Chuỗi cung ứng lạnh Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 - Những tác động và giải pháp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 73 (01/2021)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH  
MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 - NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP  
Vietnam’s cold chain logistics in the industrial revolution 4.0:  
The effects and solutions  
ThS. Bùi Thị Bích Liên(1), ThS. Nguyễn Trần Thái Hà(2)  
(1)Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM  
(2)Trường Đại học Sài Gòn  
TÓM TẮT  
Bài báo này thảo luận trực diện về vai trò và tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến chuỗi cung  
ứng lạnh của Việt Nam. Việc thiếu các khí lạnh và trang thiết bị cho hàng lạnh trong chuỗi cung ứng,  
cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ chuỗi lạnh là một vấn đề rất lớn đặt  
ra cho ngành hàng nông sản Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu sẽ là nền tảng để đề xuất một số giải  
pháp hiệu quả nhằm phát triển chuỗi cung ứng lạnh của Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công  
nghiệp 4.0.  
Từ khóa: cách mạng công nghiệp 4.0, chuỗi cung ứng lạnh, công nghệ thông tin, hàng nông sản  
Việt Nam  
ABSTRACT  
This paper directly discusses the role and impact of the Industrial Revolution 4.0 on Vietnam's cold  
chain logistics. However, a major constraint to the development of the agriculture and fisheries sector is  
the shortage of cold storage and equipment for high quality refrigerated goods in the supply chain, as  
well as the application of information technology in providing cold chain services. The results of the  
study will be the basis for proposing some effective solutions to develop Vietnam's cold chain logistics  
in the context of the Industrial Revolution 4.0.  
Keywords: the Industrial Revolution 4.0, cold chain logistics, information technology, Vietnamese  
agricultural products.  
áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau,  
và đóng vai trò chính trong lĩnh vực có yêu  
cầu cao về công nghệ để bảo quản, truy vết  
hàng hoá là chuỗi cung ứng lạnh. Trong  
những năm gần đây, giá trị xuất khẩu của  
các mặt hàng nông lâm thuỷ sản của Việt  
Nam ngày một gia tăng nên nhu cầu về  
chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam ngày  
một cấp thiết. Đặc biệt là đầu năm 2020,  
1. Đặt vấn đề  
Cách mạng công nghiệp 4.0, “Internet  
vạn vật” (IoT) là một bước phát triển quan  
trọng trong tổ chức và quản lý toàn bộ  
chuỗi giá trị và giao diện của nó với những  
kiến trúc thượng tầng thông minh khác như  
điện thoại thông minh và logistics thông  
minh (Industrial Internet Consortium,  
2017). Cách mạng công nghiệp 4.0 được  
89  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
khi đại dịch do virus Corona chủng mới  
gây ra đã làm hàng loạt các mặt hàng của  
Việt Nam như thanh long và dưa hấu chật  
vật tìm con đường tiêu thụ mới ngoài thị  
trường chính là Trung Quốc. Tuy nhiên vì  
các thị trường khó tính như Mỹ, khu vực  
chung châu Âu và châu Úc có đòi hỏi rất  
nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, cũng  
như đòi hỏi phải kéo dài thời gian trên kệ  
hàng của các mặt hàng này nên nhu cầu về  
các chuỗi lạnh là đặc biệt cấp thiết trong  
tình hình hiện nay (Hình 1).  
Cải thiện tiêu chuẩn an toàn của thực  
phẩm, thương mại toàn cầu và tích hợp thị  
trường là những yêu cầu trong xu hướng  
toàn cầu hoá của chuỗi thức ăn an toàn.  
Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm  
(FDA - Food and Drug Administration)  
của Hoa Kỳ có thẩm quyền trong việc quy  
định yêu cầu đối với thực phẩm liên quan  
đến việc trồng, thu hoạch và chế biến,  
thực thẩm nhập vào Mỹ. Do đó, mặt hàng  
thực phẩm được yêu cầu tăng cường kiểm  
soát và theo dõi, lưu trữ dữ liệu theo thời  
gian thực khi nhập khẩu vào Mỹ, tương tự  
như những yêu cầu đối với hàng nhập  
khẩu vào khu vực chung châu Âu (EU) và  
Nhật. Tuy nhiên, cải thiện chất lượng xuất  
khẩu thực phẩm từ Việt Nam luôn là một  
thách thức. Theo những nhà xuất khẩu  
chính của Việt Nam vào EU, Mỹ và Nhật  
thì nguyên nhân chính cho việc hàng Việt  
Nam bị trả về là vì những lý do sau đây  
(Bảng 1):  
Bảng 1: Top 10 lý do sản phẩm của Việt Nam bị trả về (từ Mỹ, EU và Nhật)  
EU Mỹ Nhật  
Lý do Lý do  
%
Lý do  
%
%
Dư lượng thuốc bảo vệ 34,1 Bẩn/mất vệ sinh  
24,4 Vi phạm các tiêu chuẩn thành 66,7  
thực vật  
phần  
Có chất ô nhiễm vi sinh 26,9 Nhãn mác  
22,5 Vi phạm các tiêu chuẩn toàn 19,6  
bộ  
Nhiễm kim loại nặng  
8,4 Có chất ô nhiễm vi sinh 21,7 Tạo ra nấm mốc  
4,1  
Nhiễm chất gây ô nhiễm 5,5 Nhà sản xuất/chế biến  
10,6 Vi phạm tiêu chuẩn sử dụng  
3,9  
công nghiệp  
chưa đăng ký  
Thành phần của sản  
phẩm  
5,1 Phụ gia thực phẩm trái  
8,0 Phát hiện ra số lượng tiêu thụ 1,8  
vượt quá mức có thể gây  
phép  
nguy hiểm cho sức khoẻ  
Phụ gia thực phẩm trái 4,8 Dư lượng thuốc bảo vệ  
4,8 Chất phụ gia không được chỉ  
phép  
thực vật  
định  
1,8  
1,4  
0,4  
Độc tố  
3,7 Có chứa chất độc  
3,0 Độc tố  
Độc tố sinh học/ có chất 2,4 Độc tố sinh học/ có chất 2,8 Không phù hợp với tiêu  
ô nhiễm ô nhiễm chuẩn cho vật liệu  
Dư lượng thuốc trừ sâu 1,5 HACCP 0,8 Đóng gói  
0,4  
0,2  
Kiểm soát sản phẩm  
kém hoặc không phù  
hợp  
1,3 Độc tố  
0,6 Vi phạm các tiêu chuẩn về  
vật liệu  
(Nguồn: UNIDO, Bộ Y Tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản)  
90  
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Đối với thị trường trong nước: theo  
thống kê về an toàn vệ sinh thực phẩm,  
Việt Nam là quốc gia hàng đầu về ung thư,  
trong đó thực phẩm bẩn chính là nguyên  
nhân hàng đầu, chiếm đến 35% trong số  
các nguyên nhân, chi ra 0,22% GDP cho  
các căn bệnh ung thư phát sinh từ ăn thực  
phẩm bẩn (Tố Uyên, 2018). Logistics, do  
đó, là một phần rất quan trọng trong chuỗi  
giá trị của thực phẩm an toàn; nhưng việc  
thiếu tiêu chuẩn chất lượng và chưa áp  
dụng nhiều công nghệ để đáp ứng yêu cầu  
của thị trường xuất khẩu cũng như thị  
trường nội địa là một trở ngại rất lớn. Vì  
vậy, sự phát triển của Cách mạng công  
nghiệp 4.0 mang đến rất nhiều cơ hội về  
công nghệ mà Việt Nam có thể học tập để  
áp dụng nhằm cải thiện chuỗi giá trị của  
thực phẩm an toàn. Bài báo này thảo luận  
trực diện về vai trò và tác động của cách  
mạng công nghiệp 4.0 đến chuỗi cung ứng  
lạnh của Việt Nam. Kết quả của nghiên  
cứu sẽ là nền tảng để đề xuất một số giải  
pháp hiệu quả để phát triển chuỗi cung ứng  
lạnh của Việt Nam trong bối cảnh Cách  
mạng công nghiệp 4.0.  
hỗ trợ của công nghệ thông tin. Trong một  
nghiên cứu của Wu và cộng sự (2016), có  
định nghĩa “chuỗi cung ứng thông minh là  
một hệ thống kinh doanh tích hợp với việc  
mở rộng các ứng dụng bằng việc thực hiện  
các hệ thống thông minh như Internet vạn  
vật, hạ tầng thông minh, sản phẩm thông  
minh, máy móc thông minh và sự trao đổi  
thông tin theo thời gian thực trong các  
bước của chuỗi cung ứng với quy trình đáp  
ứng nhanh và thông minh. Để đạt được kết  
quả tốt hơn, chuỗi cung ứng cần một lượng  
lớn thông tin và công nghệ thông tin hỗ trợ  
như điện toán đám mây hoặc các phần  
mềm quản lý chuỗi cung ứng (Mukhtar và  
cộng sự, 2009).  
