Ảnh hưởng của vị trí địa lý tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam

ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA  
THUỘC LĨNH VỰC CHẾ BIẾN THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG TẠI VIỆT NAM  
1
2
Phan Hồng Mai*, Trần Thanh Hải**  
TÓM TẮT: Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy Tobit để kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố thuộc  
về vị trí địa lý tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thuộc lĩnh vực chế biến thực  
phẩm, đồ uống tại Việt Nam. Trong đó, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo bằng phương pháp  
phân tích đường bao dữ liệu (DEA). Kết quả cho thấy điểm hiệu quả hoạt động của các DNNVV thuộc lĩnh  
vực chế biến thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam hiện tại không cao (trung bình đạt 65%), nhưng có thể thay  
đổi tích cực nếu cơ sở hạ tầng vận tải đường bộ trong nước tiếp tục được hoàn thiện.  
Từ khóa: DNNVV chế biến thực phẩm; đồ uống; hiệu quả hoạt động; vị trí địa lý.  
1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU  
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1/1/2017, số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa  
(DNNVV) đã tăng đáng kể so với năm 2012 nhưng quy mô doanh nghiệp (DN) lại nhỏ dần (Lệ Trần,  
2018). Cùng với đó, CIEM cho rằng điều kiện môi trường hạn chế đã dẫn đến việc DNNVV sử dụng  
nguồn lực không hiệu quả (Nguyễn Hương, 2016). Tại Việt Nam, ngành thực phẩm, đồ uống là ngành  
kinh tế quan trọng, đóng góp đến 15% giá trị GDP hàng năm (Minh Hải, 2018). Tính đến cuối năm  
2016, cả nước có 8414 DNNVV kinh doanh trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống (chiếm 1,93%  
tổng số DNNVV của cả nước). Với mức tăng trưởng kỳ vọng 10,9%/năm cho đến năm 2020 của ngành  
thực phẩm, đồ uống (Hiếu Minh, 2018), số lượng DNNVV trong lĩnh vực này dự kiến tiếp tục gia tăng.  
Tuy vậy, với quy mô và năng lực quản trị hạn chế, khả năng tiếp cận vốn khó khăn, DNNVV có “vị thế yếu”  
ngay tại thị trường trong nước, cá biệt, một số thương hiệu lớn đã bị mua lại bởi DN nước ngoài. Điều này đặt  
ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu thực nghiệm để đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNVV đồng thời tìm  
kiếm những nhân tố làm thay đổi hiệu quả hoạt động của nhóm DN này.  
Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của  
DNNVV, tập trung chính vào khả năng tiếp cận vốn (Michaelas và cộng sự, 1999), năng lực quản lý  
(Ghobadian và Gallear, 1996), marketing và khởi sự doanh nghiệp (Cromie và cộng sự, 1995), hợp tác  
nghiên cứu và phát triển (Narula, 2004), đổi mới sáng tạo (Van de Vrande và cộng sự, 2009)… Chỉ có một  
số ít nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của vị trí địa lý (nơi đặt cơ sở sản xuất kinh doanh) tới hiệu quả hoạt  
động của DNNVV (như Decarrolis và Deeds, 1999). Tại Việt Nam, đa phần các nghiên cứu triển khai theo  
những hướng chính, phổ biến đã nêu trên (Nguyễn Trung Thành, 2017; Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn  
Nam, 2011; Phạm Thu Hương, 2017; Phan Hồng Mai và Nguyễn Thanh Lan, 2016), yếu tố vị trí địa lý gần  
như không được xem xét tới. Trong khi đó, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đang được xác định  
*
Đại học Kinh tế Quốc dân,số 207 Đường Giải Phóng, Hà Nội, Việt Nam.  
** Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Phường Tân Thịnh, TP. Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Tác giả nhận phản  
hồi: Phan Hồng Mai. E-mail address: [email protected]  
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION  
943  
là một nhiệm vụ trọng tâm để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, vượt qua bẫy thu nhập  
trung bình. Quá trình đó được kỳ vọng sẽ lan tỏa tác dụng tích cực, thúc đẩy cộng đồng DN phát triển. Vì  
vậy, bài viết này được thực hiện nhằm làm sâu sắc hơn chủ đề nghiên cứu bằng việc trả lời câu hỏi: (1) Hiệu  
quả hoạt động của DNNVV thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam hiện tại như thế nào?  
và (2) Yếu tố vị trí địa lý ảnh hưởng ra sao tới hiệu quả hoạt động của nhóm DN này?  
