Bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra tại Việt Nam

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 51-58  
Original Article  
The Issue of Compensation for Damage Caused  
by Violations of Competition Law in Vietnam  
Tran Anh Tu*, Trinh Van Hung  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 07 January 2021  
Revised 14 February 2021; Accepted 26 March 2021  
Abstract: In Viet nam, current legal provisions related to the compensation for damages caused by  
the violation of competition law, are limited and have some irrelevant issues.This fact has greatly  
influenced on settlement of disputes raised from competition relations - A type of dispute is  
forseen to occur in the near future. The following article contributes to outline a legal framework  
on compensation for damages caused by violations of competition law, at the same time, analyzes  
and evaluates some shortcomings of the current regulations on the basis of comparision to practical  
demand for the purpose of providing some orientations and solutions to perfect these regulations.  
Keywords: Competition, competition law, violations of competition law, civil liability.  
D*  
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]n  
51  
T.A. Tu / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 1-10  
52  
Bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật  
cạnh tranh gây ra tại Việt Nam  
Trần Anh Tú *, Trịnh Văn Hưng  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 07 tháng 01 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 14 tháng 02 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 26 tháng 3 năm 2021  
Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, các quy định pháp luật có liên quan tới vấn đề bồi thường thiệt  
hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra còn nhiều hạn chế và khiếm khuyết và thực  
trạng này ảnh hưởng lớn tới việc giải quyết các tranh chấp do quan hệ cạnh tranh mang lại – Một  
dạng tranh chấp được dự báo sẽ diễn ra ngày càng nhiều trong thời gian tới. Bài viết dưới đây góp  
phần phác thảo khung pháp lý về bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm luật cạnh tranh gây ra,  
đồng thời, phân tích, đánh giá những hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành trên cơ sở đối  
chiếu với những vấn đề mà thực tiễn đặt ra để từ đó có những định hướng và giải pháp nhằm hoàn  
thiện các quy định này.  
Từ khóa: Cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh, hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, bồi thường thiệt  
hại ngoài hợp đồng.  
*Tại Việt Nam hiện nay, việc giải quyết yêu  
Ngày 10/3/2020, Tòa án Nhân dân cấp cao  
tại Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét  
xử phúc thẩm vụ kiện “tranh chấp bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng” giữa nguyên đơn là  
Công ty Cổ phần Ánh Dương Việt Nam  
(Vinasun) và bị đơn là Công ty Trách nhiệm  
hữu hạn Grab (Grab). Với quyết định giữ  
nguyên kết quả của bản án sơ thẩm, bản án  
phúc thẩm mà Tòa án Nhân dân cấp cao tại  
Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra đã khép lại vụ  
tranh chấp kéo dài hơn hai năm với không ít sự  
quan tâm của dư luận xã hội nhưng lại không  
nhận được sự đồng tình của tất cả các bên liên  
quan, từ nguyên đơn tới bị đơn và kể cả Viện  
Kiểm sát Nhân dân (hai cấp). Xét về bản chất,  
vụ tranh chấp giữa Vinasun và Grab là tranh  
chấp phát sinh từ quan hệ cạnh tranh và sự  
“bối rối” của các cơ quan tố tụng trong việc  
giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của  
nguyên đơn đã phản ánh rất rõ những bất cập  
trong các quy định pháp luật hiện nay về bồi  
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật  
cạnh tranh gây ra.  
cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm  
pháp luật cạnh tranh gây ra được Luật Cạnh  
tranh (2018) dꢀn chiếu tới các quy định của  
pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài  
hợp đồng. Về nguyên tắc, mọi tổ chức, cá nhân  
cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị  
bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm pháp luật  
cạnh tranh đều có quyền khởi kiện để yêu cầu  
bên có hành vi vi phạm phải bồi thường thiệt  
hại cho mình. Tuy nhiên, khung pháp lý về giải  
quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi  
phạm pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay  
còn nhiều hạn chế như: Quy trình giải quyết  
không rõ ràng, đồng bộ gây khó khăn cho thiết  
chế có thẩm quyền khi xử lý; thiếu các đảm bảo  
cần thiết cho tổ chức, cá nhân bị thiệt hại khi  
thực hiện tố quyền; các quy định không phù  
hợp với tính chất đặc thù của thiệt hại trong  
cạnh tranh,…  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
T.A. Tu, T.V. Hung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 51-58  
53  
Việc hoàn thiện các quy định pháp luật  
nhằm tạo ra một cơ chế pháp lý thích hợp, hiệu  
quả để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại  
do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra  
ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết, bởi lẽ cùng  
với sự gia tăng của các hành vi vi phạm pháp  
luật cạnh tranh trên thị trường, những yêu cầu  
như vậy trong thời gian tới sẽ diễn ra ngày càng  
nhiều, đồng thời còn nhằm đảm bảo cho chúng  
ta có thể thực thi tốt các nội dung đã cam kết về  
chính sách sách và pháp luật cạnh tranh trong  
các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam  
đã ký kết và tham gia trong thời gian qua1.  
(2015) về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.  
Về nguyên tắc, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại  
cũng có thể khởi kiện ngay tại Tòa án để yêu  
cầu bồi thường mà không cần phải khiếu nại vụ  
việc tới Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.  
Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự  
(2015), một trong những căn cứ làm phát sinh  
nghĩa vụ dân sự là việc “gây thiệt hại do hành  
vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này  
là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba Bộ  
luật này về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng”. Theo khoản 1, Điều 584 Bộ  
luật Dân sự (2015): “Người nào có hành vi xâm  
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân  
phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp  
khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải  
bồi thường, trừ trường hợp bộ luật này, luật  
khác có liên quan quy định khác”. Căn cứ vào  
các quy định hiện nay của Bộ luật Dân sự  
(2015), trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng phát sinh khi có đủ các điều  
kiện sau: thứ nhất, có thiệt hại thực tế xảy ra;  
thứ hai, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái  
pháp luật; thứ ba, có mối quan hệ nhân quả  
giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế  
xảy ra; thứ tư, người gây thiệt hại có lỗi “cố  
ý” hoặc “vô ý”.  
Bên cạnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
của thương nhân do thực hiện hành vi vi phạm  
pháp luật cạnh tranh, khoản 1 Điều 113 Luật  
Cạnh tranh (2018) còn có quy định: “Trường  
hợp cơ quan nhà nước thực hiện hành vi quy  
định tại khoản 1 Điều 8 của Luật này, Ủy ban  
Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm yêu cầu cơ  
quan nhà nước chấm dứt hành vi vi phạm và  
khắc phục hậu quả. Cơ quan nhà nước được yêu  
cầu phải chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục  
hậu quả và bồi thường thiệt hại theo quy định  
của pháp luật”. Như vậy, trong quá trình thực  
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt  
động sản xuất, kinh doanh, nếu người thi hành  
công vụ, cơ quan nhà nước vi phạm các điều  
cấm kể trên mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá  
nhân thì tổ chức, cá nhân bị thiệt hại cũng có  
quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy  
định của pháp luật.  
1. Cơ sở pháp lý để giải quyết yêu cầu bồi  
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp  
luật cạnh tranh gây ra ở Việt Nam hiện nay  
Theo quy định của pháp luật Việt Nam  
hiện nay, trong quá trình điều tra, xử lý vụ  
việc cạnh tranh, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia  
không giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại  
do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây  
ra. Điều 110 Luật Cạnh tranh (2018) quy  
định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm  
pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi  
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp  
của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường  
thiệt hại theo quy định của pháp luật”.  
Như vậy, sau khi quyết định xử lý vụ việc  
cạnh tranh có hiệu lực, mọi tổ chức, cá nhân bị  
thiệt hại bởi hành vi vi phạm pháp luật cạnh  
tranh có quyền khởi kiện tại tòa án (tòa dân sự  
theo thẩm quyền) để yêu cầu bồi thường thiệt  
hại căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự  
_______  
1Theo yêu cầu của Hiệp định đối tác toàn diện và  
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), các quốc  
gia thành viên phải có Luật hoặc các biện pháp khác  
(ví dụ như các quy định, thủ tục) cho phép các doanh  
nghiệp hoặc cá nhân (kể cả từ các nước thành viên  
CPTPP khác) có hành động pháp lý để đòi bồi  
thường cho tổn thất hoặc thiệt hại do hành vi vi  
phạm pháp luật cạnh tranh quốc gia. Xem thêm nội  
dung Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên  
Thái Bình Dương [1].  
