Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên khi tham gia trải nghiệm học kỳ doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG  
CỦA SINH VIÊN KHI THAM GIA TRẢI NGHIỆM HỌC KỲ  
DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Lê Gia Huy, Bùi Ngọc Đức, Nguyễn Hồng Ân  
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương  
TÓM TẮT  
Xuất phát từ thực tiễn và các hạn chế trong các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu xu hướng  
trải nghiệm học kỳ doanh nghiệp và sự hài lòng của sinh viên tại các trường đại học ở Thành  
phố Hồ Chí Minh được thực hiện nhằm mục tiêu xác định các nhân tố tác động đến sự hài  
lòng của sinh viên sau khi tham gia trải nghiệm học kỳ doanh nghiệp bằng phương pháp  
nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 400  
sinh viên đang học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các phương pháp kiểm định Cronbach’s  
Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến được sử dụng trong nghiên  
cứu này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 04 nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh  
viên khi tham gia trải nghiệm học kỳ doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh theo thứ tự  
mức độ tác động bao gồm: (1) Kiến thức và kỹ năng sinh viên có được sau khi tham gia trải  
nghiệm, (2) Nội dung trải nghiệm, (3)Thời gian trải nghiệm, và (4) Sự hỗ trợ từ nhà trường.  
Từ đó nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp cần thiết và phù hợp.  
Từ khóa: học kỳ doanh nghiệp, thực tập, trải nghiệm, sự hài lòng, sinh viên.  
1 MỞ ĐẦU  
Đào tạo nói chung và đào tạo bậc đại học nói riêng được xem như một ngành dịch vụ, một  
hoạt động kinh doanh: các trường đại học là doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ, còn  
khách hàng là những phụ huynh, người học bỏ tiền ra để đầu tư và sử dụng một dịch vụ mà  
họ cho là tốt nhất. Tuy nhiên, không thể đánh đồng giáo dục với các ngành nghề kinh doanh  
khác, bởi nó không đơn thuần chỉ là được lòng khách mua vừa lòng người bán, mà nó còn  
mang một nhiệm vụ cao cả đó là đào tạo nên những con người có ích cho xã hội, đất nước.  
Chính vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo luôn là một trong những vấn đề chiến  
lược dài hạn hàng đầu trong xu thế hội nhập với thể giới của Việt Nam. Giáo dục và đào tạo  
khi đã trở thành một ngành kinh doanh thì hoạt động này khó tránh khỏi sự cạnh tranh khắc  
nghiệt từ thị trường. Sự cạnh tranh gay gắt kết hợp với trình độ quản lý yếu kém cũng như  
việc thiếu ý thức, đạo đức đã dẫn đến việc nảy sinh các vấn đề tiêu cực trong giáo dục đào  
tạo như chất lượng đào tạo kém, hay sự xuống cấp đạo đức học đường,... Chính vì vậy việc  
làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo là một bài toán nan giải đặt ra cho tất cả các  
trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó chất lượng đào tạo bậc đại  
2577  
học lại càng được quan tâm hơn khi nước ta đang trong giai đoạn phát triển nhanh, cần một  
nguồn nhân lực vừa dồi dào, vừa có chất lượng cao.  
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Cơ sở lý thuyết  
Học kỳ doanh nghiệp là một trong các hình thức của học phần “Thực tập và tốt nghiệp”,  
được bố trí vào học kỳ cuối của chương trình đào tạo với khối lượng tùy thuộc vào số tín chỉ  
của từng trường đại học. Sinh viên có khoảng thời gian gần 03 tháng tham gia làm việc thực  
tế tại các doanh nghiệp phù hợp với ngành - chuyên ngành được đào tạo.  
Theo Philip Kotler, sự thỏa mãn – hài lòng của khách hàng (Customer satisfaction) là mức  
độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc  
tiêu dùng sản phẩm - dịch vụ với những kỳ vọng của chính họ. Mức độ hài lòng phụ thuộc  
sự khác biệt giữa kết quả nhận được và sự kỳ vọng.  
Theo Oliver, sự hài lòng là phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những  
mong muốn.  
Trong bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng của sinh viên với điều kiện  
Cơ sở vật chất và Phục vụ của trường Đại học Lâm Nghiệp” TS. Nguyễn Thị Xuân Hươngvà  
cộng sự có đề cập Sự hài lòng là một trạng thái tâm lý bị tác động bởi 02 quá trình: (1) Kỳ  
vọng về dịch vụ trước khi sử dụng và (2) Cảm nhận về dịch vụ sau khi trải nghiệm. Những  
cảm nhận của khách hàng có được sau khi sử dụng dịch vụ được tạo nên bởi chất lượng  
dịch vụ. Quan điểm này đã khẳng định rõ mối quan hệ giữa chất lượng và sự hài lòng.  
