Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại dự án nâng cấp đường tỉnh 390 (giai đoạn 1) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI
ĐẤT TẠI DỰ ÁN NÂNG CẤP ĐƯỜNG TỈNH 390 (GIAI ĐOẠN 1) HUYỆN
THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
PGS.TS. Nguyễn Thị Vòng1, ThS. Phạm Thị Nguyệt2, Trần Văn Tâm3
1,2 Khoa Quản lý đất đai, Trường đại học Thành Đông
3HVCH ngành Quản lý đất đai K1
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ người dân (hộ
gia đình, cá nhân và tổ chức) khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án nâng cấp đường tỉnh 390
(giai đoạn 1), tìm ra nguyên nhân những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư
trên địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 144 (100%)
hộ gia đình, cá nhân, tổ chức được bồi thường, hỗ trợ tại dự án, 10 cán bộ làm công tác bồi
thường và thu thập các dữ liệu thứ cấp liên quan. Sau khi phân tích, đánh giá các số liệu thu
thập được, nghiên cứu đã đề xuất 4 giải pháp nhằm thực hiện tốt nhất chính sách bồi
thường, hỗ trợ người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải
Dương
Từ khóa: bồi thường, hỗ trợ, Nhà nước thu hồi đất.
ABSTRACT
The research aims to assess the current situation of compensation and support for
inhabitants (households, individuals and organizations) when the State acquires land at
the project of upgrading provincial roads 390 (phase 1). Besides, the study also aims to
find out the reasons for the limitations, and then propose solutions to perfect the
compensation and support when the State acquires land to implement investment projects
in Thanh Ha district, Hai Duong province. The study has surveyed 144 (100%) households,
individuals and organizations that are compensated and supported at the project, 10
officers in the compensation work as well as collected related secondary data. After
analyzing and evaluating the collected data, the study has proposed 4 solutions to best
implement the compensation policy, support the inhabitants when the State acquires land
in Thanh Ha district, province. Hai Duong
Keywords: compensation, support, acquisition by the State.
"treo" do việc thực hiện bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư còn gặp nhiều khó khăn.
Nhiều đơn thư, khiếu nại được gửi tới cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền đề nghị giải
quyết các vấn đề liên quan đến bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Nhằm góp phần hoàn thiện công tác bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
để thực hiện các dự án đầu tư, rất cần có
sự đánh giá thực trạng công tác bồi thường,
hỗ trợ tại một số dự án, trong đó có dự án
nâng cấp đường tỉnh 390 (giai đoạn 1) trên
địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương .
1. Giới thiệu
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên
không tái tạo, bị giới hạn bởi diện tích bề
mặt và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế
của Việt Nam. Do vậy, trong quá trình sử
dụng đất, tổng cung đất đai là không đổi
nhưng cơ cấu sử dụng đất có sự thay đổi
do nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng để
phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao chất
lượng cuộc sống về mọi mặt.
Nhằm phục vụ cho công cuộc đổi
mới và phát triển kinh tế - xã hội, việc
chuyển mục đích sử dụng các loại đất là
một tất yếu khách quan và diễn ra phổ
biến, hầu khắp các địa phương trên phạm
vi cả nước. Các dự án đầu tư phát triển
kinh tế, xã hội dẫn đến phải thu hồi đất của
người sử dụng đất. Các dự án được thực
hiện sẽ làm thay đổi diện mạo và đem lại
hiệu quả kinh tế, xã hội cho đất nước. Tuy
nhiên, các dự án đó cũng tiềm ẩn nhiều
thách thức lớn đặc biệt là trong công tác
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người
dân khi Nhà nước thu hồi đất.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên
cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là
việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ
trợ cho người dân khi Nhà nước thu hồi
đất; hộ gia đình, cá nhân được bồi thường,
hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; cán bộ
quản lý thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi
nhà nước thu hồi đất tại dự án nâng cấp
đường tỉnh 390 (giai đoạn 1) huyện Thanh
Hà, tỉnh Hải Dương.
