Vai trò của tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61  
Original Article  
The Role of Intangible Assets  
of Scientific Research Human Resources  
Mai Ha1,, Nguyen Van Hoa  
Ministry of Science and Technology, 113 Tran Duy Hung, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 08 December 2020  
Revised 18 December 2020; Accepted 22 December 2020  
Abstract: The article provides analysis of the scientific concepts and contents related to the  
intangible assets of scientific research human resources. With scientific arguments, the author gives  
his views to the important role of intangible assets of science and technology human resources in  
general and scientific research human resources in particular. In the process of designing policies  
for development of science and technology human resource, policy makers should take into account  
the intangible assets of scientific research human resources to create an adequate environment for  
scientific creative labor and to provide right assessments of the value of creative work in research  
and development activities.  
Keywords: Intangible asset, scientific research, development policy, scientific creative work,  
scientific research human resource, innovation.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
53  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61  
54  
Vai trò của tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học  
Mai Hà, Nguyễn Văn Hòa  
Bộ Khoa học và Công nghệ, 113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 08 tháng 12 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 18 tháng 12 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 22 tháng 12 năm 2021  
Tóm tắt: Bài viết phân tích khái niệm và nội hàm khoa học liên quan tài sản vô hình của nhân lực  
nghiên cứu khoa học. Bằng những lập luận khoa học, tác giả đã lập luận về vai trò quan trọng của  
tài sản vô hình của nhân lực khoa học và công nghệ nói chung và của nhân lực nghiên cứu khoa học  
nói riêng. Trong quá trình thiết kế chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ, chủ thể  
ban hành chính sách cần tính đến tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học để tạo môi  
trường cho lao động sáng tạo khoa học, đánh giá đúng giá trị của lao động sáng tạo trong hoạt động  
nghiên cứu nghiên cứu và triển khai.  
Từ khóa: Tài sản vô hình, nghiên cứu khoa học, chính sách phát triển, lao động sáng tạo khoa học,  
nhân lực nghiên cứu khoa học, đổi mới (theo định nghĩa tại [1] và [2]).  
Muốn có một chiến lược phát triển kinh tế -  
xã hội thông minh, cần phải có chính sách phát  
triển nhân lực khoa học và công nghệ, khơi dậy  
lao động sáng tạo của các nhà khoa học trong  
nghiên cứu và triển khai. Muốn vậy thì việc đầu  
tiên là phải hiểu, nhận diện được và đánh giá  
đúng giá trị tài sản vô hình của các nhà khoa học.  
1. Dẫn nhập  
Trong thời đại hiện nay, những thành tựu to  
lớn của khoa học và công nghệ đang tác động sâu  
sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tất cả  
các quốc gia trên thế giới. Có thể khẳng định  
rằng không có quốc gia nào lại không nhận thức  
được vị trí quan trọng của nhân lực khoa học và  
công nghệ trong chiến lược phát triển kinh tế-xã  
hội. Những quốc gia càng phát triển, nhận thức  
này càng rõ ràng. Những nước đang phát triển dù  
có nhận thức về vai trò quan trọng đó, mà không  
có những chính sách phù hợp, thông minh,  
không có tầm quản lý để đánh giá đúng giá trị  
của lao động sáng tạo khoa học và nhân lực khoa  
học và công nghệ, thì cũng không thể chờ đợi gì  
từ thành tựu của khoa học và công nghệ. Những  
nước phát triển trong khu vực châu Á như Nhật  
Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan... đều lựa  
chọn chiến lược phát triển dựa chủ yếu vào yếu  
tố con người, đó là vốn quý nhất của mọi quốc  
gia. Trong yếu tố con người đó, điều được chú  
trọng là lao động sáng tạo trong quản lý, lao động  
nghiên cứu khoa học và công nghệ trên nền tảng  
chung là một chiến lược phát triển nhân lực khoa  
học và công nghệ.  
2. Lao động nghiên cứu khoa học và tài sản  
vô hình  
Trong bài nghiên cứu này, các tác giả quan  
niệm và thống nhất một số khái niệm như sau:  
2.1. Nghiên cứu khoa học và một số khái niệm  
liên quan  
Nghiên cứu khoa học là hoạt động quan  
trọng, rất có ý nghĩa trong việc tạo ra những đột  
phá và những sự phát triển vượt bậc cho xã hội.  
Nghiên cứu khoa học (tiếng Anh là “Scientific  
Research”), được OECD định nghĩa: "nghiên  
cứu là hoạt động sáng tạo được thực hiện một  
cách có hệ thống nhằm làm giàu tri thức, bao  
gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61  
55  
sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng  
dụng mới" [3].  