T.A. Tu, T.V. Hung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 51-58  
54  
Cạnh tranh (sửa đổi)” năm 2017, trước ý kiến  
cho rằng đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh  
và tập trung kinh tế, việc giải quyết về mặt hành  
chính cần được thực hiện theo quy định của  
Luật Cạnh tranh, ngoài ra các bên có thể đưa ra  
tòa án để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại  
theo thủ tục tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị  
bổ sung quyền của tổ chức, cá nhân trong việc  
lựa chọn khởi kiện ra toà án, tránh cách hiểu  
việc giải quyết vụ việc cạnh tranh chỉ được tiến  
hành theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật  
Cạnh tranh, Bộ Công Thương đã giải trình rằng  
việc đó là không cần thiết vì: “Bộ luật Tố tụng  
dân sự đã ghi nhận quyền của cơ quan, tổ chức,  
cá nhân trong việc khởi kiện vụ án dân sự, yêu  
cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án có thẩm  
quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
mình hoặc của người khác. Như vậy, đây là  
quyền đã được ghi nhận, thuộc phạm vi quy  
định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc Luật  
Cạnh tranh không quy định tổ chức, cá nhân có  
quyền lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục  
tố tụng dân sự là không trái và không làm triệt  
tiêu quyền này” [4, tr.10].  
Cách giải thích này của Bộ Công thương  
cho phép chúng ta hiểu rằng mọi tổ chức, cá  
nhân bị thiệt hại bởi hành vi vi phạm pháp luật  
cạnh tranh đều có quyền khởi kiện ngay tại tòa  
án để yêu cầu bồi thường thiệt hại mà bỏ qua  
vai trò giải quyết của cơ quan cạnh tranh. Tuy  
nhiên, tại Việt Nam hiện nay, việc giải quyết  
yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm  
pháp luật cạnh tranh gây ra tại Tòa án mà không  
cần tới sự tham gia của cơ quan cạnh tranh là  
không hợp lý bởi hai lý do:  
2. Phân tích, bình luận và một số kiến nghị  
nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường  
thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh  
tranh gây ra ở Việt Nam hiện nay  
2.1. Về thẩm quyền và thủ tục giải quyết yêu  
cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm  
pháp luật cạnh tranh gây ra  
Việc Luật Cạnh tranh (2004) và Luật Cạnh  
tranh (2018) đều dꢀn chiếu việc giải quyết yêu  
cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm  
pháp luật cạnh tranh gây ra đến các quy định  
của pháp luật dân sự cũng có nghĩa là ở Việt  
Nam hiện nay thẩm quyền giải quyết loại yêu  
cầu này thuộc về hệ thống tòa tư pháp, cụ thể là  
tòa dân sự.  
Theo thông lệ chung trên thế giới, yêu cầu  
bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp  
luật cạnh tranh gây ra có liên quan trực tiếp đến  
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá  
nhân nên việc giao cho cơ quan tư pháp giải  
quyết là hoàn toàn hợp lý [2, tr.8]. Tại Liên  
minh Châu Âu, Quy định chi tiết thực thi chế  
định kiện đòi bồi thường thiệt hại trong các vụ  
việc cạnh tranh được Hội đồng Châu Âu thông  
qua ngày 10/11/2014 và được Chủ tịch Nghị  
viện Châu Âu ký ban hành ngày 26/11/2014.2  
Theo Quy định này thì:“Quyết định cuối cùng  
của cơ quan cạnh tranh tại một quốc gia trong  
đó xác định hành vi vi phạm pháp luật cạnh  
tranh sẽ tự động được coi là bằng chứng về  
hành vi vi phạm trước toà án của quốc gia đó,  
nơi mà hành vi vi phạm được thực hiện, để làm  
cơ sở giải quyết việc kiện đòi bồi thường; các bị  
hại sẽ có ít nhất một năm, kể từ ngày cơ quan  
cạnh tranh ra quyết định cuối cùng, để thực hiện  
quyền kiện đòi bồi thường thiệt hại” [3].  
