Chế tài xử lý kết hôn giả tạo nhằm mục đích chuyển đổi quốc tịch Việt Nam sang quốc tịch Mỹ
CHẾ TÀI XỬ LÝ KẾT HÔN GIẢ TẠO NHẰM MỤC ĐÍCH
CHUYỂN ĐỔI QUỐC TỊCH VIỆT NAM SANG QUỐC TỊCH MỸ
Nguyễn Thanh Tú
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Phương Nguyên
TÓM TẮT
Hiện nay có rất nhiều cách để nhập tịch Mỹ như: định cư theo diện việc làm, định cư theo
diện đầu tư, bảo lãnh theo diện du học,… đặc biệt là bảo lãnh theo diện kết hôn. Hình thức
bảo lãnh này là hình thức phổ biến nhất của Việt Nam để muốn qua Mỹ nhập cư hay chuyển
đổi quốc tịch Việt Nam sang quốc tịch Mỹ. Nhưng nhiều người lại lợi dụng việc kết hôn để
thực hiện những hành vi gian trá, vi phạm pháp luật. Đó là xây dựng nên cuộc hôn nhân giả
vì điều kiện hiển nhiên để đi đến kết hôn là dựa trên tình cảm và sự tự nguyện của hai bên.
Nhưng dựa vào yếu tố tình cảm để xác định lại là một kẽ hở. Và trên thực tế thì hành vi kết
hôn giả ràn lan, thậm chí có cả các đường dây xuyên quốc gia tổ chức hành vi này và chỉ
cần bỏ ra vài chục nghìn đô là có một cuộc hôn nhân giả nhưng trên giấy tờ là thật để qua
mắt cơ quan chức năng. Những cuộc hôn nhân này chỉ sau một vài năm sẽ kết thúc vì hai
bên đã hoàn thành mục đích của mình. Hành vi gian lận như vậy được các cơ quan quản lý
nhập cư Mỹ cũng như Việt Nam rất quan tâm. Nhưng vấn đề kết hôn giả hiện nay ngày càng
phổ biến và tinh vi nên cần có những chế tài phù hợp để xử lý.
Từ khóa: chế tài, định cư, kết hôn, kết hôn giả tạo, nhập tịch.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại khoản 11 điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định “Kết hôn giả tạo là
việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch
nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà
không nhằm mục đích xây dựng gia đình”.[2]
Nói một cách cụ thể hơn kết hôn giả tạo nhằm mục đích chuyển đổi quốc tịch Việt Nam sang
quốc tích Mỹ là cuộc hôn nhân theo hợp đồng để hai bên đều đạt được mục đích khác nhau
thay vì kết hôn trên cơ sở tình yêu hay kết hôn vì lý do xây dựng gia đình. Trước khi đăng ký
kết hôn thì cặp vợ chồng này chưa hề chung sống hay hẹn hò gì với nhau, thậm chí chỉ gặp
nhau một lần hoặc là chưa từng gặp nhau. Sau khi thỏa thuận thành công thì họ sẽ xây
dựng các bằng chứng giả để làm bằng chứng nộp lên các viên chức chính phủ. Đến khi có
giấy tờ đăng ký kết hôn được gửi lên cục Di trú Mỹ (USUC) cặp vợ chồng vẫn đảm bảo
được cấp hôn thú tuy nhiên mục đích kết hôn không đảm bảo, đó chỉ là về mặt hình thức,
thủ tục để che đậy pháp luật chứ hai người hai người không có mối quan hệ tình cảm cũng
như không muốn tiến tới hôn nhân và nhanh chóng ly hôn sau khi một bên đạt được mục
đích của mình là chuyển đổi quốc tịch thành công và bên còn thì đạt được các điều kiện đưa
1795
ra trước đó. Nguyên nhân chung của vấn đề là nhiều nước trên thế giới, điển hình như Mỹ
sẽ cấp quyền cho mọi công dân này cưới công dân sở tại ở nước họ và trên cơ sở hôn nhân
thì công dân có nhân khẩu sở tại có thể bảo lãnh cho người thân trên cơ sở kết hôn để công
dân đó có thể nhập cảnh, nhập hộ khẩu,... họ đã lợi dụng kẽ hở pháp luật này để tiến hành
các cuộc hôn nhân giả tạo trên giấy tờ để thực hiện mục đích trái pháp luật.
