Chuỗi cung ứng lạnh Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 - Những tác động và giải pháp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
TẠP CHÍ KHOA HỌC
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 73 (01/2021)
SAIGON UNIVERSITY
SCIENTIFIC JOURNAL
OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH
MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 - NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP
Vietnam’s cold chain logistics in the industrial revolution 4.0:
The effects and solutions
ThS. Bùi Thị Bích Liên(1), ThS. Nguyễn Trần Thái Hà(2)
(1)Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM
(2)Trường Đại học Sài Gòn
TÓM TẮT
Bài báo này thảo luận trực diện về vai trò và tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến chuỗi cung
ứng lạnh của Việt Nam. Việc thiếu các khí lạnh và trang thiết bị cho hàng lạnh trong chuỗi cung ứng,
cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ chuỗi lạnh là một vấn đề rất lớn đặt
ra cho ngành hàng nông sản Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu sẽ là nền tảng để đề xuất một số giải
pháp hiệu quả nhằm phát triển chuỗi cung ứng lạnh của Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công
nghiệp 4.0.
Từ khóa: cách mạng công nghiệp 4.0, chuỗi cung ứng lạnh, công nghệ thông tin, hàng nông sản
Việt Nam
ABSTRACT
This paper directly discusses the role and impact of the Industrial Revolution 4.0 on Vietnam's cold
chain logistics. However, a major constraint to the development of the agriculture and fisheries sector is
the shortage of cold storage and equipment for high quality refrigerated goods in the supply chain, as
well as the application of information technology in providing cold chain services. The results of the
study will be the basis for proposing some effective solutions to develop Vietnam's cold chain logistics
in the context of the Industrial Revolution 4.0.
Keywords: the Industrial Revolution 4.0, cold chain logistics, information technology, Vietnamese
agricultural products.
áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau,
và đóng vai trò chính trong lĩnh vực có yêu
cầu cao về công nghệ để bảo quản, truy vết
hàng hoá là chuỗi cung ứng lạnh. Trong
những năm gần đây, giá trị xuất khẩu của
các mặt hàng nông lâm thuỷ sản của Việt
Nam ngày một gia tăng nên nhu cầu về
chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam ngày
một cấp thiết. Đặc biệt là đầu năm 2020,
1. Đặt vấn đề
Cách mạng công nghiệp 4.0, “Internet
vạn vật” (IoT) là một bước phát triển quan
trọng trong tổ chức và quản lý toàn bộ
chuỗi giá trị và giao diện của nó với những
kiến trúc thượng tầng thông minh khác như
điện thoại thông minh và logistics thông
minh (Industrial Internet Consortium,
2017). Cách mạng công nghiệp 4.0 được
Email: [email protected]
89
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
khi đại dịch do virus Corona chủng mới
gây ra đã làm hàng loạt các mặt hàng của
Việt Nam như thanh long và dưa hấu chật
vật tìm con đường tiêu thụ mới ngoài thị
trường chính là Trung Quốc. Tuy nhiên vì
các thị trường khó tính như Mỹ, khu vực
chung châu Âu và châu Úc có đòi hỏi rất
nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, cũng
như đòi hỏi phải kéo dài thời gian trên kệ
hàng của các mặt hàng này nên nhu cầu về
các chuỗi lạnh là đặc biệt cấp thiết trong
tình hình hiện nay (Hình 1).
Cải thiện tiêu chuẩn an toàn của thực
phẩm, thương mại toàn cầu và tích hợp thị
trường là những yêu cầu trong xu hướng
toàn cầu hoá của chuỗi thức ăn an toàn.
Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm
(FDA - Food and Drug Administration)
của Hoa Kỳ có thẩm quyền trong việc quy
định yêu cầu đối với thực phẩm liên quan
đến việc trồng, thu hoạch và chế biến,
thực thẩm nhập vào Mỹ. Do đó, mặt hàng
thực phẩm được yêu cầu tăng cường kiểm
soát và theo dõi, lưu trữ dữ liệu theo thời
gian thực khi nhập khẩu vào Mỹ, tương tự
như những yêu cầu đối với hàng nhập
khẩu vào khu vực chung châu Âu (EU) và
Nhật. Tuy nhiên, cải thiện chất lượng xuất
khẩu thực phẩm từ Việt Nam luôn là một
thách thức. Theo những nhà xuất khẩu
chính của Việt Nam vào EU, Mỹ và Nhật
thì nguyên nhân chính cho việc hàng Việt
Nam bị trả về là vì những lý do sau đây
(Bảng 1):
Bảng 1: Top 10 lý do sản phẩm của Việt Nam bị trả về (từ Mỹ, EU và Nhật)
EU Mỹ Nhật
Lý do Lý do
%
Lý do
%
%
Dư lượng thuốc bảo vệ 34,1 Bẩn/mất vệ sinh
24,4 Vi phạm các tiêu chuẩn thành 66,7
thực vật
phần
Có chất ô nhiễm vi sinh 26,9 Nhãn mác
22,5 Vi phạm các tiêu chuẩn toàn 19,6
bộ
Nhiễm kim loại nặng
8,4 Có chất ô nhiễm vi sinh 21,7 Tạo ra nấm mốc
4,1
Nhiễm chất gây ô nhiễm 5,5 Nhà sản xuất/chế biến
10,6 Vi phạm tiêu chuẩn sử dụng
3,9
công nghiệp
chưa đăng ký
Thành phần của sản
phẩm
5,1 Phụ gia thực phẩm trái
8,0 Phát hiện ra số lượng tiêu thụ 1,8
vượt quá mức có thể gây
phép
nguy hiểm cho sức khoẻ
Phụ gia thực phẩm trái 4,8 Dư lượng thuốc bảo vệ
4,8 Chất phụ gia không được chỉ
phép
thực vật
định
1,8
1,4
0,4
Độc tố
3,7 Có chứa chất độc
3,0 Độc tố
Độc tố sinh học/ có chất 2,4 Độc tố sinh học/ có chất 2,8 Không phù hợp với tiêu
ô nhiễm ô nhiễm chuẩn cho vật liệu
Dư lượng thuốc trừ sâu 1,5 HACCP 0,8 Đóng gói
0,4
0,2
Kiểm soát sản phẩm
kém hoặc không phù
hợp
1,3 Độc tố
0,6 Vi phạm các tiêu chuẩn về
vật liệu
(Nguồn: UNIDO, Bộ Y Tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản)
90
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Đối với thị trường trong nước: theo
thống kê về an toàn vệ sinh thực phẩm,
Việt Nam là quốc gia hàng đầu về ung thư,
trong đó thực phẩm bẩn chính là nguyên
nhân hàng đầu, chiếm đến 35% trong số
các nguyên nhân, chi ra 0,22% GDP cho
các căn bệnh ung thư phát sinh từ ăn thực
phẩm bẩn (Tố Uyên, 2018). Logistics, do
đó, là một phần rất quan trọng trong chuỗi
giá trị của thực phẩm an toàn; nhưng việc
thiếu tiêu chuẩn chất lượng và chưa áp
dụng nhiều công nghệ để đáp ứng yêu cầu
của thị trường xuất khẩu cũng như thị
trường nội địa là một trở ngại rất lớn. Vì
vậy, sự phát triển của Cách mạng công
nghiệp 4.0 mang đến rất nhiều cơ hội về
công nghệ mà Việt Nam có thể học tập để
áp dụng nhằm cải thiện chuỗi giá trị của
thực phẩm an toàn. Bài báo này thảo luận
trực diện về vai trò và tác động của cách
mạng công nghiệp 4.0 đến chuỗi cung ứng
lạnh của Việt Nam. Kết quả của nghiên
cứu sẽ là nền tảng để đề xuất một số giải
pháp hiệu quả để phát triển chuỗi cung ứng
lạnh của Việt Nam trong bối cảnh Cách
mạng công nghiệp 4.0.
hỗ trợ của công nghệ thông tin. Trong một
nghiên cứu của Wu và cộng sự (2016), có
định nghĩa “chuỗi cung ứng thông minh là
một hệ thống kinh doanh tích hợp với việc
mở rộng các ứng dụng bằng việc thực hiện
các hệ thống thông minh như Internet vạn
vật, hạ tầng thông minh, sản phẩm thông
minh, máy móc thông minh và sự trao đổi
thông tin theo thời gian thực trong các
bước của chuỗi cung ứng với quy trình đáp
ứng nhanh và thông minh. Để đạt được kết
quả tốt hơn, chuỗi cung ứng cần một lượng
lớn thông tin và công nghệ thông tin hỗ trợ
như điện toán đám mây hoặc các phần
mềm quản lý chuỗi cung ứng (Mukhtar và
cộng sự, 2009).
