Định hướng phát triển cho lực lượng lao động Việt Nam trước sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CHO LỰC LƢỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM  
TRƢỚC SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
ThS. Hoàng Hải Yến  
ThS. Phạm Thị Thùy Dƣơng  
Khoa Kinh tế& QTKD, trƣờng Đại học Hải Phòng  
TÓM TẮT  
"Cách mạng Công nghiệp 4.0" đang diễn ra tại nhiều nước phát triển. Sự phát triển của  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự gia tăng về sự hoàn hảo trong sản xuất  
robot khiến ngành công nghiệp toàn cầu hướng về robot và tự động hóa là tương lai nhưng  
cũng là mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp. Nó mang đến cho nhân loại cơ hội để thay đổi  
bộ mặt các nền kinh tế, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường. Bên cạnh những cơ hội mới,  
cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt. Nguồn  
nhân lực sẽ là một trong những động lực chính trong các công ty sản xuất trong kỷ nguyên  
Công nghiệp 4.0 cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, phân tích dữ liệu và quản lý kinh tế. Cách  
tốt nhất để tiếp cận cuộc cách mạng 4,0 là bắt đầu từ những bước nhỏ, có thể là một chiến  
lược hoặc một dự án thí điểm từ lao động. Do đó, đầu tư vào nguồn nhân lực cần được coi là  
nhiệm vụ quan trọng nhất cho các nhà sản xuất trong nước. Lực lượng lao động của Việt Nam  
cần phải được đào tạo và bước vào kỷ nguyên Công nghiệp 4.0 ngay lập tức. Bài báo này  
phân tích những ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với nguồn nhân lực ở  
Việt Nam. Từ đó, chúng ta có thể tìm ra một số giải pháp để phát triển kỹ năng của người lao  
động Việt Nam cũng như lao động trên thế giới.  
Từ khóa: Nguồn nhân lực, cách mạng công nghiệp 4.0, việt nam, quản lý, sự phát  
triển  
1.  
MỞ ĐẦU  
Khi nói đến sự phát triển của xã hội người ta thường nói đến sự thay đổi lớn trên tất cả  
các mặt từ sản xuất, văn hóa, xã hội. Theo quan điểm triết học thì sự phát triển của lực lượng  
sản xuất sẽ dẫn đến sự thay đổi về quan hệ sản xuất và cuối cùng một phương thức sản xuất  
mới ra đời, mỗi một phương thức sản xuất ra đời nó làm thay đổi diện mạo của đời sống con  
người trong xã hội đó. Các cuộc cách mạng công nghiệp hay còn gọi là cuộc cách mạng trong  
lĩnh vực sản xuất là một trong điều kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đây điều kiện  
cần dẫn đến sự thay đổi diện mạo của xã hội trên tất cả các lĩnh vực.  
Điểm lại trong lịch sử nhân loại đã và đang trải qua 4 cuộc cuộc cách mạng công  
nghiệp. Trong thế kỷ 21 đã và đang diễn ra cuộc cách mạng lần thứ 4 tiếp sau những thành  
tựu lớn từ lần thứ 3 để lại, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với  
những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, IoT, S.M.A.C, công nghệ nano, sinh  
học, vật liệu mới... Hiện tại cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và  
là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới  
và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người.Trong cuốn sách của mình mang tên  
"Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư" Giáo sư Klaus Schwab, Người sáng lập và Chủ  
tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã mô tả cuộc cách mạng lầnthứ tư này khác biệt cơ  
bản với ba lần trước, đặc trưng chủ yếu là những tiến bộ trong công nghệ. Các công nghệ này  
có tiềm năng tiếp tục kết nối hàng tỷ người trên web, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh doanh  
và tổ chức, giúp tái tạo môi trường tự nhiên bằng cách quản lý tài sản tốt hơn.  
"Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư" là chủ đề của Hội nghị thường niên  
Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016 tại Davos-Klosters, Thụy Sĩ.  
"Cách mạng Công nghiệp 4.0" đang diễn ra tại nhiều nước phát triển. Nó mang đến  
cho nhân loại cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh tế. Hiện Cách mạng Công nghiệp 4.0  
đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một phần châu Á. Bên cạnh những cơ  
hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt.  
576  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Việt Nam là một nước đang phát triển thì cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 này có thực  
sự đặt cho chúng ta nhiều cơ hội hay không? Liệu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 liệu  
có tạo cho chúng ta có thể đi tắt đón đầu, hay đặt cho chúng ta quá nhiều thách thức phải đối  
mặt. Trong phạm vi bài báo, tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi sự tác động của cuộc cách  
mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển về nguồn nhân lực lao động tại Việt Nam.  
2.  
