Văn hóa doanh nghiệp Viettel trong môi trường đa văn hóa

INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VIETTEL TRONG  
MÔI TRƯỜNG ĐA VĂN HÓA  
VIETTEL ENTERPRISE CULTURE IN THE  
MULTI-CULTURAL ENVIRONMENT  
ThS. Quách Thị Ngọc Hà  
Nghiên cứu sinh - Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN  
Tóm tắt  
Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết về 3 cấp độ Văn hóa doanh nghiệp (VHDN) của Schein  
(1992) để đánh giá sự thay đổi của các cấp độ VHDN Viettel giữa hai thời kỳ trước và sau khi  
Viettel kinh doanh tại nước ngoài về: (i) cấu trúc văn hóa hữu hình, (ii) hệ thống giá trị chung  
được thống nhất, (iii) hệ thống những ngầm định cơ bản của các thành viên. Để đánh giá sự thay  
đổi văn hóa doanh nghiệp tại các tập đoàn, công ty viễn thông trong tiến trình hội nhập quốc tế,  
tác giả lấy mốc so sánh giữa giai đoạn trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài, cụ thể hóa  
thành hai giai đoạn 2000-2006 và 2007-2019.  
Từ khóa: đa văn hóa, cấp độ văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp.  
Abstract  
This research uses the theory of 3 levels of corporate culture of Schein (1992) to evaluate  
the change of levels of business culture of Viettel between the two periods before and after Viettel  
does business abroad: (i) tangible cultural structure, (ii) agreed common value system, (iii) basic  
system of members’ underlying assumptions. To assess the changes in corporate culture in cor-  
porations and telecommunications companies in the international integration process, the author  
takes a comparison between the period before and after doing business abroad, concretizing into  
two periods of 2000-2006 and 2007-2019.  
Key words: multi-cultural, corporate culture level, corporate culture.  
1. Đặt vấn đề  
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia và là thành viên của  
nhiều diễn đàn, tổ chức kinh tế lớn như: ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á), ASEM  
(Diễn đàn Hợp tác kinh tế Á - Âu), APEC (Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương),  
WTO (Tổ chức Thương mại thế giới), ký các hiệp ước mậu dịch song phương và đa phương với  
Hoa Kỳ, EU, ASEAN… và mới đây nhất là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)  
là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU. EVFTA, cùng với Hiệp định  
Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết  
cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay.  
1467  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Trong điều kiện hội nhập, Việt Nam sẽ trở thành một thị trường mở cho các doanh nghiệp  
từ các nước trong nội khối cũng như các nhà đầu tư trên toàn cầu. Vì vậy, các doanh nghiệp phải  
chịu áp lực cạnh tranh rất lớn với các nước khác về thuế suất, môi trường kinh doanh, đặc biệt là  
những biện pháp chống phá giá của các quốc gia phát triển. Các doanh nghiệp Việt Nam phải đối  
diện và tìm cách thích nghi với sự cạnh tranh khốc liệt trong môi trường kinh doanh toàn cầu,  
môi trường đa văn hóa. Đó là môi trường có nhiều chủ thể thuộc nhiều nền văn hóa dân tộc,  
nhiều quốc gia khác nhau, cùng tham gia hoạt động kinh doanh, giao tiếp, hợp tác và cạnh tranh  
với nhau vì vậy, nội bộ tổ chức và nguồn nhân lực của doanh nghiệp đã bao gồm nhiều người có  
tôn giáo, văn hóa và tâm lý tộc người khác nhau nên việc quản trị trong nội bộ doanh nghiệp  
cũng nảy sinh nhiều vấn đề mới. Các doanh nghiệp cần tìm hiểu và học hỏi về tâm lý, văn hóa,  
luật pháp, thể chế... tại các môi trường kinh doanh nước ngoài. Qua đó, VHDN và việc quản trị  
kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam mới vượt qua được những rào cản, mâu thuẫn, xung đột  
về văn hóa và sự khác biệt thể chế để phát huy được vai trò của mình, xây dựng được thương  
hiệu của doanh nghiệp và hình ảnh của đất nước, góp phần tạo nên sức mạnh của cộng đồng dân  
tộc và nền kinh tế quốc gia của Việt Nam.  
Trong số những doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, Tập đoàn Công nghiệp -  
Viễn thông quân đội (Viettel) được đánh giá là một trong những doanh nghiệp đầu tiên nhưng  
thành công nhất. Sau hơn 10 năm, Viettel đã có thương hiệu riêng tại 10 quốc gia. Trong 6 tháng  
đầu năm 2020, dù ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid và xu thế đi xuống của tiêu dùng viễn  
thông, công nghệ thông tin trên thế giới, tăng trưởng doanh thu từ thị trường nước ngoài đã đóng  
góp đáng kể vào kết quả sản xuất kinh doanh của Viettel, giúp đảm bảo các chỉ tiêu kế hoạch đề  
ra. Kết quả kinh doanh tốt tại các thị trường nước ngoài khiến cho dòng tiền về Việt Nam vượt  
mức kế hoạch, đạt gần 140 triệu USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Tuy nhiên việc hoạt động đầu  
tư kinh doanh tại cả 3 châu lục là Châu Á, Châu Mỹ và Châu Phi cũng đặt ra những thách thức  
lớn cho công tác quản trị nguồn nhân lực của Tập đoàn. Bởi “người Viettel” hiện nay đã bao gồm  
cả công dân của nhiều nước trên thế giới; tất yếu gặp phải những khó khăn về bất đồng ngôn  
ngữ, văn hoá, luật pháp .... Thực tế này đặt ra câu hỏi: môi trường đa văn hóa ảnh hưởng như thế  
nào đến VHDN của Viettel? Liệu có thể tồn tại một văn hoá Viettel hay văn hoá ấy sẽ phải tiếp  
biến, thay đổi khác nhau tại mỗi thị trường?  
Vì vậy, cần xem xét, đánh giá thực trạng hệ thống VHDN Viettel và xu hướng biến đổi của  
hệ thống VHDN này trong môi trường, bối cảnh kinh doanh mới; liệu hệ thống VHDN của Viettel  
có bị thay đổi về đặc điểm, bản sắc và vai trò, tác dụng trong công tác quản trị kinh doanh của  
Tập đoàn hay không? Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả sẽ đánh giá sự thay đổi VHDN tại  
Viettel trong tiến trình hội nhập quốc tế, tác giả lấy mốc so sánh giữa giai đoạn trước và sau khi  
kinh doanh tại nước ngoài, cụ thể hóa thành hai giai đoạn 2000-2006 và 2007-2019.  