- Thứ nhất: Căn cứ pháp lý làm phát sinh  
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong trường hợp  
này được xác định là hành vi gây thiệt hại trái  
pháp luật theo quy định tại khoản 5 Điều 275  
Bộ luật Dân sự (2015). Như vậy, tòa án trước  
khi xác định trách nhiệm bồi thường cho bị đơn  
phải tuyên bố được rằng bị đơn đã có hành vi  
trái pháp luật gây thiệt hại cho nguyên đơn.  
Hành vi trái pháp luật ở đây là hành vi vi phạm  
pháp luật cạnh tranh. Cũng cần lưu ý rằng, hành  
vi vi phạm pháp luật cạnh tranh theo Luật Cạnh  
tranh (2018) sẽ bao gồm ba loại là hành vi vi  
phạm pháp luật chống cạnh tranh không lành  
Tại Việt Nam, trong “Báo cáo tiếp thu, giải  
trình ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và  
các Ủy ban của Quốc hội đối với dự thảo Luật  
_______  
2
Sự ra đời của Quy định này là nhằm thực thi một  
cách có hiệu quả các quy định pháp luật chung về  
cạnh tranh của Liên minh Châu Âu thông qua việc  
tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các tổ chức, cá nhân  
bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh  
gây ra thực hiện quyền kiện đòi bồi thường.  
T.A. Tu, T.V. Hung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 51-58  
55  
mạnh, hành vi vi phạm pháp luật chống hạn chế  
cạnh tranh và hành vi vi phạm quy định về tập  
trung kinh tế vốn khác nhau về bản chất. Khi cơ  
quan có thẩm quyền ra phán quyết một hành vi  
cạnh tranh nào đó có vi phạm pháp luật cạnh  
tranh hay không phải căn cứ vào các chứng cứ  
để chứng minh. Trong khi đó, bản thân tòa án  
không có công cụ điều tra, chỉ có thể yêu cầu  
các bên cung cấp chứng cứ mà không thể tự  
mình điều tra, thu thập chứng cứ để chứng  
minh. Nội dung chứng minh trong trường hợp  
vụ việc hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế  
là rất phức tạp, từ việc xác định thị trường liên  
quan, xác định quyền lực thị trường và khả  
năng gây hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp  
(nhóm doanh nghiệp) trên thị trường liên quan  
mới có thể chứng minh được hành vi vi phạm  
và chủ thể thực hiện hành vi vi phạm. Như vậy,  
để tòa án có thể ra phán quyết về tính trái pháp  
luật của một hành vi cạnh tranh và giải quyết  
yêu cầu bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn,  
nhất thiết tòa án phải được sự hỗ trợ của cơ  
quan cạnh tranh trong việc điều tra để cung cấp  
chứng cứ chứng minh [5].  
- Thứ hai: Với chức năng bảo vệ thị trường  
trước các hành vi phản cạnh tranh, phá hủy  
cạnh tranh, cơ quan cạnh tranh của tất cả các  
quốc gia trên thế giới đều được thiết kế với vai  
trò như một cơ quan “gác cửa” cho mọi hoạt  
động cạnh tranh diễn ra trên thị trường. Cơ  
quan này có thẩm quyền can thiệp, xử lý về mặt  
hành chính đối với bất kỳ hành vi cạnh tranh  
nào có thể gây tổn hại cho thị trường hoặc áp  
dụng các biện pháp cần thiết nhằm khắc phục  
những biến dạng, khôi phục lại nguyên trạng thị  
trường như trước khi hành vi vi phạm gây ra.  
Do đó, nếu chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường  
thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh  
tranh gây ra tại Tòa án, bỏ qua vai trò “gác cửa”  
của cơ quan cạnh tranh sẽ làm mất đi giá trị của  
Luật Cạnh tranh.  
cạnh tranh là không thể và không hợp lý.  
Nhưng Tòa án lại không thể từ chối nghĩa vụ  
xét xử của mình khi tổ chức, cá nhân khởi kiện.  
