Doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường Đại học Công lập tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

ISSN 1859-3666  
MỤCꢀLỤC  
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ  
1. Nguyễn Thị Uyên Uyên và Lê Trương Niệm - Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro phi hệ thống  
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mã số: 151.1FiBa.11  
The Impact of Diversification on Non-systematic Risk of Listed Companies on Vietnam Stock  
Market  
2
2. Nguyễn Bích Ngọc - Hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam từ lý thuyết đến thực  
tiễn. Mã số: 151.1mEco.11  
The Social Impact of Microfinance Institutions in Vietnam from Theory to Practice  
3. Đoàn Thị Hồng Nhung - Ảnh hưởng của lợi thế thương mại đến giá trị thị trường của các công ty  
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mã số: 151.1FiBa.11  
Studying the effect of goodwill on the market value of companies listed on Vietnam’s stock  
market  
14  
26  
4. Nguyễn Đắc Hưng - Mối quan hệ giữa doanh nghiệp Logistics và hoạt động kinh doanh ngân hàng  
thương mại bị tác động bởi đại dịch Covid-19. Mã số: 151.1SMET.12  
The Relationship between Logistics Businesses and Commercial Bank Operation under  
Influence of Covid-19 Pandemic  
35  
QUẢN TRỊ KINH DOANH  
5. Cảnh Chí Hoàng và Nguyễn Hữu Khôi - Nghiên cứu khám phá tác động của các nhân tố lập luận  
đạo đức đến thái độ và ý định hành vi mua của người tiêu dùng hàng nhái tại Việt Nam. Mã số:  
151.2BMkt.21  
Research on the Impact of Moral Reasoning Strategies on the Buying Attitude, Intention, and  
Behaviour of Counterfeit Product Consumers in Vietnam  
6. Hoàng Thị Mai Lan - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên Báo cáo tài  
chính trong doanh nghiệp quản lý và khai thác công trình thủy lợi Việt Nam. Mã số: 151.2FiBa.22  
Research on factors affecting the quality of accounting information on financial statements in  
Vietnamese Irrigation and Drainage Management Companies  
42  
50  
7. Đặng Thị Minh Nguyệt, Ngô Thị Thành, Dương Thị Tình và Trần Thị Thảo Hương - Yếu tố  
tác động đến hành vi sử dụng ví điện tử của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại Hà  
Nội. Mã số: 151.2FiBa.21  
62  
Factors Affecting E-wallet Use by Students of Economics at Universities in Ha Noi  
Ý KIẾN TRAO ĐỔI  
8. Lê Quân và Mai Hoàng Anh - Doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường đại học công  
lập tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp. Mã số: 151.3GEMg.32  
Science and Technology Enterprises in Public Universities in Vietnam – Situation and  
Solution  
9. Mai Anh Vũ và Hà Thị Lan - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đối  
với chất lượng dịch vụ đào tạo tại Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. Mã số:  
151.3GEMg.32  
70  
80  
A Study on the Factors Affecting Student Satisfaction with the Training Quality at Thanh Hóa  
University of Culture, Sports, and Tourism  
khoa học  
1
thương mại  
Số 151/2021  
1
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI VIỆT NAM  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP  
Lê Quân  
Trường Đại học Lao động, Thương binh & Xã hội  
Email:lequan74@gmail.com  
Mai Hoàng Anh  
Đại học Quốc gia Hà Nội  
Email:anhmhvnu@gmail.com  
Ngày nhận: 01/01/2021  
Ngày nhận lại: 29/01/2021  
Ngày duyệt đăng: 02/02/2021  
ghiên cứu này tập trung làm rõ khái niệm doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học và  
phân tích thực trạng doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học công lập tại Việt Nam. Để  
N
thực hiện nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình. Doanh nghiệp  
KH&CN được lựa chọn nghiên cứu thuộc Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia Hà Nội  
(VNU). Đây là hai trường đại học uy tín và đi đầu trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao KH&CN.  
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của mô hình doanh  
nghiệp này. Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả hàm ý một số giải pháp nhằm phát triển mô hình doanh  
nghiệp KH&CN trong trường đại học tại Việt Nam.  
Từ khóa: doanh nghiệp KH&CN, đại học công lập Việt Nam.  
JEL Classifications: I20, I23, I28  
1. Giới thiệu  
sách, hình thành liên kết 3 bên: chính phủ - trường  
đại học - doanh nghiệp Đinh Văn Toàn [1], [2] góp  
phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp  
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập  
quốc tế. Nghiên cứu của Nguyễn Quân cho rằng  
doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN)  
hiện đang được xem như một lực lượng sản xuất  
mới, là nơi tiếp nhận và thích nghi công nghệ tiên  
tiến ở nước ngoài, một kênh chuyển giao dộng nghệ,  
đồng thời doanh nghiệp KH&CN còn tạo ra nhiều  
cơ hội việc làm cũng như tăng trưởng kinh tế [3].  
Doanh nghiệp KH&CN không chỉ là cầu nối đưa  
nhanh các nghiên cứu, ứng dụng KH&CN chuyển  
giao vào sản xuất mà còn đóng vai trò như một lực  
lượng sản xuất chủ lực, tạo ra những sản phẩm có  
giá trị gia tăng cao, đóng góp cho việc xây dựng và  
phát triển nền kinh tế xã hội và GDP của đất nước.  
Tại Việt Nam, phát triển doanh nghiệp KH&CN  
là một trong những nhiệm vụ quan trọng được  
Đảng và Nhà nước ta đặt ra và quyết tâm triển khai  
thực hiện. Mặc dù trong thời gian qua, Nhà nước  
đã ban hành các văn bản, chính sách tạo điều kiện  
Kể từ thập niên đầu của thế kỷ 21, khi nền kinh  
tế thế giới bước vào “kỷ nguyên số” với sự phát  
triển của cuộc cách mạng 4.0, các đại học đã có sự  
chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng đổi mới sáng tạo  
gắn với khởi nghiệp. Mô hình đại học doanh nghiệp  
được phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế  
giới như Anh, Đức, Hà Lan, Mỹ, Canada, Brazil,  
Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore và  
Việt Nam. Bên cạnh đó, trong thời đại tri thức hiện  
nay, KH&CN đã và đang trở thành lực lượng sản  
xuất trực tiếp và là nhân tố quyết định năng lực cạnh  
tranh của từng quốc gia, mối quan hệ giữa doanh  
nghiệp công nghệ và giáo dục đại học ngày càng gắn  
bó. Mối liên kết giữa doanh nghiệp công nghệ và  
giáo dục là mối quan hệ biện chứng tồn tại khi cả hai  
bên đều có lợi. Hợp tác đại học - doanh nghiệp dưới  
nhiều hình thức, mức độ và được hiểu như sự tương  
tác, giao dịch giữa cơ sở giáo dục đại học với các  
doanh nghiệp để mang lại lợi ích cho các bên. Bên  
cạnh đó, chính phủ luôn đóng vai trò quan trọng  
trong tạo dựng môi trường pháp luật và các chính  
khoa học  
!
thương mại  
70  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
2. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp khoa học và  
công nghệ trong trường đại học  
2.1. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ  
trong trường đại học  
cho các doanh nghiệp KH&CN phát triển, như: các  
ưu đãi liên quan đến thuế, phí, lệ phí, tín dụng, sử  
dụng các dịch vụ KH&CN nhưng đến nay, số  
lượng doanh nghiệp KH&CN, vườn ươm doanh  
nghiệp KH&CN của chúng ta còn quá ít so với  
tiềm năng phát triển. Bên cạnh đó, ngoài việc tập  
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các  
trường đại học xuất hiện và phát triển ở Mỹ và Anh  
từ giữa thế kỷ XX và chính thức được luật hóa với  
Đạo luật Bayh-Dole ở Mỹ vào năm 1980, trong đó  
thừa nhận hoạt động của các doanh nghiệp này [4].  