Trong khi đó, chuỗi cung ứng lạnh  
được định nghĩa là “việc vận chuyển các  
sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ xuyên  
suốt chuỗi cung ứng thông qua các phương  
pháp đóng gói giữ nhiệt và việc lập kế  
hoạch logistics để bảo quản hàng hoá trong  
suốt quá trình vận chuyển” (Luo và cộng  
sự, 2016). Trong nền công nghiệp 4.0, có  
rất nhiều thông tin trao đổi, và với sự quan  
tâm ngày càng cao của khách hàng liên  
quan đến việc theo dõi hàng hoá, chất  
lượng cũng như độ an toàn, điều cần thiết  
của các công ty để áp dụng hệ thống theo  
dõi và quản lý chuỗi cung ứng lạnh hiệu  
quả và đáng tin cậy trong suốt các khâu của  
chuỗi.  
2. Cơ sở lý luận  
2.1. Cách mạng công nghiệp 4.0 và  
Chuỗi cung ứng lạnh  
Thuật ngữ “Cách mạng công nghiệp  
4.0” trở nên phổ biến từ năm 2011, xuất  
hiện trên mọi lĩnh vực như kinh doanh,  
chính trị, và cả học thuật – là ý tưởng để  
nâng cao sự cạnh tranh của nền công  
nghiệp sản xuất ở Đức (Kagermann và  
cộng sự, 2013). Cách mạng công nghiệp  
4.0 được coi là “một cấp độ mới trong tổ  
chức và quản lý chuỗi giá trị trong suốt  
vòng đời của sản phẩm” (Industrial Internet  
Consortium, 2017). Chuỗi cung ứng ngày  
nay không thể vận hành nếu không có sự  
Nhiều quốc gia trên thế giới yêu cầu  
các tổ chức ứng dụng công nghệ hiện đại  
để đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu. Ví dụ,  
hệ thống RFID GS1 của Hồng Kông trong  
quản lý chuỗi cung ứng để giúp các bên  
trong chuỗi có thể quản lý hệ thống  
logistics tối ưu một cách hiệu quả và tin  
cậy. Sử dụng nền tảng truy vết toàn cầu  
ezTRACK và thẻ cảm biến RFID gắn trên  
91  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
các thiết bị sử dụng trong logistics, giúp  
truy xuất toàn bộ điều kiện nhiệt độ để đảm  
bảo chất lượng hàng và an toàn trong toàn  
bộ quá trình vận chuyển, lưu kho. Ưu điểm  
là có thể kiểm soát được nhiệt độ và độ ẩm,  
truy xuất được nguồn gốc hàng, chia sẻ  
thông tin theo thời gian thực, tăng hiệu quả  
khai thác và giảm lãng phí hư hỏng thực  
phẩm. Walmart hiện cũng mở những trung  
tâm cộng tác an toàn tại Bắc Kinh. Công ty  
này liên kết với IBM và Đại Học Tsinghua  
để cải thiện chất lượng thực phẩm trong  
suốt chuỗi cung ứng, sử dụng công nghệ  
Blockchain để cung cấp việc truy xuất  
hàng hoá tốt hơn và an toàn hơn cho khách  
hàng. Nhóm này đang xây dựng một mô  
hình mới: truy xuất thực phẩm, minh bạch  
hoá chuỗi cung ứng và khả năng lắng nghe  
chuỗi cung ứng.  
Thách thức lớn nhất đối với nhà quản  
trị chuỗi cung ứng thực phẩm là thiếu cách  
thức tiêu chuẩn để thu thập thông tin và  
trao đổi thông tin giữa các hệ thống của đối  
tác trong chuỗi cung ứng (Bhatt và cộng sự,  
2013). Mỗi một đối tác khác nhau trong  
chuỗi cung ứng lại có những giải pháp công  
nghệ khác nhau như barcode, RFID gây ra  
các vấn đề về tương thích. Do đó, giải  
quyết vấn đề tương thích và lựa chọn công  
nghệ phù hợp là một trong những vấn đề  
cần phải cân nhắc trong việc phát triển hệ  
thống chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam.  
