Cơ hội và thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM XUẤT KHẨU  
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP  
OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIETNAM EXPORT LEATHER AND  
SHOES INDUSTRY IN THE TIME OF INTEGRATION  
PGS,TS Nguyễn Thị Bích Loan  
Trường Đại học Thương mại  
Tꢀm tꢁt  
Việt Nam đã và đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Quá trình đó đã  
làm cho hoạt động xuất, nhập khẩu của các ngành kinh tế nước ta sôi động hơn, có hiệu quả  
hơn; song cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các ngành, các cấp phải quan tâm nhiều hơn  
và có giải pháp hữu hiệu để tồn tại và phát triển. Ngành da giày là một trong những ngành có  
lợi thế so sánh trong xuất khẩu cũng không nằm ngoài tình trạng đó. Bài viết trên cơ sở nhận  
diện những cơ hội, thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội  
nhập, đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm da giày  
nước ta, góp phần phát triển bền vững ngành da giày Việt Nam.  
Từ khóa: cơ hội và thách thức, ngành da giày Việt Nam xuất khẩu, thời kỳ hội nhập  
Abstract  
Vietnam has been integrating widely and deeply into global economy. The progress  
has made the import and export activities of our national economical industries eventfully,  
effectively; on the other hand, placing more and more challenges requesting industries,  
organizations involve more and having the effective solutions for a living and developing.  
Leather and Shoes Industry, which is having advantages in comparison in export, is in the  
same condition. This article identifies opportunities and challenges for Vietnam Export  
Leather and Shoes Industry in the time of integration, providing recommendations in order to  
increase our nationals export values of leather and shoes products to contribute to the  
permanent development of Vietnam leather and shoes Industry.  
Key words: Opportunities and Challenges, Vietnam export leather and shoes Industry, time of  
integration  
Mở đầu  
Ngành da giày nước ta nằm trong top 3 về kim ngạch xuất khẩu với kim ngạch xuất  
khẩu năm 2015 đạt gần 15 tỉ USD và chiếm 10% tổng doanh thu xuất khẩu của cả nước.  
Trong giai đoạn 2011- 2015, ngành da giày luôn duy trì mức tăng trưởng xuất khẩu từ 15%  
đến 16%/năm. Hiện nay, gần 70% kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày vào thị trường Mỹ  
và EU. Trong đó, riêng thị trường Hoa Kỳ chiếm gần 34%, thị trường Châu Âu chiếm trên  
33%. Dự kiến năm 2016, sản lượng sản xuất giày dép các loại đạt 314 triệu đôi, kim ngạch  
xuất khẩu đạt 16 - 17 tỷ USD, phấn đấu tỷ lệ nội điạ hóa đạt từ 60 - 65% [8], [9].  
Việt Nam tích cực hội nhập vào khu vực và thế giới. Ngoài việc gia nhập Hiệp hội các  
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), là  
thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế  
châu Á - Thái Bình Dương (APEC), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tham gia  
5
10 hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương và trở thành thành viên của Cộng  
đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam tích cực đàm phán, ký kết và thực thi các FTA song  
phương, đa phương và khu vực. Tính đến tháng 02/2016, nước ta đang thực thi 9 FTA, FTA Việt  
Nam - Liên Minh Kinh tế Á-Âu và TPP đang chờ có hiệu lực thi hành, EVFTA đang hoàn tất thủ  
tục để ký kế tvà 3 FTA đang đàm phán (RCEP, FTA ASEAN - Hồng Công, FTA Việt Nam -  
Khối EFTA); ký kết và thực thi các Hiệp định như: Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN  
và các nước đối tác (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand), Hiệp định  
thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp  
định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh kinh tế Á - Âu (VN-EAEU FTA). Đặc  
biệt là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EV FTA) ký ngày 2 tháng  
12 năm 2015 và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ký ngày 4 tháng 2 năm  
2016 đã mở ra nhiều cơ hội phát triển các ngành kinh tế nói chung, ngành da giày nói riêng như:  
mở rộng thị trường, thúc đẩy phát triển xuất khẩu hàng hoá, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao  
năng lực cạnh tranh, tạo lập thương hiệu.... góp phần phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, yêu  
cầu của các Hiệp định thương mại cũng đặt ra những thách thức không nhỏ như việc thực hiện  
quy định bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu đối với sản phẩm giày để được hưởng  
ưu đãi thuế suất, đây chính là điểm yếu của các doanh nghiệp da giày trong nước bởi chúng ta  
vẫn phụ thuộc rất nhiều vào việc nhập nguyên phụ liệu; các yêu cầu của các khách hàng nước  
ngoài, nhất là từ EU, Mỹ, Nhật Bản về chất lượng sản phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật; đồng thời  
sân chơi quốc tế sẽ tạo ra sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt với các cam kết nghiêm ngặt…  
đòi hỏi các ngành, các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp… phải cùng nhau vào cuộc, tìm các  
giải pháp để nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm Việt Nam nói chung, sản phẩm da  
giày nói riêng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, góp phần đưa kinh tế nước ta hội nhập thành  
công vào nền kinh tế quốc tế.  
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các tổ chức và hiệp định quốc tế để tìm ra những cơ  
hội, cũng như những thách thức đối với các nền kinh tế nhằm giúp cho các nền kinh tế thích ứng  
tốt nhất trong môi trường toàn cầu hoá. Ở nước ngoài, có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình  
như của: Zhang Bin (2010) về “Mở rộng TPP và mối quan tâm của Hoa Kỳ” (The TPP  
Enlargement and US Intentions), Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc. Theo nghiên cứu  
này, TPP có thể trở thành nền móng cho Hoa Kỳ để hiện thực hóa khu vực thương mại tự do  
châu Á-Thái Bình Dương, TPP kích thích và lôi cuốn các nước Châu Á-Thái Bình Dương đặc  
biệt là các nước Đông Á tăng cường tham gia vào tiến trình hợp tác này. Tác giả Kenichi  
Kawamoto (2010) nghiên cứu sự chuẩn bị tham gia TPP của Nhật Bản qua tác phẩm “Nhật  
Bản xem xét tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương nhằm Chuyển đổi nền kinh  
tế”, Văn phòng JETRO tại New York (Japan Looks to Trans-Pacific Partnership to Transform  
its Economy- Kenichi Kawamoto, JETRO New York Office). Stephen J.Ezell và Robertd  
Atkinso (2010) có nghiên cứu sâu về TPP thông qua “Tiêu chuẩn vàng hay WTO thu  
nhỏ?: Định hình Đối tác Xuyên Thái Bình Dương” (Gold Standard or WTO-Lite?: Shaping  
the Trans-Pacific Partnership, Stephen J.Ezell và Robertd. Atkinso). Một trong những  
nghiên cứu điển hình về sự tham gia TPP của Việt Nam là nghiên cứu của Jodie Keane, Jane  
Kennan and Dirk Willem Te Velde (2011), Nghiên cứu chính sách về việc tham gia đàm phán  
thương mại của Việt Nam trong Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình dương (TPP).  