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
2.1 Hiệu quả hoat đông của doanh nghiệp  
Theo Farrell (1957), hiệu quả hoạt động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn  
lực (các yếu tố sản xuất như vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,…) để đạt được mục  
tiêu xác định. Một trong các phương pháp được áp dụng rộng rãi để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh  
nghiệp là phân tích đường bao dữ liệu – DEA của chính Farrell (1957). Kỹ thuật phân tích đường bao dữ  
liệu được tính toán bằng cách sử dụng phương pháp tuyến tính mà không đòi hỏi một phương trình cụ thể  
mô tả mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào trong việc xây dựng đường biên hiệu quả. Tuy vậy, giả thiết của  
phương pháp này là không tồn tại các sai số ngẫu nhiên trong dữ liệu nghiên cứu và chỉ cho phép đánh giá  
hiệu quả tương đối giữa các DN trong mẫu với nhau. Mức độ hiệu quả của các doanh nghiệp được xác định  
bởi vị trí của nó so với đường giới hạn hiệu quả trong một không gian đa chiều của đầu vào/đầu ra. Điểm  
hiệu quả của mỗi doanh nghiệp – mỗi đơn vị tạo quyết định DMU - nằm trong khoảng (0,1).  
Năm 1984, Banker và cộng sự (1984) giới thiệu một mô hình DEA mới tên là Mô hình BCC (Banker,  
Charnes và Cooper – 1984) với giả thiết là hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS). Mô hình này phù hợp nghiên  
cứu các doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường chịu sự quản lý tương đối chặt chẽ của nhà nước, gặp những  
điều kiện hạn chế về tài chính, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo…Phương trình được viết dưới dạng:  
Min(  
Với điều kiện:  
Rõ hơn, λ = (λ1, λ2,…, λn),  
là tỷ lệ hiệu quả DMUj. S+và s- là vector của các biến ẩn còn  
,
) =  
à
là vector trọng số được đưa ra cho các DMUs.  
là một vector đơn vị hàng  
. DMUj được đánh giá là hiệu quả khi có những điều kiện này được đáp ứng: tối ưu hóa  
giá trị θ * j bằng 1 và tối đa hóa giá trị của các biến bổ sung bằng 0.Minh họa bằng đồ thị (hình 1.1), điểm  
hiệu quả hoạt động của A (VRSTEA) được tính bằng tỷ số giữa q2/q1.  
.
Hình 1. Mô hình VRSTE  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUỐC GIA  
944  
Dựa vào đặc điểm của hệ thống sản xuất, DEA lại được phân ra thành hai loại mô hình là tối thiểu hóa  
đầu vào, với giả định đầu ra không đổi và mô hình tối đa hóa đầu ra, với giả định đầu vào không đổi. Bài  
nghiên cứu này chỉ tập trung vào mô hình tối thiểu hóa đầu vào. Với 2 đầu vào là x1, x2 và một đầu ra là y,  
các doanh nghiệp A, B, C và D nằm trên đường giới hạn hiệu quả SS’là các doanh nghiệp đạt hiệu quả (xem  
hình 1.2). Mức độ phi hiệu quả hoạt động được phản ánh bằng khoảng cách từ B đến P. Tỷ lệ TE= OB/OP  
thể hiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp P, nghĩa là có thể giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp P  
mà không làm ảnh hưởng đến đầu ra.  
Hình 2. Mô hình DEA tối thiểu hóa đầu vào  
Các mục đánh số thứ tự như trên file này.  
2.2 Ảnh hưởng của vị trí địa lý tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp  
Tuy không được đề cập nhiều song trên thế giới, một số tác giả đã phát hiện ra mối liên hệ có ý nghĩa  
thống kê giữa vị trí địa lý tới kết quả kinh doanh của DN. Decarrolis và Deeds (1999) chứng minh vị trí đặt  
cơ sở sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa thống kê (với p < 0.05) và ảnh hưởng rất đáng kể đến hiệu quả hoạt  
động của 98 DN ngành công nghệ sinh học ở Mỹ. Cụ thể, một DN được đặt tại nơi tập trung nhiều DN công  
nghệ sinh học ở xung quanh thì có hiệu quả hoạt động cao hơn đáng kể so với các doanh nghiệp nằm ngoài  
khu vực này. Từ đó, các tác giả đánh giá vị trí địa lý có ý nghĩa quan trọng như một lợi thế cạnh tranh đối  
với hoạt động của DN. Trong một nghiên cứu khác về 32 DN sản xuất dược phẩm lớn nhất thế giới có trụ  
sở tại Châu Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ từ 1984 đến 1994, Furman (2003) đã tìm ra những kết quả thú vị. Thứ  
nhất, cơ chế, cách thức điều hành hoạt động, tổ chức sản xuất của mỗi DN thuộc tập đoàn cần được điều  
chỉnh cho phù hợp với đặc điểm vùng địa lý. Thứ hai, các DN nằm trong khu vực “khoa học cao” sẽ có sẵn  
động lực/điều kiện để tăng cường năng lực khoa học; Ngược lại, các DN ở xa trung tâm công nghệ/khoa  
học phải đối mặt với lựa chọn di chuyển phòng thí nghiệm hoặc đầu tư nhiều hơn cho địa phương để nâng  
cao chất lượng các cơ sở khoa học tại chỗ, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của DN.  