2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Tổng quan nghiên cứu  
2.1.1. Nghiên cứu ngoài nước  
VHDN tuy là một lĩnh vực mới được hình thành nhưng đã được nhiều doanh nghiệp trên  
thế giới thừa nhận là một nhân tố quan trọng, một chìa khoá mở ra sự thành công và sự phát triển  
1468  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
bền vững. Đây cũng là đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả và các nhà nghiên  
kinh tế, quản trị kinh doanh.  
Đặt nền móng cho những lý luận để nghiên cứu sâu về VHDN phải nhắc đến một số công  
trình của John Kotter (1992) và G.Hofstede (1994); về văn hóa tổ chức và cấu trúc của văn hóa  
tổ chức (Oragnizational Culture) của Edgar H. Schein (1992); về đạo đức kinh doanh của Farrell  
và Fraedrich (2002).  
Về vấn đề quản lý doanh nghiệp trên nhiều nền văn hoá khác nhau, tác giả Charlene M.  
Solomon & Michael S. Schell đã nghiên cứu rất nhiều thất bại của các doanh nghiệp, tập đoàn  
đa quốc gia khi phát triển thị trường ra nước ngoài. Kết quả của nghiên cứu này là cuốn sách  
Quản lý xuyên văn hoá – bảy chìa khoá để kinh doanh trên quan điểm toàn cầu (2010, Nxb tổng  
hợp TP.Hồ Chí Minh), trong đó họ đã khám phá ra nguyên nhân của sự thất bại đó là do “sự bất  
đồng về văn hoá”.  
Trong nghiên cứu về Mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp, hiệu quả công việc và tổ  
chức đa văn hóa, tác giả Andrea Reyes Ramirez đã khẳng định rằng các tổ chức đa văn hóa cần  
đặc biệt chú ý đến các quy tắc văn hóa bởi chúng có thể dẫn đến những trở ngại trong việc chia  
sẻ ý tưởng, các vấn đề và giải pháp nếu chúng bị phá vỡ. Các tổ chức đa văn hóa cần phải công  
nhận và tôn trọng các quy tắc văn hóa. Nếu các quy tắc văn hóa bị tổn hại, nó có thể trì hoãn và  
cản trở việc chia sẻ kiến thức cần thiết cho hiệu quả hoạt động. Bằng cách hiểu và tôn trọng các  
quy tắc văn hóa, các nhà lãnh đạo hiệu quả có thể tạo ra một môi trường mà tri thức được tự do  
chia sẻ.  
Nghiên cứu về các cấp độ văn hóa doanh nghiệp: Schein (1992) đưa ra mô hình 3 cấp độ  
VHDN, bao gồm: (1) Cấu trúc văn hóa hữu hình, (2) Những giá trị được thống nhất và (3) Những  
ngầm định cơ bản. Đồng thời, ông phân loại doanh nghiệp theo mức độ doanh nghiệp thoả mãn  
các đặc điểm của 3 cấp độ văn hóa này.  
Cấp độ một: Cấu trúc văn hóa hữu hình (Artifacts): bao gồm tất cả những hiện tượng và  
sự vật mà một người có thể nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận khi lần đầu tiên tiếp xúc với doanh  
nghiệp.  
Cấp độ hai: Những giá trị chung được thống nhất (Espoused Values): bao gồm những giá  
trị, chiến lược, triết lý chung được thống nhất, tán thành trong đông đảo người lao động và lãnh  
đạo doanh nghiệp.  
Cấp độ ba: Những ngầm định cơ bản (Basic Underlying Assumptions) bao gồm những  
nhận thức, niềm tin, suy nghĩ, tình cảm chung được chia sẻ, ăn sâu trong tiềm thức, tâm lý của  
các thành viên doanh nghiệp và trở thành điều mặc nhiên được công nhận.  
2.1.2. Nghiên cứu trong nước  
Với những vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, VHDN đã  
thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.  
Một số công trình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp của Đỗ Minh Cương được đánh  
giá cao như các cuốn sách Văn hoá và triết lý kinh doanh (năm 2000) và Văn hóa kinh doanh và  
Triết lý kinh doanh (năm 2001). Trong các tác phẩm này, tác giả đã đưa ra được định nghĩa cơ  
1469  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
bản về văn hóa kinh doanh, triết lý kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp và vai trò, tác dụng, sự  
phát triển của nó ở Việt Nam. Tuy nhiên, là công trình mở đầu một hướng nghiên cứu mới nên  
các công trình trên chưa có sự khảo cứu sâu về cấu trúc và cách thức quản trị VHDN. Gần đây,  
trong bài viết “Quản trị văn hoá doanh nghiệp và sự phát triển bền vững” trong Kỷ yếu Hội thảo  
quốc gia “Xây dựng văn hoá doanh nghiệp theo tinh thần Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9  
khoá XI” năm 2015, tác giả đã lần đầu nêu các lý do và nội dung của vấn đề “quản trị VHDN” ở  
nước ta hiện nay, trong đó nhấn mạnh tới hai loại nguyên nhân chính dẫn tới những tồn tại, yếu  
kém trong xây dựng VHDN là hạn chế về nhận thức và cách thức thực hiện.  
Nghiên cứu về “Văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng – VP-  
Bank” của Phạm Đình Chinh (2015). Nghiên cứu đã xây dựng khung lý thuyết về xác định về  
xác định các khía cạnh văn hóa doanh nghiệp dựa trên mô hình của Trompenaars; Khảo sát ba  
yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa doanh nghiệp tại VPBank theo các tiêu chí của khung lý thuyết;  
Đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại VPBank theo từng nhóm đối  
tượng đã xác định.  
Nghiên cứu “Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”  
của Nguyễn Thị Nguyện. Nghiên cứu đã dựa trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung  
về văn hóa doanh nghiệp, đánh giá thực trạng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, nghiên  
cứu một số mô hình văn hóa doanh nghiệp điển hình của các doanh nghiệp thành công trên thế  
giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam, khóa luận đề xuất một số giải  
pháp xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.  
Có thể thấy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về việc  
hình thành các phương thức khoa học để nghiên cứu phát triển văn hoá doanh nghiệp trong môi  
trường đa văn hoá mặc dù đây là một thực tế trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng  
vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Nghiên cứu này sẽ đánh giá thực trạng  
và dự đoán xu hướng phát triển VHDN tại Viettel với bối cảnh kinh doanh trong môi trường đa  
văn hóa.  