NỘI DUNG  
2.1. Những thách thức cho lao động Việt Nam trong cuộc cách mạng 4.0  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang diễn ra từ những năm 2000 gọi  
là cuộc cách mạng số, là xu hướng hiện thời trong việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong  
công nghệ sản xuất. Thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo  
(AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động,  
phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số. Công  
nghiệp 4.0 tạo ra những “nhà máy thông minh” (tiếng Anh: Smart factory). Trong các nhà  
máy thông minh với cấu trúc kiểu mô-đun, hệ thống thực-ảo giám sát các quy trình thực tế,  
tạo ra một bản sao ảo của thế giới thực và đưa ra các quyết định phân tán. Qua Internet Vạn  
Vật, các hệ thống thực-ảo giao tiếp và cộng tác với nhau và với con người trong thời gian  
thực, và với sự hỗ trợ của Internet Dịch vụ, dịch vụ nội hàm và dịch vụ xuyên tổ chức được  
cung cấp cho các bên tham gia chuỗi giá trị sử dụng.  
Sự thay đổi gần như hoàn toàn về công cụ lao động trong cuộc cách mạng 4.0, mà  
công cụ lao động là yếu tố động nhất, tiến bộ nhất trong tất cả các yếu tố của lực lượng sản  
xuất, số lượng sản phẩm sản xuẩt trong một đơn vị thời gian của một phương thức sản xuất là  
nhiều hay ít phụ thuộc rất lớn vào công cụ lao động hay với cách nói đầy đủ hơn đó là phụ  
thuộc vào công nghệ sản xuất. Vậy người lao động đóng vai trò như thế nào trong chuỗi sản  
xuất và các nhà máy “thông minh” này. Với sự ra đời của những cỗ máy thông minh, có thể  
thay phần lớn sức lao động của con người, công nghệ tự động hóa, truyền tải dữ liệu thông  
qua các bộ vi xử lý sẽ giúp đẩy nhanh quá trình truyền tải thông tin từ trung tâm đầu não đến  
bộ phận sản xuất. Vậy trong một số lĩnh vực đòi hỏi người lao động phải làm những công việc  
độc hại, nguy hiểm, gây ra các bệnh nghề nghiệp thì với cuộc cách mạng 4.0 đã có thể khắc  
phục được phần lớn những nhược điểm này. Điều khiển hệ thống sản xuất thông minh này  
vẫn là con người, vẫn là do con người xây dựng và mã hóa chúng, lúc đó trong các nhà máy  
không còn những công nhân chỉ tốt nghiệp hết cấp hai làm công việc giản đơn, thay vào đó là  
những kỹ sư công nghệ, kỹ sư điện tử. Thế hệ lao động trẻ Việt Nam cũng cần được đào tạo  
cho phù hợp, đầu tư cho chất xám, thế hệ lao động vàng ra đời với trình độ công nghệ cao, do  
đó có thể nói nó đem đến sự thay đổi toàn bộ về hệ thống giáo dục và đào tạo nghề ở Việt  
Nam.  
Nhìn lại về thế mạnh của lực lượng lao động Việt Nam tính cho đến thời điểm này có  
thực sự là điều mà cuộc cách mạng 4.0 cần hay không?  
Thứ nhất Theo Tổng cục Thống kê, dân số cả nước năm 2015 có khoảng 91,7 triệu  
người. Trong AEC thì dân số Việt Nam đứng thứ 3 (sau Indonesia, Philippines), mật độ dân  
số đạt 277 người/km2 (đứng thứ 3 sau Singapore, Philippines), với xu thế chuyển dịch cơ cấu  
kinh tế, cơ cấu dân số có xu hướng tăng lên ở khu vực thành thị.  
Tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ 15 tuổi trở lên quý 4/2016 là 76,82%, tăng 0,17  
điểm phần trăm so với quý 3/2016 nhưng giảm 2,02 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm  
trước.  
Quý 4/2016, LLLĐ từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo có bằng/chứng chỉ từ 3 tháng trở  
lên là 11,67 triệu, tăng 652 nghìn người (5,91%) so với quý 4/2015. Trong đó, tăng mạnh ở  
nhóm sơ cấp nghề (17,9%), tiếp đến là nhóm cao đẳng (5,83%), đại học và trên đại học (5%),  
trung cấp (0,08%).  
577  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Bảng 1. Quy mô và tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ 15 tuổi trở lên  
ĐVT: Triệu người  
Chỉ tiêu  
2014  
69,3  
2015  
2016  
1. Dân số từ 15 tuổi trở lên  
+ Theo giới tính  
- Nam  
69,57  
71,58  
33,56  
35,78  
33,78  
33,79  
34,81  
36,77  
- Nữ  
+ Theo vị trí địa lý  
- Thành Thị  
- Nông Thôn  
2.Lƣc lƣợng lao động  
+ Theo giới tính  
- Nam  
23,55  
45,79  
53,74  
24,05  
45,52  
54,59  
25,12  
46,46  
54,56  
27,56  
26,18  
77,5%  
28,11  
26,48  
78,5%  
26,16  
26,41  
- Nữ  
3.Tỷ lệ tham gia lao động  
76,22%  
Nguồn: TCTK (2014,2015, 2016), Điều tra LĐ-VL hằng quý.  