(A policy study on Viet Nam’s participation in trade negotiations under the Trans-Pacific  
Strategic Economic Partnership (TPP) agreement). Nghiên cứu chỉ ra những thách thức đối  
6
với Việt Nam trong việc phải tuân thủ các quy tắc, các quy định trong thỏa thuận của Hiệp  
định.  
Ở Việt Nam, ngay từ trong quá trình đàm phán, tại công văn số 11/TTg-QHQT ngày  
29 tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Công thương Nghiên cứu đánh  
giá tính khả thi của TPP đối với Việt Nam, đề xuất chủ trương và các giải pháp tham gia  
TPP, làm cơ sở cho việc xây dựng tờ trình Bộ Chính trị về việc quyết định chính thức tham  
gia TPP của Việt Nam. Bên cạnh đó, MUTRAP cũng Đánh giá tác động của Hiệp định  
thương mại tự do đối với kinh tế Việt Nam tại Hội thảo 30/08/2010 của dự án Hỗ trợ thương  
mại đa biên. Nghiên cứu của Bộ kế hoạch và đầu tư (2011) về Đánh giá tác động của hội  
nhập kinh tế quốc tế đến kinh tế Việt Nam sau 3 năm gia nhập WTO, Hà Nội trên các lĩnh vực  
kinh tế, xã hội là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách cũng như cho  
các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với đó, Bộ Công  
Thương (2011) xây dựng Đề án Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020,  
định hướng đến năm 2030, Hà Nội, tháng 11/2011. Ngày 09/06/2014, Thủ tướng Chính phủ  
ban hành Quyết định số 880/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công  
nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó có ngành da giày. Được sự  
phê duyệt của Chính phủ, Bộ Công Thương đã xây dựng Đề án Nâng cao năng lực cạnh tranh  
các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2015 - 2020, định hướng đến năm 2030, tháng  
10/2015, còn thành phố Hồ Chí Minh xây dựng Dự án Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ da  
giày TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020. Ngày 31/12/2015, Bộ Công Thương có Báo cáo  
tổng kết về Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016 của  
ngành công thương, trong đó ngành da giày được xếp vào ngành có vai trò xuất khẩu quan  
trọng của nền kinh tế. Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ, khẳng định: “Hiệp định Đối  
tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta”, tại Cổng Thông  
tin Chính phủ ngày 16/2/2016. Bên cạnh đó, có nhiều tác giả hoặc nhóm các tác giả có các bài  
viết, đề tài liên quan, chẳng hạn như bài viết của Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ  
Công Thương - Trần Thanh Hải về: Tăng trưởng bền vững xuất khẩu sản phẩm công nghiệp -  
nhìn từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hay của Thanh Vũ về Dệt may, da giày  
Việt Nam tìm cách chiếm lĩnh thị trường Đông Âu, Thời báo Ngân hang. Hiệp hội Da giày  
Việt Nam (Lefaso) tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ngành da giày Việt Nam 2016 tại Thành phố  
Hồ Chí Minh ngày 30/3/2016… Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu liên quan khác.  
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy bức tranh tổng thể về cơ hội và thách thức của kinh tế  
nước ta nói chung, của các ngành nói riêng, là cơ sở và là tài liệu tham khảo có giá trị của tác  
giả khi nghiên cứu về ngành da giày xuất khẩu nước ta trong điều kiện hiện nay.  
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các  
phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tham chiếu,  
phương pháp phỏng vấn chuyên gia..., kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của các  
tác giả đi trước để nhận diện các cơ hội, thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu  
trong thời kỳ hội nhập, để từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tận dụng cơ hội, giảm thiểu  
thách thức, nâng cao kim ngạch xuất khẩu, góp phần phát triển bền vững ngành da giày Việt  
Nam.  
1. Khái quát tình hình xuất khẩu ngành da giày Việt Nam thời gian qua  
7
Ngành da giày Việt Nam phát triển rất nhanh, là một trong những ngành xuất khẩu chủ  
lực của Việt Nam. Ngành da giày là một trong 3 ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất  
hiện nay ở nước ta sau dầu thô và dệt may, chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Với  
khoảng 240 doanh nghiệp đang hoạt động, ngành da giày đang là một ngành xuất khẩu mũi  
nhọn, thu hút khoảng 500.000 lao động. Với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt gần 15  
tỷ USD, ngành da giày đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Ngành da giày  
Việt Nam hiện nằm trong top 10 nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về da giày, đứng thứ ba  
trong nhóm các nước xuất khẩu da giày lớn nhất thế giới tính về trị giá, chỉ sau Trung Quốc  
và Ý. Riêng xuất khẩu vào thị trường Châu Âu, da giày Việt Nam chỉ đứng thứ 2 sau Trung  
Quốc. Theo Hiệp hội da - giày - túi xách Việt Nam (Lefaso), năm 2015, ngành da giày hoàn  
thành sớm kế hoạch xuất khẩu 14,5 tỷ USD. Tất cả các thị trường, trong đó có thị trường xuất  
khẩu truyền thống, như: Mỹ, EU, Nhật Bản… tốc độ tăng trưởng tốt. Đặc biệt, xuất khẩu sang  
thị trường Trung Quốc tăng trưởng vượt bậc, đạt khoảng 600 triệu USD [3], [8].  
