Vai trò của tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học
VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61
Original Article
The Role of Intangible Assets
of Scientific Research Human Resources
Mai Ha1,, Nguyen Van Hoa
Ministry of Science and Technology, 113 Tran Duy Hung, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
Received 08 December 2020
Revised 18 December 2020; Accepted 22 December 2020
Abstract: The article provides analysis of the scientific concepts and contents related to the
intangible assets of scientific research human resources. With scientific arguments, the author gives
his views to the important role of intangible assets of science and technology human resources in
general and scientific research human resources in particular. In the process of designing policies
for development of science and technology human resource, policy makers should take into account
the intangible assets of scientific research human resources to create an adequate environment for
scientific creative labor and to provide right assessments of the value of creative work in research
and development activities.
Keywords: Intangible asset, scientific research, development policy, scientific creative work,
scientific research human resource, innovation.
________
Corresponding author.
Email address: [email protected]
53
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61
54
Vai trò của tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học
Mai Hà, Nguyễn Văn Hòa
Bộ Khoa học và Công nghệ, 113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 08 tháng 12 năm 2021
Chỉnh sửa ngày 18 tháng 12 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 22 tháng 12 năm 2021
Tóm tắt: Bài viết phân tích khái niệm và nội hàm khoa học liên quan tài sản vô hình của nhân lực
nghiên cứu khoa học. Bằng những lập luận khoa học, tác giả đã lập luận về vai trò quan trọng của
tài sản vô hình của nhân lực khoa học và công nghệ nói chung và của nhân lực nghiên cứu khoa học
nói riêng. Trong quá trình thiết kế chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ, chủ thể
ban hành chính sách cần tính đến tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học để tạo môi
trường cho lao động sáng tạo khoa học, đánh giá đúng giá trị của lao động sáng tạo trong hoạt động
nghiên cứu nghiên cứu và triển khai.
Từ khóa: Tài sản vô hình, nghiên cứu khoa học, chính sách phát triển, lao động sáng tạo khoa học,
nhân lực nghiên cứu khoa học, đổi mới (theo định nghĩa tại [1] và [2]).
Muốn có một chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội thông minh, cần phải có chính sách phát
triển nhân lực khoa học và công nghệ, khơi dậy
lao động sáng tạo của các nhà khoa học trong
nghiên cứu và triển khai. Muốn vậy thì việc đầu
tiên là phải hiểu, nhận diện được và đánh giá
đúng giá trị tài sản vô hình của các nhà khoa học.
1. Dẫn nhập
Trong thời đại hiện nay, những thành tựu to
lớn của khoa học và công nghệ đang tác động sâu
sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tất cả
các quốc gia trên thế giới. Có thể khẳng định
rằng không có quốc gia nào lại không nhận thức
được vị trí quan trọng của nhân lực khoa học và
công nghệ trong chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội. Những quốc gia càng phát triển, nhận thức
này càng rõ ràng. Những nước đang phát triển dù
có nhận thức về vai trò quan trọng đó, mà không
có những chính sách phù hợp, thông minh,
không có tầm quản lý để đánh giá đúng giá trị
của lao động sáng tạo khoa học và nhân lực khoa
học và công nghệ, thì cũng không thể chờ đợi gì
từ thành tựu của khoa học và công nghệ. Những
nước phát triển trong khu vực châu Á như Nhật
Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan... đều lựa
chọn chiến lược phát triển dựa chủ yếu vào yếu
tố con người, đó là vốn quý nhất của mọi quốc
gia. Trong yếu tố con người đó, điều được chú
trọng là lao động sáng tạo trong quản lý, lao động
nghiên cứu khoa học và công nghệ trên nền tảng
chung là một chiến lược phát triển nhân lực khoa
học và công nghệ.
2. Lao động nghiên cứu khoa học và tài sản
vô hình
Trong bài nghiên cứu này, các tác giả quan
niệm và thống nhất một số khái niệm như sau:
2.1. Nghiên cứu khoa học và một số khái niệm
liên quan
Nghiên cứu khoa học là hoạt động quan
trọng, rất có ý nghĩa trong việc tạo ra những đột
phá và những sự phát triển vượt bậc cho xã hội.