Tại Việt Nam, đối với nhiều người mà nói thì Mỹ được coi như là một vùng đất hứa, mang lại
một cuộc sống mới cho bản thân và gia đình họ. Nên việc bảo lãnh qua Mỹ theo diện kết hôn
là con đường nhanh chóng để hiện thực hóa ước mơ đổi đời. Việc tìm kiếm các dịch vụ kết
hôn giả thông qua đường dây môi giới tràn lan trên các trang mạng xã hội. Bên môi giới sẽ
cung cấp các gói dịch vụ rất đa dạng với giá từ 50.000 - 70.000 USD cho những người muốn
dùng hôn nhân để nhập tịch Mỹ[8]. Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Pew (trung tâm
nghiên cứu về con người, các vấn đề xã hội, dư luận,...) năm 2011 có 40,4 triệu người nhập
cư đang sinh sống tại Mỹ, trong đó có 11,5 triệu người nhập cư và cư trú bất hợp pháp.
Người nhập cư bất hợp pháp Việt Nam khoảng 170 nghìn (chiếm 2%)[11] con số khoảng
170 nghìn người thì phần lớn là di dân bất hợp pháp và trong đó có việc kết hôn giả để xin
visa định cư theo diện người thân bảo lãnh. Hầu hết thì hình thức kết hôn giả này là đều dựa
trên một hợp đồng thỏa thuận ngầm nào đó và cùng với giá tiền cũng như các điều kiện để
hai bên thỏa thuận với nhau, đến khi hai bên đều đạt được mục đích thì hai bên sẽ ly hôn và
kết thúc hợp đồng thỏa thuận.
Như đã đề cập việc kết hôn giả tạo sẽ được thỏa thuận theo lợi ích của hai bên. Một bên sẽ
đáp ứng được nhu cầu là nhập tịch, chuyển đổi từ quốc tịch Việt Nam thành quốc tịch Mỹ.
Bên còn lại cũng sẽ ra vô số điều kiện để khai thác từ hợp đồng hôn nhân này. Chẳng hạn
như công dân Mỹ sẽ nhận một khoản tiền lên tới hàng chục nghìn đô la hoặc một số sẽ
được bên “vợ/chồng hờ” của mình chi trả toàn bộ chi phí sinh hoạt hàng tháng trong quá
trình chung sống để chờ cấp thẻ Xanh. Ví dụ trong vụ việc ngày 12/03/2020 Hai cư dân
Thung lũng San Gabriel đã bị bắt với cáo buộc liên bang cáo buộc họ dàn dựng một âm
mưu trong đó công dân Trung Quốc trả tới 60.000 đô la để kết hôn giả với công dân Mỹ với
hy vọng có được tình trạng thường trú nhân hợp pháp - thường được gọi là nhận "Thẻ xanh"
- cho phép họ cư trú hợp pháp tại Mỹ. Đơn tố cáo hình sự dẫn đến vụ bắt giữ nêu rõ cách
thức dàn xếp các cuộc hôn nhân giả và những người tham gia được luyện tập để làm cho
cuộc hôn nhân của họ trở nên hợp pháp. Cụ thể, những người môi giới đã tuyển dụng công
dân Mỹ để kết hôn với công dân Trung Quốc, và sau đó họ nộp hồ sơ nhập cư cho Sở Di trú
và Nhập tịch Mỹ (USCIS). Những người môi giới đã hướng dẫn các công dân Trung Quốc
và công dân Mỹ về cách làm cho cuộc hôn nhân của họ có vẻ chân thật và vượt qua các
cuộc phỏng vấn do USCIS thực hiện, chẳng hạn như tạo các giấy tờ gian lận cho các cặp vợ
chồng và đưa câu trả lời cho các câu hỏi mà nhân viên dịch vụ nhập cư có thể hỏi trong
cuộc phỏng vấn với các cặp đôi [7].
