Phân tích ảnh hưởng của văn hóa vùng tới năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam

Working Paper 2021.1.6.06  
- Vol 1, No 6  
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA VÙNG TỚI NĂNG LỰC ĐỔI  
MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
Nguyễn Minh Nguyệt 1, Vũ Mỹ Linh  
Sinh viên K57 CLC Quản trị kinh doanh – Khoa Quản trị kinh doanh  
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam  
Trịnh Minh Tâm  
Sinh viên K57 Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng - Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế  
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam  
Phạm Văn Trọng, Nguyễn Thị Thanh Hiền  
Sinh viên K57 CLC Kinh tế đối ngoại - Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế  
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam  
Trần Thị Ngọc Quyên  
Giảng viên Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế  
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, Việt Nam  
Tóm tắt  
Trong bối cảnh nền công nghiệp số hóa đang diễn ra ngày càng nhanh chóng, dẫn tới sự thay đổi  
nhanh chóng của môi trường kinh doanh, việc đầu tư cho hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST)  
ngày càng đóng vai trò nền tảng cho quá trình phát triển của các doanh nghiệp. Văn hóa vùng là  
một nhân tố quan trọng, định hướng hoạt động ĐMST của doanh nghiệp. Dựa trên kế thừa những  
nghiên cứu trước đó liên quan đến mối quan hệ giữa văn hóa vùng và năng lực ĐMST, kết hợp  
với phân tích ý nghĩa kết quả hồi quy, nhóm tác giả nhận thấy rằng quy mô doanh nghiệp và quỹ  
đầu tư và phát triển cho thấy có tác động tới năng lực ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam khi  
nghiên cứu 318 doanh nghiệp Việt Nam tại sàn chứng khoán HNX trong giai đoạn 2017-2019.  
Nghiên cứu đưa ra một số nhận xét chung về triển vọng lý thuyết và hướng nghiên cứu tiếp theo  
của tác giả.  
Từ khóa: Đổi mới sáng tạo, Văn hóa vùng.  
THE INFLUENCE OF REGIONAL CULTURE ON VIETNAMESE  
ENTERPRISES' INNOVATION CAPACITY  
Abstract  
In the context of the rapidly changing business environment caused by the fast-developing digital  
industry, innovation investment is playing an increasingly important role in business  
1 Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 82  
development. Regional culture is an important factor in corporate innovation. Based on previous  
studies related to the relationship between regional culture and innovation capacity, combined  
with analysis of regression model from secondary data of 318 Vietnamese enterprises on the  
Hanoi Stock Exchange (HNX), the authors found that enterprise size and investment and  
development fund had the strongest impact on the innovation capacity of Vietnamese  
enterprises 318 Vietnamese enterprises in the period 2017-2019. The study provides some  
general comments on the theoretical outlook and the author's next research direction.  
Keywords: Corporate innovation, regional culture.  
1. Đặt vấn đề  
Trong bối cảnh nền kinh tế số đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ dẫn tới sự thay đổi nhanh  
chóng của môi trường kinh doanh, đầu tư cho hoạt động ĐMST ngày càng có tầm quan trọng  
chiến lược đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Văn hóa là một trong những  
yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp (Evans, 2013; Tran & Nguyen,  
2021) và trong bối cảnh hiện tại, hoạt động ĐMST cũng chịu ảnh hưởng từ văn hóa, đặc biệt  
là văn hóa vùng. Hiện nay, trên thế giới có xu hướng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dựa  
trên giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp cho khách hàng (Hill, 2003), và ĐMST chính  
là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong môi trường kinh  
doanh toàn cầu. Tuy nhiên, các công trình chuyên sâu về các hoạt động ĐMST tại Việt Nam  
vẫn còn hạn chế và hầu hết đều là những nghiên cứu thực nghiệm đối với các doanh nghiệp  
nước ngoài (Nhạ & Quân, 2013). Hơn nữa, những phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến quá  
trình ĐMST trong doanh nghiệp trên thế giới cũng chỉ tập trung chủ yếu vào những yếu tố  
trong doanh nghiệp như kỹ năng đổi mới lãnh đạo của đội ngũ quản trị doanh nghiệp, cơ cấu  
tổ chức và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Crossan & Apaydin, 2010); những yếu tố  
cá nhân, nhóm và tổ chức (Anderson & cộng sự, 2004); hay những yếu tố khách quan như địa  
lý, lịch sử, kinh tế, công nghệ và luật pháp (Léger & Swamithan, 2007; Salter & Alexy, 2014).  