Mặc dù có lịch sử phát triển hàng chục năm, giới  
nghiên cứu vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất  
nào về doanh nghiệp KH&CN trong các trường đại  
học. Smilor, Gribson và Dietrich (1990) cho rằng  
những doanh nghiệp này cần thỏa mãn ít nhất một  
trong hai tiêu chí sau: thứ nhất, nó được thành lập  
bởi thành viên, nhân viên hoặc sinh viên của trường  
(những người này rời khỏi trường đại học để lập  
doanh nghiệp hoặc mở doanh nghiệp trong khi vẫn  
cộng tác với trường); thứ hai, các ý tưởng khoa học  
công nghệ của những doanh nghiệp này phải được  
phát triển bởi chính trường đại học đó [5]. Đây là  
một trong những định nghĩa sớm nhất về khái niệm  
doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học, theo  
đó nhấn mạnh việc các doanh nghiệp này khởi  
nguồn từ cá nhân trong trường đại học hoặc kết quả  
khoa học công nghệ của trường đó. Tuy nhiên phạm  
vi của khái niệm này quá rộng bởi nó bao hàm cả  
những doanh nghiệp do thành viên hoặc sinh viên  
của trường đại học thành lập, kể cả khi những doanh  
nghiệp này không hoạt động trong lĩnh vực khoa  
học công nghệ hay có bất kỳ mối liên hệ gì với  
trường đại học. Các định nghĩa sau đó của  
Steffensen và cộng sự (1999) và Rappert và cộng sự  
(1999) đã khắc phục được hạn chế trên bằng cách  
nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thỏa mãn cả hai  
tiêu chí [6, 7]. Pirnay và cộng sự (2003) định nghĩa  
doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học là  
doanh nghiệp mới được tạo ra để khai thác thương  
mại một số kiến thức, công nghệ hoặc kết quả  
nghiên cứu được phát triển trong một trường đại học  
[8]. Các tác giả làm rõ một số quan điểm: (i) Doanh  
nghiệp mới: doanh nghiệp KH&CN trong trường  
ĐH là doanh nghiệp mới, có tính pháp lý riêng biệt  
không phải là một phần mở rộng, cũng không phải  
là công ty con được kiểm soát của trường đại học,  
mà là một cấu trúc tự trị theo đuổi các hoạt động tạo  
ra lợi nhuận; (ii) được tạo ra từ các trường đại học  
với mục đích khai thác kiến thức bởi các hoạt động  
học thuật. Điều này không chỉ bao gồm đổi mới  
công nghệ hoặc bằng sáng chế, mà còn cả bí quyết  
khoa học và kỹ thuật được tích lũy bởi một cá nhân  
trong các hoạt động học thuật của mình [7]; (iii)  
trung phát triển doanh nghiê  
cua trương đai hoc trong viêc pha  
nghiêp cũng được nhấn mạnh. Trong đó, ca  
trương đai hoc đong vai tro quan trong trong viê  
xây dưng cac vươn ươm - môt trong nhưng mô  
hinh quan trong trong viêc phat triên doanh nghiệp  
̣
p KH&CN thì vai tro  
̀
̉
̀
̣
̣
̣
́
t triên cac doanh  
̉
́
̣
́c  
̀
̣
̣
́
̀
̣
̣c  
̣
́
̀
̣
̃
̀
̣
̣
́
̉
khoa học & công nghệ. Thực tế kinh nghiệm phát  
triển của mô hình vườn ươm doanh nghiệp công  
nghệ tại các quốc gia trong khu vực như Trung  
Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,… đã  
chứng minh vai trò tích cực của mô hình vườn  
ươm. Nhìn chung, vai trò của vườn ươm doanh  
nghiệp công nghệ đã giải quyết những vấn đề sau:  
(i) vườn ươm doanh nghiệp công nghệ tạo điều  
kiện, là chất xúc tác giúp các doanh nghiệp khởi sự  
thành công, phát triển tinh thần kinh doanh; (ii)  
đây là công cụ thúc đẩy sáng tạo, đổi mới, chuyển  
giao công nghệ và thương mại hóa thành công các  
ý tưởng công nghệ nhờ gắn kết chặt chẽ hơn mối  
quan hệ trường đại học - viện nghiên cứu - doanh  
nghiệp; (iii) vườn ươm doanh nghiệp công nghệ có  
ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế địa  
phương; (iv) mô hình này tác động tích cực tới mối  
quan hệ Doanh nghiệp - Chính phủ, là nơi kiểm  
nghiệm sự phù hợp, hiệu quả của các chính sách  
của chính phủ; (v) vườn ươm doanh nghiệp công  
nghệ cung cấp quỹ hạt giống (sead funding) cho  
các doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc giúp đỡ các  
doanh nghiệp tìm kiếm, gia tăng nguồn vốn hạt  
giống; (vi) mô hình này kết nối các doanh nghiệp  
khởi nghiệp với mạng lưới nguồn lực để gia tăng  
cơ hội sống sót và tăng trưởng. Tuy nhiên, thực tế  
cho thấy, việc thành lập và vận hành các doanh  
nghiệp KH&CN trong các trường đại học còn  
nhiều vấn đề tồn tại, một phần nguyên nhân xuất  
phát từ các chính sách.  
Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng  
hoạt động của các doanh nghiệp KH&CN, nghiên  
cứu điển hình tại một số trường đại học công lập, từ  
đó hàm ý các đề xuất phát triển mô hình doanh  
nghiệp này trong các trường đại học ở Việt Nam.  
Ngoài phần giới thiệu, nghiên cứu được kết cấu gồm  
cơ sở lý luận về doanh nghiệp KH&CN trong trường  
đại học, thực trạng hoat động của doanh nghiệp  
KH&CN trong trường đại học tại Việt Nam, thảo  
luận, hàm ý và hạn chế của nghiên cứu.  
khoa học  
!
71  
thương mại  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học cũng  
Tại Việt Nam, Nguyễn Quân (2006) cho rằng đây  
được thành lập với mục đích tạo ra lợi nhuận (ngoại là những doanh nghiệp được sáng lập bởi những  
trừ các tổ chức phi lợi nhuận). Định nghĩa của Shane người sáng tạo hoặc chủ sở hữu công nghệ nhằm đưa  
(2004) về doanh nghiệp KH&CN không đề cập tới kết quả nghiên cứu vào sản xuất, các doanh nghiệp  
vai trò của người thành lập mà chỉ nhấn mạnh tới này gắn bó hữu cơ với cơ sở nghiên cứu phát triển  
mục đích hoạt động, tác giả cho rằng đây là những khoa học công nghệ đó [3]. Vũ Thị Liên (2008) cho  
công ty mới thành lập để khai thác một phần sở hữu rằng “doanh nghiệp spin-off là doanh nghiệp được  
trí tuệ được tạo ra trong một tổ chức học thuật [9]. hình thành trên cơ sở áp dụng/khai thác kết quả  
Nghiên cứu của Hogan và Zhou (2010) đã nhận xét nghiên cứu KH&CN được tạo ra ở viện nghiên cứu,  
về tiêu chí xác định doanh nghiệp KH&CN như sau: trường đại học, tổ chức nghiên cứu tư nhân hoặc bởi  
Thứ nhất, các doanh nghiệp KH&CN phải nhận một cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, công nghệ,  
được sự chuyển giao tri thức (knowledge transfer) sáng chế (người khởi xướng/sáng lập doanh nghiệp)”  
từ các trường đại học, bao gồm chuyển giao công [14]. Nguyễn Vân Anh và cộng sự (2014), doanh  
nghệ kĩ thuật cũng như kinh nghiệm (know-how). nghiệp spin-off là các doanh nghiệp tách ra hoạt  
Thứ hai, mặc dù trên thực tế các cá nhân thành lập động độc lập với các trường đại học và các cá nhân  
doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học thường tạo ra các tài sản KH-CN tham gia vào quá trình  
là cán bộ, nhân viên hoặc sinh viên của trường quản lý của doanh nghiệp mới hình thành [15]. Vũ  
nhưng cũng không loại trừ khả năng các trường đại Cao Đàm, doanh nghiệp KH&CN là đơn vị có chức  
học đề nghị doanh nhân bên ngoài đứng ra thành lập năng làm triển khai, có thể bắt đầu từ giai đoạn chế  
doanh nghiệp, vì vậy tiêu chí người thành lập doanh tác vật mẫu, làm pilot, ươm tạo và cuối cùng là “sản  
nghiệp không quá cần thiết bởi đó có thể là bất kỳ xuất” ra các công nghệ và bán (chuyển giao) các  
ai. Thứ ba, các doanh nghiệp KH&CN trong trường công nghệ đó cho các xí nghiệp công nghiệp [16].  