*Chỉ tính những người hiện đang làm việc tại Việt Nam, các số quý trước có điều  
chỉnh theo TCTK.  
Thứ haiThể lực và tầm vóc nhân lực Việt Nam tuy đã được cải thiện và nâng cao,  
nhưng so với một số nước trong khu vực, tầm vóc và thể hình của người Việt Nam thuộc vào  
loại trung bình thấp. Cụ thể là chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam là 164,2  
cm, nữ là 153,4 cm; so với chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới thấp hơn 11,5 cm đối với nam và  
12,1 cm đối với nữ.  
Thứ baTrong tham luận tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2015, TS. Bùi Sỹ Lợi, Phó  
chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội nhận định chất lượng lao động là thách  
thức lớn đối với Việt Nam. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân  
lực của Việt Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc  
gia được khảo sát tại Châu Á. Trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm;  
Malaysia đạt 5,59 điểm. Nguồn nhân lực nước ta yếu về chất lượng, thiếu năng động và sáng  
tạo, tác phong lao động công nghiệp...  
Hình 2. Cơ cấu lực lƣợng lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật  
Cơ cấu lao động  
2014  
2015  
2016  
Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật.  
- Kh ng có trình đ  kỹ thuật  
- Dạy nghề  
100%  
81,8  
4,9  
100%  
79,8  
3,1  
100  
78,7%  
3,6  
- Trung cấp  
3,7  
5,2  
5,2  
- C o Đẳng  
2,1  
3
3,2  
- Đại học và trên đại học  
7,5  
8,9  
9,3  
Nguồn: TCTK (2014,2015, 2016), Điều tra LĐ-VL hằng quý.  
Cũng bàn về vấn đề này, PGS. TS Nguyễn Thị Lan Hương, Viện Khoa học lao động  
và xã hội cũng cho rằng, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp và có khoảng  
cách khá lớn so với các nước trong khu vực. Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực chỉ đạt 3,39  
trên 10 điểm, cho thấy Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật  
578  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
bậc cao. Trong tổng số hơn 53,4 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc, chỉ có khoảng  
49% qua đào tạo, trong đó qua đào tạo nghề từ 3 tháng trở lên chỉ chiếm khoảng 19%.  
Thứ n m năng suất lao động của Việt Nam trong mấy năm gần đây tuy vẫn tăng  
nhưng vẫn rất thấp. Số liệu công bố cuối năm ngoái của Tổng cục Thống kê cho biết, năng  
suất lao động xã hội năm 2016 theo giá hiện hành của toàn nền kinh tế ước tính đạt 84 triệu  
đồng một người tăng 5,3% sơ với năm 2015. Tuy nhiên, hiện nay năng suất lao động Việt  
Nam chỉ bằng một phần mười tám năng suất lao động của Singapore, bằng một phần sáu của  
Malaysia, bằng một phần ba của Thái Lan và Trung Quốc.  
Bảng 3. Một số chỉ tiêu kinh tế và thị trƣờng lao động chủ yếu  
N m  
2014  
N m  
2015  
N m  
2016  
Chỉ tiêu  
32,6*  
33,0  
1. Vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP (%)  
2. Chỉ số giá tiêu dùng (% so với cùng kỳ năm trước)  
3. Lực lượng lao động (triệu người)  
31.5  
0,58  
0,63*  
54,59  
78,84  
20,20  
53,50  
2,66*  
54,56  
76,82  
21,39  
53,41  
53,74  
77,5  
4. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (%)  
5. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng/chứng chỉ (%)  
6. Số người có việc làm (triệu người)  
18,2  
52,75  
7. Tỷ lệ lao động làm công hưởng lương trên tổng số người  
có việc làm (%)  
39,7  
40,98  
41,62  
8. Tỷ lệ việc làm trong ngành nông, lâm - thuỷ sản trên tổng  
việc làm (%)  
42,30  
4,66  
41,54  
5,08  
21,3  
4,39  
9. Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng  
lương (triệu đồng)  
10. Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động (nghìn  
người)  
1051,6  
1110,0  
986,3  
2,05  
11. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động (%)  
12. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị (%)  
13. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15 - 24 tuổi) (%)  
2,18  
3,15  
7,21  
2,31  
3,24  
7,38  
10,43  
7,01  
Nguồn: TCTK(2014,2015, 2016), Số liệu thống kê và Số liệu Điều tra Lao động - Việc  
làm hằng quý.  
TCTK (2016), Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016.  