Mặt khác, văn hóa vùng tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam, rất đa dạng và phong phú; môi  
trường kinh doanh ở mỗi vùng, địa phương có tính đặc thù, dẫn đến hoạt động ĐMST tại các  
khu vực địa lý này cũng cần được triển khai phù hợp với từng văn hóa vùng. Tuy nhiên, những  
nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa vùng tới hoạt động ĐMST của doanh nghiệp trên thế  
giới vẫn còn khá khiêm tốn. Thực tế tại Việt Nam, quá trình ứng dụng những thành tựu ĐMST  
hay công nghệ vào hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế và chưa được thực hiện một  
cách chủ động (Nhạ & Quân, 2013). Ngoài ra, văn hóa vùng tại Việt Nam cũng có những đặc  
trưng riêng của một quốc gia đang phát triển tại Đông Nam Á, do đó việc hiểu sâu hơn về ảnh  
hưởng của văn hóa vùng tới hoạt động ĐMST của các doanh nghiệp Việt Nam thể hiện vai trò  
quan trọng trong định hướng và đề xuất các chính sách phát triển hoạt động của doanh nghiệp  
trong dài hạn. Chính từ bối cảnh trên, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng  
của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam” là chủ đề nghiên cứu.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
2.1. Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa vùng tới năng lực đổi mới sáng tạo  
của doanh nghiệp  
Những công trình nghiên cứu về văn hóa vùng đã phản ánh tầm quan trọng của yếu tố này  
đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ trong ngành du lịch, đặc điểm văn hóa vùng  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 83  
ảnh hưởng trực tiếp tới trải nghiệm của khách du lịch đa văn hóa, nhận thức và chấp nhận sản  
phẩm và dịch vụ của các văn hóa vùng khác nhau (Cheng & cộng sự, 2014). Nhóm tác giả này  
khẳng định việc áp dụng công nghệ thông tin để truyền tải thông tin sản phẩm và dịch vụ, cũng  
như việc ứng dụng những ý tưởng, công nghệ mới, khách du lịch đa văn hóa sẽ có những trải  
nghiệm du lịch tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty du lịch. Trong  
một phân tích khác, liên quan đến tầm quan trọng của văn hóa vùng đối với khởi nghiệp của các  
doanh nghiệp, Spigel (2013) đã chỉ ra văn hóa vùng tạo nên những bối cảnh đặc biệt giúp thúc  
đẩy những ý tưởng, cách tiếp cận và chiến thuật khởi nghiệp độc đáo.  
Tiêu biểu trong số những công trình về ảnh hưởng của văn hóa vùng đến hoạt động của  
doanh nghiệp là nghiên cứu của Trippl & Toedtling (2008). Nhóm tác giả này đã nghiên cứu  
về 5 lĩnh vực của văn hóa và kết luận cả 5 yếu tố này đều có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp  
tới quá trình ĐMST nền kinh tế vùng thông qua quá trình xây dựng lòng tin, giảm tính bất ổn;  
đồng thời thúc đẩy các nhân tố sáng tạo, các giải pháp chung bằng việc định hướng hành vi và  
thói quen. Các học giả cũng tập trung nhiều nghiên cứu ảnh hưởng văn hóa vùng đến ĐMST  
của các doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển như Đức, Singapore, Hàn Quốc… Cụ thể, tại  
Đức, một mạng lưới các trung tâm kỹ thuật số đã được tạo nên, đem lại lợi ích không nhỏ cho  
ĐMST của các doanh nghiệp địa phương (Tú, 2020). Dưới đây nhóm tác giả tổng hợp một số  
hướng nghiên cứu chính về ảnh hưởng của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của doanh nghiệp  
đã có trên thế giới.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 84  
Bảng 1. Các nghiên cứu về tác động của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của doanh nghiệp  
Tác giả  
Chủ đề  
Cách tiếp cận  
Phương pháp  
nghiên cứu  
Kết quả  
Phân tích nghiên cứu  
Ưu điểm Nhược điểm  
Wei, Kang & Tác động vi mô Lý thuyết về - Phân tích từ Nhấn mạnh tầm quan Dữ liệu thứ cấp qua - Khó đánh giá chính  
Wang (2019)  
của văn hóa GLOBE cultural nhiều nguồn dữ trọng của văn hóa vùng xử lý giúp tiết kiệm xác độ tin cậy của  
vùng  
index và văn hóa liệu thứ cấp  
chủ nghĩa tập thể  
và giao tiếp giao văn hoá thời gian nghiên cứu nguồn dữ liệu thứ cấp  
cũng như vai trò của văn  
- Phân tích dữ  
- Khó phân loại dữ  
hoá tập thể tới ĐMST  
liệu  
liệu từ bảng hỏi  
của doanh nghiệp  
- Mới tập trung vào  
một khía cạnh của văn  
hóa vùng (tác động vi  
mô)  
Trippl  
Toedtling  
(2008)  
& So sánh các nền  
văn hoá đổi mới  
trong các trường  
phái tư tưởng  
khác nhau  
-
Phân tích Các giá trị và thái độ - Các tiếp cận rõ Mới chỉ tập trung dựa  
khung lý thuyết chung, một ngôn ngữ ràng, chi tiết  
các cách tiếp cận chung, các khung nhận  
trên các khung lý  
thuyết. Chưa áp dụng  
và nghiên cứu trên quy  
mô thực tế  
-Phân tích cách tiếp  
cận cụ thể  
thức chung, các mẫu  
hành vi và quy tắc ứng  
xử có tác động đến  
-
Sử  
dụng  
pháp  
phương  
nghiên cứu định  
tính  
ĐMST  
của  
doanh  
nghiệp  
Kaasa & Vadi Mối quan hệ Lý thuyết 6 Khảo  
sát Khu vực nên có khoảng - Sử dụng khung Một số dữ liệu chỉ có  
(2008) giữa các sự khác chiều văn hóa European Social cách quyền lực, tránh sự khảo sát được thiết kế thể thu thập tại một số  
biệt văn hoá theo Hofstede  
thuyết Hofstede  
Survey  
(ESS) không chắc chắn, chủ riêng cho các nước khu vực nhất định  
của các nước nghĩa tập thể liên quan châu Âu => tính phù  
châu Âu  
đến gia đình và nam tính hợp cao  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 85  
Tác giả  
Chủ đề  
Cách tiếp cận  
Phương pháp  
nghiên cứu  
Kết quả  
Phân tích nghiên cứu  
Ưu điểm Nhược điểm  
và năng lực  
ĐMST  
thấp hơn mức trung  
bình.  