Nghiên cứu khoa học (tiếng Anh là “Scientific
Research”), được OECD định nghĩa: "nghiên
cứu là hoạt động sáng tạo được thực hiện một
cách có hệ thống nhằm làm giàu tri thức, bao
gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61
55
sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng
dụng mới" [3].
Lao động nghiên cứu khoa học có những đặc
điểm sau:
(i)
Nghiên cứu khoa học là quá trình tạo ra tri
thức mới có tính quy luật về sự vận động của tự
nhiên, xã hội và tư duy. Như vậy, lao động
nghiên cứu khoa học là lao động sáng tạo, là lao
động tạo ra những tri thức mới có tính khách
quan, là kết quả của quá trình nghiên cứu bằng
một hay một số phương pháp nghiên cứu khoa
học. Nói cách khác, sử dụng phương pháp
nghiên cứu khoa học là bắt buộc đối với sáng
tạo khoa học, bởi nó đảm bảo tính khách quan,
tính quy luật của tri thức mới. Đối với công
việc sáng tạo nói chung thì chỉ cần hai yếu tố
mới về chất lượng và hữu dụng là đủ, song đối
với lao động nghiên cứu khoa học còn đòi hỏi
thêm là phải tạo ra sản phẩm sáng tạo, là kết quả
của quá trình nghiên cứu và được kiểm nghiệm
bằng một hoặc một số phương pháp nghiên cứu
khoa học [4].
là lao động trí óc;
(ii)
là lao động sáng tạo;
(iii)
là lao động có tính mạo hiểm cao
(mức độ thành công không lớn);
là lao động có tính độc lập cá thể cao;
là lao có độ trễ và có tác động to lớn
đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
(iv)
(v)
2.3. Tài sản vô hình
Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái
vật chất, có chủ sở hữu và có giá trị.
Đối với mỗi quốc gia, tài sản vô hình quốc
gia có thể bao gồm: tổng tài sản trí tuệ (sở hữu
trí tuệ) và tài năng của người dân, nền văn hóa
đặc sắc của quốc gia, lịch sử quốc gia, vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên, danh lam thắng cảnh, vị
thế trên thị trường, niềm tin và tinh thần lạc quan
của người dân, môi trường và thể chế xã hội...
Nhân lực nghiên cứu khoa học được hiểu là
cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học thực hiện
lao động nghiên cứu khoa học.
Đối với doanh nghiệp, tài sản vô hình doanh
nghiệp có thể bao gồm: tổng tài sản trí tuệ (sở
hữu trí tuệ) và tài năng của nhân lực của doanh
nghiệp, văn hóa và truyền thống đặc sắc thù của
doanh nghiệp, lợi thế thương mại, giấy phép hoạt
động, uy tín của doanh nghiệp, qui trình sản
xuất - kinh doanh, cơ sở dữ liệu, quan hệ khách
hàng, cơ cấu tổ chức, các loại chứng chỉ chất
lượng,…
Chính sách là tập hợp các giải pháp được thể
chế hóa của chủ thể có quyền lực nhằm hướng
đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu nào đó.
Tăng trưởng là sự gia tăng về lượng [5, tr.
22]; Phát triển là sự gia tăng về chất và có tính
cân đối hợp lý [5, tr. 22];
Sáng tạo (tương đương tiếng Anh là Creation)
là thay đổi kèm theo yếu tố mới, tốt hơn về chất
lượng/về nội dung/về cấu trúc [2, tr. 4].
Đối với cá nhân mỗi người, tài sản vô hình
cá nhân có thể bao gồm tổng tài sản trí tuệ (sở
hữu trí tuệ), thành tích đóng góp cho xã hội
được xã hội ghi nhận, trình độ học vấn và uy
tín cá nhân, uy tín của gia đình, uy tín của dòng
họ, mối quan hệ xã hội,… (Ở một chừng mực
nào đó, có thể hiểu tài sản vô hình cá nhân bao
gồm tài sản trí tuệ và vốn xã hội của cá nhân đó.
Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, khái niệm
vốn xã hội sẽ không được đề cập sâu).
Chính sách KH&CN là tập hợp các giải pháp
của chủ thể quản lý ban hành để triển khai hoạt
động KH&CN nhằm đạt mục tiêu nào đó.