Tại Việt Nam, Trần Hữu Thân (2014) khẳng định “Yếu tố quan trọng nhất trong công tác lập quy  
hoạch khu công nghiệp là xem xét việc lựa chọn vị trí đặt khu công nghiệp sao cho khu công nghiệp vừa  
có khả năng thu hút đầu tư cao: có vị trí địa lý thuận lợi về giao thông và kết cấu hạ tầng xã hội” cho thấy  
tầm quan trọng của vị trí địa lý trong mọi khía cạnh kinh tế xã hội. Trong nghiên cứu của Vũ Hoàng Nam  
và Đoàn Quang Hưng (2014), thông qua phương pháp hồi quy OLS trên mẫu nghiên cứu các DNNVV tại  
Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010, các tác giả đã khẳng định việc tiếp cận dễ dàng hơn với cơ sở hạ tầng đã  
thúc đẩy các DNNVV tiến hành đổi mới nhiều hơn, từ đó thu được kết quả sản xuất tốt hơn. Như vậy, nhìn  
chung, các nhà nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đều thống nhất rằng địa điểm thuận lợi góp phần  
thúc đẩy hiệu quả hoạt động của DN.  
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION  
945  
Bên cạnh đó, một số yếu tố cụ thể thuộc về vị trí địa lý như khả năng tiếp cận nước sạch, khoảng cách  
từ DN đến nhà cung cấp chính, đến khách hàng quan trọng nhất hay có đường giao thông lớn, cảng biển,  
nhà ga gần trụ sở DN cũng đã được kiểm chứng nhưng kết quả chưa rõ ràng. Theo đó, đối với nhiều ngành  
sản xuất – trong đó có thực phẩm, đồ uống – nước là yếu tố đầu vào thiết yếu, nên khả năng tiếp cận nước  
sạch được cung cấp bởi nhà máy nước (nước máy dùng tại vòi) với giá thành hợp lý có ảnh hưởng tích cực  
đến hiệu quả hoạt động của DN (Rigby, 1990). Tương tự, việc ở gần đường quốc lộ, nhà ga, cảng biển với  
giao thông thuận tiện sẽ giúp DN rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, góp phần tăng  
hiệu quả hoạt động (Decarrolis và Deeds, 1999; Furman, 2003; Vũ Hoàng Nam và Đoàn Quang Hưng,  
2014). Tuy vậy, theo quan điểm của Trương Đình Chiến (2012), kênh phân phối mới đóng vai trò mấu chốt  
trong giao thương hàng hóa nên đối với sản phẩm tốt sẽ không có bất kỳ giới hạn nào về khoảng cách từ  
DN đến khách hàng. Bổ sung cho nhận định này, Rigby (1990) cho rằng giá cả tác động đến lợi nhuận của  
DN trong ngành chế biến thực phẩm, đồ uống nhiều hơn so với các yếu tố của quá trình sản xuất nên việc  
lựa chọn nhà cung cấp đầu vào không chỉ phụ thuộc vào khoảng cách địa lý mà cần cân nhắc tới giá thành.  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1 Dữ liệu  
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, tổng hợp từ cuộc khảo sát DNNVV năm 2015 do Viện Quản lý  
Kinh tế Trung ương (CIEM) chủ trì. Từ 835 DNNVV thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống tại 10  
tỉnh, thành phố, sau khi loại bỏ một số DNNVV kinh doanh cả chế biến thực phẩm và các ngành khác (như  
sản xuất nhôm kính, sản xuất mây tre đan, sản xuất hương) và một số DN không đầy đủ dữ liệu về số lượng  
lao động, yếu tố sản xuất…, mẫu nghiên cứu còn lại 787 DNNVV (chiếm 94,25% tổng số DN được điều  
tra ban đầu).  
3.2 Dang thức của mô hình  
Để kiểm chứng các yếu tố quyết định hiệu quả hoặc phi hiệu quả, các tác giả sử dụng mô hình hồi quy  
Tobit với dạng phương trình:  
=
Xi +  
Với:  
= 0 nếu  
Xi + ≤ 0  
Xi + >0  
Trong đó: ~ N(0, ),  
= Yi nếu  
là tham số của biến độc lập Xi.  