Huyện Thanh Hà, trong những năm
gần đây có nhiều dự án, công trình được
triển khai nhằm thúc đẩy nền kinh tế, nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân
trong huyện, góp phần không nhỏ vào sự
nghiệp phát triển chung của tỉnh Hải
Dương. Bên cạnh những dự án đã được
đưa vào sử dụng thì vẫn còn nhiều dự án
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp điều tra thu thập số
liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, tài liệu liên
quan đến dự án từ các cơ quan Nhà nước.
2.2.2. Phương pháp điều tra thu thập số
liệu sơ cấp
phúc lợi xã hội; (4) Tình hình an ninh trật
tự xã hội sau khi bị thu hồi đất; (5) Tình
trạng môi trường khi dự án thu hồi đất; (6)
Sự kiến nghị về việc thực hiện dự án.
Phỏng vấn trực tiếp 144 (100%) hộ
gia đình, cá nhân, tổ chức bị thu hồi đất
được bồi thường, hỗ trợ tại dự án. Phỏng
vấn trực tiếp bằng phiếu những cán bộ
làm công tác bồi thường, hỗ trợ với số
phiếu là 10 phiếu.
Với các cán bộ tham gia bồi thường,
giải phóng mặt bằng (GPMB) được đánh
giá theo các chỉ tiêu: (1) Mức giá bồi
thường, hỗ trợ; (2) Trình tự thực hiện
công tác GPMB; (3) Sự phối hợp của
người dân và cán bộ; (4) Kinh phí thực
hiện công tác GPMB; (5) Áp lực từ cấp
trên về tiến độ thực hiện dự án; (6) Kiến
nghị để đẩy nhanh tiến độ GPMB.
2.2.3. Phương pháp thống kê, tổng hợp,
phân tích và xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để xử lý,
tổng hợp số liệu từ đó đưa ra các nhận
định, đánh giá cụ thể về các vấn đề cần
nghiên cứu.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thực trạng công tác bồi thường, hỗ
trợ tại huyện Thanh Hà, tỉnh Hải
Dương
2.2.4. Phương pháp so sánh, đánh giá
Dùng các số liệu thu thập được và số
liệu điều tra thực tế, tổng hợp lại từ đó
đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất ở các dự án nghiên
cứu.
Theo Báo cáo của Phòng Tài nguyên
và môi trường huyện Thanh Hà (2019), từ
năm 2010 đến 2019, Hội đồng bồi thường,
hỗ trợ tái định cư của huyện đã thu hồi đất
để thực hiện 169 dự án, tổng diện tích là
160 ha; trong đó: thu hồi đất nông nghiệp
là 153,4 ha, đất phi nông nghiệp là 6,6 ha
của 3.677 hộ gia đình, cá nhân.
Đánh giá theo nội dung về tình hình
thực hiện công tác bồi thường và tình hình
thực hiện chính sách hỗ trợ, với các tiêu
chí: (i) Đối tượng và điều kiện được bồi
thường, hỗ trợ; (ii) Tình hình thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ.
Nhìn chung công tác bồi thường, hỗ
trợ trong thời gian qua trên địa bàn huyện
đã thực hiện khá tốt, đáp ứng nhu cầu sử
dụng đất cho các công trình hạ tầng, góp
phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của huyện từ đó làm thay đổi
diện mạo đô thị của huyện.
Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi
đất của các tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất
theo các chỉ tiêu: (1) Mức giá bồi thường;
(2) Mục đích sử dụng tiền bồi thường, hỗ
trợ; (3) Tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng,
Trong quá trình thực hiện các dự án
đã gặp không ít khó khăn trở ngại: Như
dự án mang tính đặc thù theo tuyến, dự án
có quy mô lớn, số hộ ảnh hưởng nhiều,
việc đi lại tiếp xúc hiện trường và nhân
dân gặp nhiều khó khăn; Nhận thức của
nhiều hộ dân về giải phóng mặt bằng
trước khi triển khai thực hiện dự án còn
hạn chế, nhiều hộ dân đã đầu tư xây dựng
công trình ồ ạt với số lượng nhiều trong
khi việc xử lý của cấp cơ sở còn hạn chế,
không kịp thời và không kiên quyết; Công
tác bồi thường của Nhà nước còn bất cập,
thường xuyên thay đổi; Dẫn đến việc một
số hộ dân cố tình không chấp hành
phương án bồi thường, hỗ trợ, tập trung
đông người gây cản trở thi công làm chậm
tiến độ dự án.