2.2. Lao động nghiên cứu khoa học
Lao động là hoạt động của con người tương
tác với thiên nhiên và trong trong xã hội tạo ra
giá trị đáp ứng nhu cầu của cuộc sống con người.
Đó có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần.
Với khái niệm về tài sản vô hình cá nhân như
trên, có thể nhận thấy những đặc điểm sau:
(i) Tài sản vô hình cá nhân không tách rời
khỏi chủ sở hữu và việc khai thác tài sản vô
hình này phụ thuộc vào tinh thần và ý chí của
chủ sở hữu;
Lao động nghiên cứu khoa học là hoạt động
có hệ thống của người có tri thức, nhằm tạo ra
hoặc hoàn thiện những sản phẩm khoa học [4].
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61
56
(ii) Tài sản vô hình cá nhân luôn chứa đựng
sự năng động, sáng tạo tiềm tàng to lớn và không
có giới hạn;
khoa học và công nghệ nói riêng. Toàn bộ hệ
thống lương và các loại định mức cho việc thực
hiện các công trình khoa học, các nhiệm vụ khoa
học và công nghệ đều được ước lượng từ công
lao động của nhân lực làm trong lĩnh vực hành
chính sự nghiệp. Chính vì vậy, hiện tượng di
động xã hội (chảy máu chất xám) ra nước ngoài
và chuyển sang lĩnh vực cho các doanh nghiệp
nước ngoài, sang các lĩnh vực dịch vụ khác tại
Việt Nam trong những năm qua là rất đáng suy
ngẫm đối với các nhà quản lý nhà nước.
(iii) Tài sản vô hình cá nhân có đăng ký sở
hữu trí tuệ có thể được truyền bá, chuyển giao,
được làm giàu thêm gấp bội.
3. Tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu
khoa học
Theo như khái niệm đã được thống nhất ở
mục 2.1. Nhân lực nghiên cứu khoa học được
hiểu là cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học
thực hiện lao động nghiên cứu khoa học như là
nghề nghiệp chính (một cách khác, ở đây gọi
là nhà nghiên cứu khoa học, hoặc gọn hơn nữa
là nhà khoa học). Nhân lực các nhà trí thức nói
chung, và các nhà khoa học nói riêng đều là
chủ sở hữu của một lượng tài sản vô hình của
chính mình và của cộng đồng. Đó thực sự là
một giá trị lớn có chất lượng rất cao.
Lao động sáng tạo của nhân lực trí thức,
của các nhà quản lý chính là lao động tạo ra
giá trị thặng dư cho xã hội (xem [6, tr. 53]. Tất
cả các quốc gia trên thế giới đều coi trọng yếu
tố nhân lực, đặc biệt là nhân lực trình độ cao;
kèm theo đó là các chính sách thu hút và trọng
dụng nhân lực trình độ cao được ban hành và
thực hiện nhất quán, bất kể nhân lực trình độ
cao ấy được sinh ra, lớn lên và đào tạo ở đâu,
miễn là có tri thức thực sự. Đặc điểm quan
trọng nhất của những chính sách này là tài sản
vô hình của nhân lực trình độ cao, của nhân lực
nghiên cứu khoa học được tính đến, được đánh
giá và được đối xử một cách bền vững và xứng
đáng nhất.
Đối với mỗi cá nhân nhân lực nghiên cứu
khoa học (nhà khoa học), tài sản vô hình cá
nhân có thể bao gồm: tổng tài sản trí tuệ (sở
hữu trí tuệ), thành tích đóng góp cho xã hội
được xã hội ghi nhận, trình độ học vấn và uy
tín các nhân, mối quan hệ xã hội. Các yếu tố
trên có thể được thể hiện qua 8 chỉ số sau:
Để kiểm nghiệm mức độ quan trọng những
yếu tố thuộc tài sản vô hình của nhân lực
nghiên cứu khoa học, một phiếu phỏng vấn
chuyên gia đã được gửi đến chính các nhà
nghiên cứu khoa học làm việc tại các đơn vụ
nghiên cứu, đào tạo đại học và quản lý khoa
học nhằm tìm hiểu đánh giá của họ đối với: đặc
điểm của nhân cách nhân lực nghiên cứu (mục
B1), điều kiện cần của hoạt động nghiên cứu
khoa học (mục B2) và đối với tài sản vô hình
của nhân lực nghiên cứu khoa học (mục B3).
i) Chất lượng các công trình nghiên cứu:
bài báo, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu
ích,...;
ii) Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu:
kinh nghiệm và năng lực quản lý;
iii) Uy tín cá nhân;
iv) Đạo đức nghiên cứu;
v) Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân;
vi) Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học;
vii) Tầm nhìn chiến lược;
3.1 Phiếu phỏng vấn chuyên gia – nhân lực
nghiên cứu khoa học (nhân lực nghiên cứu)
viii) Năng lực dự báo.