-Phát triển lý thuyết 6  
chiều văn hoá của  
Hofstede trong phạm  
vi châu Âu  
Efrat (2014)  
Ảnh hưởng của Lý thuyết của Mô hình SEM Mặc dù một số thay đổi, Vận dụng lý thuyết Chưa được áp dụng  
văn hoá đến khả Shane, 1992  
năng ĐMST  
(sử dụng mô hầu hết các khía cạnh có sẵn đã được chứng phân tích cho nhiều  
hình cấu trúc văn hóa vẫn thể hiện tác minh quốc gia  
mạng)  
động mạnh mẽ và lâu  
dài đối với xu hướng đổi  
mới ở cấp quốc gia.  
Chen, Podolski Các chuẩn mực Lý thuyết 6 - Phân tích từ Các công ty ở các quốc Vận dụng lý thuyết Mới phân tích trên dữ  
văn hóa dọc theo chiều văn hóa nhiều nguồn dữ gia có mức độ tránh có sẵn đã được chứng liệu của 41 quốc gia  
&
Veeraraghavan các khía cạnh Hofstede  
liệu thứ cấp  
Sử  
phương  
nghiên cứu định  
lượng  
không chắc chắn cao minh  
hơn tạo ra ngày càng ít  
bằng sáng chế quan  
trọng và kém hiệu quả  
hơn với chi phí R&D  
của doanh nghiệp  
trên toàn thế giới  
(2017)  
của chủ nghĩa cá  
nhân - chủ nghĩa  
tập thể và chủ  
-
dụng  
pháp  
nghĩa  
tránh  
không chắc chắn  
ảnh hưởng đến  
sự đổi mới của  
doanh nghiệp  
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 86  
Tóm lại, các nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của văn hóa vùng đến ĐMST doanh  
nghiệp trong thời gian qua vẫn chưa thực sự nhiều hoặc chưa có những đánh giá rộng rãi ở các  
vùng, quốc gia khác nhau thuộc các nền kinh tế đang phát triển. Phương pháp tiếp cận của các  
nghiên cứu khá đa dạng và đặc điểm văn hóa của từng địa phương, vùng, quốc gia khác nhau  
dẫn đến có nhiều nhận định liên quan đến ảnh hưởng này. Các công trình liên quan được xây  
dựng tại quốc gia có văn hóa vùng đa dạng và đa số đều sử dụng phương pháp nghiên cứu dữ  
liệu thứ cấp. Những nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của  
doanh nghiệp vẫn chưa thực sự đầy đủ và những khuyến nghị trong những nghiên cứu này đưa  
ra cũng chưa phù hợp để áp dụng với các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Vì  
vậy, thực tế cần thiết triển khai những nghiên cứu liên quan để phản ánh thực tiễn văn hóa vùng  
đặc thù, ảnh hưởng của nó đến ĐMST của doanh nghiệp và gợi ý một số chính sách phù hợp  
trong bối cảnh phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Đây sẽ là đề tài thông qua mô hình  
nghiên cứu văn hóa vùng của Wei & cộng sự (2019), giúp chỉ ra những bằng chứng thực tiễn  
tại Việt Nam về những yếu tố về văn hóa vùng ảnh hưởng đến năng lực ĐMST của doanh  
nghiệp.  
2.2. Định nghĩa các khái niệm liên quan  
Văn hóa vùng  
Khái niệm “Văn hóa vùng” (Regional Culture) được cấu thành từ hai thành tố “Vùng”  
và “Văn hoá”. Xét về mặt từ nguyên “Vùng” - Region, được hiểu là một khu vực địa lý, như  
vùng đất, vùng trời, vùng biển, không gắn với một cấp hành chính nhà nước. Trong khi đó,  
thuật ngữ “lãnh thổ” - Territoire, được hiểu là một vùng hay khu vực địa lý thuộc một cấp  
quản lý hành chính nhà nước và trong một vùng có thể có nhiều lãnh thổ. Theo định nghĩa  
của Bộ Văn hoá Cộng hòa Lithuania (2021), văn hóa vùng là toàn bộ môi trường và các hoạt  
động văn hóa được thực hiện trong đó được tạo ra và được các cư dân trong khu vực bồi đắp  
và phản ánh bản sắc và truyền thống dân tộc, ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của khu vực và  
tạo tiền đề cho sự phát triển các năng lực văn hóa và xã hội trong các khu vực đáp ứng nhu  
cầu của xã hội hiện đại. Còn Lê (2020) đã nhận định văn hoá vùng là một thực thể văn hoá  
bao gồm những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có mà  
không thể hiện tính điển hình.  