Để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,  
quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của  
các tổ chức, cá nhân, Điều 4 Bộ luật Tố tụng  
Dân sự (2015) và khoản 2 Điều 14 Bộ luật Dân  
sự 2015 đều có quy định tòa án không được từ  
chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có  
điều luật để áp dụng. Do đó, giải pháp đưa ra  
trong trường hợp này là chúng ta phải thiết lập  
mối quan hệ pháp lý chặt chẽ giữa cơ quan cạnh  
tranh và Tòa án để trên cơ sở đó:  
+ Thứ nhất: Trong trường hợp nếu tổ chức,  
cá nhân bị thiệt hại thực hiện quyền khiếu nại  
đến cơ quan cạnh tranh có kèm theo yêu cầu đòi  
bồi thường thiệt hại, cơ quan cạnh tranh sẽ thụ  
lý, điều tra và xử lý theo thẩm quyền (xử lý  
hành chính) sau đó chuyển yêu cầu bồi thường  
thiệt hại cho tòa án giải quyết hoặc hướng dꢀn  
cho bên bị thiệt hại sử dụng các kết quả xử lý  
của mình để khởi kiện tại tòa án yêu cầu bồi  
thường thiệt hại. Với các quy định pháp luật  
hiện nay, về nguyên tắc tòa án có thể thừa nhận  
giá trị pháp lý của quyết định xử lý vụ việc  
cạnh tranh mà cơ quan cạnh tranh đã ban hành  
hoặc tự mình độc lập xác định tính trái pháp  
luật của hành vi trong quá trình giải quyết yêu  
cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, như đã  
phân tích ở trên, trong trường hợp này tòa án  
cần thừa nhận kết quả xử lý của cơ quan cạnh  
tranh làm căn cứ cho việc giải quyết yêu cầu  
bồi thường thiệt hại của mình.  
+ Thứ hai: Trong trường hợp nếu tổ chức,  
cá nhân bị thiệt hại thực hiện ngay quyền khởi  
kiện tại tòa án mà không thực hiện quyền khiếu  
nại đến cơ quan cạnh tranh, tòa án phải có  
quyền yêu cầu cơ quan cạnh tranh tiến hành  
điều tra và ra quyết định xử lý, xác định rõ tính  
trái pháp luật của hành vi làm căn cứ cho tòa án  
giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong  
quá trình xử lý hành chính, cơ quan cạnh tranh  
có thể áp dụng các chế tài hành chính và các  
biện pháp khắc phục về mặt thị trường để đảm  
bảo chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh  
của mình.  
Với những lý do kể trên, trong bối cảnh ở  
Việt Nam hiện nay, việc Tòa dân sự hay bất kỳ  
một Tòa tư pháp nào giải quyết yêu cầu bồi  
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật  
cạnh tranh gây ra mà không cần đến cơ quan  
T.A. Tu, T.V. Hung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 51-58  
56  
2.2. Về vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi vi  
phạm pháp luật cạnh tranh của cơ quan nhà  
nước gây ra  
do hành vi trái pháp luật của người thi hành  
công vụ gây ra theo quy định của Luật trách  
nhiệm bồi thường của nhà nước”. Trong khi đó,  
Điều 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà  
nước (2017) quy định về phạm vi trách nhiệm  
bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản  
lý hành chính chỉ xác định 14 trường hợp mà  
nhà nước có trách nhiệm phải bồi thường, trong  
đó không có trường hợp nào là hành vi bị cấm  
được mô tả tại khoản 1 Điều 8 Luật cạnh tranh  
(2018). Như vậy, để có thể thi hành được quy  
định tại khoản 1 Điều 113 làm cơ sở cho việc tổ  
chức, cá nhân yêu cầu bồi thường thiệt hại do  
hành vi vi phạm khoản 1 Điều 8 Luật Cạnh  
tranh (2018) của các cơ quan nhà nước thì Luật  
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (2017) cần  
được sửa đổi theo hướng quy định mở về các  
trường hợp, hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi  
thường của Nhà nước, cụ thể là: ngoài các trường  
hợp đã được liệt kê như hiện nay tại Điều 17 cần  
có thêm “các trường hợp khác mà pháp luật quy  
định” [7].  
Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt  
hại của cơ quan nhà nước do vi phạm pháp luật  
cạnh tranh tại khoản 1 Điều 113 cùng với quy  
định tại khoản 3 Điều 2 về việc mở rộng đối  
tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh đối với các  
“Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước  
ngoài có liên quan” là một điểm mới của Luật  
Cạnh tranh (2018) so với Luật Cạnh tranh  
(2004) nhằm đảm bảo thực thi các quy định  
cấm tại khoản 1 Điều 8 đối với các cơ quan nhà  
nước khi thực hiện hành vi gây cản trở cạnh  
tranh trên thị trường, bao gồm: a) Ép buộc, yêu  
cầu, khuyến nghị doanh nghiệp, cơ quan, tổ  
chức, cá nhân phải thực hiện hoặc không thực  
hiện việc sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung  
ứng, sử dụng dịch vụ cụ thể hoặc mua, bán  
hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ với doanh  
nghiệp cụ thể, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh  
vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp  
khẩn cấp theo quy định của pháp luật; b) Phân  
biệt đối xử giữa các doanh nghiệp; c) Ép buộc,  
yêu cầu, khuyến nghị các hiệp hội ngành, nghề,  
tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác hoặc các  
doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm hạn chế  
cạnh tranh trên thị trường; d) Lợi dụng chức vụ,  
quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt  
động cạnh tranh”. Có thể nói rằng, các quy định  
này của Luật Cạnh tranh (2018) là rất phù hợp,  
góp phần kiểm soát hiện tượng “Độc quyền  
hành chính” vốn diễn ra khá phổ biến ở Việt  
Nam hiện nay khi các cơ quan quản lý nhà nước  
thường có những hành vi can thiệp bất hợp lý  
vào hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra “đặc lợi”  
cho doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp) này  
nhưng lại gây bất lợi cho các doanh nghiệp  
khác trong cạnh tranh [6, tr.808-819]. Tuy  
nhiên, khi xem xét trong tổng thể các quy định  
pháp luật có liên quan, có thể thấy quy định về  
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan  
nhà nước do vi phạm khoản 1 Điều 8 Luật Cạnh  
tranh sẽ khó thực thi trên thực tế, bởi lẽ: Điều  
598 Bộ luật Dân sự (2015) về bồi thường thiệt  
hại do người thi hành công vụ gây ra quy định  
“Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại  
2.3. Về việc xác định thiệt hại do hành vi vi  
phạm pháp luật cạnh tranh gây ra  
Các loại thiệt hại được bồi thường theo  
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng được quy định từ Điều 589 - 593 Bộ luật  
Dân sự (2015) gồm có: 1) Thiệt hại do tài sản bị  
xâm phạm; 2) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm  
phạm; 3) Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm;  
4) Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị  
xâm phạm. Trong đó, thiệt hại do tài sản bị xâm  
phạm được xác định là: Tài sản bị mất, bị hủy  
hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc  
sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút;  
chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc  
phục thiệt hại; thiệt hại khác do luật quy định.  
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm  
phạm được xác định bao gồm: Chi phí hợp lý  
để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực  
tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại khác do luật  
quy định.  
So với các loại thiệt hại kể trên, thiệt hại  
trong cạnh tranh là một loại thiệt hại rất đặc thù,  
đó là các tổn thất về kinh tế do hành vi vi phạm  
pháp luật cạnh tranh gây ra. Các tổn thất này  
T.A. Tu, T.V. Hung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 51-58  
57  
không phát sinh do tài sản bị mất mát, phá hủy,  
hư hỏng hay tính mạng, sức khỏe bị xâm hại mà  
là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm pháp  
luật cạnh tranh, bao gồm: Các cơ hội kinh  
doanh bị bỏ lỡ; các khoản lợi nhuận và thu nhập  
bị mất hoặc giảm sút; các khoản lỗ phải gánh  
chịu; các chi phí phát sinh,… Do đó, việc xác  
định thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật  
cạnh tranh gây ra sẽ không hợp lý nếu chỉ căn  
cứ vào các quy định hiện tại trong Bộ luật Dân  
sự (2015).  