50 Phiếu Phỏng vấn Chuyên gia đã được gửi
tới các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác
nhau. Đã có 40 Phiếu Phỏng vấn Chuyên gia
được thu về và được xử lý như sau (xem Bảng 2):
Riêng ở Việt Nam, giá trị của tài sản vô hình
của nhân lực nghiên cứu khoa học chưa được
tính đến trong các chính sách khoa học và công
nghệ nói chung và chính sách phát triển nhân lực
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61
57
Bảng 1. Phiêu phỏng vấn chuyên gia về đặc tính và các thành số tài sản vô hình
của nhân lực nghiên cứu khoa học
A. THÔNG TIN CHUNG
A1. Giới tính: 1. Nam
2. Nữ
A2. Tuổi: …………………….………………………………………………………..
A3. Nghề nghiệp:
1. Nhà nghiên cứu khoa học
2. Nhà quản lý khoa học
3. Nhà nghiên cứu kiêm quản lý khoa học
4. Nhà nghiên cứu kiêm giảng viên
A4. Học hàm, Học vị của ông/bà
5. Tiến sĩ
6. Phó giáo sư, Tiến sĩ
8. Tiến sĩ khoa học
9. Phó giáo sư, Tiến sĩ khoa học
10.Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
7. Giáo sư, Tiến sĩ
B. PHẦN XIN Ý KIẾN CHUYÊN GIA
B1. Theo ông/bà Nhân lực nghiên cứu có những đặc tính nào?
Đặc tính
1. Có tầm nhìn xa/tầm nhìn chiến lược;
2. Có tư duy hệ thống;
3. Tôn trọng khách quan;
4. Có lòng tự trọng;
5. Có lòng bao dung/hào hiệp;
6. Có độ thích nghi cao;
7. Có hoài bão;
Có
Không
Không rõ
8. Đặc tính khác (Xin ghi rõ)………………………
B2. Theo ông/bà Nhân lực nghiên cứu cần những gì để sẵn sàng cống hiến?
Nguyện vọng
1. Được tôn trọng;
Nhất thiết cần
Cần
Không cần
2. Được cung cấp đầy đủ kinh phí;
3. Cần được đánh giá khách quan;
4. Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh;
5. Cần có chức vụ;
6. Cần có thông tin khoa học và giao lưu quốc tế;
7. Cần được đảm bảo cuộc sống;
8. Cần tự do tư duy;
9. Cần có đầy đủ trang thiết bị;
10. Điều kiện nào khác (Xin ghi rõ)……………
B3. Theo ông/bà, yếu tố nào tạo giá trị cao cho Nhân lực nghiên cứu đối với xã hội?
Yếu tố tạo giá trị cho Nhân lực nghiên cứu
1. Số lượng các công trình nghiên cứu;
2. Chất lượng các công trình nghiên cứu;
3. Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu;
4. Uy tín cá nhân;
Cao
Trung bình
Không cao
5. Đạo đức nghiên cứu;
6. Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân;
7. Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học;
8. Tầm nhìn chiến lược;
9. Năng lực dự báo;
10. Điều kiện nào khác (Xin ghi rõ)……………
Hà Nội, ngày tháng
/2019 (Có thể ghi họ tên, có thể không)
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61
58
Bảng 2. Thống kê ý kiến chuyên gia về đặc tính của nhà Khoa học/Công nghệ
Số phiếu phát ra: 50; Số phiếu thu về: 40; Số phiếu xử lý: 40 phiếu.