Đổi mới sáng tạo  
Trên thế giới, định nghĩa về ĐMST có nhiều hướng tiếp cận. Schumpeter (1943) đưa ra  
khái niệm về đổi mới - sáng tạo, theo đó đổi mới - sáng tạo là việc các doanh nghiệp đưa ra sản  
phẩm, quy trình, phương pháp hoặc hệ thống mới. ĐMST bao gồm việc tạo ra các thị trường  
mới hoặc các hình thức tổ chức công nghiệp mới. Katz (2002) định nghĩa “ĐMST là việc tạo  
ra, phát triển và triển khai áp dụng thành công các ý tưởng mới và độc đáo bao gồm đưa ra các  
sản phẩm, quá trình và chiến lược phát triển mới cho công ty dẫn đến thành công trong kinh  
doanh và giành được vị trí dẫn đầu thị trường, tạo ra giá trị cho các chủ thể liên quan, thúc đẩy  
tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống”. Ngoài ra, OECD (2005) đã nhấn mạnh một định  
nghĩa về đổi mới - sáng tạo tại cấp độ doanh nghiệp như sau: “Đổi mới - sáng tạo là việc thực  
thi một sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ) hay một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể, một  
phương pháp marketing mới hay một biện pháp mới mang tính tổ chức trong thực tiễn hoạt  
động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài”.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 87  
Còn tại Việt Nam, cũng có những cách tiếp cận riêng về ĐMST. Đó là việc tạo ra và ứng  
dụng các thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả  
phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng  
hóa (Luật Khoa học và công nghệ, 2013). Một doanh nghiệp được định nghĩa là đổi mới công  
nghệ nếu nó giới thiệu ít nhất một sản phẩm hoặc quy trình mới, hoặc được cải tiến đáng kể;  
một doanh nghiệp đổi mới phi công nghệ được định nghĩa là đã đề xuất một trong những thay  
đổi về chiến lược marketing, thay đổi các kỹ thuật quản lý hoặc cơ cấu tổ chức (Mai & cộng  
sự, 2018).  
Mối liên hệ giữa văn hóa vùng và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp  
Văn hóa vùng có thể đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt động đổi mới của doanh  
nghiệp vì sự đổi mới của doanh nghiệp dựa vào nguồn nhân lực con người (Chen, Podolski &  
Veeraraghavan, 2017). Văn hóa vùng có tác động trực tiếp đến suy nghĩ, hành vi, quan điểm  
sống và phong cách sống của những người chịu ảnh hưởng bởi văn hoá vùng đó. Văn hóa khu  
vực ảnh hưởng đến sự đổi mới bằng cách ảnh hưởng đến sở thích của con người, sự mong đợi  
và động lực (Wei & cộng sự, 2019).  
Thực tế, Chen, Podolski & Veeraraghavan (2017) đã nhận định văn hóa vùng có tác động  
hoạt động đổi mới của doanh nghiệp. Con người là nhân tố cốt lõi trong quá trình ĐMST của  
doanh nghiệp. Trong khi đó, văn hóa vùng tác động sâu sắc đến lối sống, nếp suy nghĩ, hành  
vi và cách ứng xử của dân cư trong vùng đó. Trong đó phân tích sâu 3 yếu tố Phương ngữ,  
Quê quán CEO, Trụ sở công ty như 3 yếu tố có tác động lớn nhất tới năng lực ĐMST của  
doanh nghiệp.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn nhằm thu  
thập và xử lý dữ liệu. Sau khi dữ liệu đã được làm sạch, nhóm nghiên cứu tiến hành các phương  
pháp thống kê và tiến hành hồi quy dữ liệu. Nhóm tác giả sử dụng tiêu chí có bằng sáng chế để  
tiếp cận việc thể hiện sự ĐMST của doanh nghiệp. Ba khía cạnh của văn hóa vùng được lựa  
chọn ở trong nghiên cứu này là các đặc điểm về vị trí địa lý và văn hóa, đó là: (i) Phương ngữ,  
(ii) Nơi sinh của CEO và (iii) Trụ sở công ty. Một số chỉ số về đặc tính của doanh nghiệp và  
đặc điểm của Giám đốc điều hành doanh nghiệp đó được sử dụng để thể hiện tác động gián tiếp  
lên mối quan hệ giữa Văn hóa vùng và Năng lực ĐMST (An & cộng sự, 2009; Czarnitzki &  
Toole, 2006; Lin & cộng sự, 2011). Về đặc tính của doanh nghiệp, nhóm lựa chọn một số yếu  
tố tác động bên trong như Cường độ R&D, Quy mô doanh nghiệp, Khả năng sinh lời, Khả năng  
thanh toán nợ và Tính thanh khoản của công ty; cùng với các yếu tố tác động từ bên ngoài như  
Quyền sở hữu công ty và Tốc độ tăng trưởng GDRP của tỉnh thành công ty đặt trụ sở (An,  
Zhou, & Pi, 2009). Những đặc điểm của CEO bao gồm thời gian tại nhiệm (nhiệm kỳ), tuổi tác,  