Tại Hoa Kỳ, trong các vụ kiện đòi bồi  
thường thiệt hại do hành vi phản cạnh tranh gây  
ra, nguyên đơn buộc phải chỉ ra được thiệt hại  
mà họ đòi bồi thường, đây là loại thiệt hại đặc  
biệt gọi là “thiệt hại trong cạnh tranh”. Điều 4,  
Đạo luật Clayton cho phép bồi thường thiệt hại  
cho “những người nào đã bị thiệt hại trong hoạt  
động kinh doanh hoặc thiệt hại về tài sản do  
một hành vi vi phạm pháp luật chống độc quyền  
gây ra…”[8].  
phạm pháp luật cạnh tranh [9, tr.48-52]. Ngoài  
ra, việc giới hạn mức bồi thường tổn thất về  
tinh thần không quá mười lần mức lương cơ sở  
do Nhà nước quy định (trừ trường hợp các bên  
có thỏa thuận khác) tại khoản 2 Điều 592 Bộ  
luật Dân sự (2015) cũng là không phù hợp trong  
trường hợp uy tín của doanh nghiệp bị mất, bị  
hủy hoại, giảm sút bởi hành vi vi phạm pháp  
luật cạnh tranh. Việc doanh nghiệp bị mất uy  
tín trong hoạt động kinh doanh sẽ làm mất đi  
năng lực cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp  
trên thị trường và kèm theo đó có thể là những  
khoản lợi nhuận khổng lồ bị mất hay những  
khoản lỗ lớn mà doanh nghiệp phải gánh chịu.  
Kinh nghiệm tại Hoa Kỳ cho thấy để  
khuyến khích việc khởi kiện trong trường hợp  
này, đồng thời tăng tính răn đe đối với các hành  
vi vi phạm, Điều 4 Đạo luật Clayton đưa ra  
mức bồi thường có thể gấp ba lần thiệt hại thực  
tế cùng toàn bộ phí tổn cho việc theo đuổi vụ  
kiện, bao gồm cả chi phí hợp lý để thuê luật sư  
[8]. Tại Đài Loan, Điều 31 Luật Thương mại  
lành mạnh (2015) cũng có quy định trong  
trường hợp hành vi vi phạm là cố ý, theo yêu  
cầu của bên bị thiệt hại và căn cứ vào phạm vi  
ảnh hưởng của hành vi, tòa án có thể ra phán  
quyết buộc bồi thường lớn hơn mức tổn thất  
thực tế, miễn là mức ấy không vượt quá ba lần  
thiệt hại thực tế được chứng minh [10].  
Để bổ sung cho các quy định của Bộ luật  
Dân sự (2015), chúng tôi cho rằng Hội đồng  
thẩm phán Tòa tối cao nên có hướng dꢀn riêng,  
chi tiết về “Thiệt hại do hành vi vi phạm pháp  
luật cạnh tranh gây ra” làm cơ sở cho việc xác  
định và giải quyết loại yêu cầu bồi thường này  
trong thực tế.  
2.4. Về mức bồi thường thiệt hại do hành vi vi  
Để khuyến khích việc khiếu nại, khởi kiện,  
đồng thời tăng tính răn đe đối với các hành vi vi  
phạm pháp luật cạnh tranh, mức bồi thường  
không thể áp dụng như trong Bộ luật Dân sự  
(2015) về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.  
Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới  
như Hoa Kỳ hay Đài Loan, như đã phân tích ở  
trên, có thể là những gợi ý cho Việt Nam trong  
việc xây dựng quy định riêng về mức bồi  
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật  
cạnh tranh gây ra.  