đại học cần có mối liên kết chặt chẽ với trường, điều  
Như vậy, có thể định nghĩa “doanh nghiệp  
này thể hiện ở chỗ doanh nghiệp KH&CN được các KH&CN trong trường đại học (USO) là doanh  
trường tạo điều kiện tiếp cận các nguồn lực (tài nghiệp được thành lập bởi cá nhân hoặc nhóm các  
chính, công nghệ, con người, thiết bị kĩ thuật...), đổi nhà khoa học có tinh thần kinh thương, nắm giữ bí  
lại các trường có được nguồn thu từ hoạt động của quyết kinh doanh hoặc khoa học công nghệ, các  
doanh nghiệp [10]. Tóm lại, theo Hogan và Zhou doanh nghiệp này được tách ra hoạt động độc lập  
(2010) doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học trên cơ sở áp dụng/khai thác kết quả nghiên cứu  
được định nghĩa là doanh nghiệp được thành lập để khoa học công nghệ của trường đại học”.  
khai thác tri thức được phát triển trong một trường  
2.2. Đặc điểm và phân loại doanh nghiệp khoa  
đại học dựa trên thỏa thuận tài chính giữa công ty và học & công nghệ  
trường đại học, bất kể sinh viên và nhân viên của  
Doanh nghiệp KH&CN có nhiều hình thức khác  
trường có tham gia vào quá trình sáng tạo hay nhau như doanh nghiệp KH&CN tập trung công  
không. Klofsten và Jones-Evans (2000) cho rằng, nghệ nhằm mục đích khai thác công nghiệp, doanh  
doanh nghiệp khoa học & công nghệ phải thỏa mãn nghiệp KH&CN tập trung bí quyết vào cung ứng  
các điều kiện: (i) Là một công ty mới có tư cách dịch vụ, doanh nghiệp KH&CN spin-off, doanh  
pháp nhân riêng biệt, không phải là cơ sở mở rộng, nghiệp KH&CN start -up, doanh nghiệp KH&CN  
cũng không phải là công ty con được kiểm soát bởi spin-off học thuật (ASO), doanh nghiệp KH&CN  
trường đại học, mà là một cơ cấu tự quản theo đuổi spin-off sinh viên (SSO), doanh nghiệp spin-off  
các hoạt động tạo ra lợi nhuận; (ii) Tổ chức mẹ của ngoại lai (extrapreneurial spin-offs) và doanh  
các doanh nghiệp là các tổ chức định hướng nghiên nghiệp spin-off nội sinh (intrapreneurial spin-offs),  
cứu như các trường đại học, phòng thí nghiệm quốc doanh nghiệp khoa học & công nghệ spin - off định  
gia, trường kỹ thuật hoặc viện nghiên cứu liên kết hướng sản phẩm và doanh nghiệp KH&CN spin-off  
trường đại học; (iii) Để khai thác tri thức từ hoạt định hướng dịch vụ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp  
động học thuật, điều này không chỉ bao gồm cải tiến KH&CN trong trường đại học thường có các đặc  
công nghệ hoặc bằng sáng chế [5, 11, 12], mà còn cả điểm sau:  
bí quyết khoa học và kỹ thuật được một cá nhân tích  
(1) Doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học  
lũy trong quá trình hoạt động học thuật [7]; (iv) sứ áp dụng công nghệ cao, trả lương hậu hĩnh và coi  
mệnh của các doanh nghiệp là đưa ý tưởng vào lĩnh trọng tinh thần khởi nghiệp [17]  
vực kinh doanh sản sinh ra lợi nhuận do vậy không  
tính đến các tổ chức phi lợi nhuận [13].  
(2) Doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học  
phát triển tri thức toàn cầu về công nghệ và khách  
khoa học  
!
thương mại  
72  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
hàng trong việc xây dựng các mạng lưới mới để tiếp doanh nghiệp. Cho tới thời điểm ở năm 2019, BK-  
cận tài chính, bán hàng và tiếp thị [18]  
Holdings vẫn được đánh giá là một trong những đơn  
(3) Doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học vị hoạt động hiệu quả nhất trong số các doanh  
có liên kết chặt chẽ với tổ chức “mẹ”, thông qua việc nghiệp trong trường đại học với doanh thu hợp nhất  
nắm giữ cổ phần, cơ sở ươm tạo, chuyển giao công khoảng 100 tỷ đồng, quy mô 400 nhân viên. BK-  
nghệ, tuyển dụng và hợp tác nghiên cứu [19]  
Holdings giống mô hình một công ty mẹ có một sứ  
(4) Doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học mạng cầu nối, khuyến khích và hỗ trợ các nhà khoa  
gồm những doanh nhân mà tinh thần kinh doanh công học tại trường đại học Bách khoa Hà Nội thành lập,  
nghệ của họ có thể biến đổi nền kinh tế toàn khu vực [17] phát triển công ty hoặc các hoạt động khởi nghiệp để  
(5) Doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học chuyển giao tri thức và kết quả nghiên cứu ra thực  
là nguồn lan tỏa công nghệ, có thể thúc đẩy sự xuất tiễn. BK-Holdings ngoài việc mang lại nguồn thu  
hiện của các cụm công nghệ tại địa phương [20]  
đáng kể và lợi nhuận đã chứng tỏ được mô hình  
(6) Doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học công ty trong trường ĐH là cầu nối hiệu quả giữa  
kích thích các doanh nghiệp đầu tư cho cơ sở hạ tầng đào tạo, nghiên cứu khoa học và áp dụng vào kinh  
và dịch vụ, từ đó mang lại lợi ích cho các công ty doanh, cung cấp dịch vụ.  
khởi nghiệp khác [21]  
Mô hình hoạt động của BK - Holdings là mô  
hình doanh nghiệp KH&CN spin-off trong trường  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng đại học. Điểm đặc biệt của mô hình doanh nghiệp  
phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể là phương KH&CN tại Đại học Bách Khoa mà cụ thể là BK-  
pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp quan sát, Holdings là mô hình hoạt động của doanh nghiệp  
phương pháp phỏng vấn sâu và phân tích dữ liệu. Dữ KH&CN rõ ràng. Theo đó, Trường Đại học Bách  
liệu sơ cấp thu thập qua phỏng vấn sâu và quan sát, Khoa sau thời gian hoạt động đã chuyển đổi mô hình  
dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo, bài báo công bố, các doanh nghiệp, tiếp cận theo mô hình doanh nghiệp  
thông tin phỏng vấn trả lời trên các trang báo mạng KH&CN spin-off. Với mô hình này BK Holdings  
được sử dụng để đánh giá thực trạng doanh nghiệp được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhiều  
KH&CN trong trường đại học công lập ở Việt Nam. hơn. Mô hình doanh nghiệp KH&CN theo hướng  
Để thấy rõ thực trạng doanh nghiệp KH&CN trong spin -off cho phép BK - Holdings chủ động trong  
trường ĐH, tác giả tiến hành nghiên cứu và phân tích các hoạt động của doanh nghiệp, theo đó BK-hold-  
ba doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học là ings được chủ động đầu tư vào các đơn vị, công ty  
BK-Holdings, Công ty TNHH Khoa học tự nhiên, con, công ty liên kết, các dự án theo cơ chế hợp tác  
Công ty CP công nghệ vi sinh IMBT. Sở dĩ lựa chọn với cá nhân và tổ chức. Điều này cho thấy tính chủ  
3 doanh nghiệp này để phân tích vì 3 doanh nghiệp động và tự chủ cũng như tự chịu trách nhiệm về mặt  
được thành lập ở hai cơ sở giáo dục đại học hàng đầu tổ chức hoạt động và cơ chế hoạt động của BK-hold-  
cả nước và thuộc danh sách top 1000 trường hàng ings. Đại học Bách Khoa đóng vai trò đón vị chủ  
đầu trên thế giới [22]. Mặt khác, đây cũng là các quản định hướng phát triển công ty thông qua việc  
doanh nghiệp KH&CN trong trường đại học đại diện nắm giữ vốn chi phối và nhân sự cấp cao thông qua  
tiêu biểu của mô hình này.  