2.2 Chuỗi cung ứng lạnh ở Việt Nam  
và tác động của công nghiệp 4.0  
với các loại quả và hơn 30% với rau, 15 -  
20% với các loại lương thực khác. Với tỷ  
lệ tổn thất này, mỗi năm chúng ta ước tính  
mất khoảng 6.318 tỷ đồng. Chuỗi cung ứng  
lạnh Việt Nam được chia ra làm 2 mảng  
chính là kho lạnh và vận tải lạnh. Theo số  
liệu của Fiin Group, thị trường Việt Nam  
có khoảng 44 nhà cung cấp dịch vụ chủ  
yếu cho ngành thực phẩm bao gồm thịt và  
thuỷ sản cho xuất nhập khẩu, chế biến thực  
phẩm). Các công nghệ được sử dụng trong  
kho lạnh như pallet nhựa, pallet biến tần,  
máy di chuyển tủ đông, bình nóng lạnh.  
Vì vậy, 3 khó khăn lớn nhất mà các  
doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng lạnh  
gặp phải là:  
Thứ nhất, đại bộ phận khách hàng vẫn  
xem yếu tố giá quan trọng hơn chất lượng,  
thay vì sử dụng kho lạnh hoặc hệ thống giữ  
mát, sản phẩm nông sản được ngâm tẩm  
hoá chất để giữ độ tươi trong thời gian dài.  
Cho đến hiện nay, vấn đề này vẫn chưa  
được kiểm soát chặt chẽ.  
Thứ hai là hệ thống kho lạnh cần có  
những nhà cung cấp dịch vụ logistics đầu  
tư và vận hành chuyên nghiệp để giữ nhiệt  
độ ổn định. Mỗi loại trái cây, rau, thịt và cá  
có nhiệt độ bảo quản khác nhau nên cần  
kho riêng biệt để tránh nhiễm chéo nên chi  
phí đầu tư rất cao.  
Thứ ba là chi phí đầu tư kho lạnh,  
phương tiện vận tải lạnh cũng như hệ thống  
trang thiết bị cho hàng lạnh rất cao nên dù  
là thị trường rất lớn nhưng ít công ty  
logistics mạnh dạn đầu tư.  
Tiềm năng phát triển chuỗi cung ứng  
lạnh của Việt Nam xếp hạng thứ 17 trên  
toàn cầu đã được đánh giá trong Hội thảo  
“Các vấn đề và giải pháp cho chuỗi cung  
ứng lạnh của Việt Nam” (Vietnam Supply  
Chain, 2019). Tại Việt Nam, tổn thất sau  
thu hoạch nông sản chiếm khoảng 25% đối  
Theo chuyên gia Julien Brun, Giám  
đốc của CEL Consulting (Brun, 2017),  
thách thức của chuỗi cung ứng của Việt  
Nam bao gồm các yếu tố sau:  
- Máy móc lạc hậu, phương tiện vận  
tải thiếu thốn, và kho lạnh không đủ vận  
92  
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
hành. Việt Nam có hàng hoá chất lượng  
nhưng không tốt ở khâu cung ứng.  
- Chuỗi lạnh cho thực phẩm ở thị  
trường nội địa (cho nhà hàng và siêu thị)  
còn yếu.  
- Thị trường kho lạnh của Việt Nam  
đang trở nên cạnh tranh hơn với nhiều dự  
án được thực hiện bởi cả các nhà đầu tư  
trong và ngoài nước. Các công ty bán lẻ  
trên thế giới đầu tư vào thị trường Việt  
Nam trong những năm gần đây khá nhiều,  
Việt Nam dự tính sẽ có 1200 đến 1300 siêu  
thị, 180 trung tâm mua sắm và 157 cửa  
hàng trước năm 2020 (Vietnam Logistics  
Review, 2017).  