Lao động nghiên cứu khoa học có những đặc  
điểm sau:  
(i)  
Nghiên cứu khoa học là quá trình tạo ra tri  
thức mới có tính quy luật về sự vận động của tự  
nhiên, xã hội và tư duy. Như vậy, lao động  
nghiên cứu khoa học là lao động sáng tạo, là lao  
động tạo ra những tri thức mới có tính khách  
quan, là kết quả của quá trình nghiên cứu bằng  
một hay một số phương pháp nghiên cứu khoa  
học. Nói cách khác, sử dụng phương pháp  
nghiên cứu khoa học là bắt buộc đối với sáng  
tạo khoa học, bởi nó đảm bảo tính khách quan,  
tính quy luật của tri thức mới. Đối với công  
việc sáng tạo nói chung thì chỉ cần hai yếu tố  
mới về chất lượng và hữu dụng là đủ, song đối  
với lao động nghiên cứu khoa học còn đòi hỏi  
thêm là phải tạo ra sản phẩm sáng tạo, là kết quả  
của quá trình nghiên cứu và được kiểm nghiệm  
bằng một hoặc một số phương pháp nghiên cứu  
khoa học [4].  
là lao động trí óc;  
(ii)  
là lao động sáng tạo;  
(iii)  
là lao động có tính mạo hiểm cao  
(mức độ thành công không lớn);  
là lao động có tính độc lập cá thể cao;  
là lao có độ trễ và có tác động to lớn  
đến sự phát triển kinh tế - xã hội.  
(iv)  
(v)  
2.3. Tài sản vô hình  
Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái  
vật chất, có chủ sở hữu và có giá trị.  
Đối với mỗi quốc gia, tài sản vô hình quốc  
gia có thể bao gồm: tổng tài sản trí tuệ (sở hữu  
trí tuệ) và tài năng của người dân, nền văn hóa  
đặc sắc của quốc gia, lịch sử quốc gia, vị trí địa  
lý, điều kiện tự nhiên, danh lam thắng cảnh, vị  
thế trên thị trường, niềm tin và tinh thần lạc quan  
của người dân, môi trường và thể chế xã hội...  
Nhân lực nghiên cứu khoa học được hiểu là  
cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học thực hiện  
lao động nghiên cứu khoa học.  
Đối với doanh nghiệp, tài sản vô hình doanh  
nghiệp có thể bao gồm: tổng tài sản trí tuệ (sở  
hữu trí tuệ) và tài năng của nhân lực của doanh  
nghiệp, văn hóa và truyền thống đặc sắc thù của  
doanh nghiệp, lợi thế thương mại, giấy phép hoạt  
động, uy tín của doanh nghiệp, qui trình sản  
xuất - kinh doanh, cơ sở dữ liệu, quan hệ khách  
hàng, cơ cấu tổ chức, các loại chứng chỉ chất  
lượng,…  
Chính sách là tập hợp các giải pháp được thể  
chế hóa của chủ thể có quyền lực nhằm hướng  
đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu nào đó.  
Tăng trưởng là sự gia tăng về lượng [5, tr.  
22]; Phát triển là sự gia tăng về chất và có tính  
cân đối hợp lý [5, tr. 22];  
Sáng tạo (tương đương tiếng Anh là Creation)  
là thay đổi kèm theo yếu tố mới, tốt hơn về chất  
lượng/về nội dung/về cấu trúc [2, tr. 4].  
Đối với cá nhân mỗi người, tài sản vô hình  
cá nhân có thể bao gồm tổng tài sản trí tuệ (sở  
hữu trí tuệ), thành tích đóng góp cho xã hội  
được xã hội ghi nhận, trình độ học vấn và uy  
tín cá nhân, uy tín của gia đình, uy tín của dòng  
họ, mối quan hệ xã hội,… (Ở một chừng mực  
nào đó, có thể hiểu tài sản vô hình cá nhân bao  
gồm tài sản trí tuệ và vốn xã hội của cá nhân đó.  
Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, khái niệm  
vốn xã hội sẽ không được đề cập sâu).  
Chính sách KH&CN là tập hợp các giải pháp  
của chủ thể quản lý ban hành để triển khai hoạt  
động KH&CN nhằm đạt mục tiêu nào đó.  
2.2. Lao động nghiên cứu khoa học  
Lao động là hoạt động của con người tương  
tác với thiên nhiên và trong trong xã hội tạo ra  
giá trị đáp ứng nhu cầu của cuộc sống con người.  