4. Thực trạng doanh nghiệp KH&CN trong chức, bên cạnh nhóm các tổ chức giáo dục (BK  
trường đại học công lập ở Việt Nam Holdings Educations), mô hình thương mại hóa  
hội đồng thành viên và Tổng giám đốc. Về mặt tổ  
4.1. BK Holdings, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công nghệ của BK Holdings rất thành công nhờ  
Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Công được tổ chức gồm ba thành tố chủ yếu: nhóm nghiên  
nghệ Bách Khoa Hà Nội (BK-Holdings), tiền thân là cứu và công nghệ chuyển giao (BK Holdings  
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Công nghệ Technology); nhóm dịch vụ hỗ trợ trường đại học  
Bách Khoa Hà Nội được thành lập năm 2008. Đây trong chuyển giao - thực hiện vai trò của các văn  
là mô hình công ty cổ phần lần đầu tiên được thành phòng chuyển giao công nghệ (TTO) và ươm tạo  
lập tại một trường đại học công lập ở Việt Nam. Mục doanh nghiệp (BK Holdings Incubator) với nhiều dự  
tiêu thành lập công ty là nhằm huy động các nguồn án khởi nghiệp và hỗ trợ khởi nghiệp; nhóm các  
lực của nhà nước, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp doanh nghiệp triển khai công nghệ thương mại hóa.  
trong và ngoài nước tham gia vào quá trình nghiên  
Điểm đặc biệt của BK-holdings là việc thành lập  
cứu, ươm tạo và thương mại hóa các sản phẩm và hoạt động của các TTO rất hiệu quả. Quan điểm  
KH&CN của nhà trường. Các nhà khoa học trở nhìn nhận đúng về TTO giúp BK-holdings hoạt  
thành chủ thể góp vốn, trí tuệ và công sức xây dựng động hiệu quả. Theo đó, TTO đóng vai trò trung  
khoa học  
!
73  
thương mại  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
gian trong việc kết nối doanh nghiệp, với nhiệm vụ chóng, định nghĩa rõ ràng về doanh nghiệp KH&CN  
quan trọng là hỗ trợ về IP; cấu trúc phương thức trong trường đại học, đổi mới tổ chức và quan điểm  
chuyển giao công nghệ (CGCN); định giá; hỗ trợ nhìn nhận về trường đại học ngoài đào tạo, nghiên  
cách thanh toán, ký hợp đồng CGCN và hỗ trợ triển cứu hướng tới đại học khởi nghiệp. Mặt khác,  
khai CGCN. Với mô hình hoạt động này, BK-hold- Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội cũng là trường  
ings thực hiện được các hoạt động liên quan đến đại học có nền tảng nghiên cứu khoa học & công  
thương mại mà Trường Đại học Bách Khoa không nghệ mạnh. Số lượng các công bố quốc tế thuộc top  
thể thực hiện như hình thành pháp nhân tham gia 5 của các đại học ở Việt Nam. Kết hợp với mạng  
đấu thầu, áp dụng và thương mại hóa các đề tài lưới các doanh nghiệp xung quanh và sự thay đổi  
nghiên cứu có tiềm năng để thương mại hóa của khung pháp lý, sự hậu thuẫn của Chính phủ về  
KH&CN trong trường. Theo đó, BK holdings đóng Quốc gia khởi nghiệp, Đại học khởi nghiệp là những  
vai trò giúp thương mại hóa và đẩy các đề tài nghiên yếu tố thúc đẩy sự thành công của BK-holdings.  
cứu KH&CN ra thị trường. Thực hiện vai trò “push”  
Hệ thống BK-holdings có điểm khác biệt so với  
của hệ thống các doanh nghiệp trong trường đại học. các trường đại học khác là: thứ nhất, tách bạch hoạt  
Như vậy, có thể nhận thấy hệ thống này là một động chuyển giao công nghệ và sản xuất kinh doanh  
công cụ hữu hiệu, thuận lợi trong việc hợp tác, ra khỏi sự điều hành thuần túy hành chính của một  
thương mại và giao dịch những công nghệ trong cơ sở đào tạo và KH&CN công lập; thứ hai là minh  
trường đại học. Mặt khác, hệ thống này cũng đóng bạch hóa việc đưa tài sản nhà trường vào quá trình  
vai trò “pull”, kết quả hoạt động của BK-holdings sản xuất kinh doanh thông qua cố gắng tạo cơ chế để  
cho thấy họ có những hợp đồng với các doanh nhà khoa học trong trường tham gia thành lập các  
nghiệp trong nước và nước ngoài để cùng hợp tác doanh nghiệp. Giao cho doanh nghiệp KH&CN chịu  
đầu tư và thương mại hóa đưa kết quả nghiên cứu trách nhiệm “đứng mũi chịu sào” trong hoạt động  
KH&CN ra thị trường thông qua hoạt động hợp tác chuyển giao công nghệ, bao gồm cả đầu vào, đầu ra  
đầu tư và chuyển giao công nghệ. Điểm đặc biệt là và quan hệ với đối tác nhưng chịu sự quản lý giám  
các “lab” để thương mại hóa khác biệt so với các sát của Hiệu trưởng nhà trường với yêu cầu hoạt  
“lab” nghiên cứu, theo đó các “lab” thương mại hóa động phải khả thi và hiệu quả.  
có cơ chế hoạt động độc lập, có thể được thành lập  
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, BK-  
để các doanh nghiệp thuộc BK - holdings trực tiếp holdings vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình  
tham gia ký kết về các điều khoản đầu tư, hợp tác, hoạt động như việc chưa có định nghĩa rõ ràng về  
chia sẻ sở hữu trí tuệ với các tập đoàn nước ngoài doanh nghiệp KH&CN, cũng như thủ tục đăng ký  
một cách thuận tiện hơn. Với tư duy đó, hiện nay công nhận doanh nghiệp KH&CN còn khó khăn,  
Đại học Bách Khoa Hà Nội đã thành lập 2 “lab” như dẫn đến nhiều doanh nghiệp KH&CN trực thuộc  
vậy và có mạng lưới liên kết rộng với 25 viện đào BK-holdings chưa được hưởng các chính sách ưu  
tạo và nghiên cứu, 150 nhóm nghiên cứu với hơn đãi dành cho các doanh nghiệp KH&CN theo quy  
400 dự án/năm, 8 patens/năm và hình thành hệ định của Chính phủ về thuế, về thuê đất, về vay vốn  
thống cơ sở ươm tạo và các HUB công nghệ [23].  
hoạt động, lãi suất ưu đãi… Hiện nay, các doanh  
Về nguyên tắc hoạt động, đây là một mô hình nghiệp của BK-holdings vẫn hoạt động như doanh  
mở, theo đó BK - holdings với 100% vốn của nghiệp thường và đang chờ sự hỗ trợ từ cơ quan  
Trường nên Hội đồng thành viên do Trường bổ quản lý nhà nước để thuận lợi trong hoạt động, đồng  
nhiệm, tuy nhiên, BK- Holdings cử người đại diện thời có cơ hội tìm kiếm nguồn vốn, nguồn đầu tư từ  
tham gia hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị. các tổ chức nghiên cứu và hỗ trợ về nghiên cứu  
Bộ máy điều hành hoạt động do hội đồng thành viên KH&CN của Chính phủ.  
hoặc hội đồng quản trị quyết, không ra ban lãnh đạo  
Khó khăn của BK-holdings là thành viên tập trung  
Trường quyết định. Doanh nghiệp có thể sử dụng hầu hết trong lĩnh vực chuyên gia về công nghệ, do  
nhân lực của nhà trường dưới dạng các hợp đồng vậy thiếu hụt về nhân sự giỏi về tài chính, quản trị  
thuê khoán chuyên môn, hợp đồng tư vấn hoặc hợp kinh doanh, nhân sự xây dựng mạng lưới kết nối để  
đồng giảng dạy.  
môi giới. Đây là điểm yếu mà BK-holdings cần khắc  
Thành công của BK-holdings đến từ việc thay phục, việc liên kết với doanh nghiệp khác hoặc các  
đổi tư duy quản trị đại học, nhận thức của lãnh đạo trường đại học với thế mạnh về các lĩnh vực đó là một  
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội về doanh nghiệp hướng. Tuy nhiên cần làm rõ cơ chế và chính sách  
KH&CN trong trường đại học, về đại học khởi hợp tác để đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia.  