Nhìn vào thực trạng lao động Việt Nam trong những năm qua mặc dù có rất nhiều  
điểm sáng nhưng chỉ là những tiến bộ so với năm trước đây, nhưng khi ta đem những con số  
này so với các nước trong khu vực, gần nhất là trong khối ASEAN thì mới thấy lực lượng lao  
động Việt Nam còn quá nhiều yếu kém. Đứng trước thời kỳ hội nhập quốc tế về kinh tế trong  
đó bao gồm cả hội nhập về lao động thì có thể nói, lực lượng lao động Việt Nam đang đứng  
trước một thách thức quá lớn, chúng ta chỉ thực sự mạnh về số lượng lao động do cơ cấu dân  
số đang ở độ tuổi vàng chiếm ty trọng mới, nhưng theo thống kê gần đây nhất trong khoảng  
30 năm tới dân số nước ta sẽ rơi vào cơ cấu dân số già giống như Nhật Bản bây giờ. Đây mới  
chỉ là thách thức đối với lực lượng lao động Việt Nam trước thời kỳ hội nhập quốc tế, còn nếu  
đặt trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì sẽ như thế nào khi nền công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra  
những thay đổi lớn về cung - cầu lao động trên thế giới. Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra  
579  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
vào năm 2016 tại Thụy Sĩ, các nhà kinh tế và khoa học đã cảnh báo, trong cuộc Cách mạng  
công nghiệp 4.0, thị trường lao động sẽ bị thách thức nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động  
cũng như cơ cấu lao động. Nền kinh tế với trình độ tự động hóa cao và có tính sáng tạo, đòi  
hỏi người lao động phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất nếu không sẽ bị dư  
thừa, bị thất nghiệp.  
Trong một số lĩnh vực, theo dự báo, với sự xuất hiện của Robot, số lượng nhân viên  
cần thiết sẽ chỉ còn 1/10 so với hiện nay. Như vậy, 9/10 nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề  
hoặc thất nghiệp. Một dự báo của Anh cho thấy, thị trường lao động của Mỹ và Anh sẽ có  
khoảng 95 triệu lao động truyền thống bị mất việc trong vòng 10-20 năm tới, tương đương  
50% lực lượng lao động tại hai nước này và ở các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam chắc  
cũng sẽ có tình trạng tương tự.  
Tại khu vực ASEAN, việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) giúp thị  
trường lao động trong nội khối sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành  
viên. Tuy nhiên, do trình độ phát triển không đồng đều, nên hiện nay, lao động có tay nghề và  
kỹ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Singapore, Malaysia và  
Thái Lan.  
Còn lại, hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kỹ  
năng thấp hoặc không có kỹ năng. Khảo sát của tổ chức Lao động Quốc tế tại 10 quốc gia  
ASEAN cho thấy, DN trong khối ASEAN hiện đang rất lo ngại về tình hình thiếu hụt lực  
lượng lao động có tay nghề và kỹ năng trước sự ra đời của AEC.  
Vậy điểm mạnh của chúng ta là lực lượng lao động dồi dào, trẻ, khỏe chỉ là ưu thế  
trong thời điểm mà các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp sử dụng nhiều lao động sống,  
nhưng nó chỉ phù hợp khi đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, còn nếu muốn hiện  
đại hóa đất nước, muốn hòa nhập quốc tế, và ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 thì đây là một vấn đề khá nan giản đối với lực lượng lao động nước ta.  
Thứ sáu Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2005-2015, mặc dù lao  
động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp có giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất. Cụ  
thể, nông nghiệp giảm từ 55,09% năm 2005, xuống 45,19% năm 2015; lần lượt công nghiệp  
tăng từ 17,59 lên 21,78%; dịch vụ tăng từ 27,32% lên 33,03%. Cơ cấu này phản ánh cấu trúc  
“nông nghiệp” của nền kinh tế Việt Nam.  
Theo tổng cục thống kê về cơ cấu lao động theo ngành nghề đến quý 4/2016 thì lĩnh  
vực sản xuất công nghiệp và xây dựng mới chỉ có 25,05%, Lao động của các doanh nghiệp  
công nghiệp tại thời điểm 01/12/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương  
có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 13,9%; Bắc Ninh tăng 8,1%; Bình Dương  
tăng 7,9%; Vĩnh Phúc tăng 6,6%; Đồng Nai tăng 4,1%; Đà Nẵng tăng 3,1%; Hải Dương tăng  
2,2%; Hà Nội tăng 1,5%; Quảng Nam tăng 1,1%; Cần Thơ tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh  
tăng 0,3%; Thái Nguyên tăng 0,2%; Quảng Ninh giảm 1,9%.  
Nhìn chung, tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2016 chủ yếu dựa vào ngành chế biến,  
chế tạo với mức tăng khá cao; tình hình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, tồn kho ở mức thấp nhất  
trong nhiều năm vừa qua. Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp nước ta vẫn chủ yếu về bề rộng  
(tăng số doanh nghiệp, tăng vốn đầu tư và thu hút lao động), trong khi năng suất, chất lượng,  
hiệu quả và sức cạnh tranh còn hạn chế. Thực tế trong tỷ lệ này chủ yếu là các ngành công  
nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng thì chủ yếu là các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên,  
trong khi đó ngành công nghiệp kỹ thuật cao chiếm tỷ trọng rất thấp. Hiện nay trên cả nước  
mới chỉ có hai khu công nghiệp kỹ thuật cao là khu công nghiệp Hòa Lạc và khu công nghiệp  
mapletre tại Bình Dương.  