Trong khi đó, chuỗi cung ứng lạnh
được định nghĩa là “việc vận chuyển các
sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ xuyên
suốt chuỗi cung ứng thông qua các phương
pháp đóng gói giữ nhiệt và việc lập kế
hoạch logistics để bảo quản hàng hoá trong
suốt quá trình vận chuyển” (Luo và cộng
sự, 2016). Trong nền công nghiệp 4.0, có
rất nhiều thông tin trao đổi, và với sự quan
tâm ngày càng cao của khách hàng liên
quan đến việc theo dõi hàng hoá, chất
lượng cũng như độ an toàn, điều cần thiết
của các công ty để áp dụng hệ thống theo
dõi và quản lý chuỗi cung ứng lạnh hiệu
quả và đáng tin cậy trong suốt các khâu của
chuỗi.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Cách mạng công nghiệp 4.0 và
Chuỗi cung ứng lạnh
Thuật ngữ “Cách mạng công nghiệp
4.0” trở nên phổ biến từ năm 2011, xuất
hiện trên mọi lĩnh vực như kinh doanh,
chính trị, và cả học thuật – là ý tưởng để
nâng cao sự cạnh tranh của nền công
nghiệp sản xuất ở Đức (Kagermann và
cộng sự, 2013). Cách mạng công nghiệp
4.0 được coi là “một cấp độ mới trong tổ
chức và quản lý chuỗi giá trị trong suốt
vòng đời của sản phẩm” (Industrial Internet
Consortium, 2017). Chuỗi cung ứng ngày
nay không thể vận hành nếu không có sự
Nhiều quốc gia trên thế giới yêu cầu
các tổ chức ứng dụng công nghệ hiện đại
để đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu. Ví dụ,
hệ thống RFID GS1 của Hồng Kông trong
quản lý chuỗi cung ứng để giúp các bên
trong chuỗi có thể quản lý hệ thống
logistics tối ưu một cách hiệu quả và tin
cậy. Sử dụng nền tảng truy vết toàn cầu
ezTRACK và thẻ cảm biến RFID gắn trên
91
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
các thiết bị sử dụng trong logistics, giúp
truy xuất toàn bộ điều kiện nhiệt độ để đảm
bảo chất lượng hàng và an toàn trong toàn
bộ quá trình vận chuyển, lưu kho. Ưu điểm
là có thể kiểm soát được nhiệt độ và độ ẩm,
truy xuất được nguồn gốc hàng, chia sẻ
thông tin theo thời gian thực, tăng hiệu quả
khai thác và giảm lãng phí hư hỏng thực
phẩm. Walmart hiện cũng mở những trung
tâm cộng tác an toàn tại Bắc Kinh. Công ty
này liên kết với IBM và Đại Học Tsinghua
để cải thiện chất lượng thực phẩm trong
suốt chuỗi cung ứng, sử dụng công nghệ
Blockchain để cung cấp việc truy xuất
hàng hoá tốt hơn và an toàn hơn cho khách
hàng. Nhóm này đang xây dựng một mô
hình mới: truy xuất thực phẩm, minh bạch
hoá chuỗi cung ứng và khả năng lắng nghe
chuỗi cung ứng.
Thách thức lớn nhất đối với nhà quản
trị chuỗi cung ứng thực phẩm là thiếu cách
thức tiêu chuẩn để thu thập thông tin và
trao đổi thông tin giữa các hệ thống của đối
tác trong chuỗi cung ứng (Bhatt và cộng sự,
2013). Mỗi một đối tác khác nhau trong
chuỗi cung ứng lại có những giải pháp công
nghệ khác nhau như barcode, RFID gây ra
các vấn đề về tương thích. Do đó, giải
quyết vấn đề tương thích và lựa chọn công
nghệ phù hợp là một trong những vấn đề
cần phải cân nhắc trong việc phát triển hệ
thống chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam.
