc gia mới có SI phát triển nhƣ Thái Lan, Malaysia  
khởi đầu SI gắn với sự khởi đầu từ các ngành công nghiệp mà khu vực FDI tham gia  
(Ministry of Economy, Trade and Industry, 2013b). Các doanh nghiệp FDI tạo ra động lực  
cho sự phát triển SI liên quan đến lĩnh vực FDI đầu tƣ và Chính phủ kịp thời xây dựng chính  
sách hỗ trợ để chúng tiếp tục tồn tại và phát triển (Nguyễn Anh Trung, 2014).  
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay cấu nền kinh tế của các quốc gia chịu sự chi phối  
mạnh bởi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ngành kinh tế KI của quốc gia không chỉ đƣợc  
tham gia bởi doanh nghiệp trong nƣớc mà còn bởi các doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp nƣớc  
ngoài (FDI), thậm chí đối với một số nƣớc đang phát triển thì giá trị đóng góp của khu vực  
FDI trong ngành KI còn lớn hơn khu vực trong nƣớc. Vì lẽ đó mà nhu cầu đối với các sản  
phẩm hỗ trợ cũng mang tính chất toàn cầu chứ không thu hẹp trong phạm vi của mỗi quốc gia  
(Christosphe & các cộng sự, 2011). Hay nói cách khác, nhu cầu SI của một quốc gia không  
chỉ dành riêng cho các doanh nghiệp trong nƣớc mà còn các doanh nghiệp nƣớc ngoài cung  
ứng thông qua nhập khẩu. Điều này tạo ra rất nhiều thách thức đối với sự thu hút của SME  
trong nƣớc tham gia cung ứng SI cho các doanh nghiệp hoạt động trong ―lĩnh vực lõi‖ .  
Từ những lập luận trên cho thấy điều kiện thu hút SME tham gia SI cung ứng cho các  
ngành công nghiệp mũi nhọn phụ thuộc vào nhu cầu của các doanh nghiệp lớn hoạt động  
trong ―công đoạn lõi‖ của các ngành đó. Ngoài ra, việc SME có tham gia hoạt đông SI hay  
không còn phụ thuộc vào điều kiện để vƣợt qua các rào cản gia nhập ngành, điều này còn phụ  
thuộc vào vai trò điều tiết của Chính phủ. Nhƣ vậy, một quốc gia có thể gặp phải 3 rào cản thu  
hút SME tham gia SI: (b1) nhu cầu SI của các doanh nghiệp hoạt động trong công đoạn lõi  
không hƣớng đến nguồn cung ứng trong nƣớc; (b2) các SME không vƣợt qua đƣợc rào cản  
gia nhập ngành SI; (b3) các chính sách thúc đẩy chƣa tạo đƣợc hiệu ứng. Mô hình điều kiện  
tham gia của SME vào lĩnh vực SI và các rào cản đƣợc tổng kết nhƣ Hình 1.  
Hình 1: Các rào cản tham gia SI của SME  
Ngành công  
nghiệp hỗ trợ  
trong nƣớc  
Công đoạn lõi của các ngành  
công nghiệp mũi nhọn  
Các trở ngại đối với sự tham gia  
của SME:  
- (b1) nhu cầu SI không hƣớng đến  
nguồn cung ứng trong nƣớc.  
- (b2) các SME không vƣợt qua đƣợc  
rào cản gia nhập ngành SI.  
(Sự tham gia của doanh  
nghiệp lớn)  
(Sự tham gia của  
SME)  
- (b3) các chính sách thúc đẩy chƣa tạo  
đƣợc hiệu ứng.  
Nguồn: Khái quát từ các lập luận của tác giả bài viết.  
3. Những trở ngại tham gia SI của các SME Việt Nam  
3.1. Trở ngại về nhu cầu SI không hướng đến nguồn cung ứng trong nước  
Hình 1 cho thấy 10 ngành công nghiệp có giá trị sản xuất lớn nhất Việt Nam (bài viết  
gọi đây là ngành công nghiệp mũi nhọn) cũng là những ngành công nghiệp lớn trên thế giới  
(Porter & các cộng sự, 2010). Các ngành này đƣợc thực hiện chủ yếu bởi các doanh nghiệp  
FDI. Các FDI đến Việt Nam chủ yếu là sản xuất các khâu trung gian rồi bán cho các doanh  
nghiệp lắp ráp hoàn thiện ở các quốc gia khác (Ohno, 2007), Việt Nam vẫn chƣa thu hút đƣợc  
18  
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
các công đoạn hoạt động có giá trị gia tăng cao, nên chƣa tạo động lực về cầu cho SI trong  
nƣớc.  