nghiệp. Quan điểm đổi mới và tiếp cận nhanh  
khoa học  
!
thương mại  
74  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
Mặt khác, mặc dù thay đổi tư duy quản trị đại khoa học công nghệ với đời sống xã hội, hỗ trợ các  
học, giao quyền tự chủ cho các đơn vị khoa học và nhà khoa học trong và ngoài trường phát triển các  
công nghệ, tuy nhiên việc thực hiện còn nhiều khó nghiên cứu và ứng dụng khoa học, cùng nhau đem  
khăn và vướng mắc bởi việc giao quyền tự chủ trong khoa học phục vụ công cuộc xây dựng đất nước”.  
các trường đại học còn vướng bởi luật tài sản, vì tài Hoạt động của Công ty TNHH Khoa học tự nhiên  
sản vẫn của Nhà nước. Hơn nữa luật viên chức, luật trong những năm gần đây tập trung chủ yếu ở đề tài,  
giáo dục đại học, luật sở hữu trí tuệ, cơ chế, chính nhiệm vụ hợp tác khoa học công nghệ với các bộ,  
sách chưa đồng bộ… đặc biệt là cơ chế khuyến ngành, địa phương. Tổng doanh thu của Công ty  
khích giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học và trong 5 năm từ 2011 - 2015 đạt 10 tỷ đồng, trong đó  
chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học.  
tăng chủ yếu ở năm 2015 với doanh thu 4,07 tỷ [1].  
Việc vướng mắc các luật, chính sách và cơ chế Năm 2018, doanh thu của Công ty đạt trên 5 tỷ đồng.  
chưa rõ ràng khiến BK-holdings chưa ban hành Mặc dù doanh thu chưa cao và quy mô hoạt động còn  
được cơ chế hoạt động, hoạt động chuyển giao theo nhỏ bé, nhưng điều đáng ghi nhận là Công ty đã có  
cơ chế thị trường cần thay vì cơ chế bao cấp như các hoạt động chuyển giao, thương mại hóa sản  
trước. Sự không rõ ràng cơ chế phân chia quyền lợi, phẩm và công nghệ từ kết quả nghiên cứu của các  
trách nhiệm và quyền sở hữu trí tuệ cũng như giảng viên trong Trường ĐH Khoa học tự nhiên. Ví  
chuyển giao sở hữu trí tuệ bởi sự ràng buộc về luật dụ tiêu biểu là 02 sản phẩm: khử mùi “Unisex” và  
và chính sách đối với các trường đại học là nút thắt nước giặt thân thiện với môi trường đã góp phần làm  
và khó khăn của các doanh nghiệp. Nhiều hoạt động tăng doanh thu và khẳng định hướng đi hiệu quả.  
của BK-holdings bị dừng lại hoặc chậm tiến độ bởi  
Cũng giống như BK-holdings, Công ty TNHH  
vướng mắc cơ chế, chính sách hỗ trợ chưa rõ ràng Khoa học tự nhiên có 100% vốn của Trường Đại học  
để vay vốn ngân hàng hoặc huy động nguồn vốn từ Tự nhiên. Đối với công ty TNHH Khoa học Tự  
thị trường (các nhà đầu tư mạo hiểm).  
nhiên, cơ cấu hoạt động được thành lập giống như  
Các quy định của luật giáo dục đại học về trách các mô hình doanh nghiệp trực thuộc khác, theo đó  
nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục, luật quản chủ tịch hội đồng thành viên và thành viên hội đồng  
lý tài sản công, tư duy quản lý nhà nước theo kiểu thành viên do Trường Đại học Tự nhiên bổ nhiệm.  
bao cấp là những rào cản khó khăn đối với hoạt Ban điều hành là cán bộ trực thuộc nhà trường được  
động của doanh nghiệp KH&CN trong trường đại biệt phái tham gia doanh nghiệp.  
học. Với Trường Đại học Bách Khoa mặc dù đã có  
Điểm khác biệt giữa công ty TNHH Khoa học tự  
sự chuyển biến rất mạnh mẽ, nhưng khung pháp lý nhiên so với BK - holdings là chưa có cơ chế hoạt  
và các chính sách là yếu tố khách quan mà Trường động cụ thể. Mặt khác, cơ chế quản lý vốn, về sở hữu  
Đại học Bách Khoa không thể thay đổi. Do vậy, quy trí tuệ, quản lý tài sản chưa có chính sách riêng của  
trình phức tạp để thực hiện việc theo dõi tài sản, VNU. Hoạt động quản lý vốn và tài sản vẫn dựa trên  
dòng vốn từ Trường sang BK-holdings và ngược lại luật và chính sách chung, chưa có các văn bản và  
gây mất nhiều thời gian.  
thông tư hướng dẫn cụ thể, hoặc nếu có mới chỉ chung  
Bản thân Trường Đại học Bách Khoa chưa được chung. Từ khi thành lập đến nay, công ty TNHH khoa  
tự chủ hoàn toàn, do vậy vốn nhà trường dành cho học tự nhiên hoạt động trên cơ sở phát sinh việc thì  
hoạt động đầu tư còn rất hạn chế, việc quản lý, sử thực hiện theo đề án thành lập hoặc xin ý kiến chỉ đạo  
dụng các tài sản công như máy móc, thiết bị còn của cơ quan chủ quản. Do vậy, hoạt động của doanh  
nhiều bất cập (các tài sản máy móc, thiết bị này nghiệp bị ảnh hưởng, hạn chế khả năng chuyển giao  
không thể chuyển sang cho doanh nghiệp sử dụng, công nghệ và thương mại hóa sản phẩm. Bên cạnh đó,  
mà hầu hết các máy móc này Trường sử dụng với chưa thu hút vốn đầu tư, chưa thu hút được nhân lực  
công suất thấp và xuống cấp do lâu ngày không sử giỏi tham gia hoạt động của doanh nghiệp, khó kêu  
dụng và không có chi phí bảo dưỡng, trong khi đó, gọi doanh nghiệp hợp tác và liên kết. Bài toán chồng  
với doanh nghiệp lại rất cần thiết).  
chéo về quản lý, sự phân tách không rõ ràng vai trò  
4.2. Công ty TNHH Khoa học Tự nhiên, của cơ quan chủ quản trong hoạt động điều hành và  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học kiểm soát. Thủ tục pháp lý và hành chính chưa rõ ràng  
Quốc gia Hà Nội  
gây khó dễ cho hoạt động của doanh nghiệp. Mặt  
Công ty TNHH Khoa học tự nhiên là doanh khác, cơ chế quản lý hành chính hóa, tập quyền không  
nghiệp trực thuộc Trường Đại học Khoa học tự giao quyền tự chủ dẫn đến khó khăn trong việc báo  
nhiên, VNU được thành lập ngày 20 tháng 5 năm cáo và chờ đợi phê duyệt. Chưa có sự tách bạch giữa  
2004. Sứ mệnh của Công ty là: “làm cầu nối giữa quản lý trường đại học và doanh nghiệp nên lãnh đạo  
khoa học  
!
75  
thương mại  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
nhà trường còn can thiệp sâu vào hoạt động của doanh vật và công nghệ sinh học, VNU vào năm 2016  
nghiệp thông qua cơ chế báo cáo và phê duyệt. Mặt nhằm triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh và  
khác, về cơ cấu tổ chức, ngoài quyết định thành lập, dịch vụ, thương mại hóa về sản phẩm vi sinh và  
hiện nay công ty TNHH khoa học tự nhiên chưa được công nghệ sinh học, thu hút đầu tư bên ngoài. Công  
phê duyệt quy chế hoạt động, điều này khiến doanh ty cổ phần công nghệ vi sinh IMBT được thành lập  
nghiệp khó khăn trong việc thực hiện các công tác về bởi Viện Vi Sinh Vật (IMBT) và một số cổ đông,  
nhân sự, tài chính, đầu tư, huy động vốn, chuyển giao trong đó IMBT chiếm 40% cổ phần. Trong đó, Viện  
công nghệ, thương mại hóa sản phẩm, liên kết với đối vi sinh không góp vốn bằng tiền, tài sản nhưng thế  
tác, xây dựng cơ chế phối hợp và đảm bảo quyền lợi mạnh có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên  
cho các đối tác tham gia hoạt động.  
cứu chế phẩm sinh học cho thức ăn chăn nuôi và có  
Về nhân sự, hiện nay nhân sự quản lý của doanh khả năng hỗ trợ cho IMBTCo trong quá trình R&D  
nghiệp do Trường Đại học Tự nhiên điều động biệt và sản xuất sản phẩm, do đó, cổ phần ghi danh của  
phái, biên chế thuộc Trường Đại học Tự nhiên Viện là 20% và Viện sẽ được hưởng quyền lợi 5 %  
nhưng lương và thu nhập do doanh nghiệp chi trả. tổng doanh thu và 20% lợi nhuận sau thuế từ hoạt  
Việc chưa rõ cơ chế hoạt động khiến doanh nghiệp động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Về cơ  
gặp khó khăn, nên việc chi trả lương và thu nhập cho chế quản lý, Viện đã cử cán bộ quản lý, chuyên môn  
cán bộ tham gia quản lý còn thấp. Về mặt tổ chức, tham gia vào hội đồng cố vấn khoa học; cử 01 Phó  
chưa rõ ràng nhiệm vụ và quyền hạn của lãnh đạo viện trưởng đại diện phần vốn góp ghi danh của  
doanh nghiệp nên cán bộ quản lý chưa chủ động Viện và tham gia vào HĐQT; các cán bộ chuyên  
công việc, sợ làm sai và trách nhiệm nên còn chờ môn khác tham gia vào Hội đồng cố vấn chuyên  
đợi xin chủ trương. Điều này khiến cho doanh môn, Ban kiểm soát theo đề án (thông qua hợp đồng  
nghiệp thụ động và khó khăn thu hút người tài, thuê khoán chuyên môn) theo phê duyệt nhằm đảm  
khiến nhân sự tập trung phát triển doanh nghiệp. bảo việc triển khai thực hiện các bước theo đúng đề  
Mặt khác, luật viên chức, luật lao động, quy chế làm án được phê duyệt; đảm bảo các nội dung chuyên  
việc khiến giảng viên, nhà nghiên cứu không có môn về quy trình công nghệ sản xuất; đảm bảo, duy  
động lực nghiên cứu. Đặc biệt là chính sách khuyến trì an toàn máy móc thiết bị tại Xưởng sản xuất thực  
khích nghiên cứu KH&CN hạn chế không tạo động nghiệm Hòa Lạc; kiểm soát hoạt động sản xuất kinh  
lực cho giảng viên dành thời gian và tập trung doanh tại Hòa Lạc được thông qua sự giám sát trực  
nghiên cứu ra sản phẩm tốt.  
tiếp của HĐQT cũng như lãnh đạo Viện, tránh các  
Giống như BK-holdings, Công ty TNHH khoa sai phạm trong hoạt động kinh doanh và thu hút  
học tự nhiên cũng vướng bởi việc sử dụng tài sản được nhà đầu tư có uy tín trong lĩnh vực phân phối  
công, máy móc và trang thiết bị. Mặc dù Trường Đại thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế (Công ty  
học Tự nhiên được đầu tư khá nhiều máy móc và TNHH NAN Việt Nam). Về bản quyền sáng chế;  
trang thiết bị, nhu cầu sử dụng trong đào tạo và máy móc, trang thiết bị và diện tích nhà xưởng, văn  
nghiên cứu rất thấp nhưng không thể chuyển giao để phòng. Để sản xuất được sản phẩm ra phục vụ  
doanh nghiệp sử dụng. Do vậy, doanh nghiệp khá thương mại hóa, Viện cần đối ứng kinh phí cho việc  
khó khăn trong việc đầu tư máy móc và thiết bị. Mặt sửa chữa trang thiết bị; đăng ký bản quyển KHCN;  
khác, do Trường ĐH Khoa học tự nhiên là trường đăng ký đủ điều kiện sản xuất sản phẩm ra thị  
công nên ngân sách và thu từ học phí thấp chỉ đủ để trường; cải tạo nhà xưởng,… Đặc biệt là phần đối  
chi trả đào tạo, do vậy tiền đầu tư cho hoạt động ứng kinh phí cho dự án FIRST triển khai tại Hòa Lạc  
nghiên cứu và doanh nghiệp không có, doanh nghiệp (mua máy móc, trang thiết bị phụ trợ; mở rộng và  
phải tự chủ về mặt tài chính. Cơ chế phân cấp, phân cải tạo nhà xưởng theo quy chuẩn; hóa chất, vật tư  
quyền, trách nhiệm không rõ ràng, không có cơ chế tiêu hao cho việc hoàn thiện quy trình công nghệ sản  
hợp tác, không rõ ràng về mặt sở hữu trí tuệ là những xuất thử nghiệm,…). Vì vậy, Viện cùng với công ty  
rào cản lớn khiến cho công ty TNHH khoa học tự IMBTCo đã ký Hợp đồng hợp tác đầu tư số  
nhiên không phát triển mà chỉ hoạt động cầm chừng 01/2017-IMBTCo ngày 01/11/2017 để triển khai  
mặc dù sản phẩm tốt và thị trường có nhu cầu.  
các hoạt động đối ứng trên và cho hoạt động triển  
4.3. Công ty cổ phần công nghệ vi sinh IMBT khai dự án FIRST.  
(trực thuộc Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh  
học, VNU)  
Trong quá trình hoạt động, cũng giống như công  
ty TNHH Khoa học tự nhiên, công ty cổ phần công  
Công ty cổ phần công nghệ vi sinh vật IMBT nghệ vi sinh IMBT cũng gặp khó khăn trong quá  
(IMBTCo) được thành lập trực thuộc Viện vi sinh trình hoạt động mặc dù nhu cầu thị trường có, bởi  
khoa học  
!
thương mại  
76  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
cơ chế và chính sách. Việc không rõ ràng về chính ngại trong việc vận hành các doanh nghiệp khoa học  
sách và cơ chế liên kết phối hợp dẫn đến các đối tác công nghệ.  
không thấy hấp dẫn và không đảm bảo quyền lợi  
Thứ hai, các chính sách sử dụng về cơ sở vật  
khi tham gia đầu tư và liên kết với công ty IMBT. chất, thương hiệu, cũng như nguồn lực để triển khai  
Sự khác biệt về quan điểm đầu tư, sự không rõ ràng các hoạt động của doanh nghiệp còn hạn chế, vướng  
về sở hữu trí tuệ, cơ chế phụ thuộc là nguyên nhân nhiều thủ tục và quy định hành chính. Do vậy, việc  
dẫn đến hợp tác thất bại và dừng hoạt động của khai thác các cơ sở vật chất, nguồn lực của các  
IMBT vào năm 2019. Mặt khác, VNU là đơn vị đào trường đại học để triển khai hoạt động của doanh  
tạo và nghiên cứu hàng đầu, tuy nhiên việc đổi mới nghiệp gần như bằng không. Đa số nguồn lực phải  
tư duy và thay đổi để thích nghi với đại học khởi huy động từ các cá nhân tham gia hoạt động của  
nghiệp còn chậm, bởi truyền thống lâu đời, hệ doanh nghiệp hoặc nếu có thì phải tạm ứng trước và  
thống bộ máy cồng kềnh, sự đột phá nhanh và sáng sau một đến hai năm mới có nguồn lực để hoàn trả.  
tạo bị hạn chế. Điểm chung của IMBT và công ty Tuy nhiên thủ tục phức tạp và mất nhiều thời gian.  
TNHH Khoa học tự nhiên là mô hình doanh nghiệp Do vậy, đây cũng là một hạn chế khiến hoạt động  
mới, kinh nghiệm chưa có, khung pháp lý chưa của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng.  
hoàn chỉnh dẫn đến tâm lý sợ sai khi thực hiện. Đây  
Thứ ba, chính sách quản lý và hỗ trợ chưa rõ  
là điểm hạn chế của VNU, do vậy để phát triển mô ràng giữa doanh nghiệp và đơn vị chủ quản.  
hình doanh nghiệp KH&CN này, VNU cần ban  
hành các chính sách và các văn bản hướng dẫn  
6. Hàm ý đề xuất và hạn chế của nghiên cứu  
Thực tế cho thấy, hiện nay xu hướng phát triển  
thống nhất và xuyên suốt, xây dựng cơ chế quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường  
trao quyền chủ động tự chịu trách nhiệm cho các đại học đang phát huy được nhiều giá trị, đặc biệt nó  
đơn vị trực thuộc để triển khai hoạt động và cũng thúc đẩy việc chuyển giao tri thức và công nghệ giữa  
như thành lập pháp nhân để thương mại hóa sản cơ sở đào tạo và nghiên cứu với thực tiễn cuộc sống.  
phẩm nghiên cứu.  
