Quy định pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại Cổ phần (Phần 2)
2. Thực trạng pháp luật quy định về quản trị ngân hàng thương mại và
những bất cập
Hiện nay, điều chỉnh về quản trị NHTMCP có các văn bản sau: Luật các
TCTD năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD năm
2017, Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 của Chính phủ Về tổ chức và
hoạt động của ngân hàng thương mại[6]; Thông tư 06/2010/TT-NHNN ngày
26/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Hướng dẫn về tổ chức, quản trị,
điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều
lệ của NHTM do NHNN Việt Nam ban hành (Thông tư 06/2010/TT-NHNN);
Thông tư 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của NHNN Quy định về hệ thống
kiểm soát nội bộ của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư
13/2018/TT-NHNN). Bên cạnh các văn bản trên, do NHTMCP cũng là công ty cổ
phần nên vẫn phải chịu sự điều chỉnh bởi quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2014. Đồng thời, các NHTMCP hiện nay còn là công ty đại chúng nên hoạt động
quản trị của NHTMCP còn chịu sự điều chỉnh của Nghị định 71/2017/NĐ-CP ngày
06/06/2017 của Chính phủ Hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng với công ty đại
chúng và Thông tư số 95/2017/TT-BTC ngày 22/09/2017 của Bộ Tài chính Về việc
hướng dẫn một số điều của Nghị định 71/2017/NĐ-CP ngày 06/06/2017 của Chính
phủ.
Về cơ bản, pháp luật hiện hành điều chỉnh về hoạt động quản trị NHTMCP đã
đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, pháp luật đã lựa chọn mô hình tổ chức, quản lý, điều hành khá phù
hợp cho NHTMCP. Theo đó, cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành của NHTMCP là:
Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS), Tổng
giám đốc (Giám đốc)[7]. Trong mô hình này, việc tổ chức quản lý NHTMCP có sự
phân công, phân nhiệm và giám sát giữa các cơ quan quản lý, điều hành và kiểm
soát ngân hàng. Mô hình này được đánh giá là mô hình quản lý phù hợp và hiệu
quả đối với loại hình công ty đại chúng[8] như là NHTMCP.
Thứ hai, pháp luật đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông
thiểu số và đảm bảo tính khách quan, bảo vệ lợi ích tổng thể của ngân hàng thông
qua quy định về số lượng, tiêu chuẩn thành viên độc lập[9] và những vấn liên
quan.
Thứ ba, pháp luật đã có những quy định cụ thể hơn về đảm bảo tính công
khai, minh bạch trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ngăn ngừa và góp phần
hạn chế các xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
Thứ tư, pháp luật đã có những quy định cụ thể về hoạt động của kiểm toán nội
bộ và kiểm soát nội bộ nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của NHTMCP. Đây
cũng chính là đặc thù của NHTMCP so với các công ty đại chúng khác. Các quy
định này nhằm cụ thể hóa các trụ cột của Basel II vào trong hoạt động của
NHTMCP nói riêng và các TCTD nói chung.
Thứ năm, pháp luật đã có những định hướng cơ bản nội dung của đạo đức
nghề nghiệp của những chủ thể trong thành viên BKS, kiểm toán viên nội bộ và
cán bộ nhân viên của NHTMCP. Theo đó, về cơ bản khoản 1 Điều 67 Thông tư
13/2018/TT-NHNN của NHNN đã xác định những nội dung cơ bản cho quy tắc
đạo đức nghề nghiệp của thành viên BKS, kiểm toán viên nội bộ trong NHTMCP.
Trên cơ sở đó, bộ phận kiểm toán nội bộ của NHTMCP xây dựng để trình BKS
ban hành, sửa đổi, bổ sung chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của thành viên BKS,
kiểm toán viên nội bộ.
Tương tự khoản 3 Điều 15 của Thông tư 13/2018/TT-NHNN cũng xác định
rằng HĐQT NHTMCP phải ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đảm bảo
nguyên tắc: i) Cán bộ, nhân viên ở các cấp thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền được
giao một cách trung thực vì lợi ích của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
không lợi dụng địa vị, chức vụ, sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh và
tài sản của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để thu lợi cá nhân hoặc làm
tổn hại tới lợi ích của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; ii) Các cá nhân, bộ
phận có trách nhiệm báo cáo kịp thời với cấp có thẩm quyền khi phát hiện hành vi
quy định trên và các hành vi vi phạm quy định nội bộ, quy định của pháp luật.