2.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
Mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết về 3 cấp độ VHDN của Schein (1992). Cụ thể,  
theo Schein, có 3 cấp độ VHDN tồn tại trong mỗi doanh nghiệp gồm: (1) Cấu trúc văn hóa hữu  
hình (Artifacts) bao gồm những hiện tượng, sự vật mà một người có thể nhìn thấy, nghe thấy và  
cảm nhận khi lần đầu tiên tiếp xúc với doanh nghiệp; (2) Những giá trị được thống nhất (Espoused  
Values) bao gồm những giá trị, chiến lược, triết lý chung được thống nhất, tán thành trong đông  
đảo người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp; (3) Những ngầm định cơ bản (Basic Underlying  
Assumptions) bao gồm những nhận thức, niềm tin, suy nghĩ, tình cảm chung được chia sẻ, trong  
tiềm thức, tâm lý của các thành viên doanh nghiệp và trở thành điều mặc nhiên được công nhận.  
Với mục đích trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Đánh giá về các cấp độ VHDN của  
Viettel có thay đổi không và thay đổi như thế nào giữa hai thời kỳ trước và sau khi Viettel kinh  
doanh tại nước ngoài?  
Các thang đo (câu hỏi) để đánh giá các cấp độ VHDN được xây dựng dựa trên nền tảng  
lý thuyết về các cấp độ VHDN của Schein (1992) với ba cấp độ văn hóa trong tổ chức là:  
1470  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
(1) Cấu trúc văn hóa hữu hình;  
(2) Hệ thống giá trị chung được thống nhất;  
(3) Hệ thống những ngầm định cơ bản của các thành viên.  
Kết quả các thang đo được thiết kế cho từng cấp độ văn hóa cụ thể như sau:  
(1) Cấu trúc văn hóa hữu hình được thiết kế bao gồm 05 nhân tố  
- Việc thực hiện thống nhất hệ thống quản trị nhận diện thương hiệu trên toàn hệ thống.  
Nhân tố này được chi tiết hóa thành các tiêu chí như sau:  
+ Hệ thống logo, khẩu hiểu, biểu trưng, màu sắc  
+ Hệ thống trang phục, danh thiếp,...  
+ Trang trí công sở (trụ sở, chi nhánh, điểm giao dịch, cây ATM,...)  
+ Hệ thống văn phòng phẩm (sổ, giấy, bút viết,...)  
- Hệ thống các chương trình, lễ nghi, sự kiện do Viettel tổ chức để tăng cường sự tự hào về  
đơn vị và đoàn kết tinh thần giữa các thành viên.  
- Viettel xây dựng các câu chuyện, giai thoại về các quá trình hoạt động, các mẩu chuyện  
về các nhân vật có đóng góp đặc biệt, quan trọng cho sự phát triển của Viettel và những câu  
chuyện, giai thoại như vậy được phổ biến trong đông đảo cán bộ, nhân viên.  
- Viettel có hệ thống quy chế, quy trình, quy định rõ ràng, cụ thể. Nhân tố này được chi tiết  
hóa thành các tiêu chí như sau:  
+ Quy định về cách thức ứng xử của nhân viên đối với khách hàng, đối tác.  
+ Quy định về lề lối làm việc nội bộ (giờ giấc làm việc, giao tiếp với lãnh đạo, chế độ  
họp,...).  
+ Quy trình về cách thức xử lý công việc (báo cáo với ai, phương thức báo cáo, ai được  
quyền ra quyết định về việc gì,...).  
+ Quy định về việc thưởng - phạt  
- Viettel có hệ thống sơ đồ, cấp bậc hệ thống tổ chức rõ ràng, mạch lạc, và được cán bộ  
công nhân viên nắm rõ.  
Đối với hai cấp độ văn hóa (2) Hệ thống giá trị chung được thống nhất và (3) Hệ thống  
những ngầm định cơ bản của các thành viên, do số lượng các giá trị chung được thống nhất và  
những ngầm định cơ bản không có số lượng xác định, thể hiện chiều sâu văn hóa nội tại, mang  
tính cảm nhận và định tính cao đồng thời khác nhau giữa từng doanh nghiệp, do đó, sau khi tiến  
hành làm bảng hỏi thử nghiệm với một nhóm 30 cán bộ Viettel, đồng thời phỏng vấn, tham khảo  
ý kiến một số lãnh đạo cấp cao Viettel cùng các chuyên gia, tác giả chỉ đưa vào bảng hỏi để đánh  
giá 3 yếu tố thuộc cấp độ văn hóa thứ hai và 4 yếu tố thuộc cấp độ văn hóa thứ ba. Các yếu tố  
này không nhằm mục tiêu và cũng không thể bao quát hết nội hàm của hai cấp độ VHDN mà chỉ  
nhằm mục đích đánh giá một số yếu tố trọng tâm của các cấp độ văn hóa này mà các tập đoàn  
viễn thông quan tâm, đồng thời giúp tác giả định hình được hệ thống giải pháp giúp nâng cao  
1471  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
hiệu quả tác động của VHDN với hoạt động kinh doanh của đơn vị. Cụ thể các yếu tố thuộc các  
cấp độ văn hóa thứ hai và thứ ba như sau:  
(2) Hệ thống giá trị chung được thống nhất trong Viettel được thiết kế đánh giá bằng 03  
nhân tố  
- Cán bộ, nhân viên của Viettel dễ dàng thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh  
doanh hoặc thay đổi cấu trúc nội bộ.  
- Những ý tưởng mới luôn được sẵn sàng đón nhận tại Viettel.  
- Viettel xây dựng hệ thống triết lý kinh doanh, sứ mệnh và giá trị cốt lõi; những nội dung  
này được phổ biến trong toàn Viettel và đã được cán bộ công nhân viên nhận thức đầy đủ.  
(3) Hệ thống những ngầm định cơ bản của các thành viên được thiết kế đánh giá bằng 04  
nhân tố  
- Viettel có phong cách làm việc riêng, khác biệt với các công ty viễn thông khác và nhân  
viên nhận thức, cảm nhận được phong cách làm việc đó.  
- Cán bộ, nhân viên có niềm tin về sự phát triển của Viettel.  
- Cán bộ, nhân viên của Viettel nhận thức được VHDN đóng vai trò quan trọng tới sự phát  
triển chung của tập đoàn.  
- Đóng góp tích cực của các tổ chức đoàn thể trong việc xây dựng VHDN, tạo môi trường  
làm việc đoàn kết, phối hợp. Nhân tố này được đánh giá chi tiết qua hai tiêu chí : Hoạt động của  
công đoàn; Hoạt động của đoàn thành niên.  