Đó có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần.  
Với khái niệm về tài sản vô hình cá nhân như  
trên, có thể nhận thấy những đặc điểm sau:  
(i) Tài sản vô hình cá nhân không tách rời  
khỏi chủ sở hữu và việc khai thác tài sản vô  
hình này phụ thuộc vào tinh thần và ý chí của  
chủ sở hữu;  
Lao động nghiên cứu khoa học là hoạt động  
có hệ thống của người có tri thức, nhằm tạo ra  
hoặc hoàn thiện những sản phẩm khoa học [4].  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61  
56  
(ii) Tài sản vô hình cá nhân luôn chứa đựng  
sự năng động, sáng tạo tiềm tàng to lớn và không  
có giới hạn;  
khoa học và công nghệ nói riêng. Toàn bộ hệ  
thống lương và các loại định mức cho việc thực  
hiện các công trình khoa học, các nhiệm vụ khoa  
học và công nghệ đều được ước lượng từ công  
lao động của nhân lực làm trong lĩnh vực hành  
chính sự nghiệp. Chính vì vậy, hiện tượng di  
động xã hội (chảy máu chất xám) ra nước ngoài  
và chuyển sang lĩnh vực cho các doanh nghiệp  
nước ngoài, sang các lĩnh vực dịch vụ khác tại  
Việt Nam trong những năm qua là rất đáng suy  
ngẫm đối với các nhà quản lý nhà nước.  
(iii) Tài sản vô hình cá nhân có đăng ký sở  
hữu trí tuệ có thể được truyền bá, chuyển giao,  
được làm giàu thêm gấp bội.  
3. Tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu  
khoa học  
Theo như khái niệm đã được thống nhất ở  
mục 2.1. Nhân lực nghiên cứu khoa học được  
hiểu là cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học  
thực hiện lao động nghiên cứu khoa học như là  
nghề nghiệp chính (một cách khác, ở đây gọi  
là nhà nghiên cứu khoa học, hoặc gọn hơn nữa  
là nhà khoa học). Nhân lực các nhà trí thức nói  
chung, và các nhà khoa học nói riêng đều là  
chủ sở hữu của một lượng tài sản vô hình của  
chính mình và của cộng đồng. Đó thực sự là  
một giá trị lớn có chất lượng rất cao.  
Lao động sáng tạo của nhân lực trí thức,  
của các nhà quản lý chính là lao động tạo ra  
giá trị thặng dư cho xã hội (xem [6, tr. 53]. Tất  
cả các quốc gia trên thế giới đều coi trọng yếu  
tố nhân lực, đặc biệt là nhân lực trình độ cao;  
kèm theo đó là các chính sách thu hút và trọng  
dụng nhân lực trình độ cao được ban hành và  
thực hiện nhất quán, bất kể nhân lực trình độ  
cao ấy được sinh ra, lớn lên và đào tạo ở đâu,  
miễn là có tri thức thực sự. Đặc điểm quan  
trọng nhất của những chính sách này là tài sản  
vô hình của nhân lực trình độ cao, của nhân lực  
nghiên cứu khoa học được tính đến, được đánh  
giá và được đối xử một cách bền vững và xứng  
đáng nhất.  
Đối với mỗi cá nhân nhân lực nghiên cứu  
khoa học (nhà khoa học), tài sản vô hình cá  
nhân có thể bao gồm: tổng tài sản trí tuệ (sở  
hữu trí tuệ), thành tích đóng góp cho xã hội  
được xã hội ghi nhận, trình độ học vấn và uy  
tín các nhân, mối quan hệ xã hội. Các yếu tố  
trên có thể được thể hiện qua 8 chỉ số sau:  
Để kiểm nghiệm mức độ quan trọng những  
yếu tố thuộc tài sản vô hình của nhân lực  
nghiên cứu khoa học, một phiếu phỏng vấn  
chuyên gia đã được gửi đến chính các nhà  
nghiên cứu khoa học làm việc tại các đơn vụ  
nghiên cứu, đào tạo đại học và quản lý khoa  
học nhằm tìm hiểu đánh giá của họ đối với: đặc  
điểm của nhân cách nhân lực nghiên cứu (mục  
B1), điều kiện cần của hoạt động nghiên cứu  
khoa học (mục B2) và đối với tài sản vô hình  
của nhân lực nghiên cứu khoa học (mục B3).  
i) Chất lượng các công trình nghiên cứu:  
bài báo, phát minh, sáng chế, giải pháp hữu  
ích,...;  
ii) Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu:  
kinh nghiệm và năng lực quản lý;  
iii) Uy tín cá nhân;  
iv) Đạo đức nghiên cứu;  
v) Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân;  
vi) Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học;  
vii) Tầm nhìn chiến lược;  
3.1 Phiếu phỏng vấn chuyên gia – nhân lực  
nghiên cứu khoa học (nhân lực nghiên cứu)  
viii) Năng lực dự báo.  