2.2 Chuỗi cung ứng lạnh ở Việt Nam
và tác động của công nghiệp 4.0
với các loại quả và hơn 30% với rau, 15 -
20% với các loại lương thực khác. Với tỷ
lệ tổn thất này, mỗi năm chúng ta ước tính
mất khoảng 6.318 tỷ đồng. Chuỗi cung ứng
lạnh Việt Nam được chia ra làm 2 mảng
chính là kho lạnh và vận tải lạnh. Theo số
liệu của Fiin Group, thị trường Việt Nam
có khoảng 44 nhà cung cấp dịch vụ chủ
yếu cho ngành thực phẩm bao gồm thịt và
thuỷ sản cho xuất nhập khẩu, chế biến thực
phẩm). Các công nghệ được sử dụng trong
kho lạnh như pallet nhựa, pallet biến tần,
máy di chuyển tủ đông, bình nóng lạnh.
Vì vậy, 3 khó khăn lớn nhất mà các
doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng lạnh
gặp phải là:
Thứ nhất, đại bộ phận khách hàng vẫn
xem yếu tố giá quan trọng hơn chất lượng,
thay vì sử dụng kho lạnh hoặc hệ thống giữ
mát, sản phẩm nông sản được ngâm tẩm
hoá chất để giữ độ tươi trong thời gian dài.
Cho đến hiện nay, vấn đề này vẫn chưa
được kiểm soát chặt chẽ.
Thứ hai là hệ thống kho lạnh cần có
những nhà cung cấp dịch vụ logistics đầu
tư và vận hành chuyên nghiệp để giữ nhiệt
độ ổn định. Mỗi loại trái cây, rau, thịt và cá
có nhiệt độ bảo quản khác nhau nên cần
kho riêng biệt để tránh nhiễm chéo nên chi
phí đầu tư rất cao.
Thứ ba là chi phí đầu tư kho lạnh,
phương tiện vận tải lạnh cũng như hệ thống
trang thiết bị cho hàng lạnh rất cao nên dù
là thị trường rất lớn nhưng ít công ty
logistics mạnh dạn đầu tư.
Tiềm năng phát triển chuỗi cung ứng
lạnh của Việt Nam xếp hạng thứ 17 trên
toàn cầu đã được đánh giá trong Hội thảo
“Các vấn đề và giải pháp cho chuỗi cung
ứng lạnh của Việt Nam” (Vietnam Supply
Chain, 2019). Tại Việt Nam, tổn thất sau
thu hoạch nông sản chiếm khoảng 25% đối
Theo chuyên gia Julien Brun, Giám
đốc của CEL Consulting (Brun, 2017),
thách thức của chuỗi cung ứng của Việt
Nam bao gồm các yếu tố sau:
- Máy móc lạc hậu, phương tiện vận
tải thiếu thốn, và kho lạnh không đủ vận
92
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
hành. Việt Nam có hàng hoá chất lượng
nhưng không tốt ở khâu cung ứng.
- Chuỗi lạnh cho thực phẩm ở thị
trường nội địa (cho nhà hàng và siêu thị)
còn yếu.
- Thị trường kho lạnh của Việt Nam
đang trở nên cạnh tranh hơn với nhiều dự
án được thực hiện bởi cả các nhà đầu tư
trong và ngoài nước. Các công ty bán lẻ
trên thế giới đầu tư vào thị trường Việt
Nam trong những năm gần đây khá nhiều,
Việt Nam dự tính sẽ có 1200 đến 1300 siêu
thị, 180 trung tâm mua sắm và 157 cửa
hàng trước năm 2020 (Vietnam Logistics
Review, 2017).