3.2. Đánh giá công tác bồi thương, hỗ trợ
tại dự án nâng cấp đường tỉnh 390 (giai
đoạn 1) huyện Thanh Hà
3.2.1. Đối tượng và điều kiện được bồi
thường
Dự án Nâng cấp đường tỉnh 390 (giai
đoạn 1) huyện Thanh Hà với số diện tích
bị thu hồi là: 15.631,6 m2 và số chủ sử
dụng đất bị thu hồi là 144 (142 hộ gia đình,
cá nhân bị ảnh hưởng đến đất nông nghiệp
và 02 tổ chức) trong đó chủ yếu là đất
nông nghiệp (CLN) và các loại đất khác
(GT, TL, DNT). Cụ thể, kết quả xác định
đối tượng được bồi thường tại dự án Nâng
cấp đường tỉnh 390 (giai đoạn 1) được thể
hiện trong bảng 01.
Bảng 1. Xác định đối tượng được bồi thường tại dự án
Trong đó số hộ (tổ chức)
Diện
Số hộ,
tổ chức
(hộ)
tích
TT
Loại đất
Được Không được BT-
(m2)
BT-HT
HT
1
2
3
Đất ở (ONT)
969,8
2.129,3
154,1
37
93
12
37
0
Đất nông nghiệp (CLN)
93
0
Đất nuôi trồng thủy sản
12
0
(NTS)
4
Đất khác (GT, TL, DNT)
12.378,4
02
0
02
Cộng
15.631,6
cư huyện Thanh Hà và chính quyền địa
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định
phương xã Thanh Xá và thị trấn Thanh Hà
đã xác định điều kiện được bồi thường và
không được bồi thường đúng quy định của
pháp luật về đất đai và phù hợp với thực tế
sử dụng đất, được người bị thu hồi đất đồng
tình ủng hộ. Kết quả tổng hợp ý kiến để xác
định đối tượng và điều kiện được bồi
thường thể hiện ở bảng 02.
Bảng 2. Tổng hợp ý kiến người có đất bị thu hồi trong công tác xác định đối tượng
và điều kiện bồi thường
Tỷ lệ %
Số hộ
không
đồng ý
Số phiếu Số hộ
điều tra đồng ý
STT Loại đất
Không
đồng ý
40,5
Đồng ý
1
2
3
4
Đất ở
37
93
22
93
7
15
0
59,5
100,0
58,3
Đất nông nghiệp
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất khác
0,0
41,7
0,0
12
5
02
02
124
0
100,0
Cộng
144
20
trợ như: hỗ trợ ổn định đời sống và sản
xuất cho 93 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề và
tạo việc làm cho 93 hộ, thưởng 120 hộ
thực hiện đúng tiến độ. Giá trị hỗ trợ được
thể hiện trang bảng 3.
3.2.2. Tình hình thực hiện chính sách hỗ
trợ
Thực hiện bồi thường đất và tài sản
trên đất, dự án còn phải tính các khoản hỗ
Bảng 3. Tổng hợp kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân tại dự án
Thành tiền
Loại hỗ trợ
Số hộ
(đồng)
Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất
Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm
Thưởng tiến độ
93
93
31.050.000
325.633.000
94.297.467
120
kiện tương tự. Các ý kiến, kiến nghị của
người dân trong việc thực hiện chính sách
bồi thường, hỗ trợ tập trung chủ yếu vào
vấn đề giá đất tính bồi thường, không đảm
bảo được quyền lợi chính đáng của người
dân.