Có thể nói, ngành da giày nước ta phát triển khá nhanh, xuất khẩu tăng trưởng hàng  
năm là kết quả đáng ghi nhận kể từ khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Theo thống kê của  
Lefaso, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu ngành da giày liên tục ổn định trong 5 năm  
qua, từ mức 4,2 tỉ USD năm 2009 tăng lên 10,5 tỉ USD năm 2014, bất chấp những giai đoạn  
kinh tế toàn cầu suy thoái. Các thị trường xuất khẩu chính của ngành da giày trong những  
năm gần đây là: Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu vào  
thị trường EU tuy có bị sụt giảm trong năm 2012 nhưng lại tiếp tục tăng trưởng trở lại trong  
hai năm 2013-2014. Trước đây, thị trường EU chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu  
của ngành da giày thì hiện nay có xu hướng giảm, trong khi kim ngạch xuất khẩu vào thị  
trường Mỹ lại có sự tăng trưởng mạnh. Thị trường Nhật Bản dù rất kén chọn và yêu cầu rất  
cao các sản phẩm da giày về chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật vẫn duy trì sự tăng trưởng  
nhập khẩu đối với sản phẩm da giày của Việt Nam với kim ngạch nhập khẩu đến cuối năm  
2014 khoảng 500 triệu USD. Có thể thấy các thị trường xuất khẩu chính của ngành da giày  
nước ta ở Bảng 1.1. sau đây:  
8
Bảng 1.1: Các thị trường xuất khẩu da giày chính của Việt Nam năm 2014  
Chỉ số  
Tỷ trọng  
nhập  
khẩu  
giày da  
của đối  
tác trên  
tổng  
nhập  
khẩu thế  
giới (%)  
Tốc độ  
tăng  
trưởng  
nhập  
khẩu của  
đối tác  
giai đoạn  
2010-  
2014 (%,  
p.a.)  
Ước tính  
thuế đối  
tác đánh  
trên SP  
nhập  
khẩu của  
Việt Nam  
(%)  
Thứ tự  
của đối  
tác trong  
bảng xếp  
hạng các  
nước  
nhập  
khẩu  
hàng đầu  
Tăng  
trưởng  
xuất  
khẩu giai khẩu giai  
đoạn  
2010-  
Tăng  
trưởng  
xuất  
Tỷ  
trọng so  
với tổng  
XK của  
Việt  
Nam  
(%)  
Giá trị xuất  
khẩu 2014  
(nghìn  
Cán cân  
thương mại  
2014 (nghìn  
USD)  
Đối tác nhập  
khẩu  
đoạn  
2013-  
2014 (%,  
p.a.)  
USD)  
2014 (%,  
p.a.)  
Thế giới  
Mỹ  
10,690,489  
3,353,155  
659,036  
605,364  
575,995  
526,992  
524,814  
471,570  
384,092  
325,504  
320,922  
277,717  
254,146  
228,333  
195,492  
188,867  
10,195,884  
3,269,307  
659,036  
604,833  
575,736  
524,618  
241,831  
471,566  
383,693  
316,379  
288,443  
276,389  
254,128  
228,236  
195,294  
188,848  
100  
31.4  
6.2  
5.7  
5.4  
4.9  
4.9  
4.4  
3.6  
3.0  
3.0  
2.6  
2.4  
2.1  
1.8  
1.8  
18  
23  
27  
12  
4
23  
26  
28  
32  
5
100  
19.9  
2.9  
8.3  
5.5  
4.4  
1.7  
3
6
5
1
9
12.2  
6.7  
6.7  
6.7  
12.5  
0
Bỉ  
11  
7
Đức  
2
Anh  
4
3
Nhật  
30  
32  
8
33  
40  
31  
29  
32  
32  
-9  
6
5
Trung Quốc  
Hà Lan  
Tây Ban Nha  
Ý
15  
8
18  
7
6.7  
6.7  
6.7  
0
12  
7
11  
5
2.6  
5
1
1
Hàn Quốc  
Brazil  
34  
22  
5
14  
33  
3
1.8  
0.5  
5.9  
0.8  
0.8  
1.9  
15  
15  
6
33.7  
6.7  
20.1  
6.7  
12.8  
Pháp  
11  
0
Mexico  
Slovakia  
Canada  
5
23  
22  
13  
11  
14  
6
67  
15  
17  
17  
Hong Kong  
(Trung Quốc)  
149,577  
140,893  
1.4  
18  
27  
7
3.5  
-3  
0
Úc  
142,732  
125,844  
116,752  
142,716  
125,844  
116,732  
1.3  
1.2  
1.1  
30  
10  
23  
31  
2
17  
59  
20  
1.2  
0.2  
0.9  
6
0
Panama  
Chi lê  
-37  
11  
8.9  
0.9  
49  
(Nguồn: Tính toán của ITC dựa trên số liệu của UNCOMTRADE  
Trong đó, Mỹ là thị trường chiếm tỉ trọng xuất khẩu cao nhất của ngành da giày nước  
ta so với các nước. Đây cũng vừa là cơ hội cho ngành da giày Việt Nam khi được thị trường  
lớn nhất và có tiềm lực nhât thế giới chấp nhận, song cũng đặt ra nhiều thách thức cho ngành  
da giày khi thực hiện quy định về nội địa hoá theo cam kết của TPP  
9
Bảng 1.2: Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ năm 2014  
Xuất khẩu của Việt Nam ra  
thế giới  
Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ  
Mỹ nhập khẩu từ thế giới  
Tỷ  
Ước  
tính  
Tăng  
Tỷ  
Tỷ lệ  
Tăng  
trưởng  
giai  
đoạn  
2010-  
2014  
(%,  
trọn  
g so  
với  
tổng  
nhập  
khẩu  
của  
Tăng  
trưởng  
xuất  
khẩu  
giai đoạn XK của  
Tỷ  
trưởn  
trọng  
trọng  
so với  
tổng  
thuế đối  
tác đánh  
trên SP  
nhập  
Giá trị  
xuất  
khẩu  
2014,  
nghìn  
USD  
g xuất  
khẩu  
giai  
Giá trị  
xuất khẩu  
2014,  
so với  
tổng  
XK  
Giá trị  
nhập khẩu  
2014,  
Mã HS Nhꢀm hàng hꢀa  
đoạn  
2010-  
2014  
(%,  
nghìn  
USD  
của  
2010-  
2014 (%,  
p.a.)  