phạm pháp luật cạnh tranh gây ra  
Đặc thù của hành vi vi phạm pháp luật cạnh  
tranh là có thể gây thiệt hại cùng lúc cho nhiều  
tổ chức, cá nhân khác nhau và trong nhiều  
trường hợp thiệt hại gây ra cho mỗi tổ chức, cá  
nhân là không lớn. Chính vì vậy, các tổ chức, cá  
nhân bị thiệt hại đôi khi không quá thiết tha với  
“tố quyền” kiện đòi bồi thường thiệt hại của  
mình. Trong khi đó, mức bồi thường thiệt hại  
ngoài hợp đồng được xác định theo các nguyên  
tắc quy định tại Điều 585, Bộ luật Dân sự  
(2015) sẽ không thể lớn hơn tổng thiệt hại thực  
tế của bên bị thiệt hại. Quy định về mức bồi  
thường ngang bằng như hiện nay là không phù  
hợp, không khuyến khích được các doanh  
nghiệp, đặc biệt là người tiêu dùng khởi kiện  
trong trường hợp bị thiệt hại bởi hành vi vi  
2.5. Về thời hiệu và cách tính thời hiệu khởi  
kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi  
phạm pháp luật cạnh tranh gây ra  
Theo quy định tại Điều 77 và Điều 80 Luật  
Cạnh tranh (2018), thời hiệu khiếu nại vụ việc  
cạnh tranh là 02 năm tính từ thời điểm hành vi  
T.A. Tu, T.V. Hung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 51-58  
58  
Tài liệu tham khảo  
có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh  
được thực hiện. Trong chế định bồi thường  
thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự  
(2015), Điều 588 cũng quy định thời hiệu  
khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03  
năm nhưng kể từ ngày người có quyền yêu  
cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp  
pháp của mình bị xâm phạm.  
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự  
(2015), một hành vi vi phạm pháp luật có thể  
diễn ra từ rất lâu, song nếu hành vi đó gây ra  
thiệt hại cho người khác thì thời hiệu khởi kiện  
được tính từ thời điểm bên bị thiệt hại biết hoặc  
phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị  
xâm hại chứ không phải tại thời điểm hành vi  
được thực hiện. Sự khác nhau trong cách tính  
thời hiệu khiếu nại giữa Luật Cạnh tranh (2018)  
và Bộ luật Dân sự (2015) sẽ dꢀn đến tình huống  
thực tế là bên khiếu nại khi nhận thấy quyền và  
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi  
hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh và tiến  
hành khởi kiện tại tòa án đòi bồi thường thiệt  
hại thì thời hiệu khởi kiện vꢀn còn song thời  
hiệu để điều tra và xử lý hành vi vi phạm pháp  
luật cạnh tranh đã hết.  
[1] Trung tâm WHO và Hội nhập - Phòng Thương  
mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp định Đối tác  
Thương mại xuyên Thái Bình Dương,  
25.11.2020;  
[2] UNCTAD (2000), Luật mꢀu về cạnh tranh  
(Người dịch: Hoàng Xuân Bắc);  
[3] Official Journal of the European Union,  
cập ngày 7/12/2020.  
[4] Bộ Công Thương (2017), Báo cáo tiếp thu, giải  
trình ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và  
các Ủy ban của Quốc hội đối với Dự thảo Luật  
Cạnh tranh (sửa đổi), Hồ sơ Dự án Luật Cạnh  
tranh (sửa đổi);  
[5] Trần Anh Tú, Về cơ chế đảm bảo quyền khiếu  
nại vụ việc cạnh tranh, Tạp chí Nghiên cứu Lập  
pháp, số 21, kỳ 1 - Tháng 11/2018;  
[6] Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh  
tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;  
[7] Đỗ Văn Đại (2016), Phạm vi của Luật trách  
nhiệm bồi thường của Nhà nước, Tạp chí Nghiên  
cứu Lập pháp số 20 (324), tháng 10/2016;  
[8] Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, link:  
truy cập ngày 7/12/2020.  
[9] Đào Ngọc Báu (2017), Bồi thường thiệt hại ngoài  
hợp đồng: Phân tích từ góc độ pháp luật cạnh  
tranh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam,  
số 19(8) 8.2017;  
[10] Ủy ban Thương mại lành mạnh Đài Loan,  
7/12/2020.  
Chúng tôi cho rằng quy định về cách tính  
thời hiệu của Luật Cạnh tranh và Bộ luật Dân  
sự cần thiết phải được quy định lại một cách  
thống nhất để đảm bảo quyền khiếu nại/khởi  
kiện của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi  
vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra.  
K
p
pdf 8 trang Thùy Anh 11640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfboi_thuong_thiet_hai_do_hanh_vi_vi_pham_phap_luat_canh_tranh.pdf