Sau khi tham khảo các lý thuyết trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.  
Trong đó có 05 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên sau khi tham gia trải nghiệm  
học kỳ doanh nghiệp là: thời gian trải nghiệp (TG1,TG2, TG3,TG4,TG5); nội dung trải  
nghiệm (ND1, ND2, ND3, ND4, ND5); môi trường doanh nghiệp (MT1, MT2, MT3, MT4,  
MT5); hỗ trợ từ phía nhà trường (HT1, HT2, HT3, HT4, HT5); kiến thức và kỹ năng sinh viên  
tích lũy được sau buổi trải nghiệm (KT1, KT2, KT3, KT4, KT5).  
Hình 1. Mô hình đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên sau khi tham gia học  
kỳ doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh  
2578  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
Bài nghiên cứu này được thực hiện thông qua sự kết hợp 02 phương pháp nghiên cứu: (2)  
Phương pháp nghiên cứu định tính và (2) Phương pháp nghiên cứu định lượng.  
Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện bằng việc phỏng vấn trực tiếp các giảng  
viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố và các nhà quản lý doanh nghiệp kết hợp  
với thảo luận nhóm với 20 sinh viên đang theo học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu  
này dùng để khám phá, nhận dạng các nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên khi  
tham gia trải nghiệm học kỳ doanh nghiệp. Thông qua kết quả nghiên cứu định tính này, các  
thang đo được đưa và bảng câu hỏi dùng để nghiên cứu định lượng.  
Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua việc khảo sát các sinh viên  
tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này nhằm kiểm tra thang đo và mô hình nghiên cứu.  
Các thang đo được kiểm định bằng phương pháp hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích các  
nhân tố tố khám phá EFA và mô hình hồi quy đabiến.  
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo.  
Bảng 1. Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo  
Thang đo  
Số biến quan sát  
Độ tin cậy Cronbach’s  
Alpha  
Thời gian trải nghiệm  
Nội dung trải nghiệm  
5
5
5
4
0.790  
0.769  
0.756  
0.698  
0.798  
Môi trường doanh nghiệp  
Hỗ trợ từ phía nhà trường  
Kiến thức và kỹ năng sinh viên 5  
tích lũy được  
Sự hài lòng của sinh viên  
3
0.646  
Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha lần 1 cho thấy hệ  
số Cronbach’s Alpha của mỗi thang đo khá tốt, đều lớn hơn 0,6 (trong đó có 01 nhân tố  
không đủ điều hiện nên loại là HT3). Thực hiện kiểm định lại thang đo lần 2 sau khi loại bỏ  
đối với biến quan sát HT3, kết quả hệ số Cronbach’s Alpha có sự thay đôi đối với biến hỗ trợ  
từ phía nhà trường thể hiện tại bảng . Điều này chứng tỏ các thang đo đạt độ tin cậy để tiến  
hành phân tích nhân tố khám phá EFA. Ngoài ra, hệ số tương quan biến tổng đều >0.3 nên  
các biến quan sát đều được giữ lại để phân tích.  
2579  
Kết quả phân tích EFA  
Bảng 2. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett của biến độc lập  
KMO and Bartlett's Test  
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin)  
Mô hình kiểm tra của Bartlett  
0.832  
2797.225  
231  
Giá trị Chi-Square  
Bậc tự do  
Sig (giá trị P – value)  
0.000  
Kiểm định tính thích hợp của EFA và tương quan của các biến quan sát trong thước đo đại  
diện (Bảng 2).  
Kết quả kiểm định trong Bảng 2 cho thấy Bartlett có giá trị Sig. = 0,000, như vậy các biến  
quan sát có tương quan với nhau và giá trị hệ số KMO là 0,832 lớn hơn 0,5 và nhỏ hơn 1,  
cho thấy tập dữ liệu là phù hợp để sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA.  
Kết quả ma trận xoay nhân tố cùng cho thấy tổng phương sai trích là 57,069% (lớn hơn  
50%). Điều này có nghĩa là 57,069% thay đổi các nhân tố được giải thích bởi các biến quan  
sát. Tại các mức giá trị Elgenvalues lớn hơn 1, phân tích đã trích được 05 nhân tố.  