Thực tế có thể thấy vô số các cuộc hôn nhân giả tạo như trên được trót lọt. Nhưng liệu có
mấy người đạt được mục đích như mong muốn vì có nhiều vụ kết hôn giả tạo sẽ rơi vào
những trường hợp cay đắng “tiền mất, tật mang”. Điển hình như việc chị Lê Thị Sâm Huyền
(ở phường 17, quận Gò Vấp, TP.HCM) được người quen bên Mỹ giới thiệu, chỉ mất 25.000
đôla lấy một “Việt kiều Mỹ”, cộng các chi phí tổ chức cưới, phụ phí khác tổng thiệt hại gần
30.000 đôla, vẫn rẻ hơn phải bỏ 300.000-500.000 đôla để được làm công dân Mỹ. Sang đó,
nghề làm nail dễ kiếm sống dự tính sau 05 năm, chị sẽ ly hôn anh chồng “Việt kiều” và đón
các con sang, bọn trẻ học hành không mất tiền… Cuối cùng chị quyết định làm các thủ tục li
1796
dị người chồng Việt Nam, đợi một năm sau mới tiến hành các thủ tục sang Mỹ du lịch, gặp
gỡ, dàn dựng các bộ ảnh gặp gỡ, hẹn hò người chồng “Việt kiều”, tiếp đó đến TP.HCM ăn
uống, du lịch… để đường dây làm hộ chiếu có đủ các thủ tục làm đăng ký kết hôn tại Mỹ.
Sau khi tổ chức lễ cưới tại một nhà hàng lớn ở Tân Bình, chị Huyền cùng “chồng” sang Mỹ.
Đến hiện tại, sau 03 năm cuộc sống vẫn khó khăn nên ý định đón chồng con đoàn tụ chưa
thực hiện được. Dù đã cố gắng nhưng chị vẫn chưa chuẩn bị đủ chi phí là 2.000 đôla để về
Việt Nam thăm con. [6] Có những người chỉ muốn làm giấy tờ hợp pháp để trở thành công
dân ở các nước phát triển, nhưng sau lại trở thành kẻ di dân lậu trên đất khách quê người
dù đã chi hàng chục nghìn đôla cho người làm hôn thú. Có người gặp phải trục trặc ngay khi
làm thủ tục xuất cảnh bởi sự thẩm tra thông tin của cơ quan chức năng và không thể ra
nước ngoài, vừa mất thời gian, công sức lại tốn tiền của. Đó mới chỉ là một trong số các kết
cục cay đắng của việc kết hôn giả để chuyển đổi quốc tịch. Ngoài ra còn một số trường hợp
như người sang đến Mỹ còn bị ép trở thành nô lệ cho nhà chồng mà quốc tịch thì mãi không
được làm. Còn có người cuối cùng cũng có đủ giấy tờ, nhưng số tiền phải trả cao hơn gấp
nhiều lần do người làm hôn thú tìm cách vòi vĩnh, hành hạ.
2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VIỆC KẾT HÔN GIẢ TẠO NHẰM MỤC ĐÍCH
CHUYỂN ĐỔI QUỐC TỊCH
Hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật để chuyển đổi quốc tịch không chỉ ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền và lợi ích của công dân mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản
lý của các cơ quan nhà nước. Làm cho nhà nước khó nắm bắt cũng như quản lý được các
vấn đề như hộ tịch trong việc xác định quan hệ hôn nhân, tình trạng hôn nhân của các
công dân, khai sinh và giải quyết các tranh chấp. Do đó việc xử lý kết hôn trái pháp luật để
chuyển đổi quốc tịch là việc làm cần thiết. Với những quốc gia khác nhau sẽ có những chế
tài xử lý khác nhau.