50 Phiếu Phỏng vấn Chuyên gia đã được gửi  
tới các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác  
nhau. Đã có 40 Phiếu Phỏng vấn Chuyên gia  
được thu về và được xử lý như sau (xem Bảng 2):  
Riêng ở Việt Nam, giá trị của tài sản vô hình  
của nhân lực nghiên cứu khoa học chưa được  
tính đến trong các chính sách khoa học và công  
nghệ nói chung và chính sách phát triển nhân lực  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61  
57  
Bảng 1. Phiêu phỏng vấn chuyên gia về đặc tính và các thành số tài sản vô hình  
của nhân lực nghiên cứu khoa học  
A. THÔNG TIN CHUNG  
A1. Giới tính: 1. Nam  
2. Nữ   
A2. Tuổi: …………………….………………………………………………………..  
A3. Nghề nghiệp:  
1. Nhà nghiên cứu khoa học  
2. Nhà quản lý khoa học  
3. Nhà nghiên cứu kiêm quản lý khoa học  
4. Nhà nghiên cứu kiêm giảng viên  
A4. Học hàm, Học vị của ông/bà  
5. Tiến sĩ  
6. Phó giáo sư, Tiến sĩ  
8. Tiến sĩ khoa học  
9. Phó giáo sư, Tiến sĩ khoa học  
10.Giáo sư, Tiến sĩ khoa học  
7. Giáo sư, Tiến sĩ  
B. PHẦN XIN Ý KIẾN CHUYÊN GIA  
B1. Theo ông/bà Nhân lực nghiên cứu có những đặc tính nào?  
Đặc tính  
1. Có tầm nhìn xa/tầm nhìn chiến lược;  
2. Có tư duy hệ thống;  
3. Tôn trọng khách quan;  
4. Có lòng tự trọng;  
5. Có lòng bao dung/hào hiệp;  
6. Có độ thích nghi cao;  
7. Có hoài bão;  
Có  
Không  
Không rõ  
8. Đặc tính khác (Xin ghi rõ)………………………  
B2. Theo ông/bà Nhân lực nghiên cứu cần những gì để sẵn sàng cống hiến?  
Nguyện vọng  
1. Được tôn trọng;  
Nhất thiết cần  
Cần  
Không cần  
2. Được cung cấp đầy đủ kinh phí;  
3. Cần được đánh giá khách quan;  
4. Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh;  
5. Cần có chức vụ;  
6. Cần có thông tin khoa học và giao lưu quốc tế;  
7. Cần được đảm bảo cuộc sống;  
8. Cần tự do tư duy;  
9. Cần có đầy đủ trang thiết bị;  
10. Điều kiện nào khác (Xin ghi rõ)……………  
B3. Theo ông/bà, yếu tố nào tạo giá trị cao cho Nhân lực nghiên cứu đối với xã hội?  
Yếu tố tạo giá trị cho Nhân lực nghiên cứu  
1. Số lượng các công trình nghiên cứu;  
2. Chất lượng các công trình nghiên cứu;  
3. Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu;  
4. Uy tín cá nhân;  
Cao  
Trung bình  
Không cao  
5. Đạo đức nghiên cứu;  
6. Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân;  
7. Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học;  
8. Tầm nhìn chiến lược;  
9. Năng lực dự báo;  
10. Điều kiện nào khác (Xin ghi rõ)……………  
Hà Nội, ngày tháng  
/2019 (Có thể ghi họ tên, có thể không)  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61  
58  
Bảng 2. Thống kê ý kiến chuyên gia về đặc tính của nhà Khoa học/Công nghệ  
Số phiếu phát ra: 50; Số phiếu thu về: 40; Số phiếu xử lý: 40 phiếu.  