580  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Bảng 4. Số lƣợng v  cơ cấu việc làm theo ngành nghề và vị thế việc làm  
Cơ cấu lao động (%)  
2014  
2015  
2016  
100%  
48,4  
21,3  
30,3  
100%  
2,1  
100%  
42,3  
24,3  
100%  
41,54  
25,05  
33,41  
100%  
2,82  
1. Theo ngành nghề kinh tế  
- Nông Lâm Thủy sản  
- Công nghiệp - xây dựng  
- Dịch vụ  
33,4  
100%  
2,87  
2. Ví thế công việc  
- chủ cơ sở  
40,8  
21,4  
35,6  
0
40,01  
16,11  
40,98  
0,03  
39,28  
16,2  
41,62  
0,08  
- Tự làm  
- Lao động gia đình  
- LĐLCHL  
- XVHTX  
Nguồn: TCTK (2014,2015, 2016), Số liệu thống kê và Số liệu Điều tra Lao động - Việc  
làm hằng quý.  
TCTK (2016), Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016.  
Trong bảng cơ cấu và vị trí việc làm chúng ta cũng có thể thấy với cơ cấu hiện tại thì  
khó có thể phù hợp với cơ cấu các ngành trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà  
ngành công nghiệp kỹ thuật cao là cốt lõi như công nghệ sinh học và dược phẩm, công nghệ  
vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu...trong đó có 3 lĩnh vực cốt lõi là công nghệ  
sinh học, kỹ thuật số và vật lý.  
Giai đoạn đầu tiên sẽ là thách thức với những lao động văn phòng, trí thức, lao động  
kỹ thuật. Giai đoạn tiếp theo sẽ là lao động giá rẻ, có thể sẽ chậm hơn. Với sự chuyển động  
của cuộc cách mạng này, trong khoảng 15 năm tới thế giới sẽ có diện mạo mới, đòi hỏi các  
doanh nghiệp thay đổi. Tại sao giai đoạn đầu là thách thức với lao động trí thức, vì đây là đối  
tượng tác động đầu tiên tác động chính đến công việc hàng ngày của họ, khi thời đại kỹ thuật  
số ra đời người lao đông không đáp ứng được yêu cầu công việc sẽ bị thay thế, hoặc tụt hậu.  
Còn ở giai đoạn sau, khi mà sự ra đời của thế hệ nhà máy thông minh sẽ thay thế dần sức lao  
động của con người thì lúc này lực lượng lao động sẽ đối mặt với nguy cơ thất nghiệp, cạnh  
tranh việc làm ngày càng gay gắt, giá cả sức lao động sống sẽ giảm sút. Đối với các nước mà  
có những yếu tố ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ, dồi dào, giá nhân công thấp..,  
trong đó có Việt Nam đã, đang và sẽ không còn là thế mạnh nữa, mà thậm chí còn bị ảnh  
hưởng nghiêm trọng tới nữa. Trong tương lai, thế giới cũng như Việt Nam nói riêng sẽ phải  
đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp vô cùng lớn, người lao động sẽ bị mất việc làm bởi những lĩnh  
vực mà công nghệ robot có thể tác động tới trải dài từ dệt may, dịch vụ, giải trí cho đến y tế,  
giao thông, giáo dục. Hay nói cách khác là máy móc, robot sẽ thay thế hoàn toàn con người.  
Điều đó càng cho thấy rằng, đây không phải câu chuyện của tương lai mà là vấn đề  
của hiện tại. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và đang tác  
động lên nhiều lĩnh vực, quan trọng là mỗi nước, mỗi cá nhân cần nhận thức được điều này.  
2.2. Một số định hƣớng phát triển lực lƣợng lao động Việt Nam trƣớc cuộc cách  
mạng công nghiệp 4.0  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) được đánh giá đem lại cơ hội  
lớn cho nước ta, khi lần đầu được tham gia một “sân chơi” không biên giới, không khoảng  
cách, sau ba lần lỡ nhịp các cuộc CMCN về cơ khí, điện khí hóa và tự động hóa trước đó.  
Nếu không chớp được cơ hội vàng này, dự báo những nguy cơ, thách thức mà chúng ta phải  
đối mặt sẽ hết sức khốc liệt.  
Với lực lượng lao động Việt Nam ưu thế đông về số lượng, nhưng lại hạn chế về  
581  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
chất lượng lao động, chúng ta cần có định hướng phát triển ngay từ bây giờ khi mà làn sóng  
cuộc cách mạng 4.0 chưa thực sự bùng nổ, chúng ta vẫn còn thời gian chuẩn bị cho một  
bước “nhảy” về chất đối với hệ thống sản xuất toàn cầu.Trong phạm vi bài báo tác giả đưa ra  
một số định hướng phát triển cho lực lượng lao động Việt Nam trong thời gian tới như sau:  
* Đối với lực lƣợng lao động trí thức  
2.2.1 Phát triển định hƣớng đ o tạo nghề theo hƣớng tập trung v o một số  
ng nh công nghệ then chốt.  