Giá trị hỗ trợ phụ thuộc và điều kiện
hoàn cảnh của từng hộ gia đình, phụ thuộc
tổng diện tích đất bị thu hồi, loại đất thu
hồi và số khẩu hiện có trong gia đình. Vì
vậy có nhiều hộ gia đình được tính nhiều
khoản hỗ trợ khác nhau khi thực hiện bồi
thường. Các khoản hỗ trợ đã góp phần
làm tăng giá trị bồi thường, làm giảm
khoảng cách chênh lệch giá đất bồi
thường và giá đất chuyển nhượng thực tế
trên thị trường.
3.2.4. Giá bồi thường, hỗ trợ về tài sản,
vật kiến trúc
Giá bồi thường các tài sản trên đất
được xác định theo Nghị định
47/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2014 của
Kết quả khảo sát người có đất bị thu
hồi cho thấy có 119/144 người được khảo
sát đồng ý với chính sách hỗ trợ của Nhà
nước.
3.2.3. Giá đất tính bồi thường
Giá đất để tính bồi thường thiệt hại
về đất được áp dụng bảng giá đất quy định
Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND
ngày 30/10/2015 của UBND tỉnh Hải
Dương V/v ban hành bộ đơn giá bồi
thường cây trồng, thủy sản và đào đắp ao
nuôi trồng thủy sản; đơn giá hỗ trợ tiền
thuê nhà ở; đơn giá bồi thường di chuyển
mộ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
tỉnh Hải Dương.
Phần lớn người dân bị thu hồi đất tại
dự án nghiên cứu đồng ý với giá đất tính
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, bên
cạnh đó còn có một số hộ có ý kiến giá đất
bồi thường còn thấp hơn so với giá
chuyển nhượng thực tế trên thị trường,
người được bồi thường sẽ không đủ tiền
để tái đầu tư hoặc để nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với diện tích và điều
Tổng hợp ý kiến của người có đất bị
thu hồi trong việc xác định giá bồi thường
về cây cối hoa màu và tài sản trên đất của
dự án được thể hiện ở bảng 4:
Bảng 4. Bảng tổng hợp ý kiến của người dân về công tác bồi thường tài sản, cây cối
hoa màu
Ý kiến của người dân
Tiêu chí
Số ý kiến
Tỷ lệ %
Về tài sản
Hợp lý
102
83
19
93
78
15
81,4
18,6
Chưa hợp lý
Về cây cối, hoa màu
Hợp lý
83,9
16,1
Chưa hợp lý
* Tình hình đời sống của người dân có đất
bị thu hồi
Như vậy, phần lớn người dân có đất bị thu
hồi đều đánh giá việc xác định giá bồi
thường về cây cối hoa màu và tài sản trên
đất của dự án là hợp lý.
Nhìn chung đời sống nhân dân
không thay đổi nhiều, một vài hộ biết đầu
tư đúng chỗ, hợp lý nên cuộc sống của họ
có phần ổn định hơn. Tại dự án nghiên
cứu vì các hộ có diện tích đất nông nghiệp
thu hồi với tỷ lệ thấp, diện tích đất nông
nghiệp còn lại nhiều, do đó chưa tác động
nhiều đến cuộc sống của họ. Theo kết quả
điều tra sau khi bị thu hồi đất, thu nhập
chính của người dân hiện nay vẫn là từ sản
xuất nông nghiệp. Đồng thời không có
người dân nào có khó khăn trong cuộc
sống, vì ngoài nguồn thu từ đất nông
nghiệp (trồng ổi, táo, sả, chanh, quất…)
họ còn có nguồn thu khác như tiền từ
nước ngoài gửi về (lao động đi xuất khẩu)
và từ buôn bán nhỏ.
3.2.5. Tác động của công tác bồi thường, hỗ
trợ đến đời sống của các hộ dân bị thu hồi
đất
* Phương thức sử dụng tiền bồi thường,
hỗ trợ
Các hộ sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ
cho xây dựng, sửa chữa nhà cửa 8,3%; đầu
tư cho sản xuất kinh doanh 11,8%, gửi tiết
kiệm 14,6%, mua sắm đồ đạc 38,9% và chi
phí vào mục đích khác là 26,4%. Như vậy
hầu hết các hộ chú trọng đến việc xây
dựng, sửa chữa nhà cửa, mua sắm đồ đạc
và gửi tiết kiệm mà chưa quan tâm đến
một số vấn đề như đầu tư sản xuất kinh
doanh, học nghề...