giới tính, trình độ học vấn và nền tảng quản trị cũng được nhóm nghiên cứu lựa chọn (Lin &  
cộng sự, 2011; Liu & Liu, 2007). Khung mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của  
văn hóa vùng lên yếu tố ĐMST của doanh nghiệp được minh họa ở Hình 1.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 88  
Hình 1. Khung mô hình nghiên cứu  
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp  
Dựa trên mô hình nghiên cứu được đề cập trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ  
liệu thứ cấp từ 318 công ty được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). Từ  
đó áp dụng các phương pháp luận diễn giải, bằng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể bao  
gồm phương pháp tiếp cận lý thuyết và phương pháp tiếp cận phương pháp nghiên cứu.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Dưới đây, nhóm nghiên cứu trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu dựa trên mô hình và  
phương pháp nghiên cứu được đề xuất trước đó. Bảng 2 trình bày kết quả mô hình hồi quy tác  
động của các yếu tố văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của các doanh nghiệp Việt Nam được  
niêm yết trên sàn HNX.  
Bảng 2. Ảnh hưởng của văn hóa vùng đến năng lực đổi mới sáng tạo của các công ty sàn HNX  
(2017 - 2019)  
Variable  
ROE  
Innov  
0,024  
(0,69)  
Owner  
RD  
-0,140  
(-0,21)  
0,030  
(0,96)  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 89  
Variable  
Size  
Innov  
2,347*  
(1,75)  
Liq  
-0,045  
(-0,76)  
Lev  
0,009  
(0,29)  
GRDP  
-0,289  
(-1,53)  
Language  
1
-0,047  
(-0,01)  
2
0,635  
(0,50)  
Constant  
33,913**  
(-2,05)  
Observation  
Wald test  
924  
15,81*  
Ghi chú:*, **, ***, thể hiện mức ý nghĩa thống kê ở 10%, 5% và 1%.  
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp  
Kết quả mô hình cho thấy biến độc lập Size thể hiện quy mô doanh nghiệp có tác động  
dương với biến phụ thuộc Innov thể hiện ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Bảng 2 đã thể hiện kết  
quả cho ảnh hưởng của phương ngữ. Giá trị F là kết quả của kiểm định Wald cho biến giả thể  
hiện phương ngữ. Với F = 15,81 khác 0, phương ngữ có ý nghĩa thống kê tới hoạt động ĐMST  
ở mức độ ý nghĩa 10%. Kết quả này tương đồng với phân tích lý thuyết của Trippl & Toedtling  
(2008) và giống với nghiên cứu của Wei, Kang & Wang (2019) về văn hóa vùng và giao tiếp  
giao văn hoá tới ĐMST của doanh nghiệp.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 90  
Bảng 3. Mô hình cơ sở  
Variable  
Mô hình (1)  
Innov  
Mô hình (2)  
Innov  
Culture  
Geogra  
ROE  
Owner  
RD  
0,533  
(1,41)  
0,215  
(0,31)  
0,033  
(0,71)  
0,025  
(0,56)  
-0,251  
(0,38)  
-0,131  
(-0,20)  
0,033  
(0,60)  
0,031  
(0,60)  
Size  
2,413  
(1,02)  
2,379  
(1,12)  
Liq  
-0,030  
(-0,71)  
-0,042  
(-0,68)  
Lev  
0,006  
(0,16)  
0,008  
(0,21)  
GRDP  
-0,281  
(-1,52)  
-0,287  
(-1,53)  
Ghi chú: *, **, *** thể hiện mức ý nghĩa thống kê ở 10%, 5% và 1%  
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp  
Trong Bảng 3, mô hình (1) là kết quả phân tích mô hình hồi quy cho nơi sinh của CEO.  
Mô hình (2) là kết quả phân tích hồi quy cho trụ sở công ty. Kết quả của hai mô hình cho thấy  
biến Culture và Geogra có hệ số hồi quy dương, điều này chỉ ra rằng đối với các doanh nghiệp  
có trụ sở công ty cũng như nơi sinh của CEO là miền Bắc, miền Trung và miền Nam theo thứ  
tự sẽ có khả năng ĐMST tăng dần. Hơn nữa, CEO trong nước góp phần đóng góp vào khả năng  
ĐMST trong doanh nghiệp hơn so với CEO nước ngoài. Tuy nhiên, dựa vào kết quả phân tích  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 91  
số liệu thu thập được từ các công ty trong sàn HNX giai đoạn 2017 - 2019, mức ý nghĩa của  
biến Culture và Geogra cao (trên 10%) nên không thể đưa ra kết luận về ảnh hưởng của nơi  
sinh của CEO và trụ sở công ty tới khả năng ĐMST. Bảng 3 không cho thấy được ảnh hưởng  
của nơi sinh của CEO và trụ sở công ty như trong nghiên cứu của Wei, Kang & Wang (2019)  
khi kết quả mô hình nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê.  