Do các KI ở Việt Nam chủ yếu đƣợc thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI nên nhu cầu  
đầu vào từ SI nhƣ nguồn nguyên liệu, phụ liệu, thiết bị… chủ yếu đƣợc cung cấp bởi các đối  
tác chiến lƣợc của các doanh nghiệp FDI từ nƣớc ngoài. Hình 3 cho thấy các mặt hàng chiếm  
tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, cũng chiếm tỷ trọng lớn trong nhập khẩu chủ yếu.  
Hình 1: 10 ngành công nghiệp chế tạo có tỷ trọng lớn nhất Việt Nam năm 2012  
Nguồn: Tổng cục Thống kế (2013a)  
Do các KI ở Việt Nam chủ yếu đƣợc thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI nên nhu cầu  
đầu vào từ SI nhƣ nguồn nguyên liệu, phụ liệu, thiết bị… chủ yếu đƣợc cung cấp bởi các đối  
tác chiến lƣợc của các doanh nghiệp FDI từ nƣớc ngoài. Hình 3 cho thấy các mặt hàng chiếm  
tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, cũng chiếm tỷ trọng lớn trong nhập khẩu chủ yếu.  
Các SME trong nƣớc thƣờng không tiếp cận cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp  
FDI hoạt động trong lĩnh vực PI (Mori, 2005). Có hai nguyên nhân chính của tồn tại này: (1)  
chất lƣợng sản phẩm của SME không đảm bảo; (2) các FDI phần lớn đã có các công ty liên  
kết trong cùng tập đoàn cung ứng đầu vào nên giữa họ đã có cam kết cung ứng sản phẩm từ  
trƣớc, và cam kết này đƣợc sự lãnh đạo thống nhất của chủ tịch tập đoàn trên toàn thế giới.  
Do vậy, mặc dù nhu cầu SI cao nhƣng chƣa tạo động lực cho các doanh nghiệp trong nƣớc  
tham gia, nhất là các SME của Việt Nam.  
Hình 3: Cơ cấu trị giá xuất - nhập khẩu hàng hoá năm 2012  
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2013c, 2013d)  
19  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
3.2. Trở ngại về gia nhập ngành SI của SME  
Nhƣ phân tích trên, các KI của Việt Nam đƣợc thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI với  
đầu vào sản xuất đƣợc đáp ứng chủ yếu bởi các SI thế giới, nên không tạo đƣợc động lực thu  
hút SI cho Việt Nam. Bảng 1 cho thấy, năm 2000 tỷ trọng của SI chiếm 4,37% trong giá trị  
sản xuất hàng công nghiệp, đến năm 2012 tỷ trọng này là 7,32%. Nhƣ vậy, trong 12 năm, tỷ  
trọng SI tăng lên khoảng 2 lần, nhƣng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp rất thấp.  
Bảng 1: Tỷ trọng giá trị SI trên tổng giá trị công nghiệp Việt Nam  
2000  
2005  
2013  
Tổng số  
100,00%  
7,60%  
87,80%  
7,42%  
100,00%  
15,78%  
78,68%  
4,37%  
100,00%  
11,19%  
83,20%  
6,45%  
Công nghiệp khai thác  
Công nghiệp chế biến  
Trong đó: đóng của ngành Công nghiệp phụ trợ  
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nƣớc  
4,60%  
5,54%  
5,61%  
Nguồn: Tổng cục Thống kế (2013a)  
Sợ dĩ, SI Việt Nam tăng trƣởng chậm là do tồn tại nhiều rào cản gia nhập ngành đối với  
nhiều doanh nghiêp trong và ngoài nƣớc. Rào cản lớn nhất là đầu ra của các doanh nghiệp  
mới tham gia SI rất khó thuyết phục khách hàng bởi khi mới gia nhập ngành chi phí trung  
bình cao, giá bán cáo, chất lƣợng sản phẩm thƣờng không đạt (do công nhân, quản lý chƣa có  
kinh nghiêm) nên khó cạnh tranh. Muốn tạo dựng thƣơng hiệu và uy tín thì cần phải bán giá  
thấp hơn hoặc tối đa là bằng với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp không đủ chi phí để bù  
lỗ. Mặt khác, việc thuyết phục khách hàng đặt lần đầu rất khó bởi các doanh nghiệp PI khi  
quyết định khởi sự thƣờng họ đã có trƣớc mạng lƣới các nhà cung ứng, nên không dễ dàng từ  
bỏ nhà cung cấp chiến lƣợc để thiết lập mạng lƣới quan hệ với đối tác mới (nhƣ cá doanh  
nghiệp SI Việt Nam) trong khi niềm tin không chắc chắn (Huỳnh Thanh Điền, 2014a).  