Các dữ liệu được xử lý bởi phần mềm STATA 14.  
3.3 Biến số của mô hình  
3.3.1. Biến phụ thuộc – Hiệu quả hoạt động đo bằng mô hình DEA  
Để phù hợp với điều kiện nghiên cứu, khi đánh giá hiệu quả hoạt động của DMU (mỗi DMU  
được đại diện cho một DNNVV chế biến thực phẩm đồ uống) các tác giả giới hạn số lượng các  
biến đầu vào (3 biến) và đầu ra (1 biến). Biến số cụ thể của mô hình được lựa chọn tương tự với  
cách làm của Võ Hồng Đức và Lê Hoàng Long (2014), gồm: Biến đầu ra (Output) là lợi nhuận  
của từng DN (ujm); các biến đầu vào (xjn) là công lao động hay lương (input 1), tài sản vật chất  
(input 2), nguyên vật liệu (input 3). Các biến input này đã được chứng minh có quan hệ chặt chẽ  
với lợi nhuận.  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUỐC GIA  
Bảng 1. Danh sách biến đầu vào và đầu ra của mô hình DEA  
946  
Tên biến  
Định nghĩa  
Phương pháp đo  
Đơn vị  
Biến đầu vào  
Giá trị của lao động đóng góp vào quá Tổng tiền lương trả cho công nhân  
Lương  
Nghìn VND  
trình chế biến thực phẩm đồ uống  
Giá trị của tài sản vật chất đóng góp  
vào quá tình chế biến thực phẩm đồ  
uống  
viên trong năm tài chính  
Giá trị bình quân của đất đai, nhà  
Tài sản vật chất  
(TSVC)  
xưởng, máy móc thiết bị tại thời điểm Nghìn VND  
đầu năm và cuối năm tài chính  
Nguyên vật liệu  
(NVL)  
Giá trị nguyên vật liệu đóng góp vào Tổng giá trị nguyên vật liệu sử dụng  
quá trình chế biến thực phẩm đồ uống trong năm tài chính  
Nghìn VND  
Biến đầu ra  
Lợi nhuận  
Giá trị gia tăng của sản phẩm  
Lợi nhuận trong năm tài chính  
Nghìn VND  
Nguồn: Nghiên cứu của các tác giả  
Tác giả sử dụng phần mềm DEAP version 2.1 của Coelli để hỗ trợ tính toán điểm hiệu quả VRSTE,  
từ đó quy đổi kết quả VRSTE ra bảng điểm hiệu quả từ 0 đến 100. Điểm hiệu quả càng gần 100 chứng tỏ  
DN hoạt động càng hiệu quả.  
3.3.2. Biến độc lập của mô hình nghiên cứu  
Xuất phát từ tổng quan nghiên cứu, các biến độc lập chính của mô hình Hồi quy Tobit như sau:  
Bảng 2. Danh sách biến độc lập của mô hình Tobit  
TT Mã hóa biến Tên biến  
Cách đo lường biến  
DN có các đường chính/lớn dẫn đến DN. Biến giả bằng 1 nếu Có, bằng 0  
nếu Không.  
1
Duong_bo  
Đường bộ  
2
3
Nha_ga  
Cang  
Nhà ga  
Cảng  
DN có thuận tiện đến ga đường sắt. Biến giả bằng 1 nếu Có, bằng 0 nếu Không.  
DN có thuận tiện đến cảng. Biến giả bằng 1 nếu Có, bằng 0 nếu Không.  
DN có sử dụng hệ thống cung cấp nước sạch. Biến giả bằng 1 nếu Có,  
bằng 0 nếu Không.  
4
5
6
Nuoc  
Nước  
Khoảng cách nhà  
cung cấp  
Khoảng cách  
khách hàng  
Kc_NCC  
Kc_KH  
Khoảng cách đến nhà cung cấp chính của DN (đơn vị tính: km).  
Khoảng cách đến khách hàng quan trọng nhất của DN (đơn vị tính: km).  