Việt  
Nam  
(%)  
khẩu  
nghìn USD  
Thế  
giới  
(%)  
của Việt  
Nam  
thế  
p.a.)  
giới  
(%)  
(%)  
p.a.)  
'6403  
'6404  
Giày dép mũ da  
1,429,806  
1,078,402  
21  
26  
33.3  
29.4  
6.1  
12849843  
4957769  
4
22.1  
19  
4290750  
14  
25  
7.3  
Giày, dép có đế  
ngoài bằng cao su,  
plastic, da thuộc  
hoặc da tổng hợp và  
mũ giày bằng vật  
liệu dệt.  
20.4  
44  
3667129  
13.8  
Các loại giày, dép  
khác có đế ngoài và  
mũ bằng cao su hoặc  
plastic.  
'6402  
729,498  
24  
34.3  
23  
6994613  
4
21.8  
2126270  
15  
5.3  
'6405  
'6406  
Giày, dép khác.  
88,061  
26,799  
10  
57  
39.4  
7.2  
7.9  
7.6  
599166  
431798  
-33  
12  
223775  
372686  
19  
37  
4.4  
4.3  
Nguyên phụ liệu  
giày dép, lót giày, đế  
giày  
4
5.5  
Giày, dép không  
thấm nước có đế  
ngoài và mũ bằng  
cao su hoặc plastic,  
mũ giày, dép không  
gắn hoặc lắp ghép  
với đế bằng cách  
khâu, tán đinh, xoáy  
ốc, cắm đế hoặc các  
cách tương tự.  
'6401  
589  
3
6
19  
181106  
6
11.4  
9879  
23  
0.6  
Tổng nhóm 64  
3,353,155  
(Nguồn: Tính toán của ITC dựa trên số liệu của UNCOMTRADE)  
Tại các thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản, sản lượng giày dép xuất khẩu của Việt Nam  
đứng thứ hai, chỉ sau Trung Quốc. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tại thị  
trường EU tăng lên từ đầu năm 2014 khi chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) với  
mức thuế nhập khẩu giảm 3,5%-5% áp dụng cho Việt Nam và một số nước.  
10  
Bảng 1.3: Xuất khẩu giày dép và phụ kiện của Việt Nam sang thị trường EU (EU 28)  
năm 2014  
Việt Nam xuất khẩu sang EU (EU 28)  
Xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới  
Product  
code  
Product label  
2011  
2012  
2013  
2014  
2011  
2012  
2013  
2014  
Nguyên phụ liệu  
giày dép, lót  
'6406  
34,886  
79,242  
105,993  
129,591  
168,465  
251,393  
325,258  
372,686  
giày, đế giày  
Các loại giày,  
dép khác có đế  
ngoài và mũ  
bằng cao su hoặc  
plastic.  
'6402  
575,219  
26,107  
537,325  
26,237  
542,095  
38,290  
689,822  
62,137  
1,642,222 1,735,653 1,729,544 2,126,270  
'6405  
Giày, dép khác.  
170,409  
121,999  
153,944  
223,775  
Giày, dép không  
thấm nước có đế  
ngoài và mũ  
bằng cao su hoặc  
plastic, mũ giày,  
dép không gắn  
hoặc lắp ghép  
với đế bằng cách  
khâu, tán đinh,  
xoáy ốc, cắm đế  
hoặc các cách  
tương tự.  
'6401  
74  
117  
219  
731  
6,449  
8,266  
8,830  
9,879  
Giày, dép có đế  
ngoài bằng cao  
su, plastic, da  
thuộc hoặc da  
tổng hợp và mũ  
giày bằng vật  
liệu dệt.  
'6404  
'6403  
689,655  
756,183  
932,492  
1,232,317 1,812,440 2,152,863 2,865,138 3,667,129  
1,647,302 2,917,929 3,245,147 3,639,199 4,290,750  
Giày dép mũ da  
1,318,752 1,331,733 1,445,164  
(Nguồn: Tính toán của ITC dựa trên số liệu của UNCOMTRADE)  
Sáu tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu da giày tiếp tục đạt mức ấn tượng với  
7,35 tỉ USD, tăng 18% so với cùng kỳ. Sản phẩm giày dép của Việt Nam đã có mặt ở hơn 50  
quốc gia và đang tiếp tục gia tăng thị phần tại những thị trường trọng điểm. Riêng sản phẩm  
túi xách có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu rất nhanh và đã có mặt ở hơn 40 nước [7].  
Da giày là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt  
Nam. Tuy nhiên, thị phần xuất khẩu ngành hàng này phần lớn đang rơi vào tay các doanh  
nghiệp FDI, chủ yếu là các công ty đến từ Hàn Quốc và Đài Loan. Theo Lefaso, với 800  
doanh nghiệp và khoảng 1 triệu lao động, các doanh nghiệp FDI chiếm chưa đầy 25% số  
lượng doanh nghiệp ngành giày nhưng lại quyết định tới 77% giá trị xuất khẩu. Có cả những  
doanh nghiệp FDI giữ vai trò dẫn dắt, chẳng hạn như Pouchen. Ðây là một trong những tập  
đoàn sản xuất da giày lớn nhất thế giới. Tại Việt Nam, Pouchen có các công ty trực thuộc như  
11  
PouYuen (TP HCM), PouHung, PouLi (Tây Ninh), PouChen, PouSung (Đồng Nai), Dũ Đức  
(Tiền Giang), Duy Khang (Long An). Tổng doanh thu của các công ty con này đạt trên 30.000  
tỉ đồng trong năm 2014, tương đương 17% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành da giày của  
Việt Nam. Bên cạnh Pou Chen, một tập đoàn đến từ Đài Loan khác là Feng Tay cũng đang sở  
hữu gần chục nhà máy tại Việt Nam, gồm có Dona Standard, Đông Phương Đồng Nai, Đông  
Phương Vũng Tàu… với tổng doanh thu gần 10.000 tỷ đồng. Trong khi đó, các doanh nghiệp  
Việt Nam nhìn chung có quy mô khá nhỏ, khó có khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực gia công  
sản phẩm da giày với các doanh nghiệp FDI. Một số doanh nghiệp có quy mô lớn có thể kể  
đến như CTCP Đầu tư Thái Bình (TBS Group), CTCP Công nghiệp Đông Hưng,… Năm  
2014, chỉ có TBS Group là doanh nghiệp nội địa đạt trên 5.300 tỷ đồng doanh thu và có lợi  
nhuận thuộc hàng tốt nhất trong ngành.  
Hình 1.1.: Một số công ty da giày cꢀ doanh thu lớn năm 2014  
(Nguồn: Lefaso)  
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế những năm qua đã giúp cho ngành da giày nước ta  
có quy mô và kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng, thị trường xuất khẩu ngày càng  
được mở rộng theo hướng đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế, đóng góp quan  
trọng vào tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu so với các nước xuất khẩu da giày khác thì thị  
12  
phần xuất khẩu các sản phẩm da giày Việt Nam cũng chỉ chiếm một thị phần nhỏ (chẳng hạn  
thị phần xuất khẩu vào thị trường Mỹ mặt hàng giày da chỉ chiếm 9,09%), nên Việt Nam còn  
nhiều cơ hội và cần thiết tăng thị phần xuất khẩu vào thị trường này. Mặt khác, sản phẩm da  
giày xuất khẩu nước ta chủ yếu là gia công nên khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng  
loại từ các nước khác. Sắp tới đây, khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA),  
Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), AEC… chính thức có hiệu lực thì  
chúng sẽ động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nước ta, trong đó việc tác động đến sự phát  
triển của ngành da giày không phải là một ngoại lệ.  
2. Cơ hội đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập  
Từ thực trạng xuất khẩu ngành da giày Việt Nam thời gian qua, căn cứ vào nội dung  
các Hiệp định mà Việt Nam đã tham gia ký kết, có thể nhận diện một số cơ hội chủ yếu đối  
với ngành da giày xuất khẩu nước ta, đó là:  
Trước hết, Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) xóa bỏ  
mức thuế hiện tại từ 3,5 - 57.4% để hưởng ưu đãi các dòng sản phẩm da giày về mức 0%, từ  
đó giúp DN ngành da giày tăng trưởng xuất khẩu [4].  
Các nước TPP cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu dành cho hàng hóa của Việt Nam ngay  
khi Hiệp định có hiệu lực khoảng từ 78-95% số dòng thuế và xóa bỏ hoàn toàn từ 97-100%  
dòng thuế. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế trong vòng 5-10 năm, trừ một số  
mặt hàng nhạy cảm có lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan .  
Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường TPP được hưởng thuế suất  
0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3-5 năm như nông sản, thủy sản, một số mặt  
hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ, hàng điện, điện tử, cao su… Cam kết thuế nhập khẩu cho mặt  
hàng da giày xuất khẩu Việt Nam của một số nước TPP như sau [4], [5]:  
Cam kết của Hoa Kỳ: 85% số dòng thuế giày dép được xóa bỏ ngay (tương đương  
39,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 1,15 tỷ USD), đồng thời 3,2% số  
dòng thuế có kim ngạch lớn (58% kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD) Hoa Kỳ cam kết  
giảm ngay từ 40% - 55% mức hiện hành và xóa bỏ hoàn toàn thuế suất vào năm thứ 12  
Cam kết của Canada: Đa số xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực (chiếm 67% kim  
ngạch xuất khẩu giày dép), 12% kim ngạch xuất khẩu sẽ xóa bỏ thuế vào năm thứ 7, 01 dòng  
thuế có có kim ngạch lớn (10,7% kim ngạch giày dép) sẽ được cắt giảm 75% so với mức hiện  
hành và 09 dòng cam kết xóa bỏ vào năm thứ 12 (9,5% kim ngạch xuất khẩu giày dép)  
Cam kết của Nhật Bản: 79,5 % kim ngạch xuất khẩu giày dép được xóa bỏ thuế vào  
năm thứ 10 và các mặt hàng còn lại (giày da) sẽ xóa bỏ thuế suất vào năm thứ 16; vali, túi  
xách bằng da sẽ được xóa bỏ thuế vào năm thứ 16  
Cam kết của Mexico: Giày dép được xóa bỏ thuế theo lộ trình và tối đa vào năm thứ  
13; túi xách được xóa bỏ thuế vào năm thứ 10  
Cam kết của Úc: Tổng số 93% số dòng thuế của Úc, tương đương 95,8% kim ngạch  
xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (2,9 tỷ USD) sẽ được xóa bỏ thuế ngay khi thực  
hiện Hiệp định. Các sản phẩm còn lại sẽ được xóa bỏ thuế với lộ trình cắt giảm cuối cùng tối  
đa vào năm thứ 4  
13  
Cam kết của Singapore: Xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả các mặt hang da  
giày ngay khi thực hiện Hiệp định  
Từ ngày 1/1/2014, các sản phẩm giày dép của Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan  
phổ cập GSP của EU trong vòng 3 năm là một ưu thế lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu da  
giày Việt Nam khi đây là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2014, xuất khẩu  
giày dép của Việt Nam vào EU đã tăng trưởng tới 20%. EVFTA hấp dẫn hơn với đa phần các  
dòng thuế giảm về 0%, tạo đà tốt hơn cho xuất khẩu giày dép vào EU, mức tăng trưởng dự  
kiến khoảng 20%-30%. Mặt khác, xuất khẩu da giày sang EU sẽ rộng cửa hơn nhờ FTA do  
ngành đã đáp ứng khá tốt yêu cầu về quy tắc xuất xứ khi đạt tỷ lệ nội địa hóa lên tới 55%. các  
cam kết cắt giảm thuế quan và các hàng rào bảo hộ của các FTA sẽ làm cho giá cạnh tranh  
xuất khẩu giày dép Việt Nam giảm xuống, tạo lợi thế và đẩy mạnh xuất khẩu giày dép tại các  
thị trường lớn, như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, góp phần tăng trưởng kim ngạch xuất  
khẩu. Bên cạnh đó, theo lộ trình giảm thuế của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN  
(ATIGA), cuối năm 2015, thuế suất đối với sản phẩm giày dép của Việt Nam vào Cộng đồng  
kinh tế ASEAN (AEC) về 0%. Điều này giúp tạo cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu tại khu  
vực có địa lý gần gũi với Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội hợp tác phát triển nguồn nguyên phụ  
liệu cho ngành da giày Việt Nam. Với những cơ hội như vậy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu  
của ngành năm 2016 dự kiến sẽ tăng 15%-20% so với năm 2015.  
Thứ hai, thị trường xuất khẩu mặt hàng da giày được mở rộng, ngành hàng da giày  
Việt Nam có thêm nhiều đối tác kinh doanh  
Với các Hiệp định đã và sắp ký kết hiện nay, cùng với lộ trình cắt giảm thuế quan,  
Việt Nam có thể mở rộng thị trường xuất khẩu, và quan trọng nhất là sản phẩm da giàyViệt  
Nam sẽ tiếp cận sâu hơn, rộng hơn vào hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ và Nhật  
Bản. Đây sẽ là cơ hội lớn để tăng kim ngạch xuất khẩu da giày của Việt Nam. Các doanh  
nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ đến  
từ các quốc gia chưa có hiệp định FTA với Hoa Kỳ.  
Ngành giày da của thế giới đang tiếp tục chuyển đổi việc sản xuất sang các nước đang  
phát triển, đặc biệt là các nước có điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư, nền chính trị ổn định,  
cơ chế rõ rang, minh bạch. Khi Việt Nam gia nhập WTO, thuế quan bị bãi bỏ, cùng với những  
chính sách khuyến khích xuất khẩu, sản xuất, Việt Nam trở thành điểm đến cho việc đầu tư  
của các nhà sản xuất giày da. Cùng với EU và các thị trường trong khối TPP và RCEP, ngành  
da giày Việt Nam đã có trên 70% thị trường tiêu thụ của ngành da giày thế giới, đây là cơ hội  
rất lớn cho ngành da giày Việt Nam trong thời gian tới. Số liệu của Tổng cục Hải quan công  
bố vào tháng 3/2016 cho thấy trong năm 2015, Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất  
của Việt Nam với 33,48 tỉ USD, tăng 16,9% so với năm trước. Mỹ cũng là thị trường mà Việt  
Nam có thặng dư thương mại lớn khi xuất siêu lên tới 25,68 tỉ USD. Trong đó, các mặt hàng  
da giày đóng vai trò chủ lực và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh nhờ TPP khi thuế nhập  
khẩu vào thị trường này giảm về 0%. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp trong ngành da giày  
Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu  
Thứ ba, thu hút đầu tư, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu hàng da giày Việt Nam.  
Theo Lefaso, trong năm 2015, các FTA đã ký có thể chưa tác động trực tiếp giúp kim  
ngạch xuất khẩu tăng mạnh do các nội dung chỉ chính thức có hiệu lực từ 1-2 năm tới. Tuy  
14  
nhiên, hàng loạt FTA mà Việt Nam tham gia sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư nước  
ngoài vào sản xuất nguyên phụ liệu và sản phẩm xuất khẩu, xu hướng dịch chuyển nhà máy,  
đơn hàng sản xuất của các thương hiệu giày dép lớn từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng mạnh.  
Không chỉ Nike, Adidas, Puma chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc, Bangladesh sang Việt  
Nam, Tập đoàn Target Sourcing Services - 1 trong 10 nhà phân phối lớn nhất thế giới - và  
Tập đoàn Dansu Group cũng đã khảo sát, đang có ý định mở rộng đầu tư vào nước ta. Những  
tập đoàn sản xuất túi xách cao cấp với thương hiệu hàng đầu như Lancaster, Sequoia Paris lâu  
nay chỉ đặt hàng sản xuất tại Trung Quốc giờ cũng chuyển đầu tư qua Việt Nam để tránh rủi  
ro. Timberland, Puma cũng muốn mở rộng sản xuất tại Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu ngày  
càng tăng đối với các đơn hàng chuyển từ Trung Quốc sang.  
Gần đây, lượng đơn hàng xuất khẩu dịch chuyển mạnh từ Trung Quốc sang Việt Nam  
do chi phí nhân công giá rẻ (chi phí nhân công của Trung Quốc khoảng 500  
USD/người/tháng, trong khi Việt Nam chỉ 250 USD/người/tháng ) cũng mở ra nhiều cơ hội  
cho ngành. Hàng loạt tập đoàn, doanh nghiệp sản xuất giày dép lớn thế giới cũng chọn Việt  
Nam làm cứ điểm mở rộng hoạt động hoặc đầu tư mới nhằm tận dụng ưu đãi thuế quan khi  
các FTA được ký kết. Đại diện Hiệp hội Da giày Quảng Đông (Trung Quốc) cho biết trong  
làn sóng nhiều thương hiệu lớn đổ vào Việt Nam, một số doanh nghiệp ở Trung Quốc cũng  
sang Việt Nam tìm kiếm cơ hội, đầu tư vào ngành giày dép.  
Báo cáo tác động của TPP do Viện Nghiên cứu Chính sách và Kinh tế công bố mới  
đây cho rằng khi tham gia TPP, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam dự đoán sẽ tăng  
khoảng 13 tỉ USD, gần bằng thu hút FDI vào Nhật Bản, gấp đôi vào Úc, Malaysia… Có được  
con số này nhờ Việt Nam là nước có lợi thế xuất khẩu với giá nhân công rẻ, chi phí đầu vào  
trung bình thấp hơn các nước khác.  
Ngoài các cơ hội trên, các doanh nghiệp da giày Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ một  
môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn do Việt Nam thực thi các  
cam kết mới ở mức độ cao hơn theo Hiệp định TPP. Mặc dù giá trị gia tăng của ngành da giầy  
không lớn nhưng với số lượng doanh nghiệp lao động khá lớn, ngành da giầy đã mang lại  
công ăn, việc làm cho một số lượng lớn lao động phổ thông. Trong tổng số lao động đó, nữ  
chiếm tới 85%. Song song với các hoạt động thu hút khá lớn nguồn nhân lực thì doanh nghiệp  
còn tạo ra an sinh xã hội, thực hiện trách nhiệm xã hội... đóng góp cho ngân sách Nhà nước.  