* Tác động đến xã hội
Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến
trật tự, an ninh xã hội: Theo kết quả điều
tra, tình hình an ninh trật tự xã hội tốt hơn
chiếm từ 63,9%, không thay đổi chiếm
36,1% các hộ được điều tra. Do dự án thực
hiện việc bồi thường, hỗ trợ được diễn ra
một cách công khai, dân chủ, minh bạch.
Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ diễn ra
nhanh chóng.
hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tại dự án
đồng ý với cách xác định giá đất để bồi
thường. Đa số các cán bộ thực hiện công tác
bồi thường giải phóng mặt bằng đều đồng
ý về trình tự thực hiện công tác là phù hợp.
Tuy nhiên vấn đề về kinh phí hỗ trợ cho các
cán bộ làm nhiệm vụ còn thấp và áp lực
công việc từ phía các cấp lãnh đạo khá cao.
3.2.6. Những tồn tại và nguyên nhân khi
thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ
Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến
việc tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội
của người dân sau khi bị thu hồi cho thấy
các công trình được quy hoạch xây dựng
và đưa vào sử dụng sẽ mang lại cho địa
phương một bộ mặt hoàn toàn mới, đáp
ứng được các tiêu chí xây dựng nông thôn
mới trong giai đoạn hiện nay. Kết quả
đánh giá sự tiếp cận của người dân về cơ
sở hạ tầng tốt hơn đạt từ 88,2%, không
thay đổi từ 11,8%.
Việc xác nhận nguồn gốc sử dụng
đất gặp nhiều khó khăn ở dự án nghiên
cứu. Nguyên nhân là do công tác quản lý
nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế nên
việc xác định đối tượng để bồi thường gặp
nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian.
Giá đất nông nghiệp và đất ở áp
dụng tính bồi thường chưa sát với giá thị
trường, thấp hơn giá sinh lợi của mảnh đất
trên thực tế nên người bị thu hồi đất thấy
thiệt thòi. Nguyên nhân là do khi xác định
giá đất cụ thể còn thiếu thông tin chính thức
về giá đất trên thị trường, chưa có sự tham
gia của các đơn vị tư vấn định giá đất độc
lập.
Đánh giá của người dân về tình trạng
môi trường sau khi bị thu hồi đất: tình
trạng môi trường bị ô nhiễm, đặc biệt là ô
nhiễm không khí do khói bụi, ô nhiễm
tiếng ồn của máy móc thi công, phương
tiện tham gia giao thông bị ùn tắc ảnh
hưởng rất lớn đến các hộ gia đình xung
quanh dự án từ lúc thi công đến lúc công
trình thi công xong đưa vào sử dụng.
Về vấn đề năng lực của cán bộ thực
hiện công tác bồi thường, hỗ trợ: Nhìn
chung đội ngũ làm công tác bồi thường,
hỗ trợ còn kiêm nhiệm nhiều việc, số
lượng ít; có một số địa phương còn chưa
có sự vào cuộc của các cấp chính quyền,
coi công tác bồi thường, giải phóng mặt
Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ
thông qua phiếu điều tra cán bộ trực tiếp
thực hiện: Có 100% cán bộ trực tiếp thực
bằng là công việc của cán bộ địa chính xã
và Hội đồng bồi thường, hỗ trợ huyện.
Bên cạnh đó một số cán bộ thực hiện công
tác giải phóng mặt bằng còn là cán bộ tăng
cường từ lĩnh vực khác sang, trình độ,
chuyên môn hạn chế, nên khi tiếp xúc và
giải thích về chế độ chính sách bồi
thường, hỗ trợ cho người dân chưa rõ
ràng.
Nhà nước được các cơ quan chuyên môn
tham mưu kịp thời.