Do gặp phải rào cản gia nhập ngành SI trong nƣớc, nên sản phẩm SI Việt Nam rất hạn  
chế trong việc tiêu thụ ra thị trƣờng thế giới. Bảng 2 cho thấy giá trị xuất khẩu của SI trong  
nƣớc rất hạn chế, trong giai đoạn 2000 – 2012, tỷ trọng xuất khẩu của các sản phẩm công  
nghiệp phụ trợ vẫn không tăng về tỷ trọng, chỉ chiếm 7,59% trong suốt 12 năm qua.  
Bảng 2: Tỷ trọng hàng công nghiệp phụ trợ trong giá trị xuất khẩu  
2000  
2008  
2012  
Tổng giá trị xuất khẩu  
100%  
7,46%  
5,45%  
0,66%  
0,89%  
0,46%  
100%  
7,45%  
4,21%  
1,49%  
1,61%  
0,14%  
100%  
7,59%  
4,93%  
1,16%  
1,50%  
0,00%  
Tỷ trọng xuất hàng công nghiệp phụ trợ  
Hàng điện tử, máy tính và linh kiện  
Sản phẩm từ plastic  
Dây điện và cáp điện  
Xe đạp và phụ tùng  
Nguồn: Tổng cục Thống kế (2013c).  
Hơn nữa, việc thực hiện xuất khẩu SI phần lớn đƣợc thực hiện bởi FDI. Các doanh  
nghiệp FDI này thƣờng là thành viên của các doanh nghiệp PI toàn cầu, họ đến Việt Nam  
hoạt động nhằm mục đích tối thiểu hóa chi phí cho chuỗi hoạt động của tập đoàn toàn cầu.  
Sản phẩm SI của doanh nghiệp FDI chủ yếu là xuất khẩu cho các đơn vị thành viên trong  
cùng tập đoàn (Huỳnh Thanh Điền, 2014a).  
20  
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
3.3. Các chính sách thúc đẩy SME tham gia SI chưa tạo được hiệu ứng  
Trong những năm gần đây Chính phủ rất quan tâm đến các chính sách thúc SME trên  
nhiều phƣơng diện nhƣ trợ giúp tài chính, đổi mới công nghệ, trình độ kỹ thuật, tiếp cận thị  
trƣờng, thông tin và đƣợc tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công (Nghị định  
56/2009/NĐ-CP của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 30/06/2014 về việc trợ giúp doanh nghiệp  
vừa và nhỏ). Tuy nhiên, đến nay các chính sách chƣa mang lại hiệu ứng tích cực, các doanh  
nghiệp vừa và nhỏ vẫn chƣa thoát khỏi ―vòng luẩn quẩn‖ của năng lực cạnh tranh kém  
(Huỳnh Thanh Điền, 2014c). Nguyên nhân cơ bản nhất là chính sách chƣa tác động đúng  
trọng tâm của hai trở ngại quan trọng là tiếp cận thị trƣờng và rào cản gia nhập ngành.  
Mặc dù Nghị định 56/2009/NĐ-CP có đề cập đến việc trợ giúp thị trƣờng thông qua các  
biện pháp xúc tiến thƣơng mại và trợ giúp tài chính, nhƣng thiếu biện pháp triển khai đến  
từng doanh nghiệp. Các SME khó tiếp cận đƣợc với các ƣu đãi do quy trình thực hiện tiếp cận  
quá phức tạp và các vấn đề đạo đức của ngƣời thực thi chính sách gây ra nhiều nghị ngại cho  
SME trong tiếp cận chính sách (Huỳnh Thanh Điền, 2014b).  
