Cơ hội và thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM XUẤT KHẨU
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIETNAM EXPORT LEATHER AND
SHOES INDUSTRY IN THE TIME OF INTEGRATION
PGS,TS Nguyễn Thị Bích Loan
Trường Đại học Thương mại
Tꢀm tꢁt
Việt Nam đã và đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Quá trình đó đã
làm cho hoạt động xuất, nhập khẩu của các ngành kinh tế nước ta sôi động hơn, có hiệu quả
hơn; song cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các ngành, các cấp phải quan tâm nhiều hơn
và có giải pháp hữu hiệu để tồn tại và phát triển. Ngành da giày là một trong những ngành có
lợi thế so sánh trong xuất khẩu cũng không nằm ngoài tình trạng đó. Bài viết trên cơ sở nhận
diện những cơ hội, thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội
nhập, đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm da giày
nước ta, góp phần phát triển bền vững ngành da giày Việt Nam.
Từ khóa: cơ hội và thách thức, ngành da giày Việt Nam xuất khẩu, thời kỳ hội nhập
Abstract
Vietnam has been integrating widely and deeply into global economy. The progress
has made the import and export activities of our national economical industries eventfully,
effectively; on the other hand, placing more and more challenges requesting industries,
organizations involve more and having the effective solutions for a living and developing.
Leather and Shoes Industry, which is having advantages in comparison in export, is in the
same condition. This article identifies opportunities and challenges for Vietnam Export
Leather and Shoes Industry in the time of integration, providing recommendations in order to
increase our nationals export values of leather and shoes products to contribute to the
permanent development of Vietnam leather and shoes Industry.
Key words: Opportunities and Challenges, Vietnam export leather and shoes Industry, time of
integration
Mở đầu
Ngành da giày nước ta nằm trong top 3 về kim ngạch xuất khẩu với kim ngạch xuất
khẩu năm 2015 đạt gần 15 tỉ USD và chiếm 10% tổng doanh thu xuất khẩu của cả nước.
Trong giai đoạn 2011- 2015, ngành da giày luôn duy trì mức tăng trưởng xuất khẩu từ 15%
đến 16%/năm. Hiện nay, gần 70% kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày vào thị trường Mỹ
và EU. Trong đó, riêng thị trường Hoa Kỳ chiếm gần 34%, thị trường Châu Âu chiếm trên
33%. Dự kiến năm 2016, sản lượng sản xuất giày dép các loại đạt 314 triệu đôi, kim ngạch
xuất khẩu đạt 16 - 17 tỷ USD, phấn đấu tỷ lệ nội điạ hóa đạt từ 60 - 65% [8], [9].
Việt Nam tích cực hội nhập vào khu vực và thế giới. Ngoài việc gia nhập Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), là
thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương (APEC), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tham gia
5
10 hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương và trở thành thành viên của Cộng
đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam tích cực đàm phán, ký kết và thực thi các FTA song
phương, đa phương và khu vực. Tính đến tháng 02/2016, nước ta đang thực thi 9 FTA, FTA Việt
Nam - Liên Minh Kinh tế Á-Âu và TPP đang chờ có hiệu lực thi hành, EVFTA đang hoàn tất thủ
tục để ký kế tvà 3 FTA đang đàm phán (RCEP, FTA ASEAN - Hồng Công, FTA Việt Nam -
Khối EFTA); ký kết và thực thi các Hiệp định như: Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN
và các nước đối tác (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand), Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp
định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh kinh tế Á - Âu (VN-EAEU FTA). Đặc
biệt là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EV FTA) ký ngày 2 tháng
12 năm 2015 và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ký ngày 4 tháng 2 năm
2016 đã mở ra nhiều cơ hội phát triển các ngành kinh tế nói chung, ngành da giày nói riêng như:
mở rộng thị trường, thúc đẩy phát triển xuất khẩu hàng hoá, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao
năng lực cạnh tranh, tạo lập thương hiệu.... góp phần phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, yêu
cầu của các Hiệp định thương mại cũng đặt ra những thách thức không nhỏ như việc thực hiện
quy định bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu đối với sản phẩm giày để được hưởng
ưu đãi thuế suất, đây chính là điểm yếu của các doanh nghiệp da giày trong nước bởi chúng ta
vẫn phụ thuộc rất nhiều vào việc nhập nguyên phụ liệu; các yêu cầu của các khách hàng nước
ngoài, nhất là từ EU, Mỹ, Nhật Bản về chất lượng sản phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật; đồng thời
sân chơi quốc tế sẽ tạo ra sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt với các cam kết nghiêm ngặt…
đòi hỏi các ngành, các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp… phải cùng nhau vào cuộc, tìm các
giải pháp để nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm Việt Nam nói chung, sản phẩm da
giày nói riêng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, góp phần đưa kinh tế nước ta hội nhập thành
công vào nền kinh tế quốc tế.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các tổ chức và hiệp định quốc tế để tìm ra những cơ
hội, cũng như những thách thức đối với các nền kinh tế nhằm giúp cho các nền kinh tế thích ứng
tốt nhất trong môi trường toàn cầu hoá. Ở nước ngoài, có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình
như của: Zhang Bin (2010) về “Mở rộng TPP và mối quan tâm của Hoa Kỳ” (The TPP
Enlargement and US Intentions), Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc. Theo nghiên cứu
này, TPP có thể trở thành nền móng cho Hoa Kỳ để hiện thực hóa khu vực thương mại tự do
châu Á-Thái Bình Dương, TPP kích thích và lôi cuốn các nước Châu Á-Thái Bình Dương đặc
biệt là các nước Đông Á tăng cường tham gia vào tiến trình hợp tác này. Tác giả Kenichi
Kawamoto (2010) nghiên cứu sự chuẩn bị tham gia TPP của Nhật Bản qua tác phẩm “Nhật
Bản xem xét tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương nhằm Chuyển đổi nền kinh
tế”, Văn phòng JETRO tại New York (Japan Looks to Trans-Pacific Partnership to Transform
its Economy- Kenichi Kawamoto, JETRO New York Office). Stephen J.Ezell và Robertd
Atkinso (2010) có nghiên cứu sâu về TPP thông qua “Tiêu chuẩn vàng hay WTO thu
nhỏ?: Định hình Đối tác Xuyên Thái Bình Dương” (Gold Standard or WTO-Lite?: Shaping
the Trans-Pacific Partnership, Stephen J.Ezell và Robertd. Atkinso). Một trong những
nghiên cứu điển hình về sự tham gia TPP của Việt Nam là nghiên cứu của Jodie Keane, Jane
Kennan and Dirk Willem Te Velde (2011), Nghiên cứu chính sách về việc tham gia đàm phán
thương mại của Việt Nam trong Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình dương (TPP).
(A policy study on Viet Nam’s participation in trade negotiations under the Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership (TPP) agreement). Nghiên cứu chỉ ra những thách thức đối
6
với Việt Nam trong việc phải tuân thủ các quy tắc, các quy định trong thỏa thuận của Hiệp
định.
Ở Việt Nam, ngay từ trong quá trình đàm phán, tại công văn số 11/TTg-QHQT ngày
29 tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Công thương Nghiên cứu đánh
giá tính khả thi của TPP đối với Việt Nam, đề xuất chủ trương và các giải pháp tham gia
TPP, làm cơ sở cho việc xây dựng tờ trình Bộ Chính trị về việc quyết định chính thức tham
gia TPP của Việt Nam. Bên cạnh đó, MUTRAP cũng Đánh giá tác động của Hiệp định
thương mại tự do đối với kinh tế Việt Nam tại Hội thảo 30/08/2010 của dự án Hỗ trợ thương
mại đa biên. Nghiên cứu của Bộ kế hoạch và đầu tư (2011) về Đánh giá tác động của hội
nhập kinh tế quốc tế đến kinh tế Việt Nam sau 3 năm gia nhập WTO, Hà Nội trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách cũng như cho
các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với đó, Bộ Công
Thương (2011) xây dựng Đề án Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020,
định hướng đến năm 2030, Hà Nội, tháng 11/2011. Ngày 09/06/2014, Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định số 880/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công
nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó có ngành da giày. Được sự
phê duyệt của Chính phủ, Bộ Công Thương đã xây dựng Đề án Nâng cao năng lực cạnh tranh
các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2015 - 2020, định hướng đến năm 2030, tháng
10/2015, còn thành phố Hồ Chí Minh xây dựng Dự án Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ da
giày TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020. Ngày 31/12/2015, Bộ Công Thương có Báo cáo
tổng kết về Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016 của
ngành công thương, trong đó ngành da giày được xếp vào ngành có vai trò xuất khẩu quan
trọng của nền kinh tế. Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ, khẳng định: “Hiệp định Đối
tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta”, tại Cổng Thông
tin Chính phủ ngày 16/2/2016. Bên cạnh đó, có nhiều tác giả hoặc nhóm các tác giả có các bài
viết, đề tài liên quan, chẳng hạn như bài viết của Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ
Công Thương - Trần Thanh Hải về: Tăng trưởng bền vững xuất khẩu sản phẩm công nghiệp -
nhìn từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hay của Thanh Vũ về Dệt may, da giày
Việt Nam tìm cách chiếm lĩnh thị trường Đông Âu, Thời báo Ngân hang. Hiệp hội Da giày
Việt Nam (Lefaso) tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ngành da giày Việt Nam 2016 tại Thành phố
Hồ Chí Minh ngày 30/3/2016… Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu liên quan khác.
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy bức tranh tổng thể về cơ hội và thách thức của kinh tế
nước ta nói chung, của các ngành nói riêng, là cơ sở và là tài liệu tham khảo có giá trị của tác
giả khi nghiên cứu về ngành da giày xuất khẩu nước ta trong điều kiện hiện nay.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các
phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tham chiếu,
phương pháp phỏng vấn chuyên gia..., kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của các
tác giả đi trước để nhận diện các cơ hội, thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu
trong thời kỳ hội nhập, để từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tận dụng cơ hội, giảm thiểu
thách thức, nâng cao kim ngạch xuất khẩu, góp phần phát triển bền vững ngành da giày Việt
Nam.
1. Khái quát tình hình xuất khẩu ngành da giày Việt Nam thời gian qua
7
Ngành da giày Việt Nam phát triển rất nhanh, là một trong những ngành xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam. Ngành da giày là một trong 3 ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất
hiện nay ở nước ta sau dầu thô và dệt may, chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Với
khoảng 240 doanh nghiệp đang hoạt động, ngành da giày đang là một ngành xuất khẩu mũi
nhọn, thu hút khoảng 500.000 lao động. Với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt gần 15
tỷ USD, ngành da giày đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Ngành da giày
Việt Nam hiện nằm trong top 10 nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về da giày, đứng thứ ba
trong nhóm các nước xuất khẩu da giày lớn nhất thế giới tính về trị giá, chỉ sau Trung Quốc
và Ý. Riêng xuất khẩu vào thị trường Châu Âu, da giày Việt Nam chỉ đứng thứ 2 sau Trung
Quốc. Theo Hiệp hội da - giày - túi xách Việt Nam (Lefaso), năm 2015, ngành da giày hoàn
thành sớm kế hoạch xuất khẩu 14,5 tỷ USD. Tất cả các thị trường, trong đó có thị trường xuất
khẩu truyền thống, như: Mỹ, EU, Nhật Bản… tốc độ tăng trưởng tốt. Đặc biệt, xuất khẩu sang
thị trường Trung Quốc tăng trưởng vượt bậc, đạt khoảng 600 triệu USD [3], [8].
Có thể nói, ngành da giày nước ta phát triển khá nhanh, xuất khẩu tăng trưởng hàng
năm là kết quả đáng ghi nhận kể từ khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Theo thống kê của
qua, từ mức 4,2 tỉ USD năm 2009 tăng lên 10,5 tỉ USD năm 2014, bất chấp những giai đoạn
kinh tế toàn cầu suy thoái. Các thị trường xuất khẩu chính của ngành da giày trong những
năm gần đây là: Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu vào
thị trường EU tuy có bị sụt giảm trong năm 2012 nhưng lại tiếp tục tăng trưởng trở lại trong
hai năm 2013-2014. Trước đây, thị trường EU chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu
của ngành da giày thì hiện nay có xu hướng giảm, trong khi kim ngạch xuất khẩu vào thị
trường Mỹ lại có sự tăng trưởng mạnh. Thị trường Nhật Bản dù rất kén chọn và yêu cầu rất
cao các sản phẩm da giày về chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật vẫn duy trì sự tăng trưởng
nhập khẩu đối với sản phẩm da giày của Việt Nam với kim ngạch nhập khẩu đến cuối năm
2014 khoảng 500 triệu USD. Có thể thấy các thị trường xuất khẩu chính của ngành da giày
nước ta ở Bảng 1.1. sau đây:
8
Bảng 1.1: Các thị trường xuất khẩu da giày chính của Việt Nam năm 2014
Chỉ số
Tỷ trọng
nhập
khẩu
giày da
của đối
tác trên
tổng
nhập
khẩu thế
giới (%)
Tốc độ
tăng
trưởng
nhập
khẩu của
đối tác
giai đoạn
2010-
2014 (%,
p.a.)
Ước tính
thuế đối
tác đánh
trên SP
nhập
khẩu của
Việt Nam
(%)
Thứ tự
của đối
tác trong
bảng xếp
hạng các
nước
nhập
khẩu
hàng đầu
Tăng
trưởng
xuất
khẩu giai khẩu giai
đoạn
2010-
Tăng
trưởng
xuất
Tỷ
trọng so
với tổng
XK của
Việt
Nam
(%)
Giá trị xuất
khẩu 2014
(nghìn
Cán cân
thương mại
2014 (nghìn
USD)
Đối tác nhập
khẩu
đoạn
2013-
2014 (%,
p.a.)
USD)
2014 (%,
p.a.)
Thế giới
Mỹ
10,690,489
3,353,155
659,036
605,364
575,995
526,992
524,814
471,570
384,092
325,504
320,922
277,717
254,146
228,333
195,492
188,867
10,195,884
3,269,307
659,036
604,833
575,736
524,618
241,831
471,566
383,693
316,379
288,443
276,389
254,128
228,236
195,294
188,848
100
31.4
6.2
5.7
5.4
4.9
4.9
4.4
3.6
3.0
3.0
2.6
2.4
2.1
1.8
1.8
18
23
27
12
4
23
26
28
32
5
100
19.9
2.9
8.3
5.5
4.4
1.7
3
6
5
1
9
12.2
6.7
6.7
6.7
12.5
0
Bỉ
11
7
Đức
2
Anh
4
3
Nhật
30
32
8
33
40
31
29
32
32
-9
6
5
Trung Quốc
Hà Lan
Tây Ban Nha
Ý
15
8
18
7
6.7
6.7
6.7
0
12
7
11
5
2.6
5
1
1
Hàn Quốc
Brazil
34
22
5
14
33
3
1.8
0.5
5.9
0.8
0.8
1.9
15
15
6
33.7
6.7
20.1
6.7
12.8
Pháp
11
0
Mexico
Slovakia
Canada
5
23
22
13
11
14
6
67
15
17
17
Hong Kong
(Trung Quốc)
149,577
140,893
1.4
18
27
7
3.5
-3
0
Úc
142,732
125,844
116,752
142,716
125,844
116,732
1.3
1.2
1.1
30
10
23
31
2
17
59
20
1.2
0.2
0.9
6
0
Panama
Chi lê
-37
11
8.9
0.9
49
(Nguồn: Tính toán của ITC dựa trên số liệu của UNCOMTRADE
Trong đó, Mỹ là thị trường chiếm tỉ trọng xuất khẩu cao nhất của ngành da giày nước
ta so với các nước. Đây cũng vừa là cơ hội cho ngành da giày Việt Nam khi được thị trường
lớn nhất và có tiềm lực nhât thế giới chấp nhận, song cũng đặt ra nhiều thách thức cho ngành
da giày khi thực hiện quy định về nội địa hoá theo cam kết của TPP
9
Bảng 1.2: Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ năm 2014
Xuất khẩu của Việt Nam ra
thế giới
Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ
Mỹ nhập khẩu từ thế giới
Tỷ
Ước
tính
Tăng
Tỷ
Tỷ lệ
Tăng
trưởng
giai
đoạn
2010-
2014
(%,
trọn
g so
với
tổng
nhập
khẩu
của
Tăng
trưởng
xuất
khẩu
giai đoạn XK của
Tỷ
trưởn
trọng
trọng
so với
tổng
thuế đối
tác đánh
trên SP
nhập
Giá trị
xuất
khẩu
2014,
nghìn
USD
g xuất
khẩu
giai
Giá trị
xuất khẩu
2014,
so với
tổng
XK
Giá trị
nhập khẩu
2014,
Mã HS Nhꢀm hàng hꢀa
đoạn
2010-
2014
(%,
nghìn
USD
của
2010-
2014 (%,
p.a.)
Việt
Nam
(%)
khẩu
nghìn USD
Thế
giới
(%)
của Việt
Nam
thế
p.a.)
giới
(%)
(%)
p.a.)
'6403
'6404
Giày dép mũ da
1,429,806
1,078,402
21
26
33.3
29.4
6.1
12849843
4957769
4
22.1
19
4290750
14
25
7.3
Giày, dép có đế
ngoài bằng cao su,
plastic, da thuộc
hoặc da tổng hợp và
mũ giày bằng vật
liệu dệt.
20.4
44
3667129
13.8
Các loại giày, dép
khác có đế ngoài và
mũ bằng cao su hoặc
plastic.
'6402
729,498
24
34.3
23
6994613
4
21.8
2126270
15
5.3
'6405
'6406
Giày, dép khác.
88,061
26,799
10
57
39.4
7.2
7.9
7.6
599166
431798
-33
12
223775
372686
19
37
4.4
4.3
Nguyên phụ liệu
giày dép, lót giày, đế
giày
4
5.5
Giày, dép không
thấm nước có đế
ngoài và mũ bằng
cao su hoặc plastic,
mũ giày, dép không
gắn hoặc lắp ghép
với đế bằng cách
khâu, tán đinh, xoáy
ốc, cắm đế hoặc các
cách tương tự.
'6401
589
3
6
19
181106
6
11.4
9879
23
0.6
Tổng nhóm 64
3,353,155
(Nguồn: Tính toán của ITC dựa trên số liệu của UNCOMTRADE)
Tại các thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản, sản lượng giày dép xuất khẩu của Việt Nam
đứng thứ hai, chỉ sau Trung Quốc. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam tại thị
trường EU tăng lên từ đầu năm 2014 khi chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) với
10
Bảng 1.3: Xuất khẩu giày dép và phụ kiện của Việt Nam sang thị trường EU (EU 28)
năm 2014
Việt Nam xuất khẩu sang EU (EU 28)
Xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới
Product
code
Product label
2011
2012
2013
2014
2011
2012
2013
2014
Nguyên phụ liệu
giày dép, lót
'6406
34,886
79,242
105,993
129,591
168,465
251,393
325,258
372,686
giày, đế giày
Các loại giày,
dép khác có đế
ngoài và mũ
bằng cao su hoặc
plastic.
'6402
575,219
26,107
537,325
26,237
542,095
38,290
689,822
62,137
1,642,222 1,735,653 1,729,544 2,126,270
'6405
Giày, dép khác.
170,409
121,999
153,944
223,775
Giày, dép không
thấm nước có đế
ngoài và mũ
bằng cao su hoặc
plastic, mũ giày,
dép không gắn
hoặc lắp ghép
với đế bằng cách
khâu, tán đinh,
xoáy ốc, cắm đế
hoặc các cách
tương tự.
'6401
74
117
219
731
6,449
8,266
8,830
9,879
Giày, dép có đế
ngoài bằng cao
su, plastic, da
thuộc hoặc da
tổng hợp và mũ
giày bằng vật
liệu dệt.
'6404
'6403
689,655
756,183
932,492
1,232,317 1,812,440 2,152,863 2,865,138 3,667,129
1,647,302 2,917,929 3,245,147 3,639,199 4,290,750
Giày dép mũ da
1,318,752 1,331,733 1,445,164
(Nguồn: Tính toán của ITC dựa trên số liệu của UNCOMTRADE)
Sáu tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu da giày tiếp tục đạt mức ấn tượng với
7,35 tỉ USD, tăng 18% so với cùng kỳ. Sản phẩm giày dép của Việt Nam đã có mặt ở hơn 50
quốc gia và đang tiếp tục gia tăng thị phần tại những thị trường trọng điểm. Riêng sản phẩm
túi xách có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu rất nhanh và đã có mặt ở hơn 40 nước [7].
Da giày là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt
Nam. Tuy nhiên, thị phần xuất khẩu ngành hàng này phần lớn đang rơi vào tay các doanh
nghiệp FDI, chủ yếu là các công ty đến từ Hàn Quốc và Đài Loan. Theo Lefaso, với 800
doanh nghiệp và khoảng 1 triệu lao động, các doanh nghiệp FDI chiếm chưa đầy 25% số
lượng doanh nghiệp ngành giày nhưng lại quyết định tới 77% giá trị xuất khẩu. Có cả những
doanh nghiệp FDI giữ vai trò dẫn dắt, chẳng hạn như Pouchen. Ðây là một trong những tập
đoàn sản xuất da giày lớn nhất thế giới. Tại Việt Nam, Pouchen có các công ty trực thuộc như
11
PouYuen (TP HCM), PouHung, PouLi (Tây Ninh), PouChen, PouSung (Đồng Nai), Dũ Đức
(Tiền Giang), Duy Khang (Long An). Tổng doanh thu của các công ty con này đạt trên 30.000
tỉ đồng trong năm 2014, tương đương 17% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành da giày của
Việt Nam. Bên cạnh Pou Chen, một tập đoàn đến từ Đài Loan khác là Feng Tay cũng đang sở
hữu gần chục nhà máy tại Việt Nam, gồm có Dona Standard, Đông Phương Đồng Nai, Đông
Phương Vũng Tàu… với tổng doanh thu gần 10.000 tỷ đồng. Trong khi đó, các doanh nghiệp
Việt Nam nhìn chung có quy mô khá nhỏ, khó có khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực gia công
sản phẩm da giày với các doanh nghiệp FDI. Một số doanh nghiệp có quy mô lớn có thể kể
đến như CTCP Đầu tư Thái Bình (TBS Group), CTCP Công nghiệp Đông Hưng,… Năm
2014, chỉ có TBS Group là doanh nghiệp nội địa đạt trên 5.300 tỷ đồng doanh thu và có lợi
nhuận thuộc hàng tốt nhất trong ngành.
Hình 1.1.: Một số công ty da giày cꢀ doanh thu lớn năm 2014
(Nguồn: Lefaso)
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế những năm qua đã giúp cho ngành da giày nước ta
có quy mô và kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng, thị trường xuất khẩu ngày càng
được mở rộng theo hướng đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế, đóng góp quan
trọng vào tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu so với các nước xuất khẩu da giày khác thì thị
12
phần xuất khẩu các sản phẩm da giày Việt Nam cũng chỉ chiếm một thị phần nhỏ (chẳng hạn
thị phần xuất khẩu vào thị trường Mỹ mặt hàng giày da chỉ chiếm 9,09%), nên Việt Nam còn
nhiều cơ hội và cần thiết tăng thị phần xuất khẩu vào thị trường này. Mặt khác, sản phẩm da
giày xuất khẩu nước ta chủ yếu là gia công nên khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng
loại từ các nước khác. Sắp tới đây, khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA),
Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), AEC… chính thức có hiệu lực thì
chúng sẽ động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nước ta, trong đó việc tác động đến sự phát
triển của ngành da giày không phải là một ngoại lệ.
2. Cơ hội đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập
Từ thực trạng xuất khẩu ngành da giày Việt Nam thời gian qua, căn cứ vào nội dung
các Hiệp định mà Việt Nam đã tham gia ký kết, có thể nhận diện một số cơ hội chủ yếu đối
với ngành da giày xuất khẩu nước ta, đó là:
Trước hết, Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) xóa bỏ
mức thuế hiện tại từ 3,5 - 57.4% để hưởng ưu đãi các dòng sản phẩm da giày về mức 0%, từ
đó giúp DN ngành da giày tăng trưởng xuất khẩu [4].
Các nước TPP cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu dành cho hàng hóa của Việt Nam ngay
khi Hiệp định có hiệu lực khoảng từ 78-95% số dòng thuế và xóa bỏ hoàn toàn từ 97-100%
dòng thuế. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế trong vòng 5-10 năm, trừ một số
mặt hàng nhạy cảm có lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan .
Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường TPP được hưởng thuế suất
0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3-5 năm như nông sản, thủy sản, một số mặt
hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ, hàng điện, điện tử, cao su… Cam kết thuế nhập khẩu cho mặt
hàng da giày xuất khẩu Việt Nam của một số nước TPP như sau [4], [5]:
Cam kết của Hoa Kỳ: 85% số dòng thuế giày dép được xóa bỏ ngay (tương đương
39,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 1,15 tỷ USD), đồng thời 3,2% số
dòng thuế có kim ngạch lớn (58% kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD) Hoa Kỳ cam kết
giảm ngay từ 40% - 55% mức hiện hành và xóa bỏ hoàn toàn thuế suất vào năm thứ 12
Cam kết của Canada: Đa số xóa bỏ ngay khi Hiệp định có hiệu lực (chiếm 67% kim
ngạch xuất khẩu giày dép), 12% kim ngạch xuất khẩu sẽ xóa bỏ thuế vào năm thứ 7, 01 dòng
thuế có có kim ngạch lớn (10,7% kim ngạch giày dép) sẽ được cắt giảm 75% so với mức hiện
hành và 09 dòng cam kết xóa bỏ vào năm thứ 12 (9,5% kim ngạch xuất khẩu giày dép)
Cam kết của Nhật Bản: 79,5 % kim ngạch xuất khẩu giày dép được xóa bỏ thuế vào
năm thứ 10 và các mặt hàng còn lại (giày da) sẽ xóa bỏ thuế suất vào năm thứ 16; vali, túi
xách bằng da sẽ được xóa bỏ thuế vào năm thứ 16
Cam kết của Mexico: Giày dép được xóa bỏ thuế theo lộ trình và tối đa vào năm thứ
13; túi xách được xóa bỏ thuế vào năm thứ 10
Cam kết của Úc: Tổng số 93% số dòng thuế của Úc, tương đương 95,8% kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này (2,9 tỷ USD) sẽ được xóa bỏ thuế ngay khi thực
hiện Hiệp định. Các sản phẩm còn lại sẽ được xóa bỏ thuế với lộ trình cắt giảm cuối cùng tối
đa vào năm thứ 4
13
Cam kết của Singapore: Xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả các mặt hang da
giày ngay khi thực hiện Hiệp định
Từ ngày 1/1/2014, các sản phẩm giày dép của Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan
phổ cập GSP của EU trong vòng 3 năm là một ưu thế lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu da
giày Việt Nam khi đây là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2014, xuất khẩu
giày dép của Việt Nam vào EU đã tăng trưởng tới 20%. EVFTA hấp dẫn hơn với đa phần các
dòng thuế giảm về 0%, tạo đà tốt hơn cho xuất khẩu giày dép vào EU, mức tăng trưởng dự
kiến khoảng 20%-30%. Mặt khác, xuất khẩu da giày sang EU sẽ rộng cửa hơn nhờ FTA do
ngành đã đáp ứng khá tốt yêu cầu về quy tắc xuất xứ khi đạt tỷ lệ nội địa hóa lên tới 55%. các
cam kết cắt giảm thuế quan và các hàng rào bảo hộ của các FTA sẽ làm cho giá cạnh tranh
xuất khẩu giày dép Việt Nam giảm xuống, tạo lợi thế và đẩy mạnh xuất khẩu giày dép tại các
thị trường lớn, như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, góp phần tăng trưởng kim ngạch xuất
khẩu. Bên cạnh đó, theo lộ trình giảm thuế của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
(ATIGA), cuối năm 2015, thuế suất đối với sản phẩm giày dép của Việt Nam vào Cộng đồng
kinh tế ASEAN (AEC) về 0%. Điều này giúp tạo cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu tại khu
vực có địa lý gần gũi với Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội hợp tác phát triển nguồn nguyên phụ
liệu cho ngành da giày Việt Nam. Với những cơ hội như vậy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
của ngành năm 2016 dự kiến sẽ tăng 15%-20% so với năm 2015.
Thứ hai, thị trường xuất khẩu mặt hàng da giày được mở rộng, ngành hàng da giày
Việt Nam có thêm nhiều đối tác kinh doanh
Với các Hiệp định đã và sắp ký kết hiện nay, cùng với lộ trình cắt giảm thuế quan,
Việt Nam có thể mở rộng thị trường xuất khẩu, và quan trọng nhất là sản phẩm da giàyViệt
Nam sẽ tiếp cận sâu hơn, rộng hơn vào hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ và Nhật
Bản. Đây sẽ là cơ hội lớn để tăng kim ngạch xuất khẩu da giày của Việt Nam. Các doanh
nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ đến
từ các quốc gia chưa có hiệp định FTA với Hoa Kỳ.
Ngành giày da của thế giới đang tiếp tục chuyển đổi việc sản xuất sang các nước đang
phát triển, đặc biệt là các nước có điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư, nền chính trị ổn định,
cơ chế rõ rang, minh bạch. Khi Việt Nam gia nhập WTO, thuế quan bị bãi bỏ, cùng với những
chính sách khuyến khích xuất khẩu, sản xuất, Việt Nam trở thành điểm đến cho việc đầu tư
của các nhà sản xuất giày da. Cùng với EU và các thị trường trong khối TPP và RCEP, ngành
da giày Việt Nam đã có trên 70% thị trường tiêu thụ của ngành da giày thế giới, đây là cơ hội
rất lớn cho ngành da giày Việt Nam trong thời gian tới. Số liệu của Tổng cục Hải quan công
bố vào tháng 3/2016 cho thấy trong năm 2015, Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất
của Việt Nam với 33,48 tỉ USD, tăng 16,9% so với năm trước. Mỹ cũng là thị trường mà Việt
Nam có thặng dư thương mại lớn khi xuất siêu lên tới 25,68 tỉ USD. Trong đó, các mặt hàng
da giày đóng vai trò chủ lực và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh nhờ TPP khi thuế nhập
khẩu vào thị trường này giảm về 0%. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp trong ngành da giày
Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu
Thứ ba, thu hút đầu tư, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu hàng da giày Việt Nam.
Theo Lefaso, trong năm 2015, các FTA đã ký có thể chưa tác động trực tiếp giúp kim
ngạch xuất khẩu tăng mạnh do các nội dung chỉ chính thức có hiệu lực từ 1-2 năm tới. Tuy
14
nhiên, hàng loạt FTA mà Việt Nam tham gia sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư nước
đơn hàng sản xuất của các thương hiệu giày dép lớn từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng mạnh.
Không chỉ Nike, Adidas, Puma chuyển các đơn hàng từ Trung Quốc, Bangladesh sang Việt
Nam, Tập đoàn Target Sourcing Services - 1 trong 10 nhà phân phối lớn nhất thế giới - và
Tập đoàn Dansu Group cũng đã khảo sát, đang có ý định mở rộng đầu tư vào nước ta. Những
tập đoàn sản xuất túi xách cao cấp với thương hiệu hàng đầu như Lancaster, Sequoia Paris lâu
nay chỉ đặt hàng sản xuất tại Trung Quốc giờ cũng chuyển đầu tư qua Việt Nam để tránh rủi
ro. Timberland, Puma cũng muốn mở rộng sản xuất tại Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng đối với các đơn hàng chuyển từ Trung Quốc sang.
Gần đây, lượng đơn hàng xuất khẩu dịch chuyển mạnh từ Trung Quốc sang Việt Nam
do chi phí nhân công giá rẻ (chi phí nhân công của Trung Quốc khoảng 500
USD/người/tháng, trong khi Việt Nam chỉ 250 USD/người/tháng ) cũng mở ra nhiều cơ hội
cho ngành. Hàng loạt tập đoàn, doanh nghiệp sản xuất giày dép lớn thế giới cũng chọn Việt
các FTA được ký kết. Đại diện Hiệp hội Da giày Quảng Đông (Trung Quốc) cho biết trong
làn sóng nhiều thương hiệu lớn đổ vào Việt Nam, một số doanh nghiệp ở Trung Quốc cũng
sang Việt Nam tìm kiếm cơ hội, đầu tư vào ngành giày dép.
Báo cáo tác động của TPP do Viện Nghiên cứu Chính sách và Kinh tế công bố mới
đây cho rằng khi tham gia TPP, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam dự đoán sẽ tăng
khoảng 13 tỉ USD, gần bằng thu hút FDI vào Nhật Bản, gấp đôi vào Úc, Malaysia… Có được
con số này nhờ Việt Nam là nước có lợi thế xuất khẩu với giá nhân công rẻ, chi phí đầu vào
trung bình thấp hơn các nước khác.
Ngoài các cơ hội trên, các doanh nghiệp da giày Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ một
môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn do Việt Nam thực thi các
cam kết mới ở mức độ cao hơn theo Hiệp định TPP. Mặc dù giá trị gia tăng của ngành da giầy
không lớn nhưng với số lượng doanh nghiệp lao động khá lớn, ngành da giầy đã mang lại
công ăn, việc làm cho một số lượng lớn lao động phổ thông. Trong tổng số lao động đó, nữ
chiếm tới 85%. Song song với các hoạt động thu hút khá lớn nguồn nhân lực thì doanh nghiệp
còn tạo ra an sinh xã hội, thực hiện trách nhiệm xã hội... đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
3.
Thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập
Bên cạnh những cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại, ngành da giày Việt Nam xuất
khẩu cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó phải kể đến các thách thức lớn sau đây:
Thứ nhất, cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường xuất khẩu hàng da giày
Tham gia vào TPP và các Hiệp định thương mại song phương và đa phương thế hệ
mới, với phạm vi rộng và mức độ cam kết sâu, đồng nghĩa với việc thực hiện yêu cầu về chất
lượng sản phẩm cũng khắt khe hơn, theo đó, sản phẩm da giày của Việt Nam sẽ phải chịu sự
cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm da giày sản xuất của các nước có lợi thế cạnh tranh
vượt trội với Việt Nam cũng như cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu giả rẻ ồ ạt vào thị
trường Việt Nam do được hưởng lợi từ lộ trình cắt giảm thuế quan, nhất là từ các nước Trung
Quốc, In-đô-nê-sia, Mê-hi-cô, Ấn Độ, Thái Lan.
15
Với các nước thành viên TPP, Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khốc liệt với các nước
trong thu hút đầu tư bởi các quốc gia này là những nền kinh tế phát triển, có dịch vụ, chính
sách liên quan đến đầu tư quốc tế rõ ràng trong khi vấn đề này ở Việt Nam còn nhiều hạn chế,
thiếu sót. Một trong những đối thủ cạnh tranh lớn của ngành da giày Việt Nam là Trung Quốc.
Sản phẩm giày dép từ Trung Quốc có những ưu điểm vượt trội hơn Việt Nam, chẳng hạn như
đa dạng kiểu, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lí, đặc biệt là công nghệ cao. Sức mua của các thị
trường truyền thống (EU) vẫn ổn định tuy nhiên, Việt Nam vẫn chịu thuế và những rào cản
khác với các quốc gia như Brazil, Indonesia… Từ 6/10/2006, EU thi hành thuế chống bán phá
giá lên mặt hàng giày da làm từ Việt Nam xuất khẩu sang EU là 10%. Xuất khẩu sang Mỹ
cũng đẩy mạnh trong những năm gần đây, nhưng thị phần của Việt Nam chỉ chiếm 2.1% so
với 83.5% của Trung Quốc.
Thứ hai, phải đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong khi công nghiệp hỗ trợ của
Việt Nam còn chưa phát triển
Để được hưởng ưu đãi thuế quan từ TPP, ngành da giày phải đáp ứng yêu cầu về quy
tắc xuất xứ với khoảng 40%-50% trị giá xuất xưởng của sản phẩm phải từ nội khối (các nước
thành viên) TPP. Các mặt hàng như da giày... sẽ không được hưởng lợi nhiều từ TPP vì
nguyên phụ liệu sản xuất các mặt hàng này chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài
Loan - các quốc gia không nằm trong TPP. Để tận dụng được những ưu đãi từ TPP, EVFTA...
hàng hóa phải đáp ứng yêu cầu có xuất xứ nguyên phụ liệu từ nội địa và/hoặc từ các nước tham
gia hiệp định. Hơn 70% nguyên phụ liệu cho ngành da giày Việt Nam hiện vẫn phải nhập
khẩu, nhất là từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Ấn Độ... nhưng các thị trường này lại
không là thành viên của TPP [4].
Theo Lefaso, tỉ lệ nội địa hóa của ngành mới chỉ chiếm 40-45% (chủ yếu là đế giày và
chỉ khâu), trong khi nguyên liệu quan trọng nhất là da thuộc và da nhân tạo vẫn phải nhập
khẩu. Đối với da thuộc thành phẩm, tỉ lệ nội địa hóa vẫn dưới 30%. Việt Nam cũng chỉ cung
ứng được vải cho sản xuất loại giày vải cấp thấp, các chủng loại vải cao cấp đều phải nhập
khẩu. Ngành da giày mới chỉ chủ động được 30% nguyên liệu da thuộc, nên mỗi năm Việt
Nam phải nhập khẩu từ 1,1-1,5 tỉ USD da thuộc cho sản xuất hàng xuất khẩu.
Trong khi đó, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn yếu, phát triển chậm, trình độ
công nghệ còn thấp và giá thành cao đã không những làm cho xuất khẩu tăng chậm mà còn
gây cản trở quá trình tham gia vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu, chưa đáp ứng được
nguồn nguyên liệu, phụ liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu. Vì vậy, da giày nước ta vẫn
phụ thuộc chủ yếu vào nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,
không đáp ứng được quy tắc xuất xứ nội khối theo một số FTA. Nếu tiếp tục nhập nguyên
liệu đầu vào từ Trung Quốc sẽ không được hưởng ưu đãi thuế từ TPP; còn nhập từ thị trường
Mỹ, Nhật… (trong khối TPP) thì chi phí sẽ rất cao, doanh nghiệp không cạnh tranh được. Vì
thế yêu cầu đẩy mạnh ngành công nghiệp hỗ trợ chưa bao giờ trở nên cấp bách như lúc này.
Thứ ba, trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam còn thấp.
Trình độ công nghệ hiện tại của ngành da giày Việt nam còn thấp và đang phải phụ
thuộc vào máy móc, thiết bị nước ngoài. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới còn
yếu do phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp. Mặt khác, phần lớn doanh nghiệp trong ngành
da giày là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu vốn, công nghệ cao, khó đầu tư trong công nghiệp
16
hỗ trợ… Đây là một trong những lý do khiến năng suất lao động cũng như hiệu quả sản xuất
của ngành da giày bị hạn chế. Điều này dẫn đến nguy cơ làm giảm sự cạnh tranh của ngành
giày dép Việt Nam trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế.
Thứ tư, đội ngũ lao động trong ngành da giày còn thiếu và yếu về chất lượng, chưa
đáp ứng với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong ngành da giày nước ta hiện nay, khoảng 80-85% lao động là phụ nữ, có trình độ
văn hóa thấp và không được đào tạo những kỹ năng sản xuất cơ bản, thiếu lao động có kĩ
năng, thiếu đội ngũ thiết kế… nên năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm hạn chế,
chưa theo kịp với những nhu cầu, thị hiếu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Nguồn nhân
lực và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển xuất khẩu hàng hóa trong
bối cảnh mới. Thiếu các nhà quản trị có tầm chiến lược để hoạch định và tổ chức xuất khẩu
hàng da giày hiệu quả.
Ngoài ra, các FTA cũng tạo sức ép không nhỏ lên doanh nghiệp xuất khẩu da giày
Việt Nam. Ngay trong năm 2015, thị trường xuất khẩu giày dép lớn của Việt Nam đã dựng
một loạt hàng rào phi thuế quan, như thay đổi đạo luật REACH, tiêu chuẩn về formaldehyd và
azo cho sản phẩm da thuộc của EU, yêu cầu về trách nhiệm xã hội… Hàng rào phi thuế quan
này sẽ tiếp tục gây khó cho các doanh nghiệp
4.
Một số khuyến nghị
Ngày 09/06/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 880/QĐ-TTg phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030, trong đó quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giày, đến năm 2020, kim
ngạch xuất khẩu (XK) của ngành da giày sẽ đạt mức trên 23 tỉ USD và đến năm 2025 đạt trên
35 tỉ USD. Cùng với việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tỉ lệ nội địa hóa của ngành da giày
cũng sẽ được nâng lên từ mức 50% đến 55% hiện nay lên từ 75% đến 80% vào năm 2020 [9].
Để thực hiện được mục tiêu trên, ngành da giày Việt Nam cần phải tận dụng cơ hội,
giảm nguy cơ từ những thách thức do hội nhập quốc tế mang lại. Trước mắt, cần tập trung vào
một số vấn đề sau:
Một là, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, quy hoạch vùng nguyên phụ liệu tạo cơ
sở cho ngành da giày phát triển. Nhà nước có thể điều chỉnh chính sách thuế để khuyến khích
các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; cần có
chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm
giảm thuế nhập khẩu máy móc, miễn thuế doanh nghiệp trong một thời gian nhất định; Thu
hút đầu tư phát triển ngành thuộc da, phụ kiện giày dép để đảm bảo tỷ lệ nội địa hóa cao.
Hai là, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu cho
hàng da giày Việt Nam xuất khẩu. Để tận dụng cơ hội và hạn chế những thách thức khi tham
gia TPP, Nhà nước cần thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp như: hỗ trợ tài chính, tư
vấn kỹ thuật, quảng bá thương hiệu, hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu; chuẩn bị tốt
các điều kiện để giúp các doanh nghiệp da giày nước ta tham gia vào mạng lưới sản xuất và
cung ứng sản phẩm khu vực TPP. Có chiến lược đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá sản
17
phẩm, nâng cấp chất lượng da giày Việt Nam để có thể cạnh tranh với các đối tác trong khu
vực.
Ba là, các doanh nghiệp da giày cần xây dựng chiến lược xuất khẩu dài hạn phù hợp
với nhu cầu thị trường quốc tế và lợi thế so sánh của doanh nghiệp; nghiên cứu đổi mới, đa
dạng hoá sản phẩm theo đúng chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế; đầu tư đổi mới công
nghệ, trình độ quản lý để tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu sản phẩm da giày.
Bốn là, xây dựng và phát triển thương hiệu da giày Việt Nam, tăng cường liên kết các
doanh nghiệp Việt Nam để tăng sức mạnh trên trường quốc tế. Để có được thương hiệu mạnh,
doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược xây dựng thương hiệu, tạo sự độc đáo của sản
phẩm, tính khác biệt của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, thực hiện giới thiệu và quảng bá
thương hiệu... Các doanh nghiệp trong ngành phải liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một
khối thống nhất để có đủ sức mạnh đối ứng với các đối thủ cạnh tranh mạnh trên thế giới và
để có khả năng đáp ứng những đơn hàng lớn.
Kết luận
Sự phát triển ngành da giày Việt Nam gắn liền với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng
của đất nước. Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với ngành là điều tất yếu. Vấn đề cơ bản
là phải nắm cơ hội, đồng thời có giải pháp hữu hiệu đối phó với những thách thức, biến những
thách thức trở thành cơ hội để ngành da giày Việt Nam có thể tham gia hiệu quả vào chuỗi
cung ứng toàn cầu, xứng đáng là ngành mũi nhọn trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam
18
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Công Thương (2011), Đề án Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 -
2020, định hướng đến năm 2030, Hà Nội, tháng 11/2011
[2] Bộ Công Thương (2015), Nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam thời kỳ 2015 - 2020, định hướng đến năm 2030, Báo cáo tóm tắt Đề án, tháng 10/2015.
[3] Bộ Công Thương (2015), Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và triển khai nhiệm vụ
năm 2016 của ngành công thương, Báo cáo tổng kết ngày 31/12/2015
[4] Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ: “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ
hội và thách thức-Hành động của chúng ta”, Cổng Thông tin Chính phủ ngày 16/2/2016
[5] Jodie Keane, Jane Kennan and Dirk Willem Te Velde, 2011, A policy study on Viet
Nam’s participation in trade negotiations under the Trans-Pacific Strategic Economic
Partnership (TPP) agreement, Hanoi
[6] Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa
thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030, Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày
28/12/201108
[7] Niên giám Thống kê năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015
Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030
19
Bạn đang xem tài liệu "Cơ hội và thách thức đối với ngành da giày Việt Nam xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
co_hoi_va_thach_thuc_doi_voi_nganh_da_giay_viet_nam_xuat_kha.pdf