Thang đo để đánh giá là thang đo Likert 5 điểm từ (1)– Rất không đồng ý, (2)–Không  
đồng ý, (3)–Phân vân, (4)-Đồng ý, (5)–Rất đồng ý  
Phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn, sử dụng bảng hỏi: Phương pháp này sẽ được  
sử dụng để khảo nghiệm về các phương thức xây dựng văn hóa doanh nghiệp và chẩn đoán mô  
hình văn hóa doanh nghiệp. Phương pháp chọn mẫu sẽ được tôn trọng khi tiến hành các cuộc  
khảo sát, điều tra xã hội học để có những đánh giá và nhận định đúng và sát thực (số lượng là  
500 phiếu).  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Mẫu nghiên cứu sau khi phát đi 500 phiếu điều tra trực tiếp hoặc qua thư điện tử (email)  
đến cán bộ, nhân viên Cán bộ, nhân viên tại Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội thu  
về được 454 phiếu điều tra hợp lệ. Có một số phiếu điều tra điền thiếu thông tin ở một số câu hỏi  
nhưng tỷ lệ điền thiếu rất thấp nên vẫn được giữ lại để phân tích.  
Viettel là một tập đoàn viễn thông của quân đội do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ,  
là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Đây chính là điểm khác biệt làm nên VHDN của Viettel  
trong môi trường đa văn hóa.  
Theo kết quả khảo sát mà tác giả đã thực hiện, sử dụng phương pháp thống kê, tác giả đã  
tổng hợp kết quả đánh giá chung các yếu tố khảo sát như sau:  
1472  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Bảng 1 : Kết quả đánh giá chung các yếu tố khảo sát  
STT  
I
Các chỉ tiêu  
Đánh giá chung về vai trò thực tế của VHDN Viettel  
Vai trò của VHDN đối với hoạt động và sự phát triển của  
Tác dụng tích cực của VHDN đối với công tác và sự phát  
Áp dụng VHDN trong thực tế công việc  
Đánh giá về cấu trúc hữu hình của VHDN Viettel  
Kiến trúc văn phòng, nội ngoại thất  
Logo  
Đánh giá chung  
1
4.18  
4.01  
3.32  
2
3
II  
1
3.64  
4.12  
3.84  
3.91  
3.76  
3.98  
3.21  
4.17  
2
3
Đồng phục  
4
Lễ nghi, lễ hội, các chương trình văn hóa  
Ấn phẩm số  
5
6
Câu chuyện, giai thoại  
7
Hệ thống giáo dục và đào tạo  
8
Hoạt động xã hội  
III  
1
Đánh giá về các giá trị được tuyên bố của Viettel  
Sứ mệnh, tầm nhìn  
4.19  
4.15  
3.83  
3.91  
4.11  
4.16  
4.19  
4.13  
2
Triết lý kinh doanh  
3
Các giá trị cốt lõi  
4
Hệ thống chuẩn mực trong thực hiện công việc  
Phương châm hành động  
5
6
Văn hoá kết hợp Đông Tây tạo nên sự khác biệt  
Văn hoá kết hợp Đông Tây cần gìn giữ  
Văn hoá kết hợp Đông Tây phát huy hiệu quả tại nước  
Đánh giá về các ngầm định nền tảng và quan niệm  
Tự hào về truyền thống  
7
8
IV  
1
3.99  
3.96  
3.85  
4.16  
4.18  
3.97  
4.12  
2
Yêu nghề  
3
Thực hiện ứng xử văn hóa  
4
Phát huy triết lý kinh doanh  
5
Lãnh đạo, quản lý gương mẫu  
Lối sống, phong cách Viettel  
6
7
Thống nhất về tư tưởng  
Nguồn: Thống kê của tác giả  
1473  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
3.1. Cấp độ thứ nhất của về cấu trúc văn hoá hữu hình của VHDN Viettel  
Dựa trên các yếu tố biểu hiện thực tế để đánh giá, có thể thấy các nhân tố thuộc giá trị  
văn hoá hữu hĩnh được đánh giá khá đồng đều và ở mức điểm số cao. Trong đó, điểm của Logo  
và Hoạt động xã hội là cao nhất. Đây là 2 yếu tố nổi bật, dễ nhận biết, nó cũng tương xứng với  
sự đầu tư và tâm huyết của Viettel khi xây dựng một thị trường mới ngoài Việt Nam. Khác với  
các Tập đoàn viễn thông đa quốc gia khác khi đầu tư ở nước ngoài, họ thường dùng chính thương  
hiệu của Tập đoàn mẹ,... Viettel có cách xây dựng thương hiệu tại các thị trường quốc tế hoàn  
toàn khác biệt. Với triết lý của riêng mình, Viettel mong muốn mỗi công ty mà Tập đoàn đầu tư  
đại diện cho chính thương hiệu của quốc gia đó, là công ty của những người sở tại, là niềm tự  
hào của mỗi dân tộc mà Viettel đặt chân tới. Việc chọn thương hiệu riêng cho từng thị trường  
không chỉ khơi dậy lòng tự tôn dân tộc của mỗi CBCNV mà còn khích lệ họ cố gắng cho chính  
tương lai của mình, của đất nước mình. Đây là nét riêng biệt độc đáo mà các Tập đoàn khác  
không hề có.  
Yếu tố Kiến trúc văn phòng, nội ngoại thất và Hệ thống giáo dục đào tạo được đánh giá  
không cao. Trong đó thấp nhất là Hệ thống giáo dục đào tạo với 3.19 điểm. Việc này phản ánh  
một phần nào cho thấy thực tế khi đầu tư tại nước ngoài, giai đoạn đầu để đáp ứng nhanh văn  
phòng làm việc, thường Viettel sẽ thuê hoặc mua những ngôi nhà có sẵn để làm văn phòng nên  
có thể chưa đáp ứng được kiến trúc như mong muốn. Ngoài ra, việc giáo dục và đào tạo cho  
người bản địa chưa được tổ chức bài bản, do áp lực tiến độ công việc tại thị trường nước ngoài  
nên hầu hết việc đào tạo thường trực tiếp trên công việc (trainning on job), đây là một điểm yếu  
cần phải khắc phục.  