Tồn tại và nguyên nhân: Về cơ bản
giá đất, giá tài sản đã phản ánh đúng bản
chất, giá trị của nó, tuy nhiên trên thực tế
giữa giá bồi thường và giá thị trường vẫn
đang có một khoảng cách, nguyên nhân
do điều kiện giá thị trường luôn biến động
vì vậy trong quá trình tính bồi thường đã
gặp không ít khó khăn, nhân dân có nơi
chưa thực sự đồng tình, nhiều dự án phải
chờ duyệt điều chỉnh, bổ sung giá nhiều
lần. Việc xác định nguồn gốc, chủ sử dụng
đất, chế độ bồi thường, hỗ trợ....còn gặp
nhiều khó khăn do công tác quản lý Nhà
nước về đất đai trong thời gian qua còn
buông lỏng, chưa chặt chẽ và không đúng
pháp luật.
Vấn đề áp lực từ cấp trên: Có 08/10
ý kiến của cán bộ thực hiện nhiệm vụ giải
phóng mặt bằng đánh giá là có bị áp lực từ
cấp trên về tiến độ. Nguyên nhân chính là
do bệnh thành tích, đôi khi thủ tục pháp lý
của dự án chưa đầy đủ, cấp trên đã chỉ đạo
chuyên môn phải xuống hiện trạng kiểm
đếm, cây cối hoa màu và chạy phương án,
chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ trước rồi hoàn
thiện hồ sơ sau để lấy mặt bằng thi công
công trình.
* Về công tác hỗ trợ
Ưu điểm: Trước khi thực hiện chính
sách hỗ trợ, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ
huyện Thanh Hà đã họp và thăm dò ý kiến
của từng hộ gia đình, mức độ ảnh hưởng
của việc thu hồi đất, tác động đến đời
sống, kinh tế việc làm của từng hộ gia
đình, cá nhân để áp dụng các quy định về
chính sách hỗ trợ, nhằm khuyến khích các
hộ gia đình bị thu hồi đất sớm bàn giao
mặt bằng cho chủ đầu tư. Việc hỗ trợ trực
tiếp bằng tiền là phù hợp với nguyện vọng
của một số người dân.
3.2.7. Đánh giá chung công tác bồi thường,
hỗtrợ khiNhànướcthuhồiđấttrênđịabàn
huyện Thanh Hà
* Về công tác bồi thường
Ưu điểm: Có sự phối hợp của các
phòng ban có liên quan với ủy ban nhân
dân xã nơi có đất bị thu hồi nên tiến độ
thực hiện được đẩy nhanh. Việc xác định
đối tượng và điều kiện được bồi thường,
hỗ trợ được xem xét một cách rõ ràng và
theo đúng quy định. Các chính sách của
Tồn tại và nguyên nhân: Chưa tạo
được việc làm cho người có đất bị thu hồi,
người dân bị thu hồi đất nông nghiệp
thường mất một thời gian dài mới ổn định
sản xuất. Giá trị quy đổi thành tiền đối với
các khoản hỗ trợ còn thấp, người có đất bị
thu hồi khi nhận tiền hỗ trợ chưa có khả
năng sử dụng các khoản hỗ trợ để ổn định
sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo
việc làm. Thủ tục thực hiện qua nhiều
bước còn chồng chéo, thời gian kéo dài.
phần lớn đều có các yêu cầu khắt khe. Do
đó, những lao động lớn tuổi, thường là trụ
cột của gia đình, gặp nhiều khó khăn trong
tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập cho gia
đình. Tình trạng người lao động còn thụ
động, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà
nước; tâm lý chờ nhận sự ưu đãi của Nhà
nước đang tồn tại ở một số người dân,
không chủ động tìm kiếm việc làm theo
năng lực bản thân.
3.3. Đề xuất một số giải pháp thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn huyện
Thanh Hà, tỉnh Hải Dương
* Về ảnh hưởng của bồi thường, hỗ trợ
đến đời sống của người dân
Ưu điểm: Từ tiền bồi thường, có thể
mua sắm các công cụ phục vụ cho các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó
tạo cơ sở cho việc tiếp tục tăng nguồn
thu nhập và cải thiện đời sống. Các gia
đình cũng có thể dành ra một phần trong
số tiền bồi thường để đầu tư cho con em
học tập, nhằm tạo điều kiện để sau này
có thu nhập cao hơn, ổn định hơn. Cũng
từ tiền bồi thường, các hộ có điều kiện
để trang bị cho gia đình các thiết bị hiện
đại phục vụ cuộc sống hàng ngày.
3.3.1. Xác định đúng đối tượng và điều
kiện được bồi thường
Đẩy nhanh công tác cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và giải quyết việc
chuyển nhượng, cho tặng quyền sử dụng
đất của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định
đối tượng được bồi thường hoặc không
được bồi thường về đất.
Trước khi kiểm kê đất đai và tài sản
trên phạm vi thu hồi đất, tổ chức thực hiện
công tác giải phóng mặt bằng cần phối hợp
chặt chẽ với địa phương, yêu cầu các chủ
sử dụng đất cung cấp đầy đủ các giấy tờ về
quyền sử dụng đất nhằm xác định chính xác
ranh giới sử dụng đất hợp pháp của từng hộ
để xác định chủ sử dụng đất, diện tích và loại
đất được bồi thường.
Tồn tại và nguyên nhân: Sau khi thu
hồi đất lao động thiếu việc và không có
việc làm tăng do một số nguyên nhân như
sau: Việc cấp tốc đào đạo nghề là rất khó,
do đa số các hộ bị thu hồi đất thuộc nhiều
lứa tuổi, trình độ khác nhau, trong khi các
vị trí tuyển dụng trong các doanh nghiệp
3.3.2. Hoàn thiện quy định xác định giá
Xử lý nghiêm các trường hợp xây
dựng lấn chiếm đất đai, xây dựng vi phạm
trên đất nông nghiệp.
đất, giá tài sản tính bồi thường, hỗ trợ
Hoàn thiện quy định xác định giá đất,
giá tài sản để tính bồi thường, hỗ trợ, đẩy
mạnh việc áp dụng các biện pháp và công
cụ để duy trì sự ổn định, hạn chế sự biến
động ảo của giá đất trên thị trường.
Việc thu hồi đất, bồi thường, giải
phóng mặt bằng còn bất cập như chưa giải
quyết mối quan hệ giữa quyền của Nhà
nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn
dân về đất đai và quyền của người sử dụng
đất, dẫn tới nhấn mạnh quyền thu hồi đất
của nhà nước.
Điều tra khảo sát để xây dựng khung
giá đất của địa phương phù hợp với giá
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế
trên thị trường, có chính sách áp dụng giá
đất linh hoạt đối với các khu vực nhạy cảm
có lợi thế cao tiếp giáp với khu trung tâm,
đô thị, ven đường giao thông, ven trục quốc
lộ..., có sự chênh lệch hợp lý giữa giá đất
phi nông nghiệp và đất nông nghiệp để
tránh mâu thuẫn khi bồi thường, hỗ trợ.
3.3.4. Chính sách hỗ trợ ổn định cuộc sống
và việc làm của người dân có đất bị thu hồi
Cần có các giải pháp đồng bộ để
người bị thu hồi đất có cuộc sống tốt hơn
trước khi thu hồi đất, tạo điều kiện cho
người bị thu hồi đất có nguồn thu nhập mới,
ổn định. Đây không chỉ là trách nhiệm của
chủ đầu tư dự án mà còn là trách nhiệm của
cả chính quyền địa phương. Cần có những
chính sách hỗ trợ, tạo môi trường cho người
bị thu hồi đất sớm ổn định cuộc sống như:
hỗ trợ tạo lập nghề mới thông qua phát triển
các làng nghề truyền thống, hỗ trợ đào tạo
chuyển đổi nghề bằng tiền hoặc đào tạo
trong các trường, trung tâm dạy nghề để
được làm việc trong các doanh nghiệp tại
địa phương.
Đối với bồi thường vật kiến trúc, hoa
màu, vật nuôi: Rà soát phân loại chi tiết hơn
trong việc phân cấp, phân loại vật kiến trúc
để dễ áp giá bồi thường, trường hợp có biến
động mặt bằng giá cả phải được cập nhật
điều chỉnh để có được giá bồi thường phù
hợp.
