Ứng dụng mô hình Smart đánh giá tác động của Evfta đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam

INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SMART ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG  
CỦA EVFTA ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU  
HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM  
APPLICATION OF SMART MODEL TO ASSESS THE IMPACT  
OF EVFTA ON VIETNAM’S TEXTILE AND GARMENT  
EXPORT ACTIVITIES  
TS. Nguyễn Thế Kiên; Vũ Ngọc Bảo; TS. Hoàng Khắc Lịch  
Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN  
Tóm tắt  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do  
(FTA) sẽ trở thành một yếu tố quan trọng góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của Việt Nam,  
trong đó hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được đánh giá là một trong những  
hiệp định có mức mở cửa mạnh nhất từ trước đến nay. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình SMART  
với bối cảnh trước và sau khi mức thuế ưu đãi về 0%, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để  
đánh giá tác động của EVFTA đến xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam. Kết quả cho thấy rằng,  
ngành dệt may Việt Nam sẽ được hưởng lợi lớn từ hiệp định EVFTA, cụ thể: khi mức thuế về 0%  
giá trị xuất khẩu dệt may vào EU sẽ tăng lên 6363,979 triệu USD tương đương với 20.45%. Xét  
trên phương diện quốc gia, Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ việc xuất khẩu sang Đức  
với giá trị tăng thêm là 326,2827 triệu USD. Xét về mặt hàng, mã HS 62 (Quần áo và hàng may  
mặc phụ trợ, không dệt kim hoặc móc) chiếm giá trị nhiều nhất trong tổng thay đổi xuất khẩu  
của Việt Nam với giá trị là 624,020 triệu USD. Kết quả của nghiên cứu này có thể sẽ mang lại  
những gợi ý chính sách giúp ngành dệt may Việt Nam tận dụng được tối đa cơ hội mà hiệp định  
EVFTA có thể mang lại.  
Từ khóa: EVFTA, Dệt may, Xuất khẩu, Việt Nam  
Abstract  
In the context of international economic integration, the participation in free trade agree-  
ments (FTAs) will become an important factor contributing to Vietnam’s economic development,  
in which the EU-Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) is considered one of the strongest open-  
ing agreements ever. The research uses smart model with context before and after preferential  
tax rate of about 0%, method of collecting second-level data to assess the impact of EVFTA on  
vietnam’s textile and garment exports. The results showed that Vietnam’s textile and garment in-  
dustry will benefit greatly from the EVFTA agreement, specifically, when the tariff on 0% of the  
value of textile exports to the EU will increase to 6363,979 million USD equivalent to 20.45%.  
Nationally, Vietnam will benefit the most from exports to Germany with an added value of USD  
326.2827 million. In terms of items, code HS 62 (Clothing and garments antho daisies, non-knit-  
ted or crochet) accounted for the most value of vietnam’s total export changes with the value of  
USD 624,020 million. The results of this research will likely provide policy suggestions to help  
400  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Vietnam’s textile and garment industry make the most of the opportunities that the EVFTA agree-  
ment can offer.  
Keywords: EVFTA; Textiles; Exports; Vietnam  
1. Đặt vấn đề  
Trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do  
(FTA) đã trở thành một yếu tố quan trọng góp phần đẩy mạnh sự phát triển nền kinh tế của các  
quốc gia. Hiệp định EVFTA được khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song  
phương Việt Nam-EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại.  
Hiệp định EVFTA được bắt đầu vào tháng 10 năm 2010 khi thủ tướng Chính phủ Việt Nam và  
Chủ tịch EU đã đồng ý khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA. Trải qua 10 năm đàm phán, ngày  
30 tháng 3 năm 2020 hội đồng châu Âu thông qua Hiệp định EVFTA. Đến Ngày 08 tháng 6 năm  
2020, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu  
lực từ 01-08-2020. Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm  
theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở  
cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an  
toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm  
các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh,  
doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền  
vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế. Đối với xuất khẩu của Việt Nam,  
ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng  
thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi  
Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương  
99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại,  
EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%  
Đối với Việt Nam, việc ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và cụ thể là hiệp  
định thương mại tự do Việt Nam-EU EVFTA đã tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy kinh tế  
đồng thời đặt ra những thách thức mới cho tình hình xuất khẩu hàng hóa. Việt Nam là cường  
quốc xuất khẩu dệt may trên thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm các sản phẩm dệt may  
của Việt Nam đạt 39 tỷ USD năm 2019 (VITAS). Là một trong những hiệp định thương mại tự  
do có mức mở cửa mạnh nhất từ trước tới nay, đồng thời cũng bao gồm các tiêu chuẩn cao bao  
trùm nhiều khía cạnh, tham gia EVFTA một mặt mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích và cơ hội,  
kỳ vọng mang tới những tác động tích cực cho thương mại và đặc biệt là ngành dệt may. Hiện đã  
có những nghiên cứu trước đây về tác động của EVFTA đến thương mại hai chiều giữa Việt Nam  
và EU, trong đó có ngành dệt may. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều đánh giá trước khi hiệp  
định có hiệu lực, số liệu còn chưa cập nhật, hoặc chỉ đánh giá đến mã HS 4 Digit. Vì vậy, nhóm  
tác giả lựa chọn nghiên cứu này nhằm cập nhận những số liệu mới nhất, đồng thời áp dụng mô  
hình SMART để tiến hành đánh giá trên 14 mã HS (HS50-HS63). Kết quả của nghiên cứu này  
sẽ cho thấy được ảnh hưởng của EVFTA đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam tới các quốc gia  
trong EU (EU27), từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý, doanh nghiệp đề ra những  
chính sách phù hợp nhằm khai thác tối đa lợi ích từ hiệp định mang lại đối với ngành dệt may  
Việt Nam.  
401  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
2. Tổng quan tài liệu  
2.1. Các nghiên cứu về tác động của các hiệp định thương mại tự do tới xuất khẩu của Việt Nam  
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng phát triển, cùng với đó là việc đẩy  
mạnh thiết lập quan hệ song phương và đa phương khu vực bằng các hiệp định thương mại tự do  
FTA. Việc hình thành các Hiệp định FTA hiện đang là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập,  
phát triển mà các quốc gia không thể đứng ngoài cuộc. Các hiệp định thương mại tự do mang lại  
cơ hội phát triển thương mại lớn đến các nước, nhưng cũng mang lại một số thách thức cạnh  
tranh cho các doanh nghiệp nội địa. Vì vậy những đánh giá tác động của các FTA là rất quan  
trọng, giúp các nước chủ động đánh giá tác động tới kinh tế nước mình nhằm có các chính sách  
hợp lý để tận dụng cơ hội cũng như lợi ích mà các FTA này mang lại. Cùng với sự sôi nổi của  
việc tham gia các FTA của Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu về các FTA và tác động  
của từng FTA đó khi Việt Nam tham gia, điển hình như: Tác giả Hà Văn Hội (2012), Nguyễn Thị  
Oanh (2019) nghiên cứu cơ hội và thách thức khi Việt Nam tham gia hiệp định thương mại tự do  
CPTPP. Trong khi đó Vũ Thanh Hương; Nguyễn Thị Minh Phương (2016), Vũ Thanh Hương  
(2018), Nