Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức - Bất cập và hướng giải quyết

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
CÔNG NHẬN HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT  
VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC VỀ HÌNH THỨC -  
BẤT CẬP VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT  
Trần Thăng Long*  
Nguyễn Văn Nhân**  
* PGS. TS. Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ Pháp lý, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.  
** Thẩm phán, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Mặc dù pháp luật đã quy định rõ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử  
dụng đất bắt buộc phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực và  
có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Tuy nhiên, trên thực tế không phải  
ai cũng nắm rõ quy định này và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất  
bằng “giấy tay” vẫn còn diễn ra hiện nay. Trong phạm vi bài viết này, các  
tác giả trình bày, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về việc  
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tuân thủ  
hình thức của hợp đồng. Từ thực tiễn áp dụng, các tác giả chỉ ra những  
bất cập khi áp dụng quy định công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền  
sử dụng đất không tuân thủ hình thức của hợp đồng và đưa ra một số giải  
pháp khắc phục.  
Từ khóa: Hợp đồng, chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất, công  
nhận hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất, vi phạm quy  
định về hình thức của hợp đồng.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 24/12/2020  
: 14/01/2021  
: 17/01/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Although it is clearly stipulated by law that contract for the transfer of land  
use right must be made in writing, notarized, authenticated and effective  
from the time of registration. However, in practice not everyone possesses  
full understandings of this provision and the transfer of land use rights by  
“hand writing” has become very popular nowadays. In the scope of this  
article, the authors provide introduction and an analysis of the provisions  
of the current law on recognizing the land use right transfer contract that  
does not comply with the form of the contract. From practical application,  
the authors also find out shortcomings when the provisions are under  
enforcements of recognizing that the contract of transferring land use  
rights does not comply with the form of the contract and also give out a  
number of recommendations for further improvements.  
K e y w o r d s : C o n t r a c t ,  
transfer, land use right,  
form, recognition of the land  
use right transfer contract,  
violation of the provisions on  
the form of the contract.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 24 Dec. 2020  
: 14 Jan. 2021  
: 17 Jan. 2021  
Approved  
1. Đặt vấn đề  
hình thức thì mới phát sinh hiệu lực. Điểm a  
khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai (LĐĐ) năm  
2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng,  
tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử  
dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn  
liền với đất phải được công chứng hoặc  
chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất  
động sản quy định tại điểm b khoản này”.  
Trong thực tiễn quan hệ dân sự, có những  
giao dịch không phải lập thành văn bản  
nhưng cũng có những giao dịch dân sự bắt  
buộc phải được lập thành văn bản và phải  
tuân theo các quy định về hình thức. Chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất là một loại giao  
dịch khi thỏa mãn các điều kiện chung về  
Số 06(430) - T3/2021  
27  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Điều 503 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015  
quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất  
có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo  
quy định của Luật Đất đai”. Như vậy, Luật  
đã quy định rõ, hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất bắt buộc phải lập thành  
văn bản có công chứng, chứng thực và có  
hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Tuy nhiên,  
trên thực tế hiện nay, việc chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất bằng “giấy tay” đang còn  
diễn ra.  
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối  
cao đã hướng dẫn đối với những trường  
hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất có  
nội dung phù hợp với quy định của pháp  
luật, nhưng hình thức không phù hợp với  
quy định của pháp luật thì vẫn có hiệu lực  
như sau:  
“b) Trường hợp nội dung của hợp đồng  
phù hợp với quy định của pháp luật nhưng  
hình thức của hợp đồng không phù hợp với  
quy định của pháp luật tại thời điểm giao  
kết hợp đồng.  
Bên cạnh đó, điểm đ khoản 1 Điều 132  
BLDS năm 2015 quy định thời hiệu yêu cầu  
tuyên bố vô hiệu: “Giao dịch dân sự được  
xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự  
không tuân thủ quy định về hình thức”. Để  
tránh trường hợp lợi dụng việc hợp đồng vi  
phạm về hình thức để yêu cầu tuyên bố hợp  
đồng vô hiệu. Điều 129 BLDS năm 2015  
liệt kê các trường hợp hợp đồng vi phạm  
quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức  
vẫn không bị vô hiệu.  
b.1) Nếu các bên chưa thực hiện nghĩa  
vụ theo hợp đồng thì Tòa án tuyên bố hợp  
đồng vô hiệu và hủy hợp đồng.  
b.2) Nếu bên nhận chuyển nhượng đã  
trả đủ tiền chuyển nhượng đất; bên chuyển  
nhượng đã giao toàn bộ diện tích đất, thì  
Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng  
đất đó. Trong trường hợp bên nhận chuyển  
nhượng mới trả một phần tiền chuyển  
nhượng đất, bên chuyển nhượng mới giao  
một phần diện tích đất, thì có thể công nhận  
phần hợp đồng đó căn cứ vào diện tích đất  
đã nhận. Nếu công nhận phần hợp đồng  
trong trường hợp bên chuyển nhượng giao  
diện tích đất có giá trị lớn hơn số tiền mà họ  
đã nhận, thì Tòa án buộc bên nhận chuyển  
nhượng thanh toán cho bên chuyển nhượng  
phần chênh lệch giữa số tiền mà bên nhận  
chuyển nhượng đã trả so với diện tích đất  
thực tế mà họ đã nhận tại thời điểm giao kết  
hợp đồng theo giá trị quyền sử dụng đất tính  
theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ  
thẩm. Đồng thời buộc các bên phải làm thủ  
tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện  
tích đất mà bên nhận chuyển nhượng đã  
nhận. Trong trường hợp bên nhận chuyển  
nhượng đã giao số tiền lớn hơn giá trị diện  
tích đất đã nhận mà Toà án chỉ công nhận  
phần hợp đồng tương ứng với diện tích đất  
mà họ đã nhận thì bên chuyển nhượng phải  
Việc áp dụng Điều 129 BLDS năm 2015  
giúp giải quyết được nhiều vụ việc. Tuy  
nhiên. Thực tiễn áp dụng Điều 129 BLDS  
năm 2015 cho thấy, có các cách hiểu khác  
nhau về quy định của điều luật gây ảnh  
hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án nói  
chung và tính khả thi của quy định này, đặc  
biệt là trong tranh chấp đất đai nói riêng.  
2. Quy định của pháp luật về việc công  
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử  
dụng đất không tuân thủ hình thức của  
hợp đồng  
Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền  
sử dụng đất, bản chất của hợp đồng cũng là  
sự thỏa thuận của các bên, thể hiện ý chí của  
các bên. Tuy nhiên, do đất đai là tài sản đặc  
biệt và phải đăng ký mới phát sinh hiệu lực  
và việc đăng ký là thủ tục hành chính. Trước  
BLDS năm 2015 có hiệu lực, Nghị quyết  
số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của  
28  
Số 06(430) - T3/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
thanh toán khoản tiền đã nhận vượt quá  
giá trị diện tích đất đã giao tính theo giá trị  
quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại  
thời điểm xét xử sơ thẩm”.  
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao  
dịch thì theo yêu cầu của các bên, Tòa án  
công nhận hiệu lực của giao dịch đó.  
Trường hợp thứ tư: Giao dịch dân sự  
được xác lập bằng văn bản nhưng văn bản  
không đúng quy định mà các bên đã thực  
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao  
dịch thì theo yêu cầu của một bên, Tòa án  
công nhận hiệu lực của giao dịch đó.  
BLDS năm 2015 đã cụ thể hóa các trường  
hợp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử  
dụng đất không bị vô hiệu khi đã thực hiện  
được hai phần ba nghĩa vụ như sau:  
Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 129 BLDS  
năm 2015, “Giao dịch dân sự đã được xác  
lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng  
văn bản không đúng quy định của luật mà  
một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất  
hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì  
theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa  
án ra quyết định công nhận hiệu lực của  
giao dịch đó”. Theo quy định này thì các  
hợp đồng bắt buộc phải lập thành văn bản  
nhưng văn bản không đúng theo quy định  
của pháp luật thì vẫn có hiệu lực nếu một  
hoặc các bên thực hiện hai phần ba nghĩa vụ  
thì theo yêu cầu của một trong các bên, Tòa  
án công nhận giao dịch đó.  
Thứ hai, khoản 2 Điều 129 BLDS năm  
2015 quy định “Giao dịch dân sự đã được  
xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy  
định bắt buộc về công chứng, chứng thực  
mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít  
nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch  
thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên,  
Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực  
của giao dịch đó. Trong trường hợp này,  
các bên không phải thực hiện việc công  
chứng, chứng thực”  
Quy định này có thể được áp dụng vào  
những trường hợp sau:  
Trường hợp thứ nhất: Giao dịch dân sự  
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi  
phạm quy định bắt buộc về công chứng,  
chứng thực mà một bên đã thực hiện ít nhất  
hai phần ba nghĩa vụ thì theo yêu cầu của  
một bên, Tòa án ra quyết định công nhận  
hiệu lực của giao dịch đó mà không cần  
phải công chứng chứng thực.  
Quy định của khoản 1 Điều 129 BLDS  
năm 2015 có thể được áp dụng vào những  
trường hợp như sau:  
Trường hợp thứ nhất: Giao dịch dân sự  
được xác lập bằng văn bản nhưng văn bản  
không đúng quy định mà một bên đã thực  
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao  
dịch thì theo yêu cầu của một bên, Tòa án  
công nhận hiệu lực của giao dịch đó.  
Trường hợp thứ hai: Giao dịch dân sự đã  
được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm  
quy định bắt buộc về công chứng, chứng  
thực mà một bên đã thực hiện ít nhất hai  
phần ba nghĩa vụ thì theo yêu cầu của các  
bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu  
lực của giao dịch đó mà không cần phải  
công chứng chứng thực.  
Trường hợp thứ hai: Giao dịch dân sự  
được xác lập bằng văn bản nhưng văn bản  
không đúng quy định mà một bên đã thực  
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao  
dịch thì theo yêu cầu của các bên, Tòa án  
công nhận hiệu lực của giao dịch đó.  
Trường hợp thứ ba: Giao dịch dân sự  
được xác lập bằng văn bản nhưng văn bản  
không đúng quy định mà các bên đã thực  
Trường hợp thứ ba: Giao dịch dân sự đã  
được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm  
quy định bắt buộc về công chứng, chứng  
Số 06(430) - T3/2021  
29  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
thực mà các bên đã thực hiện ít nhất hai  
phần ba nghĩa vụ thì theo yêu cầu của các  
bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu  
lực của giao dịch đó mà không cần phải  
công chứng chứng thực.  
sử dụng nhưng chị P không sang tên giấy  
chứng nhận quyền sử đất cho chị L, nên  
chị L yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng  
chuyển nhượng, để chị L được cấp giấy  
chứng nhận quyền sử dụng đất, chị P không  
đồng ý do hiện tại giá đất đã lên nên chị L  
không đồng ý tiếp tục chuyển nhượng. Tòa  
án đã tuyên công nhận hợp đồng chuyển  
nhượng và buộc chị L trả tiếp cho chị P 5  
chỉ vàng 24k còn lại, đồng thời được đăng  
ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện  
tích 2.000m2 theo quy định1.  
Trường hợp thứ tư: Giao dịch dân sự đã  
được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm  
quy định bắt buộc về công chứng, chứng  
thực mà các bên đã thực hiện ít nhất hai  
phần ba nghĩa vụ thì theo yêu cầu của một  
bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu  
lực của giao dịch đó mà không cần phải  
công chứng chứng thực.  
Ví dụ 2: Ông Phạm Văn Đ khởi kiện yêu  
cầu ông Phan Phú T, bà Võ Thị L trả cho  
ông Đ diện tích 2.130,1m2 do ông Đ cầm  
cố cho ông T vào năm 1982 với giá 04 chỉ  
vàng 24k; ông Đ đã nhận đủ số vàng 24k và  
đã giao đất cho ông T, bà L quản lý sử dụng,  
đất thuộc thửa 854, TBĐ số 4, tọa lạc ấp T,  
xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; năm 1999,  
ông Phạm Văn Đ được cấp giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất lần đầu; ông Đ  
cho rằng, ông không có chuyển nhượng mà  
chỉ cầm cố mảnh đất này. Bị đơn ông Phan  
Phú T phản tố yêu cầu công nhận hợp đồng  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích  
2.130,1m2 và cho rằng, mặc dù vào năm  
1982, hai bên không làm hợp đồng chuyển  
nhượng nhưng ông T, bà L đã giao số vàng  
02 chỉ vàng 24k và đã nhận đất để sử dụng  
đến khi trả 02 chỉ vàng còn lại ông Đ có làm  
biên nhận ngày 02/4/1994 với nội dung là  
nhận 02 chỉ vàng 24k để nhượng đất2.  
3. Thực tiễn áp dụng các quy định của  
pháp luật về công nhận hợp đồng chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất không tuân  
thủ hình thức của hợp đồng  
Một là, các trường hợp thứ hai, thứ ba,  
thứ tư của khoản 1 và khoản 2 Điều 129  
BLDS năm 2015 được phân tích trên đây  
khi các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba  
nghĩa vụ và các bên đều yêu cầu công nhận  
hiệu lực của giao dịch hoặc trường hợp một  
bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ  
mà các bên yêu cầu Tòa án công nhận hợp  
đồng thì hầu như không có tranh chấp do  
các bên đã tự thỏa thuận thực hiện.  
Trường hợp các bên đã thực hiện ít nhất  
hai phần ba nghĩa vụ nhưng một bên công  
nhận hợp đồng thì đa phần Tòa án công  
nhận hợp đồng, do trong hợp đồng đã thể  
hiện được ý chí của các bên khi giao kết  
hợp đồng.  
Ví dụ 3: Ông D bốc thăm và được vị  
trí nền nhà tái định cư diện tích là 85m2  
(ngang 5m, dài 17m), thuộc Cụm dân cư  
A, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp  
nhưng do không có tiền trả cho Nhà nước  
để nhận nền, nên ngày 30/10/2009 thì ông  
D chuyển nhượng lại cho bà T với số tiền  
Ví dụ 1: Chị Ngô Minh Pchuyển nhượng  
diện tích đất 2.000m2 cho chị Nguyễn Thị  
L với giá chuyển nhượng là 15 chỉ vàng  
24k vào năm 1995 có làm giấy tay chuyển  
nhượng, chị L đã giao cho chị P 10 chỉ  
vàng 24k, chị P cũng đã giao đất cho chị L  
1 Bản án số 18/2020/DSST ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.  
2 Bản án số 48/2020/DSST ngày 01/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.  
30  
Số 06(430) - T3/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
là 25.000.000 đồng và bà T có nghĩa vụ  
trả tiền cho Nhà nước là 76.500.000 đồng  
(bà T đã nhận đất). Tuy nhiên, bà T cũng  
không có tiền trả cho Nhà nước, nên ngày  
09/11/2013 bà T chuyển nhượng lại cho  
ông E với giá trị tổng cộng là 150.000.000  
đồng (hợp đồng viết tay) ông E đã trả  
cho bà T số tiền 73.500.000 đồng, vì còn  
phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền sử dụng  
đất cho Nhà nước là 76.500.000 đồng. Bà  
T đã giao đất cho ông E sử dụng; ngày  
31/10/2013, ông E đến cơ quan nhà nước  
trả số tiền 38.600.000 đồng, có phiếu thu  
ông E là người nộp tiền còn thiếu lại Nhà  
nước 37.900.000 đồng. Năm 2019, ông D  
và con ông là ông Hóa nộp cho Nhà nước  
37.900.000 đồng và được cấp giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông  
D không thống nhất chuyển nhượng và  
cho rằng số tiền 25.000.000 đồng nhận  
từ bà T là số tiền vay (không có tài liệu  
chứng minh là hợp đồng vay). Ông E khởi  
kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng  
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà  
T và ông D, giữa ông E và bà T3.  
tham gia giao dịch, nên có nhiều quan điểm  
giải quyết như các ví dụ dưới đây.  
Ví dụ 1: Anh Nguyễn Tấn T đã mua  
một diện tích 80m2 đất thổ cư với giá  
300.000.000 đồng và được cấp giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất; anh T xây dựng  
căn nhà trên đất, giá trị căn nhà được xây  
dựng là 150.000.000 đồng và trên căn nhà  
anh T xây dựng có 04 người cùng sinh sống  
là mẹ, anh, em của anh T. Anh T làm hợp  
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và  
được công chứng tại Văn phòng công chứng  
huyện C để chuyển nhượng nhà và đất cho  
anh Dương Hoàng S với giá chuyển nhượng  
80.000.000 đồng, anh S đã giao tiền cho anh  
T xong, nhưng anh T không giao đất cho  
anh S. Anh S đã được cấp giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất nên anh S yêu cầu anh T  
tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng giao đất  
và nhà cho anh S (do anh S đã thực hiện  
xong nghĩa vụ trả tiền), anh T không đồng ý  
vì cho rằng việc chuyển nhượng là che dấu  
hợp đồng vay (không có tài liệu chứng cứ  
cho việc có tồn tại hợp đồng vay tiền, anh S  
không thừa nhận là hợp đồng vay)4.  
Ví dụ 2: Năm 2016, anh Lê Xuân Tr có  
làm 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền  
sử dụng đất với anh Trần Văn C, chị Trần  
Ngọc Ph cụ thể như sau:  
Hai là, trường hợp còn lại (trường hợp  
một) của khoản 1 và khoản 2 Điều 129  
BLDS năm 2015 trên thực tiễn khi giải  
quyết các quan hệ tranh chấp quyền sử  
dụng đất do không tuân thủ hình thức của  
hợp đồng hoặc đã tuân thủ hình thức và một  
bên đã thực hiện hai phần ba nghĩa vụ hoặc  
đã thực hiện hết nghĩa vụ (thường bên thực  
hiện hai phần ba hoặc toàn bộ nghĩa vụ là  
bên nhận chuyển nhượng) bên còn lại không  
thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa  
vụ yêu cầu công nhận hợp đồng, bên còn lại  
không đồng ý sẽ gặp rất nhiều khó khăn, do  
không xác định được ý chí của các bên khi  
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng  
đất đối với thửa số 317, tờ bản đồ số 4, diện  
tích là 1.912m2 (trong đó 600m2 đất ở nông  
thôn; 1.312m2 đất trồng cây lâu năm) và hợp  
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối  
với thửa đất số 1160, tờ bản đồ số 04, diện  
tích 5.428m2 đều có công chứng tại văn  
phòng công chứng số 2; giá chuyển nhượng  
cho 02 hợp đồng trên là 300.000.000 đồng  
bao gồm đất và tài sản trên đất. Anh Tr đã  
giao cho anh C, chị Ph số tiền 300.000.000  
3 Bản án số 19/2020/DSST ngày 31/8/2020 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.  
4 Bản án số 58/2020/DSST ngày 05/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.  
Số 06(430) - T3/2021  
31  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
đồng nhưng anh C, chị Ph không giao đất  
cho anh Tr và không sang tên giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất. Theo biên bản định  
giá tại thời điểm chuyển nhượng giá thửa đất  
317 có giá là 289.576.000 đồng, thửa đất số  
1160 có giá là 297.225.500 đồng (tổng cộng  
là 587.011.000 đồng). Anh Tr khởi kiện yêu  
cầu công nhận 02 hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất; anh C, chị Ph không  
đồng ý và cho rằng số tiền 300.000.000  
đồng là hợp đồng vay tài sản (nhưng anh  
C, chị Ph không có tài liệu chứng cứ chứng  
minh là hợp đồng vay tài sản)5.  
Không thể vô hiệu do trốn tránh nghĩa  
vụ với người thứ ba, bởi lẽ hợp đồng là sự  
thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay  
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự6;  
ở đây, các bên đã tự nguyện xác lập bằng  
hợp đồng có công chứng, chứng thực. Cũng  
không thể nói việc thỏa thuận giá thấp hơn  
giá của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố  
(UBND tỉnh) là trốn tránh nghĩa vụ thuế  
(người thứ ba) vì thuế thu trước bạ nhà đất  
là 0,5% trên giá thỏa thuận7, trường hợp  
thỏa thuận thấp hơn giá do UBND tỉnh quy  
định thì lấy giá của UBND tỉnh quy định  
để tính lệ phí trước bạ8. Còn đối giá tính  
thuế thu nhập cá nhân khi hợp đồng chuyển  
nhượng thấp hơn giá do UBND tỉnh quy  
định thì lấy giá do UBND tỉnh quy định để  
tính thuế thu nhập cá nhân9. Các hợp đồng  
trên hoàn toàn do sự thỏa thuận của các bên  
và không thể bị tuyên vô hiệu vì lý do trốn  
tránh nghĩa vụ thuế.  
Theo chúng tôi, các vụ án nêu trên có  
một điểm chung là một bên đã thực hiện  
được hai phần ba nghĩa vụ hoặc đã thực  
hiện xong nghĩa vụ. Tuy nhiên, khi phát  
sinh tranh chấp, bên nhận chuyển nhượng  
luôn cho rằng, đây là hợp đồng chuyển  
nhượng và yêu cầu công nhận; bên chuyển  
nhượng cho rằng hợp đồng chuyển nhượng  
chỉ để che dấu một giao dịch khác (nhưng  
không chứng minh được có sự tồn tại của  
giao dịch bị che dấu). Đối với các trường  
hợp nêu trên, Tòa án có thể xử lý theo các  
hướng sau đây:  
Đối với trường hợp hợp đồng chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả  
tạo, che dấu hợp đồng vay thì không chứng  
minh được sự giả tạo để che dấu hợp đồng  
vay, cũng không thể căn cứ vào lời trình  
bày của bên chuyển nhượng mà xác định  
che dấu giao dịch khác (bên chuyển nhượng  
không có tài liệu gì chứng minh), có chăng  
ở đây là có sự khác nhau giữa ý chí và bày  
tỏ ý chí10.  
Hướng thứ nhất: Tòa án tuyên bố hợp  
đồng chuyển nhượng trên vô hiệu do giả tạo  
vì trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba  
(nghĩa vụ đóng thuế) hoặc hợp đồng trên  
vô hiệu do che dấu hợp đồng vay như bên  
chuyển nhượng trình bày theo Điều 124  
BLDS năm 2015.  
5 Bản án số 07/2020/DSST ngày 21/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.  
6 Điều 385 BLDS năm 2015.  
7 Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 quy định về lệ phí trước bạ.  
8 Điểm c.5, khoản 1 Điều 3 Thông tư số 301/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 hướng dẫn về lệ phí trước bạ.  
9 Điểm b1 khoản 1 Điều 12 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 hướng dẫn về thực hiện Luật thuế  
thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và nghị định số 65/2013/  
NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhâp cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một  
số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân.  
10 TS. Đặng Thị Thơm, Giao dịch mua bán tài sản nhằm che giấu giao dịch vay tài sản, https://tapchitoaan.vn/  
bai-viet/phap-luat/giao-dich-mua-ban-tai-san-nham-che-giau-giao-dich-vay-tai-san, truy cập ngày 28/01/2021.  
32  
Số 06(430) - T3/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Hướng thứ hai: Tòa án tuyên hủy hợp  
đồng chuyển nhượng trên do giá hợp đồng  
chuyển nhượng và giá trị thực tế có sự  
chênh lệch (thậm chí chênh lệch rất lớn) và  
không có sự giao đất trên thực tế.  
sự chênh nhau thậm chí giá trong hợp đồng  
còn thấp hơn giá do UBND tỉnh quy định,  
nếu công nhận thì có nhiều trường hợp lợi  
dụng khe hở này để làm hợp đồng chuyển  
nhượng nhằm che dấu hợp đồng vay và làm  
giảm đi tính hiệu lực của quy định về giao  
dịch dân sự vô hiệu do giả tạo tại Điều 124  
BLDS năm 2015. Ngoài ra, việc công nhận  
hợp đồng cũng không phù hợp với các quy  
định khác về ý chí chủ thể bởi lẽ không ai  
đi chuyển nhượng đất mà giá lại thấp hơn  
giá thực tế, thậm chí còn thấp hơn giá do  
UBND tỉnh quy định.  
Tuy nhiên, việc hủy hợp đồng đối với  
trường hợp này là không đúng, bởi lẽ hợp  
đồng là trên cơ sở sự thỏa thuận của các  
bên, giá trị cao hay thấp cũng do các bên đã  
thỏa thuận và việc hủy hợp đồng do chậm  
thực hiện nghĩa vụ thì bên có quyền mới  
được hủy bỏ hợp đồng do bên kia vi phạm  
nghiêm trọng nghĩa vụ của hợp đồng làm  
cho bên kia không đạt được mục đích giao  
kết (bên có quyền trong các ví dụ trên là bên  
nhận chuyển, bên chuyển nhượng thì không  
phải là bên có quyền)11. Đây cũng không  
thuộc trường hợp phải hủy hợp đồng do  
chậm thực hiện nghĩa vụ vì người có quyền  
yêu cầu hủy bỏ là bên có quyền12, còn bên  
chậm thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp  
này là bên có nghĩa vụ.  
Hướng thứ tư: Tòa án tuyên công nhận  
hợp đồng chuyển nhượng nếu giá chuyển  
nhượng phù hợp với giá tại thời điểm chuyển  
nhượng (kể cả giá do Nhà nước quy định);  
tuyên bố vô hiệu nếu giá chuyển nhượng  
không phù hợp với giá tại thời điểm chuyển  
nhượng (kể cả giá do Nhà nước quy định).  
Các tác giả cho rằng, hướng xử lý thứ tư  
này là hợp lý bởi các lý do sau:  
Hướng thứ ba: Tòa án công nhận hợp  
đồng chuyển nhượng do bên nhận chuyển  
nhượng đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền  
(thực hiện toàn bộ số tiền chuyển nhượng  
theo hợp đồng) và bên chuyển nhượng  
không thực hiện nghĩa vụ giao nhà và đất  
cho bên nhận chuyển nhượng.  
- Tòa án công nhận nếu giá chuyển  
nhượng phù hợp với giá tại thời điểm  
chuyển nhượng (bao gồm giá nhà nước quy  
định) là phù hợp với quy định của pháp  
luật và thể hiện được ý chí của bên nhận  
chuyển nhượng; còn bên chuyển nhượng có  
thể không phù hợp về thể hiện ý chí, nhưng  
do không chứng minh được việc che dấu  
giao dịch khác nên xem như thừa nhận việc  
chuyển nhượng do hợp đồng chuyển nhượng  
đã có chữ ký của bên chuyển nhượng.  
Thực tiễn xét xử của Tòa án cho thấy,  
nhiều vụ án được xử lý theo hướng thứ ba,  
công nhận hợp đồng bởi lẽ các bên đã thực  
hiện đúng hình thức của hợp đồng hoặc  
không thực hiện đúng hình thức nhưng  
bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện hai  
phần ba nghĩa vụ (hoặc toàn bộ nghĩa vụ).  
Tuy nhiên, trong các vụ án trên, giá chuyển  
nhượng trong hợp đồng và giá thực tế có  
- Tòa án tuyên bố vô hiệu nếu giá chuyển  
nhượng không phù hợp với giá tại thời điểm  
chuyển nhượng (kể cả giá do Nhà nước quy  
định) để cho các bên thấy được hậu quả của  
việc giao kết không trung thực, nhằm đưa  
11 Điều 423 Bộ luật Dân sự năm 2015.  
12 Điều 424 Bộ luật Dân sự năm 2015.  
Số 06(430) - T3/2021  
33  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
các giao dịch về giá trị thực và việc tuyên  
bố vô hiệu sẽ phù hợp, bởi lẽ sẽ làm rõ được  
ý chí và mục đích khi các bên thực hiện  
giao kết.  
dịch thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu  
Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực  
của giao dịch đó”. Quy định này vừa đảm  
bảo quyền yêu cầu của đương sự quy định  
tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự  
năm 2015, vừa đảm bảo Tòa án có thể xem  
xét lại ý chí khi giao kết hợp đồng, các vấn  
đề khác trong hợp đồng để có cơ sở công  
nhận hay không công nhận hợp đồng dựa  
trên quy định của pháp luật mà không theo  
bất kỳ yêu cầu của bên nào. Điều này cũng  
phù hợp với nguyên tắc độc lập trong xét  
xử, đồng thời tránh được việc lầm tưởng là  
trong mọi trường hợp, khi đã thực hiện được  
hai phần ba nghĩa vụ hợp đồng thì Tòa án sẽ  
công nhận hợp đồng “theo yêu cầu của một  
hoặc các bên” như quy định tại Điều 129  
BLDS năm 2015.  
4. Giải pháp hoàn thiện  
Để đảm bảo thực hiện đúng quy định  
của Điều 129, Điều 117 và 121 BLDS năm  
2015, các tác giả đề xuất giải pháp sau:  
Thứnhất:đốivớinhữnghợpđồngchuyển  
nhượng quyền sử dụng đất mà một bên đã  
thực hiện xong nghĩa vụ và đồng thời yêu  
cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất, bên còn lại không đồng  
ý thì cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn  
cụ thể giải quyết theo hai hướng sau:  
Một là, trường hợp hợp đồng chuyển  
nhượng có giá phù hợp thực tiễn (giá thực  
tiễn có thể khảo sát giá chuyển nhượng của  
các thửa đất cùng loại lân cận diện tích đất  
chuyển nhượng hoặc giá do UBND tỉnh  
quy định tại thời điểm chuyển nhượng)  
thì công nhận hợp đồng vì bên có nghĩa  
vụ (thường là bên chuyển nhượng) không  
chứng minh được ý chí đã che dấu khác  
với ý chí đã thể hiện.  
Thứ ba: sửa đổi khoản 2 Điều 129 BLDS  
năm 2015 như sau: “Giao dịch dân sự đã  
được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm  
quy định bắt buộc về công chứng, chứng  
thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện  
ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch  
thì một bên hoặc các bên có quyền yêu cầu  
Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực  
của giao dịch đó. Trong trường hợp này,  
các bên không phải thực hiện việc công  
chứng, chứng thực”.  
Hai là, trường hợp hợp đồng chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất có giá không  
phù hợp thực tiễn thì không cần khảo sát giá  
chuyển nhượng của các thửa đất cùng loại  
lân cận thửa đất chuyển nhượng mà chỉ lấy  
giá do UBND tỉnh quy định làm giá trần,  
nếu giá ghi trong hợp đồng vẫn thấp hơn thì  
tuyên vô hiệu do có sự mâu thuẫn giữa ý chí  
đã che dấu và ý chí đã thể hiện của người có  
nghĩa vụ (thường là bên chuyển nhượng).  
Theo đề xuất trên thì khoản 1 và 2 Điều  
129 BLDS năm 2015 cần sửa cụm từ “theo  
yêu cầu của một bên hoặc các bên” thành  
“một hoặc các bên có quyền yêu cầu”. Quy  
định này vừa đảm bảo được quyền của các  
bên tự do thỏa thuận trong giao dịch hợp  
đồng, vừa bảo đảm quyền yêu cầu của các  
bên khi hợp đồng phát sinh tranh chấp được  
quy định tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng  
Thứ hai: sửa đổi khoản 1 Điều 129 BLDS  
năm 2015 như sau: “Giao dịch dân sự đã  
được xác lập theo quy định phải bằng văn  
bản nhưng văn bản không đúng quy định  
của luật mà một bên hoặc các bên đã thực  
hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao  
dân sự năm 2015  
34  
Số 06(430) - T3/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 15300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức - Bất cập và hướng giải quyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_nhan_hop_dong_chuyen_nhuong_quyen_su_dung_dat_vi_pham_q.pdf