Kết quả hồi quy cho thấy hai yếu tố của văn hoá vùng là Cường độ nghiên cứu và phát triển  
RD và Quy mô doanh nghiệp Size có ảnh hưởng tích cực và đáng kể tới khả năng ĐMST của  
doanh nghiệp thuộc sàn HNX. Kết quả thỏa mãn giả thuyết tác động kỳ vọng của nhóm tác giả  
đề ra về biến kiểm soát RD và Size. Đồng thời, điều này củng cố cho các nghiên cứu trước đó  
về tác động của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của các doanh nghiệp, cụ thể cho thấy ảnh  
hưởng dương của Cường độ nghiên cứu và phát triển RD và Quy mô doanh nghiệp Size tới khả  
năng ĐMST giống với trong nghiên cứu của Wei, Kang & Wang (2019) với số liệu tại Trung  
Quốc nhưng với hệ số hồi quy nhóm nghiên cứu tìm được nhỏ hơn tức ảnh hưởng của cường  
độ nghiên cứu và phát triển RD và quy mô doanh nghiệp Size có ảnh hưởng hơn so với mẫu tại  
Trung Quốc. Kết quả này đồng thời chỉ ra sự đầu tư vào các quỹ R&D cùng với sự tăng trưởng  
về quy mô của doanh nghiệp sẽ đi kèm với khả năng ĐMST của doanh nghiệp đó. Tuy vậy, với  
mẫu nghiên cứu lấy số liệu từ sàn HNX giai đoạn 2017 - 2019 chưa làm nổi bật được các đặc  
điểm khác của văn hóa vùng lên năng lực ĐMST.  
Các biến quan trọng thể hiện văn hóa vùng, cụ thể về trụ sở công ty Geogra và các đặc  
điểm của CEO như nơi sinh của CEO - Culture, Nhiệm kỳ của CEO - Tunure và Tunure 2...  
chưa đạt được kết quả kỳ vọng hay kết quả tương đồng với nghiên cứu của Wei, Kang & Wang  
(2019) trước đó tại Trung Quốc - quốc gia có văn hoá khá tương đồng với Việt Nam. Kết quả  
nghiên cứu chưa thể kết luận được ảnh hưởng của văn hóa vùng tới khả năng ĐMST của doanh  
nghiệp trên phương diện nghiên cứu định lượng dựa vào số liệu lấy từ báo cáo thường niên và  
báo cáo tài chính của các công ty thuộc sàn HNX. Những nội dung này cần có những nghiên  
cứu tiếp theo để khẳng định rõ hơn. Nguyên nhân của kết quả này có thể do giới hạn về số  
lượng quan sát của mẫu chưa đủ lớn hoặc do văn hóa vùng của các doanh nghiệp trên sàn HNX  
chưa thể hiện ảnh hưởng rõ nét trên phương diện ĐMST.  
5. Gợi ý chính sách đối với doanh nghiệp Việt Nam  
Dựa trên kết quả nghiên cứu được nêu trên, nhóm nghiên cứu đề xuất Chính phủ sử dụng  
mô hình hệ thống ĐMST quốc gia, trong đó Nhà nước đóng vai trò đơn vị điều phối, tăng cường  
các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy sự hợp tác hai chủ thể còn lại, để thúc đẩy mức độ ảnh hưởng  
của văn hóa vùng tới năng lực ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam. Thứ nhất, Chính phủ cần  
tăng cường các hoạt động quản trị công cho hệ thống ĐMST. Hoạt động quản trị bao gồm thiết  
lập các mục tiêu ĐMST một cách thực tế và khả thi, chuyên nghiệp hoá - chuyên môn hoá các  
cơ quan chính phủ quản lý lĩnh vực ĐMST, xây dựng hệ thống đánh giá kịp thời. Chính phủ  
đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra định hướng ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội trong dài  
hạn, đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lực phát triển hệ thống ĐMST, đảm bảo cho các tổ chức  
nhà nước vận hành tốt và các bộ phận trong hệ thống ĐMST gắn kết với nhau và tạo ra một  
chỉnh thể thống nhất. Khi đã có định hướng cụ thể cho từng giai đoạn và nhiệm vụ trọng tâm  
cho từng đơn vị nhà nước, các cơ quan ban ngành cần phối hợp triển khai những nghị quyết,  
chính sách phù hợp nhằm hiện thực hóa các định hướng của Chính phủ. Thứ hai, Chính phủ  
cần tăng cường hệ thống ĐMST trong doanh nghiệp, trong đó đặt doanh nghiệp vào vị trí trung  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 92  
tâm trong mối quan hệ đồng bộ giữa ba chủ thể chính, điều này đã được các nhà học giả trên  
thế giới cũng như tại Việt Nam khẳng định. Nhà nước có những hỗ trợ thiết thực về mặt tài  
chính giúp các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quy mô, đầu tư vào R&D để đẩy mạnh các hoạt  
động ĐMST nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp về năng suất, chất lượng và giá cả  
(OECD, 2014). Bộ KH & CN cần kết hợp chặt chẽ với các cơ quan ban ngành khác, đặc biệt là  
Bộ Tài chính để đưa ra những gói tài chính hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động ĐMST, đưa  
vào vận hành các quỹ hỗ trợ ĐMST cho các doanh nghiệp, phân chia theo từng lĩnh vực doanh  
nghiệp, chú trọng tỷ trọng nhiều hơn vào các ngành nghề cần sự ĐMST thường xuyên như công  
nghệ, công nghiệp,… Thứ ba, Nhà nước cần nâng cao vai trò đóng góp của chủ thể thứ ba đó  
là các tổ chức nghiên cứu và giáo dục. Chính phủ cần đẩy nhanh quá trình thực hiện tự chủ đối  
với các cơ quan, tổ chức nghiên cứu nhà nước theo hướng tăng quyền tự chủ cho các cơ sở này.  