5. Thảo luận về doanh nghiệp KH&CN trong chế tự chủ đại học, cơ cấu tổ chức và điều hành  
trường đại học tại Việt Nam trường ĐH hướng tới xu hướng quản trị đại học,  
Cùng với xu hướng đổi mới trường đại học theo cơ  
Mặc dù có những thành công bước đầu trong tăng cường hợp tác và định hướng khởi nghiệp đổi  
việc tạo ra doanh thu và chuyển giao công nghệ, mới sáng tạo là xu hướng tất yếu và cũng là nhu cầu  
thực hiện được sứ mệnh của doanh nghiệp KH&CN tự thân, mang lại lợi ích lâu dài cho các CSGDĐH.  
trong trường đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Điều này đáp ứng yêu cầu khách quan và đem lại lợi  
sự thành công của BK-holdings gắn liền với cơ chế ích cho các bên liên quan, nhà nước và xã hội. Mối  
hoạt động, các chính sách hỗ trợ phát triển doanh liên kết giữa ba bên trong mô hình xoắn: chính phủ  
nghiệp KH&CN, cũng như quan điểm của lãnh đạo - trường đại học - doanh nghiệp là mô hình mang lại  
cơ quan chủ quản. So sánh giữa BK-holdings và các sự phát triển bền vững và được chú trọng phát triển.  
doanh nghiệp trực thuộc VNU cho thấy, thành công Do vậy, phát triển doanh nghiệp trong trường đại  
và thuận lợi của một doanh nghiệp KH&CN trong học được coi là minh chứng sống động cho xu  
trường đại học phụ thuộc nhiều vào quan điểm tư hướng phát triển nói trên. Để thúc đẩy phát triển mô  
duy quản trị đại học của lãnh đạo nhà trường, bên hình doan nghiệp KH&CN trong trường đại học, tác  
cạnh đó là hệ thống các chính sách của nhà trường, giả hàm ý một số đề xuất:  
cơ chế và tổ chức hoạt động, cũng như quan điểm  
đổi mới giáo dục đại học, cập nhập và thích nghi với  
đại học khởi nghiệp.  
Đối với cơ sở giáo dục đại học  
- Hoàn chỉnh mô hình doanh nghiệp khoa học &  
công nghệ trong trường đại học  
Theo kết quả nghiên cứu, bên cạnh những thành  
- Đổi mới tổ chức, điều hành và phát triển các  
công bước đầu thì các công ty như BK Holdings và CSGDĐH theo mô hình “doanh nghiệp“, phù hợp  
Công ty TNHH Khoa học Tự nhiên, công ty cổ phần với xu thế GDĐH 4.0 và đáp ứng yêu cầu của  
công nghệ vi sinh IMBT đều gặp rất nhiều khó khăn QTĐH tiên tiến.  
trong qua trình hoạt động mà nguyên nhân chủ yếu là:  
- Tạo dựng môi trường bên ngoài trường ĐH bao  
Thứ nhất, việc thành lập doanh nghiệp KH&CN gồm mạng lưới sáng tạo và các chính sách từ chính  
trong trường đại học đa số cán bộ quản lý đều được phủ, các cơ chế thực hiện để thúc đẩy phát triển  
bổ nhiệm, luân chuyển từ các đơn vị thuộc khối giáo doanh nghiệp thông qua tạo dựng các yếu tố nền  
dục đào tạo nên tư duy doanh nghiệp còn hạn chế, tảng: tinh thần doanh nghiệp và các nguồn lực để  
mặt khác lối mòn về quản lý nhà nước là một trở phát triển doanh nghiệp trong ĐH.  
khoa học  
!
77  
thương mại  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
- Có cơ chế để hoàn thiện các hoạt động của chu  
kỳ: nghiên cứu - thử nghiệm - chuyển giao ứng dụng  
Nhóm giải pháp với các doanh nghiệp khác  
- Cần thay đổi nhận thức và quan điểm về hợp  
thực tiễn tiến tới thương mại hóa trong các cơ sở tác với doanh nghiệp theo nguyên tắc: Tăng cường  
giáo dục đại học.  
hiểu biết lẫn nhau và hai bên cùng có lợi ích trong  
- Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả hợp tác giữa 3 các hợp tác; Trường ĐH cần chủ động xây dựng kế  
bên trong mô hình soắn: Chính phủ - Đại học - hoạch phát triển đối tác để xây dựng các hợp tác lâu  
Doanh nghiệp.  
dài có tính chiến lược;  
- Chuyên nghiệp hóa thay thế các phương thức  
- Trong NCKH, với tư duy kinh phí nghiên cứu  
phi chính thống và luồng tri thức tiềm ẩn bằng logic KH&CN là đầu tư cho phát triển kinh doanh và phục  
thị trường trên việc thu hồi toàn bộ chi phí và xác vụ yêu cầu của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu thị  
nhận quyền sở hữu đối với tri thức.  
trường, chính sách và quản lý đề tài, đề án cần theo  
- Làm rõ các chính sách và cơ chế quản lý cần hướng gắn với các nhu cầu này và có thể chuyển giao  
kết hợp hài hòa các lợi ích và trách nhiệm giữa nhà trong thực tiễn. Như vậy, chiến lược NCKH của các  
trường và các đơn vị nghiên cứu/dịch vụ trực thuộc. trường ĐH cần chuyển hướng sang nguồn kinh phí  
- Xây dựng các chính sách, cơ chế và các quy từ đặt hàng của doanh nghiệp và thị trường thay vì  
định về hình thức, nội dung, cơ chế hợp tác và đãi chỉ tập trung vào các Đề án, đề tài do NSNN cấp (chủ  
ngộ để khuyến khích nhà khoa học tích cực khai yếu là nghiên cứu cơ bản và lý luận).  
thác các hợp tác với doanh nghiệp song song với  
việc đăng ký, xác lập và chuyển giao quyền sở hữu liên lạc, chia sẻ thông tin, ý tưởng thông qua bộ  
trí tuệ cho các doanh nghiệp. phận chuyên trách về hợp tác hoặc thông qua các dự  
- Cần duy trì thường xuyên các kênh tiếp xúc và  
- Có chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, xúc tiến thành án và các hoạt động chung với doanh nghiệp; xây  
lập doanh nghiệp để thu hút tiềm năng của các cá dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp đối  
nhân, bộ phận trong nhà trường khai thác kết quả tác để tiếp cận nguồn vốn đầu tư nghiên cứu, sản  
nghiên cứu, ý tưởng kinh doanh, hợp tác, liên doanh, xuất thử ngay từ giai đoạn đầu của các nghiên cứu;  
liên kết với các doanh nghiệp có uy tín để tăng nhanh  
- Trên cơ sở kế hoạch hợp tác và chiến lược  
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thuộc trường. NCKH, trường ĐH cần kết hợp hài hòa các lợi ích  
- Chủ động mời các nhà quản lý, nhà quản trị và trách nhiệm trong triển khai hợp tác với doanh  
giỏi tham gia vào hoạt động đào tạo, nghiên cứu và nghiệp ngay từ giai đoạn đầu theo hướng: nhà  
làm việc tại các doanh nghiệp/đơn vị kinh doanh của trường ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao công nghệ,  
nhà trường.  
cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và tư vấn  
- Chuyển đổi mô hình tổ chức và quản trị để đảm về các vấn đề của doanh nghiệp; ngược lại, doanh  
bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đại học. nghiệp có định hướng, xây dựng kế hoạch đầu tư  
Theo đó, mô hình tổ chức và quản trị đại học cần cho nghiên cứu & phát triển công nghệ và tiếp nhận  
thay đổi căn bản để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao kết quả để thương mại hóa;  
của xã hội và xu thế của thời đại.  