Nguồn: Nghiên cứu của các tác giả  
Ngoài ra, một số biến kiểm soát được bổ sung vào mô hình để tăng độ tin cậy của kết quả  
ước lượng, bao gồm: quy mô (đo bằng số lao động bình quân), số năm hoạt động, cơ cấu vốn  
(tính bằng tỷ lệ Nợ trên tổng tài sản) và giới tính của người lãnh đạo doanh nghiệp. Các biến này  
đều được chứng minh có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (theo Admassie và  
Matambalya, 2002; Nickell và Nicolitsas, 1999; Chu và Kaliraja, 2011).  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1 Hiệu quả hoat đông của DNNVV thuôc lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống  
Bảng 3. Hiệu quả hoạt động và hiệu quả theo quy mô của các DN  
Tỷ trọng DN  
Tỷ trọng DN có Tỷ trọng DN có  
Độ  
lệch  
có  
Tên biến  
VRSTE  
Trung bình  
64,72046  
Nhỏ nhất Lớn nhất  
chuẩn  
TE = 100  
16,77  
TE > 90  
12,71  
TE < 50  
5,34  
15,57141  
29  
100  
Nguồn: Nghiên cứu của các tác giả  
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION  
947  
Kết quả từ bảng 3 cho thấy mức hiệu quả hoạt động của các DNNVV chế biến thực phẩm đồ uống ở Việt  
Nam nhìn chung là thấp. Với giả định sản lượng không đổi theo quy mô, chỉ số hiệu quả trung bình của các  
DNVV là 65 điểm, tức là các DNNVV trong ngành chế biến thực phẩm đồ uống chỉ sản xuất ở 65% mức sản xuất  
biên tiềm năng. Hay DN này có thể giảm bớt 35% lượng đầu vào mà vẫn giữ được mức sản xuất như hiện tại.  
4.2 Thống kê mô tả biến đôc lập của mô hình  
Thống kê mô tả biến độc lập (không phải là biến giả)  
Giá trị  
Biến  
Độ lệch chuẩn  
Giá trị nhỏ nhất  
Giá trị lớn nhất  
trung bình  
28,83  
Kc_NCC  
Kc_KH  
95,15  
64,89  
17,69  
10,54  
0,13  
0
0
1
2
0
1500  
1000  
250  
24,03  
7,30  
Quy_mo  
Tuoi_DN  
Cocau_von  
17,92  
0,0486  
61  
0,9659  
Nguồn: Nghiên cứu của các tác giả  
Bảng 4 cho thấy khoảng cách trung bình từ DNNVV đến nhà cung cấp chính xấp xỉ 29km, đến khách  
hàng quan trọng nhất là 24 km. Khoảng cách này khá gần so với chiều dài trung bình của một tỉnh ở Việt  
Nam, nghĩa là đa phần các DNNVV hoạt động trong phạm vi địa phương. Số lượng cán bộ công nhân viên  
trung bình ở các DNNVV chế biến thực phẩm, đồ uống là 7 người, phù hợp cách thức tổ chức sản xuất đơn  
giản để tạo ra sản phẩm tương ứng là bún, bánh mỳ, đậu phụ, giò chả, nem, giá đỗ… Trong quá trình hoạt  
động, các DN này cũng ít vay nợ, tỷ lệ sử dụng vốn vay chỉ là 4,86%. Tuy quy mô hạn chế nhưng các DN  
này đã hoạt động khá lâu, thời gian trung bình lên tới 18 năm, điều này một lần nữa cho thấy sự phổ biến  
mang tính truyền thống, lịch sử của loại hình kinh doanh cá thể, DN nhỏ, siêu nhỏ tại Việt Nam.  
Bảng 5. Thống kê mô tả biến độc lập (là biến giả)  
TT  
Tên biến  
Thang đo  
Không  
Có  
Số lượng  
185  
Tỷ trọng (%)  
23,51  
76,49  
51,84  
48,16  
61,37  
38,63  
8,89  
1
Đường bộ  
602  
Không  
Có  
408  
2
3
4
5
Đường sắt  
Cảng  
379  
Không  
Có  
483  
304  
Không  
Có  
70  
Nước  
717  
91,11  
Nữ  
407  
51,72  
48,28  
Giới tính  
Nam  
380  
Nguồn: Nghiên cứu của các tác giả  
Có 76,49% DNNVV trong mẫu nghiên cứu có nơi sản xuất kinh doanh gần tuyến đường chính, đường  
lớn nên thuận tiện trong công tác thu mua, vận chuyển nguyên vật liệu cũng như phân phối sản phẩm. Tuy  
vậy, chỉ có 48,16% và 38,63% DN ở gần nhà ga, bến cảng, chứng tỏ đường bộ vẫn là lộ trình giao thương  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUỐC GIA  
948  
chính của các DNNVV thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống. Ngoài ra, hầu hết các DN đều tiếp cận  
được nguồn nước sạch để sản xuất nên có thể đảm bảo các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Hơn một  
nửa DN trong mẫu nghiên cứu do nữ giới điều hành, kết quả này phù hợp với quy mô nhỏ lẻ và cách thức  
tổ chức đơn giản của loại hình DN.  
4.3 Ảnh hưởng của Vị trí địa lý tới HQHĐ của DNNVV thuôc lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống  
Bảng 6. Kết quả ước lượng của mô hình  
VRSTE  
Duong_bo  
Nha_ga  
Cang  
Coef.  