Các ngành công nghệ then chốt sẽ chiếm chủ đạo trong cơ cấu ngành kinh tế quốc  
dân khi mà làn sóng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ, như công nghệ thông tin,  
công nghệ sinh học, điện toán đám mây, vật lý......điều này đặt ra một thách thức rất lớn đối  
với lao động tri thức ở các nước có trình độ lao động thấp như ở Việt Nam. Hiện tại lực  
lượng lao động tri thức ở nước ta tập trung vào một số ngành chủ yếu như ngân hàng, quản  
trị kinh doanh, Marketing..... xu hướng các năm gần đây lao động được đào tạo trong các  
ngành kỹ thuật, cơ khí, tự động hóa, công nghệ thông tin.. có xu hướng giảm rõ rệt. Nguyên  
nhân chủ yếu do hầu hết lực lượng lao động trong ngành này ra trường thường khó xin việc,  
do các công ty về công nghệ thông tin còn ít ở Việt Nam, đặc biệt là do chất lượng đào tạo  
sinh viên trong ngành này hầu hết không đáp ứng được yêu cầu công việc, các doanh nghiệp  
không mặn mà trong việc tuyển dụng.  
Do đó cần có chính sách về chỉ tiêu các ngành nghề phù hợp với thực tiễn nhu cầu  
lao động trong tương lai. Tránh đào tạo tràn lan các ngành nghề, dẫn đến hiện tượng ngành  
thừa thì vẫn thừa, ngành thiếu vẫn thiếu. Có thể có nhiều giải pháp mới như không quy định  
chỉ tiêu đào tạo mà để đầu ra quyết định; thay đổi cơ chế về giảng viên, thỉnh giảng để tạo  
điều kiện cho các kỹ sư cùng tham gia giảng dạy, nhất là về thực hành; tạo liên kết chặt chẽ  
giữa DN và nhà trường, DN có thể đặt hàng nhân lực với cơ sở đào tạo theo mong muốn,  
đồng thời tham gia vào quá trình biên soạn giáo án và xây dựng chuẩn đầu ra nhằm tăng  
cường chất lượng đào tạo sát với yêu cầu của thị trường;...  
2.2.2 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong các trƣờng đại học nói  
riêng, v  các chƣơng trình nghiên cứu sáng chế, các phát minh đổi mới phƣơng pháp  
sản xuất.  
Đây là một mảnh đất màu mỡ mang lại những dự án kinh doanh thành công trong  
thời đại công nghệ số khi mà các sản phẩm được ra đời và đổi mới không ngừng, các  
chương trình nghiên cứu khoa học cho phép ứng dụng những thành tựu công nghệ mới nhất  
vào trong sản xuất. Vậy làm thế nào để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học?  
Thứ nhất: Đẩy mạnh sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các trung tâm ứng dụng  
khoa học công nghệ, các trường đại học vì các dự án nghiên cứu khoa học trong sinh viên  
cũng là rất lớn, do đó cần đầu tư “vốn” cho các chương trình khởi nghiệp này dưới các hình  
thức trao giải thưởng, mua bản quyền phát minh sáng chế, các chương trình học bổng, cơ hội  
việc làm.....  
Thứ hai: Phát triển các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp là nơi hỗ trợ vốn, kiến thức,  
chia sẻ kinh nghiệm cho những doanh nghiệp muốn khởi nghiệp từ những dự án nghiên cứu  
khoa học.  
2.2.3 Có chính sách thu hút nhân t i, nuôi dƣỡng lực lƣợng khoa học tinh hoa,  
gắn họ với mục tiêu phát triển của đất nƣớc.  
Hiện nay nước ta đang xảy ra tình trạng “chảy máu” chất xám, khi mà những lực  
lượng nghiên cứu khoa học sau khi tu nghiệp ở nước ngoài không muốn trở về quê hương  
đóp góp cho sự phát triển của đất nước. Chúng ta hãy quan đưa là một lý do biện hộ cho  
rằng họ là người không yêu nước, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận vào sự thật rằng chính  
sách thu hút nhân tài của đất nước chưa thực sự tạo được sức hút với đội ngũ khoa học. Khi  
mà các ngành công nghệ lượng tử, vật lý là một trong ngành cốt lõi của cuộc cách mạng 4.0.  
Vậy cần tạo ra một sợi dây liên kết với đội ngũ khoa học tinh hoa này thông qua việc bố trí  
582  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
việc làm phù hợp, đẩy mạnh chuyển giao nghiên cứu khoa học với các trung tâm nghiên cứu  
trên thế giới, xây dựng cơ sở kỹ thuật hiện đại, và có một chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với  
nhân tài.  
* Đối với lực lƣợng lao động phổ thông  
Đây là lực lượng lao chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động của Việt Nam, hiện  
nay lực lượng lao động này chủ yếu tập trung trong các ngành nghề như giày da, may mặc,  
hoặc một số ngành công nghiệp nặng..Để đáp ứng được yêu cầu về lao động trong thời gian  
tới cần  
2.2.4 Phát triển các chƣơng trình đ o tạo về công nghệ, nâng cao ý thức v  v n  
hóa l m việc cho đội ngũ lao động.  