3. Các kết quả nghiên cứu  
Sau quá trình nghiên cứu cơ sở lý luận  
về Cách mạng công nghiệp 4.0, chuỗi cung  
ứng lạnh trên thế giới và Việt Nam đối với  
mặt hàng thực phẩm kết hợp với phỏng vấn  
sâu một số doanh nghiệp trong lĩnh vực  
này như: HoangHa Logistics, Transimex,  
ABA Cooltrans và Headway. Bài báo rút ra  
một số kết luận sau:  
Đầu tiên, thông tin trong chuỗi cung  
ứng (từ nông trại đến người tiêu dùng trong  
nước và nước ngoài) chưa được số hoá để  
truy xuất từ nông trại đến nhà bán lẻ. Chuỗi  
cung ứng lạnh cụ thể được thể hiện dưới sơ  
đồ sau (Hình 1):  
Lưu kho lạnh  
Nông trại/  
Nguyên liệu thô  
Làm mát trước  
lưu kho  
Lưu kho/  
Trung tâm phân phối  
Chế biến/  
Đóng gói  
Nhà bán lẻ  
Hꢀnh 1. Chuỗi lạnh đối với hàng thực phẩm  
(Nguồn: Centre for Food Safety, Hongkong)  
Hiện tại, có một ít nhà sản xuất có đủ  
khả năng để phát triển chất lượng cao đáp  
ứng tiêu chuẩn của Global Gap. Các công  
ty lớn như Hùng Vương, Minh Phú, Vinh  
Hoàn… đã có nông trại riêng nhưng không  
có đủ cho hoạt động sản xuất. Hoặc trong  
lĩnh vực trái cây, Cát Tường là một doanh  
nghiệp khá lớn với 200 ha nông trường  
nhưng các doanh nghiệp này đều phải mua  
thêm sản phẩm từ nông dân địa phương  
mặc dù có kiểm soát về chất lượng nhưng  
rất khó. Đặc biệt ông Lê Văn Quang, chủ  
tịch của tập đoàn Minh Phú cho biết đôi  
khi còn phải nhập khẩu tôm từ những quốc  
gia khác vì thị trường trong nước không đủ  
đáp ứng. Điều này gây khó khăn trong việc  
kiểm soát chất lượng không chỉ ở vấn đề vệ  
sinh mà còn ở khâu kiểm soát nhiệt độ từ  
nguyên liệu thô.  
Thứ hai là vẫn còn thiếu các trang thiết  
bị kho lạnh trong khu vực phân phối của  
Đồng bằng sông Cửu Long – MRD  
(Mekong River Distribution). Hầu hết kho  
lạnh của Việt Nam được xây dựng trong  
vùng tam giác kinh tế chính của khu vực  
(Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai).  
Hiện tại, 60% kho lạnh đều đến từ khu  
vực phía Nam, vị trí của một số kho lạnh  
93  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
tại khu vực này cho thấy sự thiếu hụt về hệ  
thống kho lạnh, các kho còn khá xa nguồn  
thực phẩm nên gây chi phí vận chuyển cao  
– như minh hoạ ở Hình 2.  
Hình 2. Hệ thống kho lạnh của khu vực phía Nam  
Hầu hết các kho lạnh trong khu vực  
Đồng bằng sông Cửu Long đều khá lạc  
hậu (không có kệ hàng, thiếu trung tâm  
kiểm soát nhiệt độ, làm hàng thủ công),  
toạ lạc ở các nhà máy sản xuất thuỷ hải  
sản do thói quen tự đầu tư kho của doanh  
nghiệp sản xuất hoặc hợp tác xã. Điều này  
làm giảm chất lượng và gây khó khăn  
trong việc đảm bảo chất lượng nhà kho.  
Chỉ sau khi Việt Nam tham gia WTO năm  
2017, số lượng kho tăng để đáp ứng yêu  
cầu chất lượng cho hàng thực phẩm (Hình  
3), chỉ có Trung tâm Logistics Mekong,  
với quy mô 50.000 tấn hàng hoá trong khu  
công nghiệp sông Hậu, tỉnh Hậu Giang, số  
vốn đầu tư ban đầu là 46,1 triệu USD do  
Công ty Gemadept kết hợp với Tập đoàn  
Minh Phú xây dựng là có quy mô lớn và  
được đầu tư đúng nghĩa là một chuỗi cung  
ứng lạnh.  