- Xây dựng các chính sách, cơ chế và các quy  
- Đổi mới quản lý nội bộ trường đại học theo định về hình thức, nội dung, cơ chế hợp tác và đãi  
hướng tăng tính dân chủ, hiệu quả và thực chất cho ngộ để khuyến khích nhà khoa học và cá nhân tích  
nhà trường từ các nghiên cứu của các giảng viên và cực khai thác các hợp tác với doanh nghiệp song  
nghiên cứu viên.  
song với việc đăng ký, xác lập và chuyển giao quyền  
- Thành lập trung tâm chuyển giao công nghệ và tri sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp để có nguồn thu  
thức trên cơ sở trao quyền tự chủ và chịu trách nhiệm. từ nghiên cứu, phát triển.  
- Tổ chức tốt hoạt động tuyên truyền, truyền  
- Đặc biệt, kinh nghiệm từ các ĐH trên thế giới  
thông và đào tạo về doanh nghiệp, doanh nhân; thúc cho thấy, phát huy tự do học thuật và dân chủ trong  
đẩy tinh thần doanh nhân trong nhà trường. quản lý sẽ là động lực thúc đẩy các hợp tác và làm  
- Linh hoạt trong hình thành và tổ chức hoạt tăng hiệu quả cho tất cả các giải pháp nêu trên trong  
động doanh nghiệp trong các trường ĐH.  
Nhóm giải pháp với Chính phủ, cơ quan quản lý  
nhà nước  
một đại học hiện đại.  
Mặc dù đã cố gắng, nhưng việc nghiên cứu tình  
huống ba doanh nghiệp để từ đó phân tích thực trạng  
- Hoàn thiện chính sách và hệ thống quản lý, đầu hoạt động và các chính sách cũng như những hạn chế  
tư từ ngân sách: cần trọng tâm, trọng điểm, xây dựng và nguyên nhân tồn tại của các doanh nghiệp  
các chính sách hỗ trợ người học (cho vay vốn đào tạo) KH&CN trong trường đại học có thể không bao trùm  
- Cải cách cơ chế quản lý các đại học: tăng tự do học và đại diện cho tất cả các doanh nghiệp KH&CN  
thuật, phát triển chương trình đào tạo và nghiên cứu  
trong trường đại học, bởi mỗi trường đại học và mỗi  
- Tháo gỡ các rào cản pháp luật về thành lập lĩnh vực ngành nghề có đặc trưng riêng. Do vậy, kết  
doanh nghiệp trong các trường đại học công lập.  
quả nghiên cứu có thể có sự sai lệch hoặc hạn chế  
khoa học  
!
thương mại  
78  
Số 151/2021  
Ý K I Ế N T R A O Đ Ổ I  
hơn nếu nghiên cứu được đầy đủ các doanh nghiệp  
KH&CN trong trường đại học ở Việt Nam.!  
16. Vũ Cao Đàm, Lại bàn về doanh nghiệp Khoa  
học và Công nghệ, Hoạt động khoa học, Bộ Khoa  
học và Công nghệ, 2006, 10.  
Tài liệu tham khảo:  
17. Etzkowitz, H.J.I.T. and S. Magazine, The  
second academic revolution and the rise of entrepre-  
1. Đinh Văn Toàn, Hợp tác đại học-doanh neurial science, 2001, 20(2): p. 18-29.  
nghiệp trên thế giới và một số gợi ý cho Việt Nam,  
18. Dahlstrand, Å.L.J.R.S., Technology-based  
SMEs in the Go¨ teborg Region: Their Origin and  
2016, 32(4).  
2. Nguyễn Đức Long, Mối quan hệ Đại học - Interaction with Universities and Large Firms, 1999,  
Nghiên cứu - Doanh nghiệp trong việc thúc đẩy và 33(4): p. 379-389.  
phát triển CNC ở Việt Nam, 2003, Ban Quản lý Khu  
Công nghệ cao Hòa Lạc.  
19. Heydebreck, P., M. Klofsten, and J. Maier,  
Innovation support for new technology based firms: the  
3. Nguyễn Quân, Doanh nghiệp Khoa học Công Swedish Teknopol approach, 2000, 30(1): p. 89-100.  
nghệ - Một lực lượng sản xuất mới, Tạp chí Hoạt  
động khoa học, 2006, 10.  
20. Di Gregorio, D. and S.J.R.p. Shane, Why do  
some universities generate more start-ups than oth-  
4. Nguyễn Lê Hồng Minh, Vai trò của các Spin- ers? 2003. 32(2): p. 209-227.  
off trong việc thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu  
21. Lockett, A., M. Wright, and S.J.S.b.e.  
khoa học vào thực tiễn (Nghiên cứu trường hợp Đại Franklin, Technology transfer and universities' spin-  
học Khoa học Tự nhiên), 2017, Trường Đại học Khoa out strategies, 2003. 20(2): p. 185-200.  
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
22. Dương Tâm, Hai đại học Việt Nam vào top  
5. Smilor, R.W., D.V. Gibson, and G.B.J.J.o.b.v. 1.000 thế giới, 2019; Available from: https://vnex-  
Dietrich, University spin-out companies: technology press.net/hai-dai-hoc-viet-nam-vao-top-1-000-the-  
start-ups from UT-Austin, 1990, 5(1): p. 63-76.  
gioi-3980910.html.  
6. Steffensen, M., E.M. Rogers, and K.J.J.o.b.v.  
23. Phan Minh, BK Holdings và mô hình ươm  
Speakman, Spin-offs from research centers at a tạo, chuyển giao công nghệ từ trường đại học, 2018;  
research university, 2000, 15(1): p. 93-111.  
7. Rappert, B., A. Webster, and D.J.R.p. Charles, hinh-uom-tao-chuyen-giao-cong-nghe-tu-truong-  
Making sense of diversity and reluctance: academ- dai-hoc-ar426988.html.  
ic-industrial relations and intellectual property,  
1999, 28(8): p. 873-890.  
Summary  
8. Pirnay, F. and B.J.S.b.e. Surlemont, Toward a  
typology of university spin-offs, 2003, 21(4): p. 355-369.  
9. Shane, S.A., Academic entrepreneurship:  
University spinoffs and wealth creation, 2004,  
Edward Elgar Publishing.  
10. Hogan, T. and Q.J.N.T.-B.F.i.t.N.M. Zhou,  
Chapter 2 defining university spin-offs, 2010, p. 7-23.  
11. Bellini, E., et al, Strategic paths of academic  
spin-offs: A comparative analysis of Italian and Swedish  
cases, in 44th ICSB Conference, Naples. 1999.  
12. McQueen, D.H. and J.T.J.T. Wallmark, Spin-  
off companies from Chalmers University of  
Technology, 1982, 1(4): p. 305-315.  
13. Klofsten, M. and D.J.S.B.E. Jones-Evans,  
Comparing academic entrepreneurship in Europe-the  
case of Sweden and Ireland, 2000, 14(4): p. 299-309.  
14. Vũ Thị Liên, Hình thành doanh nghiệp spin-  
off trong các tổ chức NC&TK góp phần thúc đẩy  
thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (Trường  
hợp ngành dược), 2008, Trường Đại học Khoa học  
Xã hội & Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội.  
15. Nguyễn Vân Anh, Nguyễn Hồng Hà, and  
L.V. Toàn, Doanh nghiệp KH&CN Việt Nam: Thực  
trạng và giải pháp phát triển, Chính sách và quản lý  
khoa học và công nghệ, 2014. 3(3).  
This study focuses on clarifying the concept of  
Science and Technology (S&T) enterprise in univer-  
sity and analyzing the current situation of S&T  
enterprises in the context of public universities in  
Vietnam. The case study methodology was applied  
in this research. Particularly, S&T enterprises of  
Hanoi University of Science and Technology  
(HUST) and Vietnam National University, Hanoi  
(VNU) were chosen to study as they are the leading  
institutions in scientific research and technology  
transfer. The research results show some limitations  
and causes hindering the development of these  
enterprises. On the basis of analyzing the current sit-  
uation, the author implies a number of solutions to  
develop the S&T enterprise model in Vietnamese  
universities.  
khoa học  
79  
thương mại  
Số 151/2021  
pdf 11 trang Thùy Anh 14500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường Đại học Công lập tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdoanh_nghiep_khoa_hoc_va_cong_nghe_trong_truong_dai_hoc_cong.pdf