Điều này vừa tạo cơ sở cho các NHTMCP xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp cho phù hợp cũng như tạo cơ sở pháp lý cho việc NHNN xác định chuẩn
mực đạo đức do NHTMCP ban hành đã đạt hay chưa đạt, đã phù hợp hay chưa phù
hợp.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, quy định về quản trị của NHTMCP
cũng còn có những bất cập sau:
Một là, quy định về hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ chưa
được các NHTMCP thực hiện đầy đủ. Trước năm 2018, Thông tư số 44/2011/TT-
NHNN ngày 29/12/2011 của NHNN Việt Nam quy định về hệ thống kiểm soát nội
bộ và kiểm toán nội bộ của TCTD chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã quy định về
nội dung này. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều NHTMCP thực hiện chưa tốt quy định
này dẫn đến xảy ra nhiều sai phạm gây thất thoát tài sản của ngân hàng[10].
Nguyên nhân dẫn đến bất cập này là do chúng ta chưa thiết lập được cơ chế kiểm
soát từ phía NHNN nhằm bảo đảm cho các NHTMCP tuân thủ đầy đủ quy định
pháp luật về hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ nhằm giảm thiểu rủi
ro cho hoạt động của ngân hàng.
Hai là, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của thành viên HĐQT, những người
lãnh đạo điều hành trong NHTMCP chưa được xác định cụ thể. Mặc dù pháp luật
hiện hành khi quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều
hành của NHTMCP luôn đòi hỏi những chủ thể này phải có “đạo đức nghề
nghiệp”[11]. Tuy nhiên, thế nào là “đạo đức nghề nghiệp” thì các quy định hiện
hành chưa xác định cụ thể. Điều này đã tạo kẽ hở cho việc lựa chọn người không
đủ phẩm chất vào vị trí người lãnh đạo, điều hành NHTMCP, dẫn đến các vụ việc
của ACB, OceanBank, VNCB, GPBank, Sacombank, Đông Á Bank[12]…
Ba là, chưa bảo đảm tính khách quan, độc lập của BKS. Theo khoản 1 Điều
18 Nghị định 71/2017, “HĐQT của công ty niêm yết phải bổ nhiệm ít nhất 01
người làm các nhiệm vụ của Người phụ trách quản trị công ty”. Trong khi đó, điểm
b khoản 3 của điều 18 lại xác định rằng, “người phụ trách quản trị công ty có
quyền và nghĩa vụ sau:… chuẩn bị các cuộc họp … BKS …”. Quy định này không
bảo đảm tính khách quan, độc lập của BKS. Bởi lẽ, BKS sẽ là cơ quan thay mặt cổ
đông để giám sát hoạt động của HĐQT, Tổng giám đốc (Giám đốc) trong hoạt
động quản lý, điều hành NHTMCP. Nếu cho phép người quản trị là thành viên
HĐQT chuẩn bị các cuộc họp của BKS thì liệu rằng tính khách quan, độc lập là vị
thế vốn có của BKS có còn hay không để thực hiện công việc của mình.
Bốn là, quy định của một số văn bản pháp luật về công ty đại chúng chưa
thống nhất. Theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, Thông tư 06/2010/TT-
NHNN, HĐQT phải thành lập ít nhất 2 ủy ban là Ủy ban Quản lý rủi ro và Ủy ban
Nhân sự[13]. Trong khi đó, khoản 1 Điều 17 Nghị định 71/2017/NĐ-CP quy định,
“HĐQT công ty niêm yết có thể thành lập các tiểu ban hỗ trợ hoạt động của
HĐQT là tiểu ban nhân sự, tiểu ban lương thưởng và các tiểu ban khác… Việc
thành lập các tiểu ban phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông”. Như
vậy, giữa các văn bản nêu trên không thống nhất về mô hình tổ chức và tên gọi của
các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của TCTD, trong đó có NHTMCP. Điều này gây
khó khăn cho tổ chức và hoạt động của NHTMCP.
3. Kiến nghị
Để bảo đảm nâng cao chất lượng quản trị NHTMCP, chúng tôi đề xuất một số
kiến nghị sau:
Một là, bổ sung quy định xác định cụ thể trách nhiệm của NHTMCP nói riêng
và TCTD nói chung trong kiểm soát nội bộ.
Hai là, bổ sung quy định cụ thể về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của thành
viên HĐQT, những người lãnh đạo, điều hành trong NHTMCP nói riêng và TCTD
nói chung làm cơ sở cho việc ban hành Mẫu chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
Ba là, sửa đổi khoản 1 điều 18 Nghị định 71/2017 theo hướng bỏ quy định:
“Người phụ trách quản trị công ty có quyền và nghĩa vụ sau:… chuẩn bị các cuộc
họp … BKS …”.
Bốn là, cần rà soát bảo đảm sự thống nhất trong Nghị định 71/2017/NĐ-CP
và quy định của các văn bản pháp luật có liên quan về quản trị NHTMCP.