Bảng 2: Kết quả đánh giá về cấu trúc văn hóa hữu hình  
của Viettel giữa hai thời kỳ trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài  
Trước khi  
kinh doanh  
tại nước ngoài  
Sau khi  
kinh doanh  
tại nước ngoài  
Chênh lệch  
Tiêu chí đánh giá  
Mean  
SD  
Mean  
SD  
Mean  
SD  
Q1.Hệ thống nhận diện thương hiệu  
thống nhất  
3.75  
0.82  
4.33  
0.57  
0.57  
0.92  
1.1 Logo, khẩu hiệu, biểu trưng, màu sắc 3.98  
0.81  
1.13  
4.39  
4.38  
0.63  
0.81  
0.40  
0.69  
0.96  
1.04  
1.2 Trang phục, danh thiếp, biển tên ….  
1.3 Trang trí công sở  
3.48  
3.86  
0.95  
1.01  
4.28  
4.25  
0.63  
0.77  
0.51  
0.52  
1.05  
1.04  
1.4 Các loại văn phòng phẩm: giấy in, , 3.79  
sổ tay, bút viết …  
Q2.Các chương trình, lễ nghi, sự kiện do 3.96  
tập đoàn, các chi nhánh tổ chức góp phần  
tăng cường sự tự hào về đơn vị và tinh  
thần đoàn kết giữa các thành viên  
1.12  
4.35  
0.71  
0.49  
1.22  
1474  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Q3. Tập đoàn, các chi nhánh xây 3.71  
dựng các câu chuyện, giai thoại về  
quá trình hoạt động (giai đoạn phát  
triển mạnh mẽ, giai đoạn vượt qua  
khủng hoàng), các mẩu chuyện về  
những nhân vật đóng góp quan trọng  
cho sự phát triển của Viettel và những  
câu chuyện, giai thoại này được phổ  
biến đông đảo trong cán bộ, nhân viên  
0.97  
3.93  
0.88  
0.52  
1.03  
Q4. Có hệ thống quy chế, quy trình, 3.93  
quy định rõ ràng, cụ thể về các nội  
dung sau và được thực hiện nghiêm  
túc  
0.74  
4.25  
0.77  
0.18  
0.88  
4.1 Quy định về cách thức ứng xử của 3.91  
nhân viên đối với khách hàng, đối tác  
0.88  
0.80  
4.25  
4.30  
0.87  
0.78  
0.24  
0.16  
1.15  
0.87  
4.2 Quy định về lề lối làm việc nội bộ 3.98  
(giờ giấc làm việc, giao tiếp với lãnh  
đạo, chế độ họp, ….)  
4.3 Quy trình về cách thức xử lý công 3.91  
việc (báo cáo với ai, phương thức báo  
cáo, ai được quyền ra quyết định về  
0.75  
4.19  
0.84  
0.24  
0.96  
4.4. Quy định về việc thưởng - phạt  
3.85  
0.92  
0.84  
4.11  
4.10  
0.91  
0.82  
0.24  
0.87  
1.00  
Q5. Có hệ thống sơ đồ, cấp bậc hệ 4.02  
thống tổ chức rõ ràng, mạch lạc, và  
được cán bộ công nhân viên nắm rõ  
- 0.13  
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS  
Cấu trúc văn hóa hữu hình được đánh giá từ 5 nhân tố bao gồm:  
- Hệ thống nhận diện thương hiệu thống nhất  
- Các chương trình, lễ nghi, sự kiện  
- Hệ thống các câu chuyện, giai thoại về tổ chức  
- Hệ thống quy chế, quy trình, quy định  
- Hệ thống cơ cấu tổ chức  
Kết quả phân tích cho nhóm nhân viên tại Viettel cho thấy, tất cả các khía cạnh về cấu  
trúc văn hóa hữu hình tại Viettel đều được các nhân viên đánh giá cao hơn giai đoạn sau khi kinh  
doanh tại nước ngoài so với giai đoạn trước khi kinh doanh tại nước ngoài. Trong đó điểm đánh  
giá cao nhất thuộc về khía cạnh Hệ thống nhận diện thương hiệu thống nhất (Q1) với điểm trung  
bình là 4.33 (SD = 0.57) giai đoạn sau khi kinh doanh tại nước ngoài so với mức điểm trung bình  
1475  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
3.75 (SD = 0.82) giai đoạn trước khi kinh doanh tại nước ngoài. Điểm đánh giá thấp nhất thuộc  
về khía cạnh xây dựng các câu chuyện, giai thoại (Q3), với điểm trung bình là 3.93 (SD = 0.88)  
giai đoạn sau khi kinh doanh tại nước ngoài so với mức điểm trung bình 3.71 (SD = 0.97) giai  
đoạn trước khi kinh doanh tại nước ngoài.  
Để đánh giá sự khác biệt về mức độ thay đổi trong cấu trúc văn hóa trước và sau khi kinh  
doanh tại nước ngoài, tác giả đánh giá thông qua những cán bộ nhân viên làm việc trong cả 2  
giai đoạn này.  
Kết quả bằng kiểm định cặp trong so sánh nội nhóm giữa các nhân viên được trải nghiệm  
cả hai thời kỳ cho thấy 4 trong 5 chỉ tiêu có sự thay đổi giữa hai thời kỳ là (1) Hệ thống nhận  
diện thương hiệu thống nhất (Q1), (2) Hệ thống lễ nghi, sự kiện, chương trình của Viettel (Q2),  
(3) Các câu chuyện, giai thoại về quá trình phát triển và những đóng góp của các nhân vật đặc  
biệt (Q3) và (4) Hệ thống quy chế, quy trình, quy định được thực hiện một cách nghiêm túc (Q4)  
(p-value < 0.05). Trong đó xu hướng cho thấy giai đoạn sau khi kinh doanh tại nước ngoài điểm  
đánh giá về cấu trúc văn hóa hữu hình cao hơn giai đoạn trước khi kinh doanh tại nước ngoài.  
Kết quả cũng cho thấy khía cạnh “Hệ thống sơ đồ, cấp bậc hệ thống tổ chức mạch lạc rõ ràng”  
điểm trung bình giảm nhẹ, tuy nhiên kiểm định cho thấy không có cơ sở cho rằng có sự khác biệt  
giữa hai thời kỳ về chỉ tiêu này (p-value = 0.21 lớn hơn 0.05).  
Bảng 3: Kết quả kiểm định sự thay đổi về cấu trúc văn hóa hữu hình  
của Viettel giữa hai thời kỳ trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài  
Khác biệt  
So sánh  
thay đổi giữa hai thời kỳ  
theo cặp mẫu  
t
df  
p-value  
Mean  
SD  
Q1.Hệ thống nhận diện thương hiệu thống  
1.1 Logo, khẩu hiệu, biểu trưng, màu sắc  
1.2 Trang phục, danh thiếp, biển tên ….  
.58  
.92  
6.48  
4.59  
7.52  
5.65  
116  
116  
116  
116  
.00  
.00  
.00  
.00  
.42  
.97  
.72  
1.11  
1.12  
1.3 Trang trí công sở (trụ sở, chi nhánh, điểm  
giao dịch, ATM..)  