A. THÔNG TIN CHUNG  
A1. Giới tính: Nam: 32 người  
Nữ: 8 người  
A2. Tuổi: biên độ tuổi nhà khoa học được khảo sát từ 34-82, độ tuổi trung bình là 61,6 tuổi  
A3. Nghề nghiệp:  
1. Nhà nghiên cứu khoa học: 22 (55%)  
2. Nhà quản lý khoa học: 1 (2,5%)  
A4. Học hàm, Học vị của ông/bà  
5. Tiến sĩ: 13 (7,5%)  
3. Nhà nghiên cứu kiêm quản lý khoa học: 9 (22,5%)  
4. Nhà nghiên cứu kiêm giảng viên: 18 (45%)  
8. Tiến sĩ khoa học: 0  
6. Phó giáo sư, Tiến sĩ: 15 (37,5%)  
7. Giáo sư, Tiến sĩ: 4 (10%)  
9. Phó giáo sư, Tiến sĩ khoa học: 3 (7,5%)  
10.Giáo sư, Tiến sĩ khoa học: 5 (12,5%)  
B. PHẦN XIN Ý KIẾN CHUYÊN GIA  
B1. Theo ông/bà Nhà nghiên cứu có những đặc tính nào?  
Đặc tính  
1. Có tầm tầm nhìn chiến lược  
2. Có tư duy hệ thống;  
3. Tôn trọng khách quan;  
4. Có lòng tự trọng;  
5. Có lòng bao dung/hào hiệp;  
6. Có độ thích nghi cao  
7. Có hoài bão;  
Có  
31 (77,5%)  
36 (90%)  
38 (95%)  
38 (95%)  
27 (67,5%)  
28 (70%)  
39 (97,5%)  
Không  
1 (2,5%)  
0
0
0
2 (5%)  
2 (5%)  
0
Không rõ  
6 (15%)  
4 (10%)  
2 (5%)  
2 (5%)  
11 (12,5%)  
10 (25%)  
1 (2,5%)  
8. Đặc tính khác (Ghi rõ)………  
B2. Theo ông/bà Nhà nghiên cứu cần những gì để sẵn sàng cống hiến?  
Nguyện vọng  
Nhất thiết cần  
29 (72,5%)  
13 (32,5%)  
31 (77,5%)  
26 (65%)  
Cần  
Không cần  
0
2 (5%)  
0
2 (5%)  
34 (85%)  
1 (2,5%)  
1 (2,5%)  
0
1. Được tôn trọng;  
11 (27,5%)  
25 (62,5%)  
9 (22,5%)  
12 (30%)  
6 (15%)  
12 (30%)  
24 (60%)  
9 (22,5%)  
23 (57,5%)  
2. Được cung cấp đầy đủ kinh phí;  
3. Cần được đánh giá khách quan;  
4. Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh;  
5. Cần có chức vụ  
6. Cần thông tin khoa học và giao lưu quốc tế;  
7. Cần được đảm bảo cuộc sống;  
8. Cần tự do tư duy;  
0
27 (67,5%)  
15 (37,5%)  
31 (77,5%)  
17 (42,5%)  
9. Cần có đầy đủ trang thiết bị;  
10. Điều kiện nào khác (Ghi rõ)………  
0
B3. Theo ông/bà, yếu tố nào tạo giá trị cao cho Nhà nghiên cứu đối với xã hội?  
Yếu tố tài sản vô hình mang lại giá trị cho Nhà  
khoa học  
Cao  
Trung bình  
Khôngcao  
1. Số lượng các công trình nghiên cứu;  
2. Chất lượng các công trình nghiên cứu;  
3. Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu  
4. Uy tín cá nhân;  
16 (40%)  
40 (100%)  
18 (45%)  
35 (87,5%)  
39 (97,5%)  
30 (75%)  
10 (25%)  
27 (67,5%)  
32 (80%)  
17 (42,5%)  
0
7 (17,5%)  
0
0
1 (2,5%)  
0
0
4 (10%)  
2 (5%)  
1 (2,5%)  
22 (55%)  
4 (10%)  
1 (2,5%)  
10 (25%)  
26 (65%)  
11 (27,5%)  
7 (17,5%)  
5. Đạo đức nghiên cứu;  
6. Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân;  
7. Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học;  
8. Tầm nhìn chiến lược;  
9. Năng lực dự báo;  
10. Điều kiện nào khác (Ghi rõ)……  
Hà Nội, ngày 2 tháng 4 năm 2019; Người xử lý và thống kê: ThS. Nguyễn Văn Hòa  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61  
59  
3.2 Phân tích và đánh giá kết quả Phỏng vấn  
chuyên gia – nhân lực nghiên cứu khoa học  
iii) Tôn trọng khách quan (95%);  
iv) Có lòng tự trọng (95%);  
v) Có lòng bao dung/hào hiệp (67,5%);  
vi) Có độ thích nghi cao (70%);  
vii) Có hoài bão (97,5%).  
a. Về tỷ lệ Nam-Nữ các nhà khoa học tham  
gia khảo sát  
Về tỷ lệ 80% nhà khoa học Nam trả lời và  
20% nhà khoa học Nữ trả lời là cân đối, và phản  
ánh được tỷ lệ thực tế giữa Nam và Nữ làm  
nghiên cứu khoa học.  