2,89  
2,36  
-0,97  
0,13  
0,03  
0,01  
0,24  
0,00  
5,55  
-3,19  
64,76  
Std. Err.  
1,4  
T
P>t  
[95% Conf.  
5,65  
Interval]  
0,12  
2,05  
1,56  
-0,65  
0,23  
2,74  
1,71  
6,83  
0,19  
2,20  
-2,87  
44,28  
0,04  
0,12  
0,52  
0,82  
0,006  
0,088  
0,00  
0,85  
0,03  
0,00  
0,00  
1,51  
1,51  
0,55  
0,01  
0,01  
0,04  
0,01  
2,52  
1,11  
1,46  
-0,61  
-3,94  
-0,96  
0,01  
5,33  
1,99  
Nuoc  
1,22  
Kc_KH  
Kc_NCC  
Quy_mo  
Tuoi_DN  
Cocau_von  
Gioi_tinh  
_cons  
0,05  
0,00  
0,02  
0,17  
0,31  
-0,01  
0,60  
0,02  
10,50  
-1,01  
67,63  
-5,37  
61,89  
Nguồn: Nghiên cứu của các tác giả  
Kết quả kiểm định xác nhận mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa 3/6 yếu tố về vị trí địa lý tới hiệu quả  
hoạt động của DNNVV chế biến thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam, bao gồm: có tuyến đường giao thông  
lớn, khoảng cách đến nhà cung cấp chính và khoảng cách đến khách hàng quan trọng. Tất cả các biến này  
đều tương quan dương với điểm số VRSTE. Nghĩa là:  
(1) Việc có tuyến đường lớn, giao thông chính trên địa bàn hoạt động của DNNVV chế biến thực  
phẩm, đồ uống đã góp phần tích cực, làm tăng hiệu quả hoạt động của DN. Thực tế đã cho thấy khi các  
tuyến quốc lộ mới được hình thành như Hà Nội đi Thái Nguyên, Lào Cai, Hải Phòng, Quảng Ninh…, Đà  
Nẵng đi Quảng Nam, Quảng Ngãi..., Thành phố Hồ Chí Minh đi Cần Thơ, Tiền Giang, Đồng Nai…, quãng  
đường di chuyển đã được rút ngắn đáng kể, từ đó giảm các chi phí phát sinh cho DNNVV như chi phí vận  
chuyển, chi phí bảo quản nguyên vật liệu/thành phẩm, chi phí hao hụt, giảm giá thành… Nhờ vậy, các DN  
khai thác tốt hơn các yếu tố đầu vào, gia tăng hiệu quả hoạt động. Phát hiện này tương đồng với những kết  
luận đã có của Decarrolis và Deeds (1999), Furman (2003).  
(2) Khoảng cách từ DNNVV chế biến thực phẩm, đồ uống đến khách hàng quan trọng nhất càng xa, hiệu  
quả hoạt động của DN càng cao. Điều này là hợp lý vì với một lượng yếu tố đầu vào như trước, DN càng bán  
được sản phẩm đi xa – đồng nghĩa mở rộng thị trường tiêu thụ – doanh số càng nhiều, lợi nhuận càng tăng. Mặc  
dù địa bàn hoạt động rộng hơn có thể làm tăng chi phí bán hàng và quản lý nhưng sự xuất hiện ngày càng dày đặc  
của các chuỗi bán lẻ như Vinmart+, Family Mart, Circle K, cũng như các đầu mối phân phối cỡ lớn BigC, Aeon,  
Metro… đã trở thành “cánh tay nối dài” giúp DNNVV tiết kiệm chi phí bán hàng và tăng doanh thu. Nói cách  
khác, hệ thống phân phối rộng khắp của các nhà bán lẻ đã phát huy vai trò then chốt, góp phần khắc phục rào cản  
về khoảng cách giữa DNNVV với khách hàng, như Trương Đình Chiến (2012) đã khẳng định.  