Các cơ sở đó phải bám sát các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội theo các tiêu chí về  
chức năng và tài trợ rõ ràng. Hiện nay, hệ thống giáo dục đại học đã từng bước triển khai quá  
trình tự chủ các trường đại học công lập như Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Ngoại thương,  
Đại học Quốc gia Hà Nội.... Cùng với đó, các trường đại học ngoài công lập cũng dần nổi lên  
như những cơ sở nghiên cứu đầy tiềm năng như Phenikaa, VinUni, Đại học Hoa Sen, Đại học  
Tôn Đức Thắng…  
6. Kết luận  
Kết nối những kết quả nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa văn hóa vùng và năng  
lực ĐMST, kết hợp với phân tích hồi quy nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy rằng quy mô  
doanh nghiệp và quỹ đầu tư và phát triển cho thấy luôn có tác động tới năng lực ĐMST của  
doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả này khẳng định những nhận định đưa ra trong nhiều nghiên  
cứu tại các quốc gia đang phát triển đã được đề cập. Những nhóm yếu tố như phương ngữ trong  
văn hóa vùng và các yếu tố văn hóa vùng như quê quán của CEO, trụ sở công ty trong nghiên  
cứu này chưa cho thấy tác động mạnh mẽ đến năng lực ĐMST của doanh nghiệp Việt Nam.  
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp, cụ thể văn hóa vùng và tác động của  
các yếu tố này lên ĐMST còn chưa nhiều, do đó công trình này đã góp phần mở rộng quy mô  
nghiên cứu, không chỉ giới hạn về ảnh hưởng tới hoạt động tổng thể của doanh nghiệp, mà  
nghiên cứu về tác động tới hoạt động ĐMST trong bối cảnh phát triển kinh tế số.  
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam  
trong quá trình ĐMST, đặc biệt là về các nghiên cứu về khoa học, về tài sản sở hữu trí tuệ. Qua  
đó, nghiên cứu có đưa ra số giải pháp đối với doanh nghiệp và đề xuất với Chính phủ nhằm  
tăng cường phát triển ĐMST cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là SMEs hướng tới phát  
triển bền vững.  
Nhóm nghiên cứu cần tiếp tục triển khai những nghiên cứu trong thời gian tới để có cách  
tiếp cận tổng thể của ảnh hưởng văn hóa cùng đến ĐMST của các doanh nghiệp. Nhóm nghiên  
cứu đề xuất các hướng tiếp theo có thể triển khai xây dựng bảng hỏi, phỏng vấn sâu với các  
doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ tại Việt Nam. Các nghiên cứu sau có thể tập trung khai thác một  
số vấn đề còn chưa thực sự giải đáp được trong bài nghiên cứu này, ví dụ như có thể mở rộng  
ngoài việc nghiên cứu văn hóa vùng đến sự ảnh hưởng của năng lực ĐMST các nhà nghiên cứu  
cần tìm hiểu thêm cụ thể về tác động, ảnh hưởng của các yếu tố đó đến quản trị công ty, hoặc  
sự gắn bó của nhân viên tại các công ty có năng lực ĐMST, sự gắn bó của nhân viên dựa trên  
văn hóa vùng miền và văn hóa doanh nghiệp.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 93  
Tài liệu tham khảo  
An, T.L., Zhou, S.D. & Pi, J.C. (2009), “The incentive effect of R&D subsidies on  
independent innovation of Chinese enterprises”, Econ. Res. 10.  
Anderson, N., De Dreu, C.K.W. & Nijstad, B.A. (2004), “The routinization of innovation  
research: a constructively critical review of the state-of-the-science”, Journal of Organizational  
Behavior, Vol. 25 No. 2, pp. 147 - 173.  
Bộ Văn hóa Cộng hòa Lithuania. (2021), “Ethnic Culture, Regional Culture, and Children  
and-children-and-youth-cultural-education, truy cập ngày 15/04/2021.  