.53  
1.4 Các loại văn phòng phẩm: giấy in, , sổ tay,  
.57  
.48  
1.10  
1.23  
5.87  
4.40  
116  
116  
.00  
.00  
Q2.Các chương trình, lễ nghi, sự kiện do Viettel  
tổ chức góp phần tăng cường sự tự hào về đơn  
vị và tinh thần đoàn kết giữa các thành viên  
Q3. Viettel xây dựng các câu chuyện, giai thoại  
về quá trình hoạt động (giai đoạn phát triển  
mạnh mẽ, giai đoạn vượt qua khủng hoàng), các  
mẩu chuyện về những nhân vật đóng góp quan  
trọng cho sự phát triển của Viettel và những câu  
chuyện, giai thoại này được phổ biến đông đảo  
trong cán bộ, nhân viên  
.52  
1.06  
5.17  
116  
.00  
1476  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Q4. Viettel có hệ thống quy chế, quy trình, quy  
định rõ ràng, cụ thể về các nội dung sau và được  
thực hiện nghiêm túc  
.25  
.81  
2.68  
117  
.01  
4.1 Quy định về cách thức ứng xử của nhân viên  
đối với khách hàng, đối tác  
.25  
.18  
.28  
1.16  
.84  
2.42  
2.14  
2.68  
117  
117  
117  
.02  
.03  
.01  
4.2 Quy định về lề lối làm việc nội bộ (giờ giấc  
làm việc, giao tiếp với lãnh đạo, chế độ họp,...).  
4.3 Quy trình về cách thức xử lý công việc (báo  
cáo với ai, phương thức báo cáo, ai được quyền  
ra quyết định về việc gì….)  
.95  
4.4 Quy định về việc thưởng - phạt  
.20  
.90  
2.32  
116  
116  
.02  
.21  
Q5. Viettel có hệ thống sơ đồ, cấp bậc hệ thống  
tổ chức rõ ràng, mạch lạc, và được cán bộ công  
nhân viên nắm rõ  
-.11  
1.00  
-1.19  
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS  
3.2. Cấp độ 2 về đánh giá các giá trị được tuyên bố của Viettel  
Với các biến tác giả khảo sát, có thể thấy các giá trị được tuyên bố của Viettel đều được  
đánh giá cao, thậm chí cao hơn các nhân tố thuộc cấu trúc hữu hình. Đánh giá này thể hiện đúng  
thực tế về sức mạnh của triết lý kinh doanh, các giá trị cốt lõi, chiến lược, tầm nhìn... của Tập  
đoàn. Các yếu tố thuộc giá trị được tuyên bố như: Sứ mệnh, tầm nhìn; Triết lý kinh doanh; Các  
giá trị cốt lõi đều được đánh giá ở mức độ cao. Điều này cho thấy cán bộ, nhân viên đã hiểu được  
các giá trị văn hoá vô hình mà công ty đang có. Đặc biệt, điểm số cao nhất của cấp độ văn hoá  
này là những yếu tố thể hiện rõ nét bản sắc, sự khác biệt của Viettel là sức mạnh cho sự phát triển  
của Tập đoàn khi đầu tư ra nước ngoài.  
Kết quả phân tích cho thấy, tất cả các khía cạnh về cấp độ văn hóa thứ hai (những giá trị  
chung được chia sẻ) tại Viettel đều được các nhân viên đánh giá cao hơn giai đoạn sau khi kinh  
doanh tại nước ngoài so với giai đoạn trước khi kinh doanh tại nước ngoài.  
Bảng 4: Kết quả đánh giá về những giá trị chung  
được thống nhất g trong Viettel thời kỳ trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài  
Trước kinh doanh  
tại nước ngoài  
Sau kinh doanh  
tại nước ngoài  
Chênh lệch  
Tiêu chí đánh giá  
Mean  
SD  
Mean  
SD  
Mean  
0.07  
SD  
Q6.Cán bộ nhân viên dễ  
dàng thích ứng với những  
thay đổi trong môi trường  
kinh doanh hoặc thay đổi  
trong cấu trúc nội bộ  
4.01  
0.91  
4.06  
0.86  
1.14  
1477  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Q7.Những ý tưởng mới  
luôn được sẵn sàng đón  
4.04  
3.86  
0.95  
1.10  
4.12  
4.16  
0.85  
0.82  
0.08  
0.32  
1.15  
0.72  
Q8. Xây dựng hệ thống triết  
lý kinh doanh, sứ mệnh và  
giá trị cốt lõi; những nội  
dung này được phổ biến  
trong toàn tập đoàn Viettel  
và đã được cán bộ nhân  
viên nhận thức đầy đủ  
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS  
Hệ thống những giá trị chung được thống nhất trong Viettel được cán bộ, nhân viên đánh  
giá qua (1) Khả năng dễ dàng thích nghi với những thay đổi của môi trường kinh doanh và cấu  
trúc nội bộ (Q6); (2) Khả năng sẵn sàng đón nhận ý tưởng mới (Q7) và (3) Xây dựng hệ thống  
triết lý kinh doanh, sứ mệnh và những giá trị cốt lõi (Q8).  
Sử dụng kiểm định mẫu cặp cho thay đổi nội nhóm giữa nhân viên được trải nghiệm cả  
hai thời kỳ trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài cho thấy chỉ có sự thay đổi về đánh giá  
của nhân viên ở khía cạnh “xây dựng hệ thống triết lý kinh doanh, sứ mệnh và giá trị cốt lõi được  
phổ biến, được nhân viên nhận thức một cách đầy đủ” (Q8) (p-value = 0.00 nhỏ hơn 0.05). Xu  
hướng cho thấy giai đoạn sau khi kinh doanh tại nước ngoài nhận thức của nhân viên ở khía cạnh  
này cao hơn so với giai đoạn chưa kinh doanh tại nước ngoài. Các khía cạnh khác như “nhân  
viên dễ dàng thích nghi với những thay đổi của môi trường kinh doanh hoặc cấu trúc nội bộ”  
(Q6) và “sẵn sàng đón nhận những ý tưởng mới” (Q7) không cho thấy có sự khác biệt giữa hai  
thời kỳ (p-value > 0.05).  