Kết quả kiểm định hệ số hồi quy  
Kết quả kiểm định hệ số hồi quy cho thấy, số xác định R2 là 0,518 và R2 hiệu chỉnh là 0,513,  
nghĩa là mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên sau khi tham gia trải  
nghiệm học kỳ doanh nghiệp đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 51,3%. Hệ số  
Durbin-Watson là 1.686 (1 < 1.686 < 3) nên không có hiện tượng tương quan.  
Bảng 3. Kết quả phân tích hồi quy  
Hệ số chưa chuẩn Hệ số chuẩn  
Thống kê đa cộng tuyến  
hóa  
hóa  
Mô hình  
Sai số  
Hệ số  
Hệ số phóng đại  
t
Sig.  
B
Beta  
chuẩn  
0,127  
0,033  
0,026  
0,028  
0,026  
Tolerance  
phương sai  
Hằng số 0,874  
7.024 .000  
8.524 .000  
4.718 .000  
7.415 .000  
4.191 .000  
KT  
TG  
ND  
HT  
0,284  
0,124  
0,208  
0,111  
0,347  
0,185  
0,296  
0,170  
0,770  
0,828  
0,801  
0,777  
1.299  
1.208  
1.348  
1.287  
2580  
Trong Bảng 3, ta thấy hệ số Sig của 4 biến độc lập sau khi loại biến Môi trường doanh  
nghiệp vì có Sig. =0.602 không phù hợp với mô hình đều <0.05, chứng tỏ mô hình là phù  
hợp, các biến độc lập có tương quan với biến phụ thuộc. Hệ số phóng đại phương sai VIF  
của các biến độc lập trong mô hình hồi quy không có hiện tượng đa cộng tuyến.  
Phương trình hồi quy có dạng:  
HL = 0,347 KT + 0,296 ND + 0,185 TG + 0,170 HT  
Các hệ số hồi quy đều lớn hơn 0 nên 04 biến độc lập: Kiến thức và kỹ năng sinh viên tích lũy  
được sau buổi trải nghiệm, Thời gian trải nghiệm, Nội dung trải nghiệm, Hỗ trợ từ phía nhà  
trường Trong đó nhân tố Kiến thức và kỹ năng sinh viên tích lũy được sau buổi trải nghiệm  
tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của sinh viên β1 = 0,347, Nội dung trải nghiệm β  =  
0,296, Thời gian trải nghiệm β  = 0,185 và cuối cùng là Hỗ trợ từ phía nhà trường β  =  
0,170.  
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Nghiên cứu của NNC đã chỉ ra thứ tự mức độ quan trọng của 04 yếu tố ảnh hướng đến mức  
độ hài lòng của sinh viên khi tham gia học kỳ doanh nghiệp.  
Thứ nhất, yếu tố Kiến thức và kỹ năng sinh viên tích lũy được sau quá trình tham gia trải  
nghiệm học kỳ doanh nghiệp là yếu tố có sức ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng của sinh  
viên tham gia trải nghiệm. Vì vậy NNC đề xuất phía nhà trường cần có sự nâng cao về chất  
lượng đào tạo để nâng cao chất lượng kiến thức truyền đạt tới sinh viên. Chẳng hạn như đổi  
mới chương trình đào tạo sao cho thật sát với thực tế hay các biện pháp nâng cao chất  
lượng giảng dạy khác hay tăng cường kết hợp của nhà trường với doanh nghiệp đào tạo  
các kỹ năng và kiến thức thực tế để gắn kết lý thuyết học được trên trường với công việc  
thực tế nhằm giảm bớt khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn. Bổ sung thêm những môn  
học có tính ứng dụng cao như các học phần thực hành. Đổi mới cập nhật chương trình đào  
tạo sao cho phù hợp với sự phát triển của thế giới. Cụ thể hóa các kỹ năng và kiến thức mà  
sinh viên cần đạt được của từng môn học. Từ đó nhà trường cần xây dựng những thang  
đánh giá chi tiết cụ thể đối với từng kỹ năng sinh viên tích lũy được để nâng cao chất lượng  
đầu ra. Nhà trường cần xây dựng những cơ chế để khuyến khích sinh viên tự giác trau dồi  
kiến thức và kỹ năng để đáp ứng nhu cầu của nghề nghiệp.  
Thứ hai, yếu tố Nội dung trải nghiệm. NNC đề xuất phía nhà trường nên tăng cường hiệu  
quả hoạt động hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, đặc biệt là với nhiều loại hình  
doanh nghiệp để giúp sinh viên đa dạng hóa nội dung trải nghiệm.  