3. Các kết quả nghiên cứu
Sau quá trình nghiên cứu cơ sở lý luận
về Cách mạng công nghiệp 4.0, chuỗi cung
ứng lạnh trên thế giới và Việt Nam đối với
mặt hàng thực phẩm kết hợp với phỏng vấn
sâu một số doanh nghiệp trong lĩnh vực
này như: HoangHa Logistics, Transimex,
ABA Cooltrans và Headway. Bài báo rút ra
một số kết luận sau:
Đầu tiên, thông tin trong chuỗi cung
ứng (từ nông trại đến người tiêu dùng trong
nước và nước ngoài) chưa được số hoá để
truy xuất từ nông trại đến nhà bán lẻ. Chuỗi
cung ứng lạnh cụ thể được thể hiện dưới sơ
đồ sau (Hình 1):
Lưu kho lạnh
Nông trại/
Nguyên liệu thô
Làm mát trước
lưu kho
Lưu kho/
Trung tâm phân phối
Chế biến/
Đóng gói
Nhà bán lẻ
Hꢀnh 1. Chuỗi lạnh đối với hàng thực phẩm
(Nguồn: Centre for Food Safety, Hongkong)
Hiện tại, có một ít nhà sản xuất có đủ
khả năng để phát triển chất lượng cao đáp
ứng tiêu chuẩn của Global Gap. Các công
ty lớn như Hùng Vương, Minh Phú, Vinh
Hoàn… đã có nông trại riêng nhưng không
có đủ cho hoạt động sản xuất. Hoặc trong
lĩnh vực trái cây, Cát Tường là một doanh
nghiệp khá lớn với 200 ha nông trường
nhưng các doanh nghiệp này đều phải mua
thêm sản phẩm từ nông dân địa phương
mặc dù có kiểm soát về chất lượng nhưng
rất khó. Đặc biệt ông Lê Văn Quang, chủ
tịch của tập đoàn Minh Phú cho biết đôi
khi còn phải nhập khẩu tôm từ những quốc
gia khác vì thị trường trong nước không đủ
đáp ứng. Điều này gây khó khăn trong việc
kiểm soát chất lượng không chỉ ở vấn đề vệ
sinh mà còn ở khâu kiểm soát nhiệt độ từ
nguyên liệu thô.
Thứ hai là vẫn còn thiếu các trang thiết
bị kho lạnh trong khu vực phân phối của
Đồng bằng sông Cửu Long – MRD
(Mekong River Distribution). Hầu hết kho
lạnh của Việt Nam được xây dựng trong
vùng tam giác kinh tế chính của khu vực
(Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai).
Hiện tại, 60% kho lạnh đều đến từ khu
vực phía Nam, vị trí của một số kho lạnh
93
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
tại khu vực này cho thấy sự thiếu hụt về hệ
thống kho lạnh, các kho còn khá xa nguồn
thực phẩm nên gây chi phí vận chuyển cao
– như minh hoạ ở Hình 2.
Hình 2. Hệ thống kho lạnh của khu vực phía Nam
Hầu hết các kho lạnh trong khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long đều khá lạc
hậu (không có kệ hàng, thiếu trung tâm
kiểm soát nhiệt độ, làm hàng thủ công),
toạ lạc ở các nhà máy sản xuất thuỷ hải
sản do thói quen tự đầu tư kho của doanh
nghiệp sản xuất hoặc hợp tác xã. Điều này
làm giảm chất lượng và gây khó khăn
trong việc đảm bảo chất lượng nhà kho.
Chỉ sau khi Việt Nam tham gia WTO năm
2017, số lượng kho tăng để đáp ứng yêu
cầu chất lượng cho hàng thực phẩm (Hình
3), chỉ có Trung tâm Logistics Mekong,
với quy mô 50.000 tấn hàng hoá trong khu
công nghiệp sông Hậu, tỉnh Hậu Giang, số
vốn đầu tư ban đầu là 46,1 triệu USD do
Công ty Gemadept kết hợp với Tập đoàn
Minh Phú xây dựng là có quy mô lớn và
được đầu tư đúng nghĩa là một chuỗi cung
ứng lạnh.