Không chỉ có lao động quản lý cần nâng cao năng lực công nghệ, quản lý mà đối  
với lao động phổ thông, các công nhân trong các nhà máy cũng cần nâng cao trình độ sử  
dụng máy móc thiết bị, các thiết bị tự động, tham gia vào chuỗi sản xuất. Vì trong tương lai  
không xa, hàng tỷ thiết bị như điện thoại thông minh, máy tính bảng, ô-tô, máy móc, vật  
dụng trong gia đình,... sẽ được kết nối đồng bộ với nhau, cho phép giám sát và tối ưu hóa tài  
sản cũng như các hoạt động ở mức rất chi tiết. Điều này sẽ làm thay đổi hoàn toàn cách thức  
mà chúng ta đang quản lý chuỗi cung ứng, từ đó tác động làm biến đổi tất cả các ngành công  
nghiệp, từ sản xuất đến cơ sở hạ tầng và chăm sóc sức khỏe,..  
Không chỉ nâng cao về năng lực công nghệ, về văn hóa doanh nghiệp cũng cần  
được xây dựng và phát triển, tạo thành một hệ thống giá trị làm kim chỉ nam cho định hướng  
hành động của lao động. Có thể nói là một yếu tố vô cùng quan trọng tạo ra một môi trường  
làm việc lành mạnh, tạo động lực trong việc học tập, hăng say sáng tạo trong lao động. Xây  
dựng một công đồng văn hóa doanh nghiệp mà đó người lao động có thể giao lưu, học hỏi  
về công việc, về đời sống tinh thần.  
2.2.5 Đẩy mạnh các chƣơng trình khởi nghiệp “l m gi u từ mảnh đất quê  
hƣơng”.  
Một thực tế đáng buồn là rất ít học sinh đăng ký vào khối ngành nông nghiệp, phần  
lớn do tâm lý chọn nghề trong xã hội, làm nông nghiệp thì vất vả không được đánh giá cao  
trong xã hội, không xin được việc làm..... Trong tương lai lao động thế giới sẽ phải đối mặt  
với thất nghiệp, vậy tại sao khi mà những mảnh đất quê hương nơi chúng ta đang sinh sống  
lại không là lựa chọn để chúng ta khởi nghiệp.  
Vấn đề ở chỗ phần lớn ngưới nông dân đều thiếu ý chí lập nghiệp, sợ thất bại, không  
am hiểu kỹ thuật, không nghiên cứu thị trường.... nên phần lớn họ bán ruộng, bán đất và trở  
thành người công nhân. Nhưng tương lai nhưng người công nhân xuất thân từ nông dân này  
sẽ đứng trước nguy cơ mất việc đầu tiên.  
Tuy nhiên trước sự phát triển của công nghệ sinh học, muốn làm giàu từ nông  
nghiệp đòi hỏi người nông dân cần gắn phát triển nông nghiệp với những tiến bộ từ công  
nghệ. Một số định hướng như: Các viện nghiên cứu đẩy mạnh chuyển giao công nghệ mới  
dưới dạng các chương trình hỗ trợ cho người nông dân, bán bản quyền công nghệ với giá  
thấp, nhà nước có chính sách hỗ trợ miễn phí đào tạo về công nghệ cho người nông dân.  
Hiện tại đã có nhiều doanh nhân thành công trong lĩnh vực nông nghiệp khi họ áp  
dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Anh Trần Quang Khải ở Thôn Tân  
Thái- Xã Hiền Ninh - Huyện Sóc Sơn- TP Hà Nội đã phát triển dự an trồng nấm bằng oxy  
sạch, hàng tháng lượng hàng sản xuất của anh là 5-6 tấn/ha. Không chỉ vậy anh còn biến hơn  
3000 m2 đất đầy hố bom, mìn bị bỏ hoang sau chiến tranh thành trang trại trồng nấm áp  
dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Hay thành công từ mô hình trồng rau “ 5 không của  
chàng trai vùng biển Nguyễn Hữu Đạo, được GS Nguyễn Lân Dũng cố vấn kỹ thuật, với sản  
phẩm không dùng phân bón hóa học, không sử dụng thuốc trừ sâu độc hại, không có chất  
biến đổi gen, không chất kích thích sinh trưởng và không sử dụng thuốc diệt cỏ nên thân  
thiện với môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.  