A. THÔNG TIN CHUNG
A1. Giới tính: Nam: 32 người
Nữ: 8 người
A2. Tuổi: biên độ tuổi nhà khoa học được khảo sát từ 34-82, độ tuổi trung bình là 61,6 tuổi
A3. Nghề nghiệp:
1. Nhà nghiên cứu khoa học: 22 (55%)
2. Nhà quản lý khoa học: 1 (2,5%)
A4. Học hàm, Học vị của ông/bà
5. Tiến sĩ: 13 (7,5%)
3. Nhà nghiên cứu kiêm quản lý khoa học: 9 (22,5%)
4. Nhà nghiên cứu kiêm giảng viên: 18 (45%)
8. Tiến sĩ khoa học: 0
6. Phó giáo sư, Tiến sĩ: 15 (37,5%)
7. Giáo sư, Tiến sĩ: 4 (10%)
9. Phó giáo sư, Tiến sĩ khoa học: 3 (7,5%)
10.Giáo sư, Tiến sĩ khoa học: 5 (12,5%)
B. PHẦN XIN Ý KIẾN CHUYÊN GIA
B1. Theo ông/bà Nhà nghiên cứu có những đặc tính nào?
Đặc tính
1. Có tầm tầm nhìn chiến lược
2. Có tư duy hệ thống;
3. Tôn trọng khách quan;
4. Có lòng tự trọng;
5. Có lòng bao dung/hào hiệp;
6. Có độ thích nghi cao
7. Có hoài bão;
Có
31 (77,5%)
36 (90%)
38 (95%)
38 (95%)
27 (67,5%)
28 (70%)
39 (97,5%)
Không
1 (2,5%)
0
0
0
2 (5%)
2 (5%)
0
Không rõ
6 (15%)
4 (10%)
2 (5%)
2 (5%)
11 (12,5%)
10 (25%)
1 (2,5%)
8. Đặc tính khác (Ghi rõ)………
B2. Theo ông/bà Nhà nghiên cứu cần những gì để sẵn sàng cống hiến?
Nguyện vọng
Nhất thiết cần
29 (72,5%)
13 (32,5%)
31 (77,5%)
26 (65%)
Cần
Không cần
0
2 (5%)
0
2 (5%)
34 (85%)
1 (2,5%)
1 (2,5%)
0
1. Được tôn trọng;
11 (27,5%)
25 (62,5%)
9 (22,5%)
12 (30%)
6 (15%)
12 (30%)
24 (60%)
9 (22,5%)
23 (57,5%)
2. Được cung cấp đầy đủ kinh phí;
3. Cần được đánh giá khách quan;
4. Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh;
5. Cần có chức vụ
6. Cần thông tin khoa học và giao lưu quốc tế;
7. Cần được đảm bảo cuộc sống;
8. Cần tự do tư duy;
0
27 (67,5%)
15 (37,5%)
31 (77,5%)
17 (42,5%)
9. Cần có đầy đủ trang thiết bị;
10. Điều kiện nào khác (Ghi rõ)………
0
B3. Theo ông/bà, yếu tố nào tạo giá trị cao cho Nhà nghiên cứu đối với xã hội?
Yếu tố tài sản vô hình mang lại giá trị cho Nhà
khoa học
Cao
Trung bình
Khôngcao
1. Số lượng các công trình nghiên cứu;
2. Chất lượng các công trình nghiên cứu;
3. Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu
4. Uy tín cá nhân;
16 (40%)
40 (100%)
18 (45%)
35 (87,5%)
39 (97,5%)
30 (75%)
10 (25%)
27 (67,5%)
32 (80%)
17 (42,5%)
0
7 (17,5%)
0
0
1 (2,5%)
0
0
4 (10%)
2 (5%)
1 (2,5%)
22 (55%)
4 (10%)
1 (2,5%)
10 (25%)
26 (65%)
11 (27,5%)
7 (17,5%)
5. Đạo đức nghiên cứu;
6. Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân;
7. Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học;
8. Tầm nhìn chiến lược;
9. Năng lực dự báo;
10. Điều kiện nào khác (Ghi rõ)……
Hà Nội, ngày 2 tháng 4 năm 2019; Người xử lý và thống kê: ThS. Nguyễn Văn Hòa
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61
59
3.2 Phân tích và đánh giá kết quả Phỏng vấn
chuyên gia – nhân lực nghiên cứu khoa học
iii) Tôn trọng khách quan (95%);
iv) Có lòng tự trọng (95%);
v) Có lòng bao dung/hào hiệp (67,5%);
vi) Có độ thích nghi cao (70%);
vii) Có hoài bão (97,5%).
a. Về tỷ lệ Nam-Nữ các nhà khoa học tham
gia khảo sát
Về tỷ lệ 80% nhà khoa học Nam trả lời và
20% nhà khoa học Nữ trả lời là cân đối, và phản
ánh được tỷ lệ thực tế giữa Nam và Nữ làm
nghiên cứu khoa học.