94
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Hình 3. Dung tích kho lạnh cho thuê của Việt Nam (ngàn pallet)
(Nguồn: Vietnam Cold Storage Market report, Stoxplus Research, 2019)
Theo số liệu nghiên cứu của Finn Group,
dẫn đầu thị trường trong nước có Hoàng Lai,
Phan Duy, Mekong Logistics, Bình Minh
Tải, Quang Minh và ABA Cooltrans.
kích cỡ của thị trường chuỗi lạnh của Việt
Nam lên khoảng 169 triệu USD năm 2018,
các kho lạnh cho thuê dung tích đến 600
ngàn pallets và hơn 700 xe tải lạnh. Các
doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị
trường Việt Nam như Emergent cold, PFS,
Lotte nắm giữ vai trò dẫn đầu thị trường khi
áp dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý
kho hàng bao gồm việc chia chức năng kho
hàng là kho lạnh, kho mát, barcode, hệ thống
quản lý tồn kho, phân loại dịch vụ giá trị gia
tăng, dán nhãn, phân phối. Các doanh nghiệp
Trong khảo sát được thực hiện bởi tác
giả và nhóm nghiên cứu Trường Đại học
Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí
Minh. Các trang thiết bị đang được sử dụng
phục vụ cho hàng lạnh tại Việt Nam vẫn
còn khá đơn giản (Hình 4) như container
lạnh, phần mềm quản lý vận tải, xe tải
thùng kín, barcode. Chỉ một số ít các doanh
nghiệp ứng dụng RFID để truy vết nguồn
gốc, hay blockchain.
Hình 4. Các trang thiết bị được sử dụng tại các công ty cung cấp dịch vụ lạnh
(Nguồn: Vietnam Cold Storage Market report, Stoxplus Research, 2019)
95
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
Vào năm 2019, nhiều công nghệ mới
nổi lên được áp dụng trong chuỗi lạnh là:
khả năng theo dõi chuỗi lạnh theo thời gian
thực, Internet vạn vật, mô hình lợi ích của
khách hàng theo thời gian thực và tích hợp
dữ liệu chặt chẽ với các đối tác trong chuỗi
cung ứng sử dụng hệ thống trao
đổi dữ liệu điện tử (Electronic datra
Interchange, EDI) để truyền dữ liệu một
cách nhanh chóng, kịp thời. Các phương
tiện và trang thiết bị làm hàng cho chuỗi
cung ứng lạnh cũng được đầu tư phổ biến
như bảng Kingspan Quadcore cách nhiệt
cải thiện hiệu quả đến 25% hay các vật
liệu thay đổi pha (PCM) để tiết kiệm
năng lượng.
bền vững.
- Bán hàng trên các nền tảng thương
mại điện tử như Alibaba hoặc Amazon để
kết nối với thị trường tiêu thụ nhanh hơn,
hiệu quả hơn.
Đối với nhà cung cấp dịch vụ logistics
- Ứng dụng trang thiết bị điện tử để
theo dõi thông qua chuỗi giá trị: nhiệt độ,
vị trí, thời gian để đảm bảo thực phẩm
được bảo quản trong điều kiện thích hợp.
Thông tin được lưu lại bởi các thiết bị điện
tử để hạn chế thao tác lưu trữ thủ công
tránh sai sót trong nhập liệu. Đồng thời
phải luôn tìm tòi các hệ thống và giải pháp
giảm chất thải, loại bỏ các chi phí không
cần thiết, cải thiện an toàn lao động.
- Áp dụng Hệ thống quản lý kho hàng
(WMS) để truy xuất mỗi một lô hàng đơn
lẻ để hỗ trợ truy xuất từ đầu đến cuối trong
toàn chuỗi. Ứng dụng này cho phép nhà
cung cấp dịch vụ logistics nhận và vận
chuyển đúng lô hàng cũng như truy xuất
hàng dễ dàng hơn.
4. Giải pháp
Có nhiều giải pháp trong nền công
nghiệp 4.0 mà công ty sản xuất và nhà
cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam có thể
áp dụng để mang đến sự phát triển bền
vững trong chuỗi giá trị:
Đối với nhà sản xuất
- Phát triển chip truy vết (VD: RFID
tag, nhãn log) để kiểm tra và theo dõi nhiệt
độ, vị trí của dòng vật chất từ nguyên liệu
thô đến nông trại, nhà bán lẻ.
- Sử dụng QR (Quick response) code
để truy suất thông tin trong chuỗi để khách
hàng có thể truy cập lịch sử vòng đời sản
phẩm. Công nghệ thông tin được lưu trữ
trên Blockchain để đảm bảo khả năng truy
cập và truy vết nguồn gốc và nguyên nhân
hư hỏng.