Chen, Y., Podolski, E.J. & Veeraraghavan, M. (2017), “National culture and corporate  
innovation” Pacific-Basin Finance Journal, Vol. 43, pp. 173 – 187.  
Cheng, J., Xi, L., Ye, J. & Xiao, W. (2014), “The Research of Regional Culture  
Characteristics of Tourism Commodities Based on Cross-Cultural Experience”, International  
Conference on Cross-cultural Design, pp. 24 - 34.  
Crossan, M.M. & Apaydin, M. (2010), “A multi‐dimensional framework of organizational  
innovation: a systematic review of the literature, Journal of Management Studies, Vol. 47 No.  
6, pp. 1154 - 1191.  
Czarnitzki, D. & Toole, A.A. (2006), “Patent protection, market uncertainty, and R&D  
investment”, Review of Economics and Statistics, No. 93, pp. 147 – 159.  
Efrat, K. (2014), “The direct and indirect impact of culture on innovation”, Technovation,  
Vol. 34 No. 1, pp. 12 – 20.  
Evans, J. (2013), “Culture & Business Performance: What’s the Relationship?”, Available  
at:  
performance-whats-the-relationship/ (Accessed Jul 1, 2021).  
Hill, C.W.L. (2003), “The performance of incumbent firms in the face of radical  
technological innovation”, Academy of management review, Vol. 28 No. 2, pp. 257 - 274.  
Kaasa, A. & Vadi, M. (2008), How does culture contribute to innovation? Evidence from  
European countries, Tartu University Press.  
Katz. (2002), “Shifting Innovation to Users Via Toolkits”, Management Science, Vol. 48  
No. 7, pp. 821 - 953.  
Lê, N.T. (2020), “Đại cương văn hoá Việt Nam, Không gian văn hoá Việt Nam, bài số 4”,  
ngày 15/04/2021.  
Léger, A. & Swaminathan, S. (2007), “Innovation theories: relevance and implications for  
developing country innovation”, DIW Discussion Papers, No. 743, Deutsches Institut für  
Wirtschaftsforschung (DIW), Berlin.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 94  
Lin, C., Lin, P., Song, F. & Li, C. (2011), “Managerial incentives, CEO characteristics, and  
corporate innovation in China's private sector”, Journal of Comparative Economics, Vol. 39  
No. 2, pp. 176 – 190.  
Liu, Y. & Liu, W. (2007), “Senior executive term and R&D expenditure of listed  
companies in China”, Management World, Vol. 1.  
Luật Khoa học và công nghệ. (2013), “Luật Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và công  
nghệ”,  
truy cập ngày 15/04/2021.  
Mai, L.T.V., Nguyễn, Đ.T., Văn, Đ.H., Lê, T.V.H., Hoàng, T.D.H. & Lê, T.T.D. (2018),  
“Thực trạng các yếu tố quyết định đến đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam”,  
Science & Technology Development Journal: Economics - Law And Management, Vol. 2  
No. 2.  
Nhạ, P.X. & Quân, L. (2013), “Đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí  
Khoa học ĐHQGHN, Tập 29 Số 4, tr. 1 - 11.  
OECD.  
(2005),  
“Innovative  
innovation  
policy  
overview  
create”,  
OECD. (2014), “Báo cáo tổng quan về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo ở Việt  
Nam”, Hội thảo giới thiệu tổng quan về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo ở Việt Nam.  
Salter, A. & Alexy, O. (2014), “The nature of innovation”, The Oxford Handbook of  
Innovation Management, Oxford University Press, pp. 26 - 52.  
Schumpeter, J.A. (1943), Capitalism, Socialism, and Democracy, London, George Allen,  
and Unwin.  
Spigel, B. (2013), “The Emergence of Regional Cultures and Practices: A Comparative  
Study of Canadian Software Entrepreneurship”, Ph.D. thesis of Philosophy, Department of  
Geography and Program in Planning University of Toronto.  
Tran, T.N.Q. & Nguyen, X.D. (2021), “The effect of corporate culture on firm performance  
in Vietnam: a literature review”, Proceedings International Conference on Digital  
Transformation of Small and Medium-sized Enterprises in Developing Countries, pp. 94 - 103.  
Trippl, M. & Toedtling, F. (2008), “Regional Innovation Culture”, Paper to be presented  
at the 25th Celebration Conference 2008 on Entrepreneurship and innovation - organizations,  
institutions, systems, and regions. Copenhagen, CBS, Denmark.  
Tú, N.N. (2020), “Khởi nghiệp sáng tạo tại Đức”, Trang Ngoại giao Kinh tế trực tuyến, Bộ  
15/04/2021.  
Wei, Y., Kang, D. & Wang, Y. (2019), “Geography, culture, and corporate innovation”,  
Pacific-Basin Finance Journal, Vol. 56, pp. 310 – 329.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 6 (08/2021) | 95  
pdf 14 trang Thùy Anh 23100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích ảnh hưởng của văn hóa vùng tới năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_anh_huong_cua_van_hoa_vung_toi_nang_luc_doi_moi_sa.pdf