(3) Các DNNVV chế biến thực phẩm, đồ uống lựa chọn nhà cung cấp chính càng xa, càng có xu hướng  
đạt hiệu quả hoạt động cao hơn. Kết quả này ngược với phát hiện của Rigby (1990) nhưng phù hợp với đặc  
thù của DN trong mẫu nghiên cứu. Do thị phần đồ uống tại Việt Nam chủ yếu thuộc về các DN lớn và DN  
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION  
949  
nước ngoài nên số lượng DNNVV kinh doanh đồ uống chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 10%). Vì thế, dù  
được CIEM xác định chung trong ngành chế biến thực phẩm, đồ uống nhưng 80% DNNVV của mẫu nghiên  
cứu sản xuất và kinh doanh thực phẩm với đầu ra điển hình là bún, phở, các loại bánh làm từ bột mỳ/bột  
gạo, đậu phụ, giá đỗ, giò, chả, thực phẩm khô ăn liền khác… Nguyên liệu chính để sản xuất của các cơ sở  
này là nông sản (gạo, ngô, đỗ tương, sắn, mía, các loại rau/củ/quả khác theo mùa..). Để đảm bảo sản lượng,  
chất lượng và giá cả ổn định, các DN có xu hướng đặt mua nguyên vật liệu tại các vùng chuyên canh, trọng  
điểm. Dù khoảng cách có thể xa hơn nhưng nhờ yếu tố giao thông thuận lợi (như đã đề cập ở trên), các DN  
vẫn đảm bảo được hiệu quả hoạt động ở mức cao.  
Ngoài 3 biến nêu trên, mô hình cũng ghi nhận ảnh hưởng của các biến kiểm soát (quy mô, cơ cấu vốn,  
giới tính) làm thay đổi hiệu quả hoạt động của DNNVV chế biến thực phẩm, đồ uống. Các biến còn lại là  
Gần nhà ga, Gần bến cảng, Được tiếp cận nước sạch chưa thể hiện mối tương với VRSTE nên cần tiếp tục  
kiểm chứng bằng mẫu nghiên cứu khác.  
KẾT LUẬN  
Bằng việc phương pháp phân tích đường bao dữ liệu (DEA), các tác giả thấy rằng hiệu quả hoạt động của  
các DNNVV chế biến thực phẩm, đồ uống ở Việt Nam không cao. Trung bình, các DN đã lãng phí 35% nguồn  
lực đầu vào gồm lương, nguyên vật liệu và tài sản vật chất. Do đó, bản thân các DN phải nỗ lực cải tiến quá trình  
tổ chức sản xuất, kinh doanh theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Mặt khác, việc áp dụng mô hình hồi quy Tobit cho  
phép các tác giả ghi nhận ảnh hưởng tích cực của nhân tố vị trí địa lý tới hiệu quả hoạt động của nhóm DN này.  
Theo đó, sự phát triển mạnh mẽ, sâu rộng của hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải ở Việt nam thời gian qua  
đã rút ngắn đáng kể thời gian/chi phí vận chuyển thành phẩm, nguyên vật liệu, “làm mờ” các rào cản về khoảng  
cách giữa DNNVV với khác hàng, nhà cung cấp. Vì vậy, các DNNVV cần tích cực tận dụng yếu tố này để nhanh  
chóng mở rộng địa bàn hoạt động, giúp gia tăng doanh thu trên một đồng vốn ứng trước. Đồng thời, các cơ quan  
chức năng của Chính phủ, Nhà nước cũng đẩy nhanh quá trình nâng cấp/phát triển cơ sở hạ tầng, trục giao thông  
chính cả cả nước; hoàn thiện hệ thống đường/cầu liên thôn, liên xã… góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững  
của các DN tư nhân nói chung, DNNVV chế biến thực phẩm, đồ uống nói riêng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Admassie, A. và Matambalya, F.A. (2002). Technical Efficiency of Small-and Medium-Scale Enterprises:  
Evidencefroma Surveyof Enterprisesin Tanzania. EasternAfrica social science research review, 18(2), pp. 1-29.  
[2] Banker, R.D., Charnes,R.F. và Cooper, W. (1984). Some Models for EstimatingTechnical and Scale Inefficiencies  
in Data Envelopment Analysis. Management Science, vol.30, pp. 1078-1092.  
[3] Chu,S.N., và Kalirajan,K.(2011). Impactof TradeLiberalisationon Technical Efficiency of Vietnamese  
Manufacturing Firms. Science Technology & Society,16(3), pp. 265-284.  
[4] Coelli,T.J., Rao,D.P., O’Donnell, C.J., and Battese, G.E (2005). Anintroduction to efficiencyand productivity  
analysis. Springer Science and Business Media, USA.  
[5] Cromie, S., McGowan, P., và Hill, J. (1995). Marketing and entrepreneurship in SMEs: An innovative approach.  
London: Prentice Hall.  
[6] Đỗ Quang Giám (2006). Đánh giá hiệu quả kỹ thuật sử dụng phương pháp phân tích vỏ bọc dữ liệu trong sản  
xuất vải thiều ở tỉnh Bắc Giang. Tạp chí Khoa học Kỹ thuꢀt Nông nghiệp, số 4-5, tr.1-8.  
[7] Decarolis,D.M.vàDeeds,D.L.(1999).TheImpactofStocksandFlowsofOrganizationalKnowledgeonFirmPerformance:  
an Empirical Investigation of the Biotechnology Industry. Strategic Management Journal, Vol. 20, pp. 953-968.  