Như vậy, với 7 đặc tính (tính cách) được các
nhà khoa học thống nhất cao thì rõ ràng có thể
rút ra được kết luận 7 tính cách trên đây tạo nên
tính đặc biệt của các nhân lực nghiên cứu khoa
học.
b. Về độ tuổi các nhà khoa học được khảo sát
g. Về nhu cầu/điều kiện cần thiết của nhân
lực nghiên cứu khoa học để làm việc
Về biên độ tuổi các nhà khoa học được khảo
sát là trẻ nhất là 34 tuổi và cao nhất là 82 tuổi; độ
tuổi trung bình là 61,6: phổ của độ tuổi các nhà
khoa học được khảo sát như vậy nói lên độ từng
trải và có thâm niên trong hoạt động nghiên cứu
và triển khai. Điều này mang lại độ tin cậy và
chất lượng cho những câu trả lời có độ chín,
không chút ngại ngùng, không băn khoăn.
- Được tôn trọng: mức độ nhất thiết cần và
cần là 72,5% + 27,5% = 100%;
- Được cung cấp đầy đủ kinh phí: mức độ
nhất thiết cần và cần là 32,5% + 62,5% = 95%;
- Cần được đánh giá khách quan: mức độ
nhất thiết cần và cần là 77,5% + 22,5% = 100%;
- Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh:
mức độ nhất thiết cần và cần là 65% + 30% =
95%;
- Cần có chức vụ: mức độ nhất thiết cần là
0%, cần là 15%;
- Cần có thông tin khoa học và giao lưu quốc
tế: mức độ nhất thiết cần và cần là 67,5% + 30%
= 97,5%;
- Cần được đảm bảo cuộc sống: mức độ nhất
thiết cần và cần là 37,5% + 60% = 97,5%;
- Cần tự do tư duy: mức độ nhất thiết cần và
cần là 77,5% + 22,5% = 100%;
- Cần có đầy đủ trang thiết bị: mức độ nhất
thiết cần và cần là 42,5% + 57,5% = 100%.
c. Về vị trí công tác của các nhà khoa học
tham gia khảo sát
Về vị trí công tác/nghề nghiệp: có 97,5%
(gần 100%) người được khảo sát là trực tiếp thực
hiện nghiên cứu khoa học và triển khai công
nghệ; 25% người được khảo sát kiêm hoạt động
quản lý khoa học và công nghệ, 45% nhà khoa
học được khảo sát là kiêm làm công tác giảng
dạy đại học và sau đại học. Đây là phổ vị trí công
tác/nghề nghiệp đủ rộng và đủ sâu để đảm bảo
độ đại diện của các nhà khoa học nói chung.
d. Về trình độ của các nhà khoa học được
khảo sát
Về trình độ của các nhà khoa học được khảo
sát, kết quả cho thấy: 100% các nhà khoa học
được khảo sát có học vị tiến sĩ trở lên. Có 92,5%
các nhà khoa học được khảo sát có chức danh
khoa học từ phó giáo sư trở lên. Với trình độ như
vậy, người ta hoàn toàn có tin cậy vào độ chuẩn
xác của ý kiến trả lời.
Như vậy, trong các nhu cầu được khảo sát,
có 4 nhu cầu được đánh giá với mức độ là 100%
cần có, đó là: nhu cầu Được tôn trọng; Nhu cầu
Được đánh giá khách quan; Nhu cầu Có tự do tư
duy; Nhu cầu Có đầy đủ trang thiết bị.