Bảng 5: Kết quả kiểm định sự thay đổi về hệ thống những giá trị chung  
được thống nhất tại Viettel giai đoạn trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài  
Khác biệt theo cặp  
So sánh thay đổi giữa hai thời kỳ  
t
df  
p-value  
Mean  
SD  
Q6.Cán bộ nhân viên dễ dàng thích ứng với  
những thay đổi trong môi trường kinh doanh  
hoặc thay đổi trong cấu trúc nội bộ  
Q7.Những ý tưởng mới luôn được sẵn sàng  
đón nhận  
.07  
1.12  
.58  
117  
0.56  
.09  
.34  
1.14  
.71  
.73  
117  
118  
0.48  
0.00  
Q8. Xây dựng hệ thống triết lý kinh doanh,  
sứ mệnh và giá trị cốt lõi; những nội dung  
này được phổ biến và đã được cán bộ công  
nhân viên nhận thức đầy đủ  
4.84  
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS  
1478  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
3.3. Cấp độ 3 về đánh giá các ngầm định nền tảng và quan niệm chung trong VHDN Viettel  
Kết quả khảo sát của tác giả thông qua các yếu tố biểu hiện cho thấy đều được đánh giá ở  
mức cao. Chỉ tiêu Lãnh đạo, quản lý gương mẫu đạt điểm số cao nhất với 4.18 điểm. Điều đó thể  
hiện sức mạnh của VHDN Viettel tại nước ngoài, nó đã tạo nên một nền tảng giá trị, lối suy nghĩ  
và hành động sẵn sàng hy sinh, chấp nhận bất kỳ khó khăn, luôn nỗ lực xung trận đầu tiên, người  
Việt phải luôn làm gương để người bản xứ tôn trọng và noi theo, lãnh đạo phải luôn làm gương  
để cấp dưới noi theo. Điều đó đã mang đến sự thành công của Tập đoàn Viettel khi ở nước ngoài.  
Cấp độ văn hóa thứ ba, những ngầm định cơ bản được thừa nhận giữa các thành viên trong  
Viettel được đánh giá thông qua (1) Ngầm định rằng Viettel có phong cách làm việc riêng khác  
biệt so với các công ty viễn thông khác (Q9); (2) Ngầm định về niềm tin vào sự phát triển của  
Viettel (Q10); (3) Ngầm định về vai trò của VHDN (Q11) và (4) Ngầm định về của vai trò của  
các tổ chức đoàn thể trong việc xây dựng VHDN.  
Kết quả phân tích cho thấy, đánh giá của nhân viên về các khía cạnh trong cấp độ văn hóa  
thứ ba (những ngầm định cơ bản) tại Viettel có biến động không đều giữa hai giai đoạn trước và  
sau khi kinh doanh tại nước ngoài. Một số khía cạnh có xu hướng tăng (Q10, Q11, Q12) nhưng  
cũng có khía cạnh có xu hướng giảm (Q9).  
Bảng 6: Kết quả đánh giá về những ngầm định cơ bản  
của các thành viên trong Viettel trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài  
Trước khi  
kinh doanh  
tại nước ngoài  
Sau khi  
kinh doanh  
tại nước ngoài  
Chênh lệch  
Tiêu chí đánh giá  
Mean  
SD  
Mean  
SD  
Mean  
SD  
Q9. Viettel có phong cách làm 4.12  
việc riêng, khác biệt với các  
công ty viễn thông khác và ông,  
bà nhận thức, cảm nhận được  
phong cách làm việc đó  
0.74  
4.11  
0.76  
- 0.21  
0.96  
Q10. Đông đảo cán bộ, nhân 4.25  
viên có niềm tin về sự phát triển  
của Viettel  
0.78  
1.03  
4.32  
4.38  
0.78  
0.81  
- 0.25  
0.26  
1.01  
0.68  
Q11.Đông đảo cán bộ nhân viên 3.86  
nhận thức rằng VHDN đóng vai  
trò quan trọng tới sự phát triển  
chung của Viettel  
Q12. Các tổ chức đoàn thể sau 4.13  
có những đóng góp tích cực  
trong việc tham gia xây dựng  
VHDN, tạo môi trường làm việc  
đoàn kết, phối hợp tại Viettel  
0.75  
4.29  
0.77  
- 0.12  
0.86  
Q12.1 .Công đoàn  
4.18  
4.13  
0.79  
0.80  
4.29  
4.30  
0.78  
0.79  
- 0.23  
0.03  
1.08  
0.70  
Q12.2 Đoàn thanh niên  
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS  
1479  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Kết quả kiểm định mẫu cặp cho nhóm nhân viên có trải nghiệm ở cả hai thời kỳ cho thấy  
có sự khác biệt ở 3 trong 4 khía cạnh đánh giá bao gồm (1) Viettel có phong cách làm việc riêng  
khác biệt với công ty viễn thông khác (Q9); (2) nhân viên có niềm tin vào sự phát triển của tập  
đoàn (Q10); (3) nhân viên nhận thức được vai trò của VHDN với sự phát triển của Viettel (Q11)  
(p-value < 0.05). Trong đó 2 khía cạnh “phong cách làm việc riêng khác biệt” và “niềm tin của  
nhân viên vào sự phát triển của Viettel” có xu hướng giảm giữa thời kỳ sau khi kinh doanh tại  
nước ngoài so với thời kỳ trước khi kinh doanh tại nước ngoài. Khía cạnh về nhận thức “vai trò  
của VHDN đối với sự phát triển của Viettel” lại cho thấy có xu hướng được nhân viên đánh giá  
cao hơn. Khía cạnh về vai trò của các tổ chức đoàn thể đến xây dựng VHDN không có sự khác  
biệt rõ ràng giữa hai thời kỳ (p-value > 0.05).  
Bảng 7: Kết quả kiểm định sự thay đổi về những ngầm định cơ bản  
trong Viettel giữa hai giai đoạn trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài  
Khác biệt  
So sánh sự khác biệt  
giữa hai thời kỳ  
theo cặp mẫu  
T
df  
p-value  
Mean  
SD  
Q9. Viettel có phong cách làm việc riêng,  
khác biệt với các công ty viễn thông khác và  
ông, bà nhận thức, cảm nhận được phong cách  
làm việc đó  
-.21  
.98  
-2.19  
114  
.04  
Q10.Đông đảo cán bộ, nhân viên có niềm tin  
về sự phát triển của Viettel  
-.25  
.32  
1.02  
.68  
-2.81  
4.72  
117  
116  
.01  
.00  
Q11.Đông đảo cán bộ nhân viên nhận thức  
rằng VHDN đóng vai trò quan trọng tới sự  
phát triển chung của tập đoàn Viettel  
Q12. Các tổ chức đoàn thể sau có những đóng  
góp tích cực trong việc tham gia xây dựng  
VHDN, tạo môi trường làm việc đoàn kết,  
phối hợp tại Viettel  
-.12  
.85  
-1.33  
117  
.17  
Q12.1 .Công đoàn  
-.26  
.02  
1.09  
.71  
-2.32  
.43  
118  
117  
.03  
.71  
Q12.2 Đoàn thanh niên  
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả và phần mềm SPSS  
4. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và bình luận  
4.1. Cấp độ văn hóa thứ nhất là cấu trúc văn hóa hữu hình  
Nhìn chung được nhân viên đánh giá khá cao. Điểm đánh giá trung bình về các khía cạnh  
đánh giá này đều khá lớn ở hầu hết các khía cạnh đánh giá như: Hệ thống nhận diện thương hiệu,  
hệ thống lễ nghi, những giai thoại, hệ thống quy trình thống nhất và cấu trúc bộ máy được tổ  
chức mạch lạc, rõ ràng. Điều đó cho thấy bước vào giai đoạn thị trường có nhiều cạnh tranh, tập  
1480  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
đoàn đã chú trọng hơn vào quá trình xây dựng VHDN, đặc biệt là việc chuẩn hóa hệ thống nhận  
diện thương hiệu và các thuộc tính hữu hình. Đây cũng là yếu tố thuộc cấp độ đầu tiên và dễ xây  
dựng của một hệ thống VHDN.  