- Phân tích dữ liệu lớn về phân phối
sản phẩm từ khách hàng để hiểu sản phẩm
nào tốt trong mỗi khu vực và thực hiện dự
báo chính xác hơn.
- Áp dụng nhà máy thông minh để loại
trừ lãng phí rác, cải thiện hiệu quả sử dụng
nhiên liệu và hướng đến chuỗi cung ứng
- Tự động hoá các khâu xử lý nguyên
vật liệu: thêm hoặc loại bỏ miếng đệm tủ
đông, robot hoá kho hàng.
- Sử dụng các xe đông lạnh cách nhiệt,
các loại xe đẩy nhiệt và các bao bì cách
nhiệt, đối với rau, củ quả, các đóng gói phổ
biến là thùng giấy carton từ hộp carton
sóng với các liên kiện khoá bên trong hộp.
Ngoài ra còn có thùng gỗ, tấm cách nhiệt
mỏng, pallet được làm từ nhựa HDPE
(high density polyethylene) và container
di động.
- Phát triển chuỗi cung ứng lạnh một
cách tích hợp và đồng bộ: từ nông trại đến
bàn ăn. Tăng tiền đầu tư vào cơ sở hạ tầng
cho chuỗi nông – lâm – thuỷ sản, phân bố
kho lạnh nằm ở các khu vực địa lý phù hợp
cho từng ngành hàng.
96
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
công nghiệp 4.0, chẳng hạn như áp dụng
nền tảng IoT, nhà máy thông minh, dịch vụ
internet, các nền tảng này đưa đến khả
năng chi trả và mang tính ứng dụng cao đối
với các nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch
vụ logistics để trang bị và nâng cao khả
năng của chuỗi lạnh đáp ứng và cạnh tranh
với các công ty toàn cầu. Công nghệ mới
như blockchain cũng rất hứa hẹn đối với
các công ty Việt Nam để áp dụng và gia
nhập chuỗi cung ứng trên toàn cầu.
5. Kết luận
An toàn thực phẩm là mối quan tâm
chính của nhiều công ty trên thế giới. Các
tiêu chuẩn khắt khe trong suốt chuỗi cung
ứng là những yếu tố để đảm bảo thực phẩm
an toàn và tốt cho sức khoẻ. Giữ vai trò là
một trong những quốc gia dẫn đầu về xuất
khẩu thuỷ hải sản và nông sản, Việt Nam
cần phải cải thiện chất lượng chuỗi cung
ứng lạnh hơn nữa để đáp ứng tiêu chuẩn
mà khách hàng đề ra. Nhờ vào Cách mạng
Chú thích:
canh-tranh-khoc-liet-d58068.html
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Afanasjeva, A. (2011). General requirements for export of fish and fishery products to the
EU. Eurofish TCP Workshop “Food safety management in carp farms and
processing”. Daruvar, Croatia.
Bauernhansl, T. (2014). Die Vierte Industrielle Revolution – Der Weg in ein
wertschaffendes Produktionsparadigma. In: Bauernhansl T., ten Hompel M., Vogel-
Heuser B. (eds) Industrie 4.0 in Produktion, Automatisierung und Logistik. Springer
Vieweg (trang 5-35), Wiesbaden. doi: 10.1007/978-3-658-04682-8_1.
Brettel, M., Friederichsen, N., Keller, M.A., & Rosenberg, M. (2014). How Virtualization,
Decentralization and Network Building Change the Manufacturing Landscape: An
Industry 4.0 Perspective. World Academy of Science, Engineering and Technology,
International Journal of Mechanical, Aerospace, Industrial, Mechatronic and
Manufacturing Engineering, 8, 37-44.
Brun, J. (2017). Chuỗi cung ứng nông nghiệp tương lai cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu
Long. Hội thảo Quản trị chuỗi cung ứng lạnh - mát và chuỗi cung ứng nông nghiệp
tại Việt Nam. Việt Nam.