Có 4 nhu cầu được đánh giá với mức độ tuyệt
đại đa số (95%-97,5%) là cần có, đó là Nhu cầu
Được cung cấp đầy đủ kinh phí; Nhu cầu Cần
môi trường cạnh tranh lành mạnh; Nhu cầu Cần
có thông tin khoa học và giao lưu quốc tế; Nhu
cầu Cần được đảm bảo cuộc sống.
e. Về đặc điểm tính cách của nhà khoa học
Có 7 đặc tính (tính cách) mà đa số (từ 67,5%-
97,5%) các nhà khoa học được khảo sát đều nhất
trí, cụ thể:
i) Có tầm nhìn xa/tầm nhìn chiến lược
(77,5%);
Như vậy, có 8 nhu cầu/điều kiện của nhân
lực nghiên cứu (của các nhà khoa học/công
ii) Có tư duy hệ thống (90%);
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61
60
nghệ) được coi là rất quan trọng và không thể
viii) Năng lực dự báo (97,5%).
không được đáp ứng, đó là:
i) Được tôn trọng;
ii) Được đánh giá khách quan;
iii) Có tự do tư duy;
4. Kết luận
4.1. Đổi mới nhận thức quản lý nhân lực
iv) Có đầy đủ trang thiết bị.
v) Được cung cấp đầy đủ kinh phí;
vi) Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh;
vii) Cần có thông tin khoa học và giao lưu
quốc tế;
i) Lao động của nhân lực nghiên cứu khoa
học là loại lao động đặc biệt quan trọng.
ii) Nhân lực nghiên cứu khoa học là nhân lực
đặc biệt với những tính cách ưu việt: Có tầm nhìn
chiến lược; Có tư duy hệ thống; Có tính cách tôn
trọng khách quan; Có lòng tự trọng cao; Có lòng
bao dung; Có độ thích nghi cao; Có hoài bão lớn.
viii)Cần được đảm bảo cuộc sống.
h. Về yếu tố xác định giá trị của nhà khoa học
Tiêu chí Số lượng các công trình nghiên cứu
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là 40%
+ 42,5% = 82,5%; Tiêu chí Chất lượng các công
trình nghiên cứu được đánh giá ở mức độ cao là
100%; Tiêu chí Năng lực quản lý nhiệm vụ
nghiên cứu được đánh giá ở mức độ cao và trung
bình là 45% + 55% = 100%; Tiêu chí Uy tín cá
nhân được đánh giá ở mức độ cao và trung bình
là 87,5% + 10% = 97,5%; Tiêu chí Đạo đức
nghiên cứu được đánh giá ở mức độ cao và trung
bình là 97,5% + 2,5% = 100%; Tiêu chí Tính
nhân văn/văn hóa của cá nhân được đánh giá ở
mức độ cao và trung bình là 75% + 25% = 100%;
Tiêu chí Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là 25%
+ 65% = 90%; Tiêu chí Tầm nhìn chiến lược
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là
67,5% + 27,5% = 95%; Tiêu chí Năng lực dự báo
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là 80%
+ 17,5% = 97,5%.
iii) Nhân lực nghiên cứu khoa học có những
điều kiện/nhu cầu quan trọng để có thể tiến hành
nghiên cứu và triển khai, đó là Nhu cầu Được tôn
trọng; Nhu cầu Được cung cấp đầy đủ kinh phí;
Nhu cầu Cần được đánh giá khách quan; Nhu
cầu Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh; Nhu
cầu Cần có thông tin khoa học và giao lưu quốc
tế; Nhu cầu Cần được đảm bảo cuộc sống; Nhu
cầu Cần tự do tư duy; Nhu cầu Cần có đầy đủ
trang thiết bị. Trong đó phải kể đến những nhu
cầu mang tính tiên quyết (đạt 100% ý kiến khảo
sát) đó là: Nhu cầu Được tôn trọng; Nhu cầu
được đánh giá khách quan; Nhu cầu Cần tự do
tư duy; Nhu cầu Cần có đầy đủ trang thiết bị.
iv) Nhân lực nghiên cứu khoa học là nhân
lực có giá trị đặc biệt, đó là: có Uy tín cá nhân
và đạo đức nghiên cứu, có văn hóa và cái nhìn
nhân văn; có kết quả nghiên cứu được công
nhận; có Năng lực dự báo và Tầm nhìn chiến
lược; có Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu;
có Mối quan hệ xã hội tín nhiệm.