94  
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Hình 3. Dung tích kho lạnh cho thuê của Việt Nam (ngàn pallet)  
(Nguồn: Vietnam Cold Storage Market report, Stoxplus Research, 2019)  
Theo số liệu nghiên cứu của Finn Group,  
dẫn đầu thị trường trong nước có Hoàng Lai,  
Phan Duy, Mekong Logistics, Bình Minh  
Tải, Quang Minh và ABA Cooltrans.  
kích cỡ của thị trường chuỗi lạnh của Việt  
Nam lên khoảng 169 triệu USD năm 2018,  
các kho lạnh cho thuê dung tích đến 600  
ngàn pallets và hơn 700 xe tải lạnh. Các  
doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị  
trường Việt Nam như Emergent cold, PFS,  
Lotte nắm giữ vai trò dẫn đầu thị trường khi  
áp dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý  
kho hàng bao gồm việc chia chức năng kho  
hàng là kho lạnh, kho mát, barcode, hệ thống  
quản lý tồn kho, phân loại dịch vụ giá trị gia  
tăng, dán nhãn, phân phối. Các doanh nghiệp  
Trong khảo sát được thực hiện bởi tác  
giả và nhóm nghiên cứu Trường Đại học  
Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí  
Minh. Các trang thiết bị đang được sử dụng  
phục vụ cho hàng lạnh tại Việt Nam vẫn  
còn khá đơn giản (Hình 4) như container  
lạnh, phần mềm quản lý vận tải, xe tải  
thùng kín, barcode. Chỉ một số ít các doanh  
nghiệp ứng dụng RFID để truy vết nguồn  
gốc, hay blockchain.  
Hình 4. Các trang thiết bị được sử dụng tại các công ty cung cấp dịch vụ lạnh  
(Nguồn: Vietnam Cold Storage Market report, Stoxplus Research, 2019)  
95  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
Vào năm 2019, nhiều công nghệ mới  
nổi lên được áp dụng trong chuỗi lạnh là:  
khả năng theo dõi chuỗi lạnh theo thời gian  
thực, Internet vạn vật, mô hình lợi ích của  
khách hàng theo thời gian thực và tích hợp  
dữ liệu chặt chẽ với các đối tác trong chuỗi  
cung ứng sử dụng hệ thống trao  
đổi dữ liệu điện tử (Electronic datra  
Interchange, EDI) để truyền dữ liệu một  
cách nhanh chóng, kịp thời. Các phương  
tiện và trang thiết bị làm hàng cho chuỗi  
cung ứng lạnh cũng được đầu tư phổ biến  
như bảng Kingspan Quadcore cách nhiệt  
cải thiện hiệu quả đến 25% hay các vật  
liệu thay đổi pha (PCM) để tiết kiệm  
năng lượng.  
bền vững.  
- Bán hàng trên các nền tảng thương  
mại điện tử như Alibaba hoặc Amazon để  
kết nối với thị trường tiêu thụ nhanh hơn,  
hiệu quả hơn.  
Đối với nhà cung cấp dịch vụ logistics  
- Ứng dụng trang thiết bị điện tử để  
theo dõi thông qua chuỗi giá trị: nhiệt độ,  
vị trí, thời gian để đảm bảo thực phẩm  
được bảo quản trong điều kiện thích hợp.  
Thông tin được lưu lại bởi các thiết bị điện  
tử để hạn chế thao tác lưu trữ thủ công  
tránh sai sót trong nhập liệu. Đồng thời  
phải luôn tìm tòi các hệ thống và giải pháp  
giảm chất thải, loại bỏ các chi phí không  
cần thiết, cải thiện an toàn lao động.  
- Áp dụng Hệ thống quản lý kho hàng  
(WMS) để truy xuất mỗi một lô hàng đơn  
lẻ để hỗ trợ truy xuất từ đầu đến cuối trong  
toàn chuỗi. Ứng dụng này cho phép nhà  
cung cấp dịch vụ logistics nhận và vận  
chuyển đúng lô hàng cũng như truy xuất  
hàng dễ dàng hơn.  
4. Giải pháp  
Có nhiều giải pháp trong nền công  
nghiệp 4.0 mà công ty sản xuất và nhà  
cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam có thể  
áp dụng để mang đến sự phát triển bền  
vững trong chuỗi giá trị:  
Đối với nhà sản xuất  
- Phát triển chip truy vết (VD: RFID  
tag, nhãn log) để kiểm tra và theo dõi nhiệt  
độ, vị trí của dòng vật chất từ nguyên liệu  
thô đến nông trại, nhà bán lẻ.  
- Sử dụng QR (Quick response) code  
để truy suất thông tin trong chuỗi để khách  
hàng có thể truy cập lịch sử vòng đời sản  
phẩm. Công nghệ thông tin được lưu trữ  
trên Blockchain để đảm bảo khả năng truy  
cập và truy vết nguồn gốc và nguyên nhân  
hư hỏng.  