Buxmann, P., Hess, T. & Ruggaber, R. (2009). Internet of Services. Business &
Information System Engineering, 1, 341. doi: 10.1007/s12599-009-0066-z.
services/cold-chain-management-solution/overview.
97
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
Deloite. (2014). Challenges and Solutions for digital transformation and use of
exponential technologies. Zurich: Deloite.
Dominik L., Carmen C., Engelbert W. (2008). Smart Factory - A Step towards the Next
Generation of Manufacturing. Manufacturing Systems and Technologies for the New
Frontier (trang 115 -118). London: Springer.
Finn Group. (2019). Vietnam Cold Storage Market Report. Vietnam.
Hans-Christian P., Burak Y. and Tamer K. (n.d.). The Impact of Industry 4.0 on the Supply
Chain. Conference: The Hamburg International Conference of Logistics (HICL).
Hamburg, Germany.
Hermann, M., Pentek, T., and Otto, B. (2016). Design Principles for Industrie 4.0
Scenarios. 49th Hawaii International Conference on System Sciences (HICSS)
(p.3928-3937). Koloa, HI, 2016. doi: 10.1109/HICSS.2016.488.
Jian Q., Ying L., and Roger G. (2016). A Categorical Framework of Manufacturing for
Industry 4.0 and Beyond. Procedia CIRP, 52(2016), 173-178. doi:
10.1016/j.procir.2016.08.005.
Kagermann, H., Wahlster, W., and Helbig, J. (2013). Securing the future of German
manufacturing industry Recommendations for implementing the strategic initiative
INDUSTRIE 4.0. Final report of the Industrie 4.0 Working Group. Germany:
National Academy of Science and Engineering.
Lee, E.A. (2008). Cyber Physical Systems: Design Challenges. 2008 11th IEEE
International Symposium on Object and Component-Oriented Real-Time Distributed
Computing (ISORC), 363-369. doi: 10.1109/ISORC.2008.25.
Mai Hân. (2016). Vì sao tôm Việt mắc kẹt ở Mỹ? Nhịp cầu đầu tư. Truy xuất từ
3316163/
MAP: Giải pháp tăng thời gian bảo quản nông sản. (2020). Tạp chí Công Thương. Truy
thoi-gian-bao-quan-nong-san-19371-3101.html.
Minh Phương (2017). Chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam: Nhiều khó khăn thách thức
tai-viet-nam-nhieu-kho-khan-thach-thuc-doanh-nghiep-trong-nganh-15410.html.
Mukhtar, M., Jailani, N., Abdullah, S., Yahya, Y., & Abdullah, Z. (2009). A Framework
for Analyzing e-Supply Chains. European journal of scientific research, 25,
649-662.
newsroom/image/document/2016-27/10__pi40_diemer_16494.pdf.
98
BÙI THỊ BÍCH LIÊN - NGUYỄN TRẦN THÁI HÀ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Quang Huy. (2015). Vì sao 32.000 tấn tôm, cá Việt bị trả về? Pháp Luật. Truy xuất từ
Redman, J. (2016). Walmart & IBM Improves Food Safety With Blockchain Tech.
Supply Chain Traceability Technology Necessary for FSMA Compliance. (2017).
-necessary-fsma-compliance/.
Tố Uyên (2018). Số liệu thống kê thực phẩm bẩn trên thị trường hiện nay. Truy xuất từ
Vietnam Supply Chain. (2019). Remaining issues and solutions in cold chain management
in Vietnam. Ho Chi Minh: Vietnam Supply Chain.
Vietnam Logistics Review (2017). Vietnam cold storage market: huge potential but fierce
market-huge-potential-but-fierce-competition-47120.html.
Wu, L. Yue, X., Jin, A., Yen, D.C. (2016). Smart supply chain management: a review and
implications for future research. The International Journal of Logistics Management,
27(2), 395 - 417. doi: 10.1108/IJLM-02-2014-0035.
Ngày nhận bài: 10/4/2020
Biên tập xong: 15/01/2021
Duyệt đăng: 20/01/2021
99
Bạn đang xem tài liệu "Chuỗi cung ứng lạnh Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 - Những tác động và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chuoi_cung_ung_lanh_viet_nam_trong_boi_canh_cuoc_cach_mang_c.pdf