Pháp luật Việt Nam:
Quy định pháp luật Việt Nam có đề cập đến 05 điều kiện để đăng ký kết hôn: độ tuổi nam từ
đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định;
Không bị mất năng lực hành vi dân sự; không thuộc các trường hợp bị cấm kết hôn nêu tại
điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình cuối cùng là Nhà nước không thừa nhận hôn nhân đồng
tính. Mà theo khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình thì “Kết hôn giả tạo là việc lợi
dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước
ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm
mục đích xây dựng gia đình”. Như vậy có thể thấy dựa vào yếu tố mục đích của hôn nhân thì
kết hôn nhằm chuyển đổi quốc tịch Việt Nam sang quốc tịch Mỹ là hành vi kết hôn giả tạo và
rơi vào trường hợp cấm kết hôn theo điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo Khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Mọi hành vi vi phạm pháp luật về
hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật”. Cụ thể hơn hành vi kết
hôn giả nhằm mục đích chuyển đổi quốc tịch sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm
d khoản 2 và khoản 3 điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn
nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì hành vi kết hôn
giả tạo sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau: “Người có hành vi lợi dụng việc kết hôn
nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh; nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài hưởng
1797
chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây
dựng gia đình thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng”; Biện pháp khắc
phục hậu quả “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy
định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này” [5]. Như vậy đối với những người kết hôn giả
nhằm mục đích chuyển đổi quốc tịch Việt Nam sang quốc tịch Mỹ sẽ chịu hình phạt tiền từ
10 - 20 triệu đồng. Không chỉ vậy, người vi phạm còn bị buộc phải nộp lại số lợi bất hợp
pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm này.
Pháp luật Mỹ:
Đối với pháp luật Mỹ thì việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập quốc tịch Mỹ là vi phạm
pháp luật và theo như Sở Di trú Hoa Kỳ (USCIS) có quy định hôn nhân gian lận, trái pháp
luật là một tội hình sự theo luật liên bang. Từ đó có thể thấy việc kết hôn giả nhằm mục đích
chuyển đổi quốc tịch Việt Nam thành quốc tịch Mỹ là hành vi vi phạm pháp luật theo như
pháp luật Mỹ và chế tài xử phạt hành vi kết hôn giả tạo này được Mỹ quy định rất nghiêm
khắc. Bất kỳ ai cố ý kết hôn với mục địch trốn tránh bất kỳ điều khoản nào của luật nhập cư
sẽ bị xử phạt 05 năm tù, hoặc bị phạt lên tới 250.000 đô la. Ngoài ra, với công dân nước
ngoài khi kết hôn trái pháp luật tại Mỹ có thể bị trục xuất ra khỏi Mỹ, hoặc phạt tiền lên tới
phạt 250.000 đô la, tước quốc tịch và nặng hơn là cấm nhập cảnh vĩnh viễn.[13] Việc kiểm
tra ra người nhập cư có gian lận trong hôn nhân hay không có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn
nào của quá trình nhập cư. Vì cơ quan di trú Hoa Kỳ sẽ yêu cầu các bằng chứng về tính hợp
lệ của hôn nhân bằng các câu hỏi cá nhân của vợ/chồng. Nhiều trường hợp họ sẽ kiểm tra
lại tình trạng hôn nhân sau hai năm. Cơ quan di trú Hoa Kỳ không chỉ có thể yêu cầu nộp
các tài liệu và buộc người nhập cư và vợ/chồng phải thẩm vấn chuyên sâu trong quá trình
nộp đơn, mà còn có thể đến thăm nhà của cặp vợ/chồng, nói chuyện với bạn bè của họ hay
phỏng vấn chủ nhà nơi cặp vợ chồng đó ở,... Nếu nhận thấy có dấu hiệu nghi vấn hay mâu
thuẫn trong các câu trả lời cơ quan di trú Hoa Kỳ sẽ phát hiện ra và xem xét lại tính hợp
pháp cho cuộc hôn nhân này.