- Phân tích dữ liệu lớn về phân phối  
sản phẩm từ khách hàng để hiểu sản phẩm  
nào tốt trong mỗi khu vực và thực hiện dự  
báo chính xác hơn.  
- Áp dụng nhà máy thông minh để loại  
trừ lãng phí rác, cải thiện hiệu quả sử dụng  
nhiên liệu và hướng đến chuỗi cung ứng  
- Tự động hoá các khâu xử lý nguyên  
vật liệu: thêm hoặc loại bỏ miếng đệm tủ  
đông, robot hoá kho hàng.  
- Sử dụng các xe đông lạnh cách nhiệt,  
các loại xe đẩy nhiệt và các bao bì cách  
nhiệt, đối với rau, củ quả, các đóng gói phổ  
biến là thùng giấy carton từ hộp carton  
sóng với các liên kiện khoá bên trong hộp.  
Ngoài ra còn có thùng gỗ, tấm cách nhiệt  
mỏng, pallet được làm từ nhựa HDPE  
(high density polyethylene) và container  
di động.  
- Phát triển chuỗi cung ứng lạnh một  
cách tích hợp và đồng bộ: từ nông trại đến  
bàn ăn. Tăng tiền đầu tư vào cơ sở hạ tầng  
cho chuỗi nông – lâm – thuỷ sản, phân bố  
kho lạnh nằm ở các khu vực địa lý phù hợp  
cho từng ngành hàng.  
96  
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
công nghiệp 4.0, chẳng hạn như áp dụng  
nền tảng IoT, nhà máy thông minh, dịch vụ  
internet, các nền tảng này đưa đến khả  
năng chi trả và mang tính ứng dụng cao đối  
với các nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch  
vụ logistics để trang bị và nâng cao khả  
năng của chuỗi lạnh đáp ứng và cạnh tranh  
với các công ty toàn cầu. Công nghệ mới  
như blockchain cũng rất hứa hẹn đối với  
các công ty Việt Nam để áp dụng và gia  
nhập chuỗi cung ứng trên toàn cầu.  
5. Kết luận  
An toàn thực phẩm là mối quan tâm  
chính của nhiều công ty trên thế giới. Các  
tiêu chuẩn khắt khe trong suốt chuỗi cung  
ứng là những yếu tố để đảm bảo thực phẩm  
an toàn và tốt cho sức khoẻ. Giữ vai trò là  
một trong những quốc gia dẫn đầu về xuất  
khẩu thuỷ hải sản và nông sản, Việt Nam  
cần phải cải thiện chất lượng chuỗi cung  
ứng lạnh hơn nữa để đáp ứng tiêu chuẩn  
mà khách hàng đề ra. Nhờ vào Cách mạng  
Chú thích:  
canh-tranh-khoc-liet-d58068.html  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Afanasjeva, A. (2011). General requirements for export of fish and fishery products to the  
EU. Eurofish TCP Workshop “Food safety management in carp farms and  
processing”. Daruvar, Croatia.  
Bauernhansl, T. (2014). Die Vierte Industrielle Revolution – Der Weg in ein  
wertschaffendes Produktionsparadigma. In: Bauernhansl T., ten Hompel M., Vogel-  
Heuser B. (eds) Industrie 4.0 in Produktion, Automatisierung und Logistik. Springer  
Vieweg (trang 5-35), Wiesbaden. doi: 10.1007/978-3-658-04682-8_1.  
Brettel, M., Friederichsen, N., Keller, M.A., & Rosenberg, M. (2014). How Virtualization,  
Decentralization and Network Building Change the Manufacturing Landscape: An  
Industry 4.0 Perspective. World Academy of Science, Engineering and Technology,  
International Journal of Mechanical, Aerospace, Industrial, Mechatronic and  
Manufacturing Engineering, 8, 37-44.  
Brun, J. (2017). Chuỗi cung ứng nông nghiệp tương lai cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu  
Long. Hội thảo Quản trị chuỗi cung ứng lạnh - mát và chuỗi cung ứng nông nghiệp  
tại Việt Nam. Việt Nam.  
Buxmann, P., Hess, T. & Ruggaber, R. (2009). Internet of Services. Business &  
Information System Engineering, 1, 341. doi: 10.1007/s12599-009-0066-z.  
Cold chain management solution. (2017). Truy xuất từ https://www.gs1hk.org/our-  
services/cold-chain-management-solution/overview.  