Thứ ba, yếu tố Thời gian trải nghiệm. Nhà trường cần sắp xếp tạo điều kiện cho sinh viên có  
thể tham gia trải nghiệm học kỳ doanh nghiệp nhiều lần hơn mà cụ thể mỗi học kỳ từ 01 đến  
02 lần áp dụng cho sinh viên năm thứ 3 trở đi thay vì chỉ 01 lần duy nhất. Điều này có thể  
giúp sinh viên dần làm quen với môi trường của doanh nghiệp và có nhiều thời gian tiếp xúc  
với nhiều loại hình doanh nghiệp và nhiều quy mô doanh nghiệp khác nhau.  
Thứ tư, yếu tố Sự hỗ trợ từ nhà trường. NNC đề xuất nhà trường nên có biện pháp hỗ trợ  
sinh viên sắp xếp thời gian tham gia trải nghiệm sao cho hợp lý với thời khóa biểu học trên  
2581  
trường và phân bổ lực lượng giảng viên hướng dẫn một cách hợp lý để có thể hỗ trợ những  
thắc mắc của sinh viên.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh  
nghiệm đã biết và sự mong đợi (Parasuraman và ctg, 1988; Spreng và ctg, 1996).  
[2] Lý thuyết “Kỳ vọng – Xác nhận” được phát triển bởi Oliver (1980).  
[3] Theo Phạm Thị Liên (2016). Một số khái niệm thường được đề cập gồm: Chất lượng  
là sự phù hợp giữa các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật).  
[4] Green và cs (1993) đã đề cập đến năm khía cạnh của chất lượng giáo dục.  
[5] Công trình nghiên cứu về sự hài lòng của Giáo Sư Joseph A. Cote và trợ lý Giáo Sư  
Joan L. Giese được thực hiện tại Washington State University.  
[6] Nghiên cứu của Zeithaml và Bitner (2000) về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và  
sự hài lòng của khách hàng.  
[7] Nghiên cứu của Curry và Sinclair (2002) cũng chỉ ra mối quan hệ giữa chất lượng của  
sản phẩm/dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.  
[8] Bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng của sinh viên với điều kiện  
Cơ sở vật chất và Phục vụ của trường Đại học Lâm Nghiệp” TS. Nguyễn Thị Xuân  
Hương.  
[9] Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng là hai khái niệm phân biệt  
(Zeithaml & Bitner 2000)  
[10] Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng  
(Cronin và Taylor, 1992; Yavas et al, 1997; Ahmad và Kamal, 2002).  
[11] Nghiên cứu khác của nhóm tác giả Mussie T. Tessama, Kathryn Ready, Wei-choun  
(2012). Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chương trình  
học.  
[12] Tác giả Lutfi Atay và Haci Mehmet Yildirim, thuộc trường Đại học Canakkale Onsekiz  
Mart, thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến sự hài  
lòng của sinh viên ngành du lịch, (2009).  
[13] Nghiên cứu của tác giả Vũ Trí Toàn với đề tài: “Nghiên cứu về chất lượng đào tạo của  
khoa Kinh tế và Quản lý theo mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL”.  
[14] Nghiên cứu của tác giả Dương Tấn Tân, Đại học Đà Nẵng. “nghiên cứu các yếu tố ảnh  
hưởng đến sự hài lòng của SV tại trường đại học kinh tế Đà Nẵng”.  
[15] Nghiên cứu khác của Trần Xuân Kiên. “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên về chất  
lượng đào tạo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên.  
2582  
[16] Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã trình bày luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu các nhân tố  
ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên ngành Kế toán Kiểm toán, Trường Đại học  
Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.  
[17] Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự hài lòng đã được thực hiện như: Kotler  
(2000), Fornell (1995), Hansemark và Albinsson (2004), Joseph A. Cote và Joan L.  
Giese (2018) , Bachelet (1995), Oliver (1997), Zeithaml và Bitner (2000), Curry và  
Sinclair (2002).  
[18] Trang báo “Tại sao sinh viên nên đi thực tập” trích nguồn: https://jobsgo.vn/blog/tai-  
sao-sinh-vien-nen-di-thuc-tap/  
[19] Định nghĩa giá trị phân biệt của tác giả Steenkamp và cộng sự (1991).  
[20] Nunally & Burnstein 1994; dẫn theo Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, nghiên  
cứu khoa học trong quản trị kinh doanh, 2009.  
[21] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với  
SPSS, NXB. Thống kê.  
2583  
pdf 7 trang Thùy Anh 12280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên khi tham gia trải nghiệm học kỳ doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_tac_dong_den_su_hai_long_cua_sinh_vien_khi_tham.pdf