Ví dụ: vụ việc của Dimitry Fomichev đến Mỹ vào năm 2003 theo thị thực sinh viên ở Nga
theo visa du học. Ba năm sau anh gặp và kết hôn với Svetlana Pogosyan. Pogosyan đã nộp
đơn xin thị thực thân nhân người nước ngoài cho Fomichev vào năm 2007, và anh ta đã xin
điều chỉnh tình trạng nhập cư của mình. Bộ An ninh Nội địa Mỹ đã thấy đây là hôn nhân hợp
pháp, chấp thuận thị thực và cấp cho Fomichev nơi cư trú có điều kiện. Những năm tiếp
theo, các đặc vụ của Internal Revennue Service đã tiếp cận Pogosyan để hỏi về cuộc hôn
nhân của cô. Các đặc vụ hỏi cô và Fomicchev thực sự sống ở đâu và về các tờ khai thuế.
Khi cô ấy đưa ra câu trả lời mâu thuẫn cho câu hỏi này, các đặc vụ nhận ra rằng cô ấy đang
nói dối và cảnh báo rằng việc nói dối khiến cô phải trả các khoản thuế ngược và bị quy tội vì
khai báo sai. Sau cùng vì muốn trở nên trong sạch cô đã nói hết toàn bộ sự thật rằng cô ấy
đã kết hôn với Fomichev để anh ấy có quyền công dân Mỹ, và để đổi lấy việc cô ấy kết hôn
với anh ấy, Fomichev sẽ trả tiền thuê nhà cho cô ấy. Pogosyan đã làm chứng trước đại bồi
thẩm đoàn liên bang vào năm 2011 về thỏa thuận mà cô đã đồng ý: đó là kết hôn với
Fomichev để anh ta có được quốc tịch Hoa Kỳ đổi lấy việc anh ta trả tiền thuê nhà cho cô.
Cô cũng làm chứng rằng cô và Fomichev chưa bao giờ sống cùng nhau và ngay từ đầu họ
không có ý định cho cuộc hôn nhân kéo dài hơn một vài năm. Năm 2010, cặp đôi ly hôn.
Sau cùng thì Fomichev bị kết án với ba năm khai báo thuế thu nhập sai, trắng án với các
thuế còn lại và bị ba năm quản chế.[10]
1798
Pháp luật Úc:
Không chỉ riêng Việt Nam, Mỹ thì Úc cũng là quốc gia nghiêm cấm hành vi kết hôn giả nhằm
mục đích nhập tịch tại nước mình. Cụ thể pháp luật Úc có quy định nếu nhà chức trách phát
hiện một cuộc hôn nhân là giả, cả chồng và vợ đều đối mặt với các hậu quả nghiêm trọng.
Người nhập cư sẽ bị trục xuất về nước và bị tịch thu visa. Nhân viên cơ quan di trú có thể
tiến hành kiểm tra đột xuất bất cứ lúc nào và có một loạt biện pháp khác nhau để phát hiện
hôn nhân giả. Vào bất cứ giai đoạn nào họ cũng có thể yêu cầu nộp bổ sung giấy tờ và tiến
hành thẩm vấn sâu hai vợ chồng. Tương tự như Mỹ, họ cũng có thể tới nhà, nói chuyện với
bạn bè hay người chủ nơi làm việc của cặp vợ chồng [12].