97  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 73 (01/2021)  
Deloite. (2014). Challenges and Solutions for digital transformation and use of  
exponential technologies. Zurich: Deloite.  
Dominik L., Carmen C., Engelbert W. (2008). Smart Factory - A Step towards the Next  
Generation of Manufacturing. Manufacturing Systems and Technologies for the New  
Frontier (trang 115 -118). London: Springer.  
Finn Group. (2019). Vietnam Cold Storage Market Report. Vietnam.  
Hans-Christian P., Burak Y. and Tamer K. (n.d.). The Impact of Industry 4.0 on the Supply  
Chain. Conference: The Hamburg International Conference of Logistics (HICL).  
Hamburg, Germany.  
Hermann, M., Pentek, T., and Otto, B. (2016). Design Principles for Industrie 4.0  
Scenarios. 49th Hawaii International Conference on System Sciences (HICSS)  
(p.3928-3937). Koloa, HI, 2016. doi: 10.1109/HICSS.2016.488.  
Jian Q., Ying L., and Roger G. (2016). A Categorical Framework of Manufacturing for  
Industry 4.0 and Beyond. Procedia CIRP, 52(2016), 173-178. doi:  
10.1016/j.procir.2016.08.005.  
Kagermann, H., Wahlster, W., and Helbig, J. (2013). Securing the future of German  
manufacturing industry Recommendations for implementing the strategic initiative  
INDUSTRIE 4.0. Final report of the Industrie 4.0 Working Group. Germany:  
National Academy of Science and Engineering.  
Lee, E.A. (2008). Cyber Physical Systems: Design Challenges. 2008 11th IEEE  
International Symposium on Object and Component-Oriented Real-Time Distributed  
Computing (ISORC), 363-369. doi: 10.1109/ISORC.2008.25.  
Mai Hân. (2016). Vì sao tôm Việt mắc kẹt ở Mỹ? Nhịp cầu đầu tư. Truy xuất từ  
3316163/  
MAP: Giải pháp tăng thời gian bảo quản nông sản. (2020). Tạp chí Công Thương. Truy  
thoi-gian-bao-quan-nong-san-19371-3101.html.  
Minh Phương (2017). Chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam: Nhiều khó khăn thách thức  
doanh nghiệp trong ngành. Truy xuất từ http://vietnambiz.vn/chuoi-cung-ung-lanh-  
tai-viet-nam-nhieu-kho-khan-thach-thuc-doanh-nghiep-trong-nganh-15410.html.  
Mukhtar, M., Jailani, N., Abdullah, S., Yahya, Y., & Abdullah, Z. (2009). A Framework  
for Analyzing e-Supply Chains. European journal of scientific research, 25,  
649-662.  
Plattform of Industrie 4.0. (2016). Truy xuất từ http://ec.europa.eu/information_society/  
newsroom/image/document/2016-27/10__pi40_diemer_16494.pdf.  
98  
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Quang Huy. (2015). Vì sao 32.000 tấn tôm, cá Việt bị trả về? Pháp Luật. Truy xuất từ  
Redman, J. (2016). Walmart & IBM Improves Food Safety With Blockchain Tech.  
Supply Chain Traceability Technology Necessary for FSMA Compliance. (2017).  
-necessary-fsma-compliance/.  
Tố Uyên (2018). Số liệu thống kê thực phẩm bẩn trên thị trường hiện nay. Truy xuất từ  
Vietnam Supply Chain. (2019). Remaining issues and solutions in cold chain management  
in Vietnam. Ho Chi Minh: Vietnam Supply Chain.  
Vietnam Logistics Review (2017). Vietnam cold storage market: huge potential but fierce  
market-huge-potential-but-fierce-competition-47120.html.  
Wu, L. Yue, X., Jin, A., Yen, D.C. (2016). Smart supply chain management: a review and  
implications for future research. The International Journal of Logistics Management,  
27(2), 395 - 417. doi: 10.1108/IJLM-02-2014-0035.  
Ngày nhận bài: 10/4/2020  
Biên tập xong: 15/01/2021  
Duyệt đăng: 20/01/2021  
99  
pdf 11 trang Thùy Anh 14540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chuỗi cung ứng lạnh Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 - Những tác động và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchuoi_cung_ung_lanh_viet_nam_trong_boi_canh_cuoc_cach_mang_c.pdf