4. Kết luận và gợi ý chính sách  
4.1. Kết luận  
Các KI của Việt Nam chủ yếu tham gia khâu trung gian, chƣa thu hút đƣợc công đoạn  
hoàn thiện với giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị hoạt động của KI thế giới. Hơn nữa, KI  
Việt Nam đƣợc thực hiện chủ yếu bởi các doanh nghiệp FDI với nhu cầu sử dụng SI từ nhập  
khẩu nên không tạo động lực về cầu thúc đẩy các SME trong nƣớc phát triển. Mặt khác, việc  
SME tham gia SI trong nƣớc gặp phải rào cản gia nhập ngành do chi phí trung bình cao và  
khó khăn trong việc thuyết phục KI trong nƣớc và nƣớc ngoài tiêu thụ sản phẩm. Trong khi  
đó, chính sách thúc đẩy SME tham gia SI của chính phủ chƣa hấp dẫn SME tiệp cận. Các trở  
ngại thu hút SME tham gia SI đƣợc tổng kết nhƣ Hình 4.  
Hình 4: Các trở ngại cho việc SME tham gia hoạt động trong lĩnh vự SI của Việt Nam  
Công đoạn lõi của các ngành  
công nghiệp mũi nhọn  
Ngành công  
nghiệp hỗ trợ  
trong nƣớc  
Các trở ngại đối với sự tham gia của  
SME:  
-(b1) nhu cầu SI không hƣớng đến  
(Sự tham gia của doanh  
nghiệp lớn)  
(Sự tham gia của  
nguồn cung ứng trong nƣớc.  
-(b2) các SME không vƣợt qua đƣợc  
rào cản gia nhập ngành SI.  
SME)  
-(b3) các chính sách thúc đẩy chƣa tạo  
đƣợc hiệu ứng do công tác thực thi.  
Nguồn: Tổng kết từ kết quả nghiên cứu của tác giả.  
4.2. Gợi ý chính sách  
Để thúc đẩy SME của Việt Nam tham gia hoạt động trong lĩnh vực SI, Chính phủ cũng  
nhƣ doanh nghiệp cần tập trung vào các chính sách tháo gỡ trở ngại về nhu cầu SI không  
hƣớng đến nguồn cung trong nƣớc, rào cản gia nhập ngành do chi phí trung bình cao, và các  
hạn chế trong việc tạo hiệu ứng thực thi chính sách trợ giúp SME. Các gợi ý chính sách cụ thể  
nhƣ sau:  
Thứ nhất, tập trung vào các giải pháp khuyến khích FDI sử dụng SI trong nƣớc thay  
cho nhập khẩu. Muốn thực hiện đƣợc chính sách này, trƣớc hết Chính phủ quy hoạch không  
gian và danh mục ngành KI và SI tƣơng thích nhau để thu hút nhằm thu hút các SME tham  
gia hoạt động bên cạnh các doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực KI. Các chính sách hỗ  
21  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
trợ kèm theo áp dụng bình đẳng giữa các thành phần kinh tê tham gia để không vi phạm điều  
khoản quốc tế trong hội nhập. Bên cạnh đó, khuyến khích và/hoặc bắt buộc các doanh nghiệp  
nhà nƣớc hoạt động trong lĩnh vực KI sử dụng đầu vào SI trong nƣớc để hỗ trợ cho các SME  
mới gia nhập ngành.  
Thứ hai, ở Việt Nam hiện nay cũng đang xuất hiện làn sóng di chuyển các cơ sở sản  
xuất từ các quốc gia phát triển trong một số ngành thâm dụng lao đông, nhất là các doanh  
nghiệp từ Nhật Bản. Nếu các SME của Việt Nam thực hiện chiến lƣợc đổi mới công nghệ  
thông qua liên kết với doanh nghiệp các nƣớc phát triển trong vai trò phụ trợ, từng bƣớc tiếp  
cận, làm chủ công nghệ. Đó có thể là một hƣớng đi mới khả thi giúp SME thoát khỏi vòng  
luẩn quẩn ―năng lực cạnh tranh kém‖.  