583  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Hiện nay một số công nghệ trong sản xuất nông nghiệp tiên tiến cũng đang được  
ứng dụng tạo ra hướng đi cho những con người yêu mảnh đất quê hương và muốn làm giàu  
từ mảnh đất quê hương. Ở nhiều nước trên thế giới, công nghệ khí canh được xem là một  
bước tiến trong nông nghiệp, mở ra một hướng đi mới cho công tác trồng trọt, đáp ứng một  
phần nhu cầu cấp bách hiện nay về rau sạch cũng như diện tích đất canh tác bị thu hẹp hoặc  
ô nhiễm. Tại Việt Nam, mô hình tạo ra giống khoai tây chất lượng cao trong môi trường khí  
canh của các nhà khoa học thuộc Viện Sinh học Nông nghiệp Việt Nam do GS. Nguyễn  
Quang Thạch làm chủ nhiệm đã thành công. Trong khi công trình này đang dừng lại ở “mô  
hình” thì một số sản phẩm rau được trồng khí canh đã có mặt tại bữa ăn của nhiều hộ gia  
đình.“Với diện tích hiện tại 200m2, mỗi ngày có thể cung ứng cho thị trường được khoảng  
100kg rau; so sánh về tốc độ phát triển thời gian sẽ nhanh hơn 30% và với tốc độ tăng  
trưởng nhanh, mình có thể tăng được chu kỳ sản xuất và diện tích có thể trồng cao gấp 3,3  
lần. Hay nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính Tại Việt Nam, có nhiều mô hình nuôi tôm  
khác nhau như nuôi quản canh có mật độ 3 – 6 con/m2, bán thâm canh mật độ cao hơn có  
thể từ 70 – 100 con/m2. Còn mô hình nuôi siêu thâm canh sẽ có mật độ 300 – 500 con/m2.  
Khu nuôi siêu thâm canh được ứng dụng những công nghệ cao như công nghệ nhà màng  
Israel, công nghệ lọc nước tuần hoàn theo chu kỳ của Đức và Mỹ, công nghệ vi sinh…”  
3. KẾT LUẬN  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và đang tác  
động lên nhiều lĩnh vực, quan trọng là mỗi nước, mỗi doanh nghiệp và mỗi cá nhân cần  
nhận thức được điều này. Thực tế, với trình độ sản xuất cũng như hiệu sút làm việc kém như  
hiện nay, Việt nam sẽ bị lạc hậu so với các nước khác trong làn sóng 4.0 này bởi sự thiếu hụt  
về nhận thức, nhu cầu, kĩ năng, cơ sở hạ tầng, tài chính.Nếu như ở các cuộc cách mạng  
công nghiệp lần 2 và 3, Việt Nam dựa vào lợi thế là có nguồn nhân công giá rẻ, lực lượng  
dân số đang trong độ tuổi lao động chiếm phần đông để cạnh tranh với các nước khác và thu  
hút đầu tư thì trong cuộc cách mạng 4.0 này nó sẽ trở thành gánh nặng cho cả nước. Thực tế  
ngày càng nhiều nhà đầu tư, đặc biệt với nhưng dự án sử dụng công nghệ cao thì họ đang  
tìm kiếm những lao động Việt Nam có chất lượng, người sẽ là chìa khóa để giúp họ phát  
triển thị trường. Việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao đã trở thành vấn đề lớn khiến  
cho các nhà đầu tư do dự khi mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Mức độ ảnh hưởng của Cách  
mạng 4.0 trong thị trường lao động còn phụ thuộc vào sự chuẩn bị cũng như đào tạo một  
cách bài bản. Do đó, trong quản lý nguồn nhân lực, chúng ta cần tập trung vào đầu tư cá  
nhân, nâng cao đào tạo, phát triển kĩ năng làm việc, học hỏi kinh nghiệm để tạo ra môi  
trường kinh doanh và sản xuất mới phù hợp cho làn sóng 4.0.  
THE ORIENTATION OF DEVELOPMENT FOR THE WORKFORCE IN  
VIETNAM TOWARD THE IMPACTS OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Abtract:  
The 4th industrial revolution, coming after the earlier waves of mechanisation of  
production using steam power, mass production powered by electric motors and digital  
revolution with electronics and IT used to further automate production. The development of  
the fourth industrial revolution (Industry 4.0) along with increasing perfection in robotics  
production driving global industry towards robotics and automation, is the future but also a  
concern for many enterprises.  
Human resources will be one of key drivers in manufacturing companies in Industry  
4.0 era along with Government support, data analytics and economic management. The best  
way to approach the 4.0 revolution is to do it in small steps, starting with a strategy or a pilot  
projectfrom labor. Therefore, investing in human resources should be considered as the most  
important task for local manufacturers. Viet Nam‟s workforces have to learn and step into  
the Industry 4.0 era immediately.  
584  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
This article analysed the effects of Industrial reolution 4.0 towards human resources  
in Viet Nam. Then, we may figure out some solutions to develope Vietnamese worker‟s  
skills as well as labor in the world.  
Keywords: human resources, Vietnam, industrial revolution 4.0, management,  
development  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.Tổng cục thống kê Việt Nam  
TCTK (2015, 2016), Số liệu thống kê và Số liệu Điều tra Lao động - Việc làm hằng  
quý.  
TCTK (2016), Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016.  
585  
pdf 10 trang Thùy Anh 20340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Định hướng phát triển cho lực lượng lao động Việt Nam trước sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdinh_huong_phat_trien_cho_luc_luong_lao_dong_viet_nam_truoc.pdf