Hệ thống cấu trúc văn hóa hữu hình của Viettel cho thấy có sự dịch chuyển khá lớn kể từ  
khi lấn sang kinh doanh tại nước ngoài. Xu hướng chung trong nghiên cứu này cho thấy điểm  
đánh giá ở giai đoạn sau khi kinh doanh tại nước ngoài lớn hơn khá nhiều so với giai đoạn trước  
khi kinh doanh tại nước ngoài. Điều này cũng là một tín hiệu thể hiện sự quan tâm đầu tư xây  
dựng thương hiệu thông qua VHDN ngày càng cao ở các cấp lãnh đạo.  
4.2. Cấp độ văn hóa thứ hai là hệ thống những giá trị chung được thống nhất, chia sẻ.  
Kết quả nghiên cứu này cho thấy, nhìn chung điểm đánh giá của nhân viên là khá cao.  
Trung bình điểm đánh giá ở mức xấp xỉ điểm 4 và độ lệch chuẩn nhỏ trong thang đo Likert 5  
điểm. Điều này cho thấy tín hiệu về tính hiệu quả trong các chương trình VHDN đã được triển  
khai. Khả năng về tính thích ứng với môi trường bên ngoài và cấu trúc bộ máy, khả năng chấp  
nhận các ý tưởng mới, có hệ thống triết lý, sứ mệnh, mục tiêu và các giá trị cốt lõi được định  
hình. Đây cũng là một tín hiệu cho thấy Viettel đã có sự chuyển mình trong VHDN sau khi kinh  
doanh tại nước ngoài. Dưới áp lực cạnh tranh của thị trường lớn hơn, yêu cầu của khách hàng  
cao hơn, đòi hỏi tính phục vụ hơn.  
Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy điểm đánh giá các yếu tố về hệ thống giá trị chung  
được thống nhất được đánh giá thấp hơn so với cấu trúc văn hóa hữu hình. Kết quả nghiên cứu  
cho thấy sự thay đổi giữa hai giai đoạn trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài về hệ thống  
các giá trị chung cũng ở mức thấp hơn so với sự thay đổi về cấu trúc văn hóa hữu hình. Trong số  
các khía cạnh thuộc hệ thống giá trị chung được thống nhất, sự thay đổi lớn nhất trong điểm đánh  
giá giữa hai thời kỳ trước và sau khi kinh doanh tại nước ngoài thuộc về “hệ thống triết lý kinh  
doanh, sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi của Viettel”. Điều này cho thấy hệ thống những giá trị  
chung nêu trên đã được các lãnh đạo Viettel trau chuốt hơn, nghiên cứu kỹ lưỡng hơn và đặc biệt  
là được truyền đạt hiệu quả hơn đến cán bộ công nhân viên.  
4.3. Cấp độ văn hóa thứ ba, những ngầm định cơ bản.  
Nghiên cứu trong luận án nhằm xác định các ngầm định cơ bản trong VHDN tại Viettel là  
có hay không, đồng thời đưa ra một số ngầm định cơ bản có liên quan đến việc xây dựng VHDN  
nhằm chuẩn bị cơ sở đề xuất các giải pháp xây dựng VHDN.  
Kết quả khảo sát cho thấy, có tồn tại các ngầm định trong VHDN tại Viettel, cụ thể về  
phong cách làm việc khác biệt giữa nhân viên, những quan niệm, niềm tin về sự phát triển trong  
tương lai của công ty, về vai trò của VHDN đối với sự phát triển của công ty và vai trò của các  
tổ chức đoàn thể trong xây dựng VHDN. Điều này cho thấy các chương trình về xây dựng VHDN  
đã đạt được những hiệu quả tốt, bởi một trong những biểu hiện của VHDN mạnh là cán bộ nhân  
viên có những ngầm định cơ bản được thống nhất, từ đó định hướng hành động của họ. Kết quả  
cũng cho thấy có sự thay đổi tích cực giữa hai thời kỳ trước khi kinh doanh tại nước ngoài.  
1481  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Phạm Đình Chinh (2015), Văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng  
– VPBank  
2. Đỗ Minh Cương (2000), Giáo trình Văn hóa và triết ký kinh doanh, Nxb Đại học Thương  
mại, Hà Nội.  
3. Đỗ Minh Cương (2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, Nxb. Chính trị Quốc  
gia, Hà Nội.  
4. Đỗ Minh Cương (2015), Quản trị văn hoá doanh nghiệp và sự phát triển bền vững, in  
trong Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Xây dựng văn hoá doanh nghiệp theo tinh thần Hội nghị Trung  
ương Đảng lần thứ 9 khoá XI” do Bộ Công thương tổ chức tại Hà Nội ngày 22/4/ 2015.  
5. Ferrell và cộng sự (2002), Business Ethics: Ethical decision making and cases, Houghton  
Mifflin.  
6. Hofstede (1994), The business of international business is culture, International business  
review Vol.3, No.1, pp.1-14.  
7. Kotler & Heskett (1992), Corporate Culture and Performance, Free Press.  
8. Nguyễn Thị Nguyện (2007), Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập  
kinh tế quốc tế.  
9. Ramirez, The relationship between organizational culture, performance efficiency &  
multicultural organization.  
10. Schein (1992), Organizationalculture ane Ledership: ADyamic View, San Francisco,  
CA: Jossey-Bass.  
11. Solomon & Schell (2010), Quản lý xuyên văn hoá, Nxb tổng hợp TP.Hồ Chí Minh.  
1482  
pdf 16 trang Thùy Anh 21440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa doanh nghiệp Viettel trong môi trường đa văn hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_doanh_nghiep_viettel_trong_moi_truong_da_van_hoa.pdf