3.  
Thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập  
Bên cạnh những cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại, ngành da giày Việt Nam xuất  
khẩu cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó phải kể đến các thách thức lớn sau đây:  
Thứ nhất, cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường xuất khẩu hàng da giày  
Tham gia vào TPP và các Hiệp định thương mại song phương và đa phương thế hệ  
mới, với phạm vi rộng và mức độ cam kết sâu, đồng nghĩa với việc thực hiện yêu cầu về chất  
lượng sản phẩm cũng khắt khe hơn, theo đó, sản phẩm da giày của Việt Nam sẽ phải chịu sự  
cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm da giày sản xuất của các nước có lợi thế cạnh tranh  
vượt trội với Việt Nam cũng như cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu giả rẻ ồ ạt vào thị  
trường Việt Nam do được hưởng lợi từ lộ trình cắt giảm thuế quan, nhất là từ các nước Trung  
Quốc, In-đô-nê-sia, Mê-hi-cô, Ấn Độ, Thái Lan.  
15  
Với các nước thành viên TPP, Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khốc liệt với các nước  
trong thu hút đầu tư bởi các quốc gia này là những nền kinh tế phát triển, có dịch vụ, chính  
sách liên quan đến đầu tư quốc tế rõ ràng trong khi vấn đề này ở Việt Nam còn nhiều hạn chế,  
thiếu sót. Một trong những đối thủ cạnh tranh lớn của ngành da giày Việt Nam là Trung Quốc.  
Sản phẩm giày dép từ Trung Quốc có những ưu điểm vượt trội hơn Việt Nam, chẳng hạn như  
đa dạng kiểu, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lí, đặc biệt là công nghệ cao. Sức mua của các thị  
trường truyền thống (EU) vẫn ổn định tuy nhiên, Việt Nam vẫn chịu thuế và những rào cản  
khác với các quốc gia như Brazil, Indonesia… Từ 6/10/2006, EU thi hành thuế chống bán phá  
giá lên mặt hàng giày da làm từ Việt Nam xuất khẩu sang EU là 10%. Xuất khẩu sang Mỹ  
cũng đẩy mạnh trong những năm gần đây, nhưng thị phần của Việt Nam chỉ chiếm 2.1% so  
với 83.5% của Trung Quốc.  
Thứ hai, phải đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong khi công nghiệp hỗ trợ của  
Việt Nam còn chưa phát triển  
Để được hưởng ưu đãi thuế quan từ TPP, ngành da giày phải đáp ứng yêu cầu về quy  
tắc xuất xứ với khoảng 40%-50% trị giá xuất xưởng của sản phẩm phải từ nội khối (các nước  
thành viên) TPP. Các mặt hàng như da giày... sẽ không được hưởng lợi nhiều từ TPP vì  
nguyên phụ liệu sản xuất các mặt hàng này chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài  
Loan - các quốc gia không nằm trong TPP. Để tận dụng được những ưu đãi từ TPP, EVFTA...  
hàng hóa phải đáp ứng yêu cầu có xuất xứ nguyên phụ liệu từ nội địa và/hoặc từ các nước tham  
gia hiệp định. Hơn 70% nguyên phụ liệu cho ngành da giày Việt Nam hiện vẫn phải nhập  
khẩu, nhất là từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Ấn Độ... nhưng các thị trường này lại  
không là thành viên của TPP [4].  
Theo Lefaso, tỉ lệ nội địa hóa của ngành mới chỉ chiếm 40-45% (chủ yếu là đế giày và  
chỉ khâu), trong khi nguyên liệu quan trọng nhất là da thuộc và da nhân tạo vẫn phải nhập  
khẩu. Đối với da thuộc thành phẩm, tỉ lệ nội địa hóa vẫn dưới 30%. Việt Nam cũng chỉ cung  
ứng được vải cho sản xuất loại giày vải cấp thấp, các chủng loại vải cao cấp đều phải nhập  
khẩu. Ngành da giày mới chỉ chủ động được 30% nguyên liệu da thuộc, nên mỗi năm Việt  
Nam phải nhập khẩu từ 1,1-1,5 tỉ USD da thuộc cho sản xuất hàng xuất khẩu.  
Trong khi đó, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn yếu, phát triển chậm, trình độ  
công nghệ còn thấp và giá thành cao đã không những làm cho xuất khẩu tăng chậm mà còn  
gây cản trở quá trình tham gia vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu, chưa đáp ứng được  
nguồn nguyên liệu, phụ liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu. Vì vậy, da giày nước ta vẫn  
phụ thuộc chủ yếu vào nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,  
không đáp ứng được quy tắc xuất xứ nội khối theo một số FTA. Nếu tiếp tục nhập nguyên  
liệu đầu vào từ Trung Quốc sẽ không được hưởng ưu đãi thuế từ TPP; còn nhập từ thị trường  
Mỹ, Nhật… (trong khối TPP) thì chi phí sẽ rất cao, doanh nghiệp không cạnh tranh được. Vì  
thế yêu cầu đẩy mạnh ngành công nghiệp hỗ trợ chưa bao giờ trở nên cấp bách như lúc này.  
Thứ ba, trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam còn thấp.  
Trình độ công nghệ hiện tại của ngành da giày Việt nam còn thấp và đang phải phụ  
thuộc vào máy móc, thiết bị nước ngoài. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới còn  
yếu do phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp. Mặt khác, phần lớn doanh nghiệp trong ngành  
da giày là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu vốn, công nghệ cao, khó đầu tư trong công nghiệp  
16  
hỗ trợ… Đây là một trong những lý do khiến năng suất lao động cũng như hiệu quả sản xuất  
của ngành da giày bị hạn chế. Điều này dẫn đến nguy cơ làm giảm sự cạnh tranh của ngành  
giày dép Việt Nam trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế.  