3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH
Như đã đề cập ở trên việc kết hôn chủ yếu là dựa vào yếu tố tình cảm để xác định các cuộc
hôn nhân có hợp lệ hay không. Nhưng tình cảm có là yếu tố phát sinh từ cảm xúc, tâm lý
của mỗi người nên không thể có quy định cụ thể để có thể đánh giá thế nào tình cảm thật
thế nào là giả. Ngoài ra pháp luật Việt Nam cũng chưa có những quy định cụ thể để về vấn
đề kết hôn giả tạo nhằm mục đích nhập tịch, chuyển đổi quốc tịch nên còn rất nhiều những
hạn chế. Nên tác giả sẽ đưa ra một số bất cập cùng với kiến nghị như sau:
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam hiện nay được áp dụng chung cho các quan hệ hôn nhân có
yếu tố nước ngoài nhưng chưa có những quy định riêng về điều kiện về người nước ngoài.
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 của Chính phủ thì
“việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với
nhau tại Việt Nam mà tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, thì
ngoài việc mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; người nước
ngoài còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình của
Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn”[3]. Như vậy, quy định về điều
kiện kết hôn đối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài áp dụng tương tự như hôn nhân trong
nước, không có quy định về các điều kiện đặc biệt khác. Vậy nên cần bổ sung một số điều
kiện chẳng hạn như quy định tại thời điểm đăng ký kết hôn thì hai bên có thực sự hiểu biết
lẫn nhau, có sự bất đồng về ngôn ngữ hay không, đã trải qua các lớp đào tạo về văn hóa
hôn nhân, gia đình nước ngoài chưa. Để tránh những trường hợp đăng ký kết hôn với người
nước ngoài nhưng do thiếu hướng dẫn chi tiết về các vấn đề này nên cơ quan vẫn phải làm
thủ tục trình cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
Thứ hai, chưa có căn cứ pháp lý để được phép từ chối đăng ký kết hôn. Theo Nghị định
69/2006/NĐ-CP thì Sở Tư pháp tiến hành phỏng vấn để làm rõ sự tự nguyện kết hôn của
các bên, mà không yêu cầu làm rõ khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung, mức độ hiểu
biết về hoàn cảnh của nhau.[4]. Trong khi đó, qua phỏng vấn, nếu cán bộ tư pháp nhận thấy
hai bên không giao tiếp được với nhau vì bất đồng ngôn ngữ, không biết về hoàn cảnh của
nhau, thậm chí mới gặp gỡ một vài lần... Sở Tư pháp chỉ có thể đưa ra khuyến cáo các bên
nên dành thêm một khoảng thời gian cần thiết để tìm hiểu thêm về nhau, mà chưa có căn cứ
pháp lý để từ chối đăng ký kết hôn. Chính vì vậy cần thực hiện việc phân cấp và trao quyền
chủ động cho Sở Tư pháp xem xét, giải quyết các hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước
ngoài. Đặc biệt, quy định cụ thể về một số trường hợp có thể từ chối thực hiện việc đăng ký
kết hôn để bảo đảm quan hệ hôn nhân hạnh phúc, lành mạnh.
1799
Thứ ba, Luật Hộ tịch năm 2014 đã bỏ thủ tục phỏng vấn đối với bên nam và bên nữ khi đăng
ký kết hôn tại UBND cấp huyện [1]. Do đó, nhiều trường hợp đăng ký kết hôn với mục đích
để được nhập cư ở nước ngoài đã lợi dụng việc đăng ký kết hôn này. Sẽ dẫn đến một số sai
lầm nếu trong quá trình giải quyết, công chức làm công tác hộ tịch nếu không kiểm tra kỹ hồ
sơ cũng như thực hiện việc thẩm tra, xác minh tại địa phương thì không thể phát hiện ra
được hành vi gian lận hôn nhân. Chính vì thế cần khôi phục lại thủ tục phỏng vấn đối với hai
bên nam, nữ khi đăng ký thủ tục kết hôn tại UBND cấp huyện.