Như vậy, với 7 đặc tính (tính cách) được các  
nhà khoa học thống nhất cao thì rõ ràng có thể  
rút ra được kết luận 7 tính cách trên đây tạo nên  
tính đặc biệt của các nhân lực nghiên cứu khoa  
học.  
b. Về độ tuổi các nhà khoa học được khảo sát  
g. Về nhu cầu/điều kiện cần thiết của nhân  
lực nghiên cứu khoa học để làm việc  
Về biên độ tuổi các nhà khoa học được khảo  
sát là trẻ nhất là 34 tuổi và cao nhất là 82 tuổi; độ  
tuổi trung bình là 61,6: phổ của độ tuổi các nhà  
khoa học được khảo sát như vậy nói lên độ từng  
trải và có thâm niên trong hoạt động nghiên cứu  
và triển khai. Điều này mang lại độ tin cậy và  
chất lượng cho những câu trả lời có độ chín,  
không chút ngại ngùng, không băn khoăn.  
- Được tôn trọng: mức độ nhất thiết cần và  
cần là 72,5% + 27,5% = 100%;  
- Được cung cấp đầy đủ kinh phí: mức độ  
nhất thiết cần và cần là 32,5% + 62,5% = 95%;  
- Cần được đánh giá khách quan: mức độ  
nhất thiết cần và cần là 77,5% + 22,5% = 100%;  
- Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh:  
mức độ nhất thiết cần và cần là 65% + 30% =  
95%;  
- Cần có chức vụ: mức độ nhất thiết cần là  
0%, cần là 15%;  
- Cần có thông tin khoa học và giao lưu quốc  
tế: mức độ nhất thiết cần và cần là 67,5% + 30%  
= 97,5%;  
- Cần được đảm bảo cuộc sống: mức độ nhất  
thiết cần và cần là 37,5% + 60% = 97,5%;  
- Cần tự do tư duy: mức độ nhất thiết cần và  
cần là 77,5% + 22,5% = 100%;  
- Cần có đầy đủ trang thiết bị: mức độ nhất  
thiết cần và cần là 42,5% + 57,5% = 100%.  
c. Về vị trí công tác của các nhà khoa học  
tham gia khảo sát  
Về vị trí công tác/nghề nghiệp: có 97,5%  
(gần 100%) người được khảo sát là trực tiếp thực  
hiện nghiên cứu khoa học và triển khai công  
nghệ; 25% người được khảo sát kiêm hoạt động  
quản lý khoa học và công nghệ, 45% nhà khoa  
học được khảo sát là kiêm làm công tác giảng  
dạy đại học và sau đại học. Đây là phổ vị trí công  
tác/nghề nghiệp đủ rộng và đủ sâu để đảm bảo  
độ đại diện của các nhà khoa học nói chung.  
d. Về trình độ của các nhà khoa học được  
khảo sát  
Về trình độ của các nhà khoa học được khảo  
sát, kết quả cho thấy: 100% các nhà khoa học  
được khảo sát có học vị tiến sĩ trở lên. Có 92,5%  
các nhà khoa học được khảo sát có chức danh  
khoa học từ phó giáo sư trở lên. Với trình độ như  
vậy, người ta hoàn toàn có tin cậy vào độ chuẩn  
xác của ý kiến trả lời.  
Như vậy, trong các nhu cầu được khảo sát,  
có 4 nhu cầu được đánh giá với mức độ là 100%  
cần có, đó là: nhu cầu Được tôn trọng; Nhu cầu  
Được đánh giá khách quan; Nhu cầu Có tự do tư  
duy; Nhu cầu Có đầy đủ trang thiết bị.  