Tóm lại, hoạt động quản trị NHTMCP là một trong những hoạt động đóng
vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của NHTMCP nói riêng và sự phát
triển của nền kinh tế nói chung. Do vậy, nếu những quy định trong hoạt động quản
trị NHTMCP có những bất cập, hạn chế thì sẽ làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả
của công tác quản trị và hoạt động của chính NHTMCP. Vì vậy, việc đánh giá, xác
định hạn chế, bất cập và đưa ra kiến nghị trên chỉ nhằm góp phần đảm bảo các quy
định pháp luật ngày càng hoàn thiện và góp phần tác động tích cực vào hoạt động
của NHTMCP để nó thực sự là kênh trung gian tài chính tốt, đáp ứng được nhu cầu
về vốn của nền kinh tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trường Cao đẳng Ngoại thương, Giáo trình Thị trường Tài chính, Nxb.
Đà Nẵng, tr. 60.
[2] “Cuối năm 2017, cung ứng vốn cho nền kinh tế từ hệ thống tài chính ước
khoảng 198% GDP, tăng 28,6% so với cuối năm 2016. Trong đó, vốn từ hệ thống
TCTD tăng 18,1%, vốn từ thị trường vốn tăng 66,4% so với cuối năm 2016”; Báo
cáo Tổng quan thị trường tài chính năm 2017 của Ủy ban Giám sát tài chính quốc
chinh-2017-2/ truy cập ngày 20/12/2018.
[3] Lê Thị Thu Thủy, Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản trị
NHTMCP;
thuc-thi-phap-luat-ve-quan-tri-ngan-hang-thuong-mai-co-phan-28169.html,
cập ngày 26/12/2018.
truy
[4] Theo khoản 3, Điều 5 Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại.
[5] Andrei Shleifer và Robert W. Vishny cho rằng: “quản trị công ty là mối
liên hệ giữa rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình định hướng về hoạt động của
công ty. Trong đó, các cổ đông, ban điều hành và HĐQT là những chủ thể trước
tiên” [theo Andrei Shleifer and Robert W. Vishny (1997), “A Survey of Corporate
Governance”, Journal of Finance, Vol 52, No.2, 737-735].
OECD không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, súc tích mà đã mô tả rằng:
“Quản trị công ty là một yếu tố then chốt để đẩy mạnh hiệu quả thị trường, phát
triển kinh tế cũng như tăng cường lòng tin của nhà đầu tư. Quản trị công ty liên
quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, HĐQT, cổ đông và các
bên có quyền lợi liên quan khác. Quản trị công ty cũng thiết lập cơ cấu qua đó giúp
xây dựng mục tiêu của công ty, xác định phương tiện để đạt được các mục tiêu đó,
và giám sát hiệu quả thực hiện mục tiêu. Quản trị công ty tốt cần tạo được sự
khuyến khích đối với HĐQT và Ban Giám đốc để thực hiện các mục tiêu vì lợi ích
công ty và cổ đông, và phải tạo điều kiện giám sát hiệu quả”; xem OECD
(2004), Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD, trang 11 đăng tải
y cập ngày 21/12/2018.
[6] Văn bản này đã hết hiệu lực theo quy định của Nghị định số 42 /2018/NĐ-
CP ngày 12/03/2018 của Chính Phủ về bãi bỏ nghị định trong lĩnh vực ngân hàng.
[7] Khoản 1 Điều 32 Luật các TCTD năm 2010.
[8] Trường Đại học Kinh tế Luật (2017), Pháp luật về quản trị công ty niêm
yết trên TTCK Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, trang 80.
[9] Nguyễn Hữu Long, Để hiểu thêm về thành viên độc lập, bài đăng
lap.html truy cập ngày 22/12/2018.
[10] Những vụ việc xảy ra gần đây ở rất nhiều NHTMCP có liên quan xuất
phát từ tính kém hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ như
vụ việc lên quan đến sai phạm tại Ngân hàng Đông Á của ông Trần Phương Bình,
các vụ việc liên quan đến Huỳnh Thị Huyền Như của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam…
[11] Điểm b khoản 1 điều 50 Luật các TCTD năm 2010.
[12] Kim Yến, Đạo đức nghề nghiệp và những cú “trượt chân” của chủ ngân
truot-chan-cua-chu-ngan-hang-20150909174103729.chn truy
23/12/2018.
cập
ngày
[13] Khoản 6 Điều 43 Luật các TCTD năm 2010 và khoản 1 Điều 8 Thông tư
06/2010/TT-NHNN.
Bạn đang xem tài liệu "Quy định pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại Cổ phần (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quy_dinh_phap_luat_ve_quan_tri_ngan_hang_thuong_mai_co_phan.pdf