3.3.3. Tăng cường công tác quản lý đất đai
Tăng cường công tác quản lý Nhà
nước về đất đai ở địa phương, thiết lập hồ
sơ địa chính đầy đủ, đẩy nhanh tiến độ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ
gia đình, cá nhân, làm tốt công tác chỉnh lý
biến động hồ sơ địa chính.
4. Kết luận
Trong 9 năm (2010 - 2019), Hội đồng
bồi thường, hỗ trợ tái định cư huyện Thanh
Hà đã thu hồi đất để thực hiện 169 dự án,
tổng diện tích là 160 ha; trong đó: thu hồi
đất nông nghiệp là 153,4 ha, đất phi nông
nghiệp là 6,6 ha của 3.677 hộ gia đình, cá
nhân đảm bảo tiến độ, đúng quy trình, đúng
chế độ chính sách của pháp luật đất đai.
động, sự vào cuộc của địa phương nơi có
đất thu hồi nên đã nhận được sự đồng
thuận, nhất trí cao của các hộ dân có đất
bị thu hồi để thực hiện dự án. Nhìn chung
mức giá bồi thường về tài sản áp dụng đối
với dự án là phù hợp với giá thực tế tại
thời điểm thu hồi đất.
Kết quả bồi thường, hỗ trợ tại dự
án “Nâng cấp đường tỉnh 390 (giai đoạn
1)” đã thu hồi diện tích đất là 15.631,6m2
với tổng kinh phí đã bồi thường,
hỗ trợ là: 11.196 triệu đồng, thu hồi của
144người sử dụngđất là hộgia đình, cá nhân
và tổ chức.
Đội ngũ làm công tác bồi thường, hỗ
trợ còn kiêm nhiệm nhiều việc, số lượng
ít; có một số địa phương còn chưa có sự
vào cuộc của các cấp chính quyền, coi
công tác bồi thường, hỗ trợ là công việc
của công chức địa chính xã và Hội đồng
bồi thường, hỗ trợ huyện.
Việc thực hiện chính sách bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
tại dự án nghiên cứu được đánh giá như
sau:
Để hoàn thiện công tác bồi thường,
hỗ trợ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp
như: hoàn thiện quy định xác định giá đất,
giá tài sản để tính bồi thường, hỗ trợ; tăng
cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ; tăng kinh phí hỗ trợ
thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và
tăng cường công tác quản lý đất đai, cập
nhật, chỉnh lý các biến động kịp thời, chính
sách hỗ trợ, đào tạo nghề và tìm kiếm việc
làm.
Việc xác định đối tượng và điều kiện
bồi thường: Hội đồng bồi thường, hỗ trợ
huyện và ủy ban nhân dân các xã đã xem
xét kỹ hồ sơ pháp lý, xác định nguồn gốc
sử dụng và đối tượng sử dụng đất để thực
hiện bồi thường, hỗ trợ cho 144 tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân.
Giá đất tính bồi thường, hỗ trợ tại
dự án tuy chưa phù hợp với giá thị trường
nhưng do công tác tuyên truyền, vận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Chính phủ (2014), Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014, Về việc bồi thường
thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
[2]. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Hà (2019), Báo cáo kết quả thực hiện
Kế hoạch sử dụng đất và các dự án sử dụng đất trên địa bàn huyện từ năm 2010 - 2019
(Tại Báo cáo số 07/BC-TNMT ngày 15/3/2019).
[4]. UBND tỉnh Hải Dương (2014), Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND ngày 20/12/2014 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Hải Dương ban hành bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
[5]. UBND tỉnh Hải Dương (2014), Quyết định số 37/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 ban
hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hải
Dương.
[6]. UBND tỉnh Hải Dương (2015), Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 30/10/2015, V/v ban
hành bộ đơn giá bồi thường cây trồng, thủy sản và đào đắp ao nuôi trồng thủy sản; đơn giá hỗ
trợ tiền thuê nhà ở; đơn giá bồi thường di chuyển mộ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
13
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại dự án nâng cấp đường tỉnh 390 (giai đoạn 1) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_cong_tac_boi_thuong_ho_tro_khi_nha_nuoc_thu_hoi_dat.pdf