Thứ tư, đội ngũ lao động trong ngành da giày còn thiếu và yếu về chất lượng, chưa  
đáp ứng với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.  
Trong ngành da giày nước ta hiện nay, khoảng 80-85% lao động là phụ nữ, có trình độ  
văn hóa thấp và không được đào tạo những kỹ năng sản xuất cơ bản, thiếu lao động có kĩ  
năng, thiếu đội ngũ thiết kế… nên năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm hạn chế,  
chưa theo kịp với những nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Nguồn nhân  
lực và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển xuất khẩu hàng hóa trong  
bối cảnh mới. Thiếu các nhà quản trị có tầm chiến lược để hoạch định và tổ chức xuất khẩu  
hàng da giày hiệu quả.  
Ngoài ra, các FTA cũng tạo sức ép không nhỏ lên doanh nghiệp xuất khẩu da giày  
Việt Nam. Ngay trong năm 2015, thị trường xuất khẩu giày dép lớn của Việt Nam đã dựng  
một loạt hàng rào phi thuế quan, như thay đổi đạo luật REACH, tiêu chuẩn về formaldehyd và  
azo cho sản phẩm da thuộc của EU, yêu cầu về trách nhiệm xã hội… Hàng rào phi thuế quan  
này sẽ tiếp tục gây khó cho các doanh nghiệp  
4.  
Một số khuyến nghị  
Ngày 09/06/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 880/QĐ-TTg phê  
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn  
đến năm 2030, trong đó quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giày, đến năm 2020, kim  
ngạch xuất khẩu (XK) của ngành da giày sẽ đạt mức trên 23 tỉ USD và đến năm 2025 đạt trên  
35 tỉ USD. Cùng với việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tỉ lệ nội địa hóa của ngành da giày  
cũng sẽ được nâng lên từ mức 50% đến 55% hiện nay lên từ 75% đến 80% vào năm 2020 [9].  
Để thực hiện được mục tiêu trên, ngành da giày Việt Nam cần phải tận dụng cơ hội,  
giảm nguy cơ từ những thách thức do hội nhập quốc tế mang lại. Trước mắt, cần tập trung vào  
một số vấn đề sau:  
Một là, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, quy hoạch vùng nguyên phụ liệu tạo cơ  
sở cho ngành da giày phát triển. Nhà nước có thể điều chỉnh chính sách thuế để khuyến khích  
các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; cần có  
chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm  
giảm thuế nhập khẩu máy móc, miễn thuế doanh nghiệp trong một thời gian nhất định; Thu  
hút đầu tư phát triển ngành thuộc da, phụ kiện giày dép để đảm bảo tỷ lệ nội địa hóa cao.  
Hai là, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu cho  
hàng da giày Việt Nam xuất khẩu. Để tận dụng cơ hội và hạn chế những thách thức khi tham  
gia TPP, Nhà nước cần thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp như: hỗ trợ tài chính, tư  
vấn kỹ thuật, quảng bá thương hiệu, hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu; chuẩn bị tốt  
các điều kiện để giúp các doanh nghiệp da giày nước ta tham gia vào mạng lưới sản xuất và  
cung ứng sản phẩm khu vực TPP. Có chiến lược đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá sản  
17  
phẩm, nâng cấp chất lượng da giày Việt Nam để có thể cạnh tranh với các đối tác trong khu  
vực.  
Ba là, các doanh nghiệp da giày cần xây dựng chiến lược xuất khẩu dài hạn phù hợp  
với nhu cầu thị trường quốc tế và lợi thế so sánh của doanh nghiệp; nghiên cứu đổi mới, đa  
dạng hoá sản phẩm theo đúng chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế; đầu tư đổi mới công  
nghệ, trình độ quản lý để tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu sản phẩm da giày.  
Bốn là, xây dựng và phát triển thương hiệu da giày Việt Nam, tăng cường liên kết các  
doanh nghiệp Việt Nam để tăng sức mạnh trên trường quốc tế. Để có được thương hiệu mạnh,  
doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược xây dựng thương hiệu, tạo sự độc đáo của sản  
phẩm, tính khác biệt của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, thực hiện giới thiệu và quảng bá  
thương hiệu... Các doanh nghiệp trong ngành phải liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một  
khối thống nhất để có đủ sức mạnh đối ứng với các đối thủ cạnh tranh mạnh trên thế giới và  
để có khả năng đáp ứng những đơn hàng lớn.  
Kết luận  
Sự phát triển ngành da giày Việt Nam gắn liền với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng  
của đất nước. Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với ngành là điều tất yếu. Vấn đề cơ bản  
là phải nắm cơ hội, đồng thời có giải pháp hữu hiệu đối phó với những thách thức, biến những  
thách thức trở thành cơ hội để ngành da giày Việt Nam có thể tham gia hiệu quả vào chuỗi  
cung ứng toàn cầu, xứng đáng là ngành mũi nhọn trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam  
18  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Công Thương (2011), Đề án Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 -  
2020, định hướng đến năm 2030, Hà Nội, tháng 11/2011  
[2] Bộ Công Thương (2015), Nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của Việt  
Nam thời kỳ 2015 - 2020, định hướng đến năm 2030, Báo cáo tóm tắt Đề án, tháng 10/2015.  
[3] Bộ Công Thương (2015), Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và triển khai nhiệm vụ  
năm 2016 của ngành công thương, Báo cáo tổng kết ngày 31/12/2015  
[4] Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ: “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ  
hội và thách thức-Hành động của chúng ta”, Cổng Thông tin Chính phủ ngày 16/2/2016  
[5] Jodie Keane, Jane Kennan and Dirk Willem Te Velde, 2011, A policy study on Viet  
Nam’s participation in trade negotiations under the Trans-Pacific Strategic Economic  
Partnership (TPP) agreement, Hanoi  
[6] Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa  
thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030, Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày  
28/12/201108  
[7] Niên giám Thống kê năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015  
[8] Website của Bộ Công Thương Việt Nam http://www.moit.gov.vn/  
Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm  
2030  
19  
pdf 15 trang Thùy Anh 15120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ hội và thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_hoi_va_thach_thuc_doi_voi_nganh_da_giay_viet_nam_xuat_kha.pdf