Có 4 nhu cầu được đánh giá với mức độ tuyệt  
đại đa số (95%-97,5%) là cần có, đó là Nhu cầu  
Được cung cấp đầy đủ kinh phí; Nhu cầu Cần  
môi trường cạnh tranh lành mạnh; Nhu cầu Cần  
có thông tin khoa học và giao lưu quốc tế; Nhu  
cầu Cần được đảm bảo cuộc sống.  
e. Về đặc điểm tính cách của nhà khoa học  
Có 7 đặc tính (tính cách) mà đa số (từ 67,5%-  
97,5%) các nhà khoa học được khảo sát đều nhất  
trí, cụ thể:  
i) Có tầm nhìn xa/tầm nhìn chiến lược  
(77,5%);  
Như vậy, có 8 nhu cầu/điều kiện của nhân  
lực nghiên cứu (của các nhà khoa học/công  
ii) Có tư duy hệ thống (90%);  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 53-61  
60  
nghệ) được coi là rất quan trọng và không thể  
viii) Năng lực dự báo (97,5%).  
không được đáp ứng, đó là:  
i) Được tôn trọng;  
ii) Được đánh giá khách quan;  
iii) Có tự do tư duy;  
4. Kết luận  
4.1. Đổi mới nhận thức quản lý nhân lực  
iv) Có đầy đủ trang thiết bị.  
v) Được cung cấp đầy đủ kinh phí;  
vi) Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh;  
vii) Cần có thông tin khoa học và giao lưu  
quốc tế;  
i) Lao động của nhân lực nghiên cứu khoa  
học là loại lao động đặc biệt quan trọng.  
ii) Nhân lực nghiên cứu khoa học là nhân lực  
đặc biệt với những tính cách ưu việt: Có tầm nhìn  
chiến lược; Có tư duy hệ thống; Có tính cách tôn  
trọng khách quan; Có lòng tự trọng cao; Có lòng  
bao dung; Có độ thích nghi cao; Có hoài bão lớn.  
viii)Cần được đảm bảo cuộc sống.  
h. Về yếu tố xác định giá trị của nhà khoa học  
Tiêu chí Số lượng các công trình nghiên cứu  
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là 40%  
+ 42,5% = 82,5%; Tiêu chí Chất lượng các công  
trình nghiên cứu được đánh giá ở mức độ cao là  
100%; Tiêu chí Năng lực quản lý nhiệm vụ  
nghiên cứu được đánh giá ở mức độ cao và trung  
bình là 45% + 55% = 100%; Tiêu chí Uy tín cá  
nhân được đánh giá ở mức độ cao và trung bình  
là 87,5% + 10% = 97,5%; Tiêu chí Đạo đức  
nghiên cứu được đánh giá ở mức độ cao và trung  
bình là 97,5% + 2,5% = 100%; Tiêu chí Tính  
nhân văn/văn hóa của cá nhân được đánh giá ở  
mức độ cao và trung bình là 75% + 25% = 100%;  
Tiêu chí Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học  
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là 25%  
+ 65% = 90%; Tiêu chí Tầm nhìn chiến lược  
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là  
67,5% + 27,5% = 95%; Tiêu chí Năng lực dự báo  
được đánh giá ở mức độ cao và trung bình là 80%  
+ 17,5% = 97,5%.  
iii) Nhân lực nghiên cứu khoa học có những  
điều kiện/nhu cầu quan trọng để có thể tiến hành  
nghiên cứu và triển khai, đó là Nhu cầu Được tôn  
trọng; Nhu cầu Được cung cấp đầy đủ kinh phí;  
Nhu cầu Cần được đánh giá khách quan; Nhu  
cầu Cần môi trường cạnh tranh lành mạnh; Nhu  
cầu Cần có thông tin khoa học và giao lưu quốc  
tế; Nhu cầu Cần được đảm bảo cuộc sống; Nhu  
cầu Cần tự do tư duy; Nhu cầu Cần có đầy đủ  
trang thiết bị. Trong đó phải kể đến những nhu  
cầu mang tính tiên quyết (đạt 100% ý kiến khảo  
sát) đó là: Nhu cầu Được tôn trọng; Nhu cầu  
được đánh giá khách quan; Nhu cầu Cần tự do  
tư duy; Nhu cầu Cần có đầy đủ trang thiết bị.  
iv) Nhân lực nghiên cứu khoa học là nhân  
lực có giá trị đặc biệt, đó là: có Uy tín cá nhân  
và đạo đức nghiên cứu, có văn hóa và cái nhìn  
nhân văn; có kết quả nghiên cứu được công  
nhận; có Năng lực dự báo và Tầm nhìn chiến  
lược; có Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu;  
có Mối quan hệ xã hội tín nhiệm.  