Thứ ba, giúp SME vƣợt qua rào cản gia nhập ngành bằng biện pháp hạn chế chi phí đầu  
vào nhƣ hỗ trợ chi phí thuê mặt bằng, nhiên liệu, và chuẩn bị các điều kiện về kết cấu hạ tầng,  
thông tin liên lạc theo hƣớng trọng tâm vào công tác tổ chức thực thi các nội dung của Nghị  
định 56/2009/NĐ-CP của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 30/06/2014 về việc trợ giúp doanh  
nghiệp vừa và nhỏ. Quan trọng nhất là xác định cụ thể hoá chƣơng trình, dự án khuyến khích  
thu hút SME tham gia trong lĩnh vực SI và kiểm soát hành vi đạo đức của đội ngũ thực thi  
chính sách.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt:  
[1] Nguyễn Anh Trung (2014), Kinh nghiệm của một số quốc gia đang phát triển về phát  
triển  
công  
nghiệp  
phụ  
(Truy cập ngày 25/02/2014)  
[2] Huỳnh Thanh Điền (2014a), ―Tháo gỡ rào cản trong quá phát triển công nghiệp hỗ trợ  
Việt Nam‖. Kỷ yếu Hội thảo: Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển công  
nghiệp hỗ trợ Việt Nam” do Ban Kinh tế Trung ƣơng phối hợp với Trƣờng đại học Kinh  
tế TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 30/07/2014, Trang 24-32. NXB Kinh tế TP.Hồ Chí  
Minh.  
[3] Huỳnh Thanh Điền (2014b), ―Đổi mới thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam‖.  
Kỷ yếu Hội thảo: Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội trong boi cảnh mới” do Ban  
chủ nhiệm đề tài KX.01/11-15 phối hợp với Trƣờng đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh tổ  
chức ngày 11/08/2014, Trang 85-98, NXB Kinh tế TP.Hồ Chí Minh.  
[4] Huỳnh Thanh Điền (2014c), ―6 bƣớc đổi mới công nghệ cho SME‖, Báo doanh nhân sài  
gòn,  
su/2014/08/1082991/6-buoc-de-doi-moi-cong-nghe-cho-sme/  
14/08/2014).  
(truy  
cập  
ngày  
[5] Nguyễn Trọng Hoài & Huỳnh Thanh Điền (2012), ―Chính sách quy hoach và thúc đẩy  
phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam‖, Tạp chí Phát triển Kinh tế, Số 263,  
trang 2-10.  
[6] Tổng cục Thống kê (2013a), ―Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành  
phân  
theo  
ngành  
công  
nghiệp‖,  
ngày 10/03/2013).  
[7] Tổng cục Thống kê (2013b), ―Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013”,  
(truy  
cập  
ngày  
22  
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
10/03/2013).  
3&ItemID=14550 (truy cập ngày 10/03/2013).  
3&ItemID=14545 (truy cập ngày 10/03/2013).  
[10] Porter, M.E, & Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng (2010), Báo cáo đánh giá  
năng lực cạnh tranh của quốc gia của Việt Nam, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế  
Trung ƣơng, Hà Nội.  
Tiếng Anh:  
[11] Christophe, M., Mena, C., Khan, O., Yurt, O., (2011), "Approaches to managing global  
sourcing risk", Supply Chain Management: An International Journal, Vol. 16 Iss: 2,  
pp.67 – 81.  
[12] Ministry of Economy, Trade and Industry (2003a), The Role of Small and Medium  
Supporting Industries in Japan and ThaiLand.  
[13] www.japan.tsukuba.ac.jp/081126Nargiza.pdf, (Truy cập ngày 25/02/2014).  
[14] Ministry of Economy, Trade and Industry (2013b), Japan’s Policy on Small and  
Medium  
Enterprises  
(SMEs)  
and  
Micro  
Enterprises.  
20/02/2014).  
[15] Mori, J., (2005), Development of Supporting Industries for Vietnam’s Industrialization:  
Increasing Positive Vertical Externalities Through Collaboratve Training, Master of  
Arts in Law and Diplomacy Thesis, The Fletcher School.  
[16] Ohno, K., (2007), ―Building Supporting Industries in Vietnam‖, Vietnam Development  
Forum (VDF), Vol 1.  
23  
pdf 7 trang Thùy Anh 13520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thöc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthc_day_doanh_nghiep_vua_va_nho_tham_gia_hoat_dong_trong_nga.pdf