[8] Farrell,M.J. (1957). The Measurement of Productive Efficiency. Journal of the Royal Statistical Society. SeriesA  
(General),120(3), 253-290.  
[9] Furman, J. L. (2003). Location and Organizing Strategy: Exploring the Influence of Location on the Organization  
of Pharmaceutical Reseaech. Boston University – School of Managment.  
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUỐC GIA  
950  
[10] Ghobadian, A. và Gallear, D. N. (1996). Total quality management in SMEs. Omega, 24 (1), pp. 83-106.  
[11] Hiếu Minh (2018). Doanh nghiệp thực phẩm đồ uống vẫn hái ra tiền. Truy cập ngày 27/8/2018, từ https://  
tinnhanhchungkhoan.vn/thuong-truong/doanh-nghiep-thuc-pham-do-uong-van-hai-ra-tien-214375.html.  
[12] Ho, S. S. M., Li, A. Y., Tam, K., và Zhang, F. (2015). CEO Gender, Ethical leadership, and Accounting  
Conservatism. Journal of Business Ethics, Vol. 127(2), pp. 351-370.  
[13] Lệ Trần, 2018, “Tổng cục thống kê: quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ngày càng nhỏ”, truy cập ngày  
cang-nho-20180119145350988.htm.  
nganh-thuc-pham---do-uong-len-ngoi-d82969.html.  
[15] Michaelas, N., Chittenden, F., & Poutziouris, P. (1999). Financial policy and capital structure choice in UK  
SMEs: Empirical evidence from company panel data. Small business economics, 12 (2), pp. 113-130.  
[16] Narula, R. (2004). R&D collaboration by SMEs: New opportunities and limitations in the face of globalisation.  
Technovation, 24 (2), pp. 153-161.  
gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=34886&idcm=188.  
[18] Nguyễn Trung Thành (2017). Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh.  
Luận văn thạc sĩ, Đại học Huế.  
[19] Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011). Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học, số 19, tr.122-129.  
[20] Nickell, S., và Nicolitsas, D. (1999). Howdoesfinancialpressureaffectfirms?. European Economic Review, 43(8),  
1435-1456.  
[21] Phan Hồng Mai, Nguyễn Thanh Lan (2016). Cấu trúc vốn và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa  
tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 234(II), tháng 12 năm 2016, tr. 24-33.  
[22] Phạm Thu Hương (2017), ‘Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội’,  
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Mỏ - Địa chất.  
[23] Rigby, D. L (1990). Regional differences in manufacturing performance: the case of the Canadian food and  
beverage industry, 1961-84. Environment and Planning A, 1990, volume 22, pp. 79-100.  
[24] Trần Hữu Thân (2014), Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển khu công nghiệp theo hướng  
bền vững ở Việt Nam, Hội thảo trường Đại học Quảng Bình, tr. 151-158.  
[25] Tổng cục Thống kê (2016), Niêm giám Thống kê năm 2016, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.  
[26] Trường Đình Chiến (2012), Giáo trình Quản trị kênh phân phối, Nhà Xuất bản Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội.  
[27] Van de Vrande, V., De Jong, J. P., Vanhaverbeke, W., và De Rochemont, M. (2009). Open innovation in SMEs:  
Trends, motives and management challenges. Technovation, 29 (6), pp. 423-437.  
[28] Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), Viện Khoa học Lao động và Xã hội – ILSSA, Khoa Kinh  
tế (DoE) của Đại học Copenhagen (2016), Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Kết quả điều tra doanh  
nghiệp nhỏ và vừa năm 2015 [Characteristics of the Vietnamese Business Environment: Evidenca from a SME  
survey in 2015], Hà Nội.  
[29] Võ Hồng Đức, Lê Hoàng Long (2014). Các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp vừa và  
nhỏ tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, số 2-35, tr. 14-26.  
[30] Vũ Hoàng Nam và Đoàn Quang Hưng (2013). Các nhân tố tác động đến sự phát triển của các doanh nghiệp vừa  
và nhỏ ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế đối ngoại - Đại học Ngoại Thương, Địa chỉ: http://ieit.edu.vn/vi/thu-vien-  
tap-chi/tap-chi-kinh-te-doi-ngoai/item/200-nghien-cuu-cac-nhan-to-tac-dong-den-su-phat-trien-cua-cac-doanh-  
nghiep-vua-va-nho-o-viet-nam [truy cập ngày 17/06/2018].  
pdf 9 trang Thùy Anh 18100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của vị trí địa lý tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_vi_tri_dia_ly_toi_hieu_qua_hoat_dong_cua_cac_d.pdf