Như vậy, các yếu tố tạo nên giá trị của nhà  
khoa học, hay nói cách khác là tài sản vô hình  
của nhà khoa học, đó là:  
Trên cơ sở bối cảnh, xu thế phát triển và hội  
nhập quốc tế về khoa học và công nghệ, dựa vào  
những kết luận kể trên, nghiên cứu sinh hướng  
nghiên cứu của mình đề xuất giải pháp chính  
sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ  
trong giai đoạn hiện nay.  
i) Chất lượng các công trình nghiên cứu  
(100%);  
ii) Năng lực quản lý nhiệm vụ nghiên cứu  
(100%);  
iii) Uy tín cá nhân (97,5%);  
iv) Đạo đức nghiên cứu (100%);  
v) Tính nhân văn/văn hóa của cá nhân  
(100%);  
vi) Mối quan hệ xã hội của nhà khoa học  
(90%);  
4.2. Đổi mới nhận thức quản lý vĩ mô  
i) Trong mọi hình thái phát triển xã hội, lao  
động sáng tạo luôn là lao động tạo ra giá trị thặng  
dư quan trọng nhất. Trong các loại lao động sáng  
vii) Tầm nhìn chiến lược (95%);  
M. Ha, N.V. Hoa / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 1 (2020) 53-61  
61  
tạo, thì lao động sáng tạo trong khoa học và công  
nghệ có đóng góp vô cùng to lớn đối với kinh tế  
và xã hội.  
v) Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay,  
nếu không có những chính sách đúng đắn và nhất  
quán, Việt Nam sẽ để lãng phí và hao mòn chất  
xám, và chắc chắn sẽ tụt hậu.  
ii) Nhân lực nghiên cứu khoa học là nhân lực  
lao động sáng tạo đặc biệt, là nhân lực lao động  
tạo ra của cải cho xã hội với năng suất mới, công  
nghệ mới và sản phẩm mới. Vậy nên không thể  
đánh đồng lao động nghiên cứu khoa học và triển  
khai công nghệ như những dạng lao động khác.  
Tài liệu tham khảo  
[1] M. Ha, H.V. Tuyen, D.T. Truong, Science and  
Technology Enterprises: From the Theory to  
Practice, ISBN 978-604-67-0481-2, Science and  
Technics Publishing House, Ha Noi, Vietnam,  
2015 (in Vietnamese)  
[2] M. Ha, Innovation and Scientificiy of the term  
“innovation” in the sence of “innovation” in policy  
research in Vietnam The Sc. Journal of Sociology.  
ISSN 2615-9163, 3 (147) (2019) 3-10 (in  
Vietnamese).  
iii) Việc thu hút, sử dụng và phát triển nhân  
lực nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ hàng đầu  
của Lãnh đạo mọi quốc gia muốn thật sự phát  
triển. Tuy nhiên, việc coi lao động của các nhà  
nghiên cứu như lao động của cán bộ hành chính,  
đứng hàng thấp nhất trong số khung bậc lương  
các ngành nghề tại Việt Nam, không bằng lao  
động của giáo viên, không bằng lao động rất  
nhiều ngành nghề khác... là không hợp lý và  
không chấp nhận được. Chứng tỏ Lãnh đạo chưa  
nhận thức đúng và chưa đánh giá được tần quan  
trọng của lao động nghiên cứu khoa học và triển  
khai công nghệ, chưa có chính sách hợp lý phát  
triển nhân lực khoa học và công nghệ.  
[3] OECD, Guidelines for Collecting and Reporting  
Data on Research and Experimental Development,  
Frascati Manual, 2005.  
[4] M. Ha, Specific Particularities of S&T Research  
Labor  
Sc. Journal of S&T Policy and  
Management, ISSN 1859-3801, 1(1) (2011) 4-10  
(in Vietnamese).  
[5] M. Ha (Key Editor), Q&A on Industrialization and  
Modelization, Youth Publishing House, Ha Noi,  
1997 (in Vietnamese),  
[6] M. Ha, The Role of Intelligensia in Economic  
Development and International Integration (in  
Vietnamese). Journal of Science: Policy and  
Management Studies. ISSN 0866-8612, 31(1) (2015).  
iv) Cần có những bước hoàn thiện hợp lý để  
tiến tới một chính sách phát triển nhân lực khoa  
học và công nghệ phù hợp với đặc điểm của lao  
động nghiên cứu khoa học và triển khai công  
nghệ, phù hợp với những đóng góp của nhân lực  
nghiên cứu khoa học đối với sự nghiệp phát triển  
kinh tế - xã hội, phù hợp với thị trường lao động  
đang hình thành với xu thế hội nhập quốc tế.  
pdf 9 trang Thùy Anh 14000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của tài sản vô hình của nhân lực nghiên cứu khoa học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_tai_san_vo_hinh_cua_nhan_luc_nghien_cuu_khoa_hoc.pdf