Thứ tư, pháp luật Việt Nam cần quy định chế tài xử phạt cao hơn đối với trường hợp kết hôn
giả tạo và cần có các thỏa thuận hợp tác, hiệp định tương trợ tư pháp với các nước để liên
kết loại bỏ những cuộc hôn nhân gian lận hay triệt phá các đường dây mua giới kết hôn giả
xuyên biên giới. Điển hình như đường dây do Ashley Yen Nguyen cầm đầu giúp nhiều người
Việt kết hôn giả để được nhập cư Mỹ với mức phí lên tới 70.000 USD. Nghi phạm cầm đầu,
Ashley Yen Nguyen, 53 tuổi, điều hành hoạt động của băng nhóm ở ngoại ô thành phố
Houston nhưng có "chân rết" khắp bang và tại Việt Nam. Ít nhất 50 trong số gần 100 người
có tên trong cáo trạng đã bị bắt, có những người bị bắt tại sân bay khi đang định trốn khỏi
Mỹ. Các đôi vợ chồng này bị cáo buộc kết hôn theo một thỏa thuận tài chính với mục đích
chủ yếu là lách luật để nhập cư hay nhập quốc tịch Mỹ. Sau khi thỏa thuận xong, nhóm này
trình các giấy tờ giả mạo lên cơ quan nhập cư, trong đó có tài liệu thuế và việc làm, để giúp
các khách hàng đạt quyền nhập cảnh và cư trú tại Mỹ. Những kẻ này còn cung cấp cả album
ảnh cưới giả để chứng minh rằng họ đã tổ chức lễ cưới. Các đôi vợ chồng giả không chung
sống với nhau và mới gặp gỡ ngay trước khi có giấy đăng ký kết hôn. Các nghi phạm đối
mặt với các tội danh lừa đảo, làm giả nhân chứng và có thể lĩnh án tới 20 năm tù. [9]
4 KẾT LUẬN
Để chuyển đổi quốc tịch Việt Nam thành quốc tịch Mỹ có rất nhiều sự lựa chọn. Hãy là
những công dân thông minh đừng lựa chọn con đường trái pháp luật để hiện thực hóa ước
mơ một cách rút gọn mà để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Qua những đánh giá
về lý luận có thể nhìn thấy những hạn chế khi pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng. Từ
đó thấy được những ưu điểm cũng như hạn chế của pháp luật hiện hành khi quy định về vấn
đề “Kết hôn giả tạo nhằm mục đích chuyển đổi quốc tịch Việt Nam sang quốc tịch Mỹ”. Nhận
thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, tác giả đã đưa ra một số
kiến nghị, giải pháp cơ bản nhằm hạn chế, đẩy lùi thực trạng kết hôn giả tạo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Luật Hộ tịch 2014.
[2] Luật Hôn nhân và Gia đình 2015.
[3] Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 của Chính phủ.
[4] Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/07/2006 của Chính phủ.
[5] Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/02/2020 của Chính phủ.
[6] Bảo lãnh định cư, Muôn nẻo định cư Mỹ diện kết hôn, 10/09/2017, xem tại:
1800
[7] Cadocument And Benefit Fraud, 03/12/2020, Los Angeles, xem tại:
marriage-fraud-scheme-2-alleged
[8] Di trú Mỹ, Dịch vụ kết hôn giả đi mỹ hoạt động như thế nào? 25/08/2020, xem tại:
[9] Nearly 100 Charged in Massive Marriage Fraud Scheme, 14/05/2019, xem tại:
fraud-scheme
[10] Stephen A. Saltzburg, 2019, Sham Marriage and Privilege, xem tại:
cations
hop-phap-tai-my
[13] 8 U.S, Code § 1325 - Improper entry by alien
1801
Bạn đang xem tài liệu "Chế tài xử lý kết hôn giả tạo nhằm mục đích chuyển đổi quốc tịch Việt Nam sang quốc tịch Mỹ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
che_tai_xu_ly_ket_hon_gia_tao_nham_muc_dich_chuyen_doi_quoc.pdf