Như vậy, các yếu tố tạo nên giá trị của nhà
khoa học, hay nói cách khác là tài sản vô hình
của nhà khoa học, đó là:
Trên cơ sở bối cảnh, xu thế phát triển và hội
nhập quốc tế về khoa học và công nghệ, dựa vào
những kết luận kể trên, nghiên cứu sinh hướng
nghiên cứu của mình đề xuất giải pháp chính
sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ
trong giai đoạn hiện nay.
i) Chất lượng các công trình nghiên cứu
(100%);
ii) Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu
(100%);
iii) Uy tín cá nhân (97,5%);
iv) Đạo đức nghiên cứu (100%);
v) Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân
(100%);
vi) Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học
(90%);
4.2. Đổi mới nhận thức quản lý vĩ mô
i) Trong mọi hình thái phát triển xã hội, lao
động sáng tạo luôn là lao động tạo ra giá trị thặng
dư quan trọng nhất. Trong các loại lao động sáng
vii) Tầm nhìn chiến lược (95%);
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61
61
tạo, thì lao động sáng tạo trong khoa học và công
nghệ có đóng góp vô cùng to lớn đối với kinh tế
và xã hội.
v) Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay,
nếu không có những chính sách đúng đắn và nhất
quán, Việt Nam sẽ để lãng phí và hao mòn chất
xám, và chắc chắn sẽ tụt hậu.
ii) Nhân lực nghiên cứu khoa học là nhân lực
lao động sáng tạo đặc biệt, là nhân lực lao động
tạo ra của cải cho xã hội với năng suất mới, công
nghệ mới và sản phẩm mới. Vậy nên không thể
đánh đồng lao động nghiên cứu khoa học và triển
khai công nghệ như những dạng lao động khác.
Tài liệu tham khảo
[1] M. Ha, H.V. Tuyen, D.T. Truong, Science and
Technology Enterprises: From the Theory to
Practice, ISBN 978-604-67-0481-2, Science and
Technics Publishing House, Ha Noi, Vietnam,
2015 (in Vietnamese)
[2] M. Ha, Innovation and Scientificiy of the term
“innovation” in the sence of “innovation” in policy
research in Vietnam The Sc. Journal of Sociology.
ISSN 2615-9163, 3 (147) (2019) 3-10 (in
Vietnamese).
iii) Việc thu hút, sử dụng và phát triển nhân
lực nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ hàng đầu
của Lãnh đạo mọi quốc gia muốn thật sự phát
triển. Tuy nhiên, việc coi lao động của các nhà
nghiên cứu như lao động của cán bộ hành chính,
đứng hàng thấp nhất trong số khung bậc lương
các ngành nghề tại Việt Nam, không bằng lao
động của giáo viên, không bằng lao động rất
nhiều ngành nghề khác... là không hợp lý và
không chấp nhận được. Chứng tỏ Lãnh đạo chưa
nhận thức đúng và chưa đánh giá được tần quan
trọng của lao động nghiên cứu khoa học và triển
khai công nghệ, chưa có chính sách hợp lý phát
triển nhân lực khoa học và công nghệ.
[3] OECD, Guidelines for Collecting and Reporting
Data on Research and Experimental Development,
Frascati Manual, 2005.
[4] M. Ha, Specific Particularities of S&T Research
Labor
Sc. Journal of S&T Policy and
Management, ISSN 1859-3801, 1(1) (2011) 4-10
(in Vietnamese).
[5] M. Ha (Key Editor), Q&A on Industrialization and
Modelization, Youth Publishing House, Ha Noi,
1997 (in Vietnamese),
[6] M. Ha, The Role of Intelligensia in Economic
Development and International Integration (in
Vietnamese). Journal of Science: Policy and
Management Studies. ISSN 0866-8612, 31(1) (2015).
iv) Cần có những bước hoàn thiện hợp lý để
tiến tới một chính sách phát triển nhân lực khoa
học và công nghệ phù hợp với đặc điểm của lao
động nghiên cứu khoa học và triển khai công
nghệ, phù hợp với những đóng góp của nhân lực
nghiên cứu khoa học đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội, phù hợp với thị trường lao động
đang hình thành với xu thế hội nhập quốc tế.
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
vai_tro_cua_tai_san_vo_hinh_cua_nhan_luc_nghien_cuu_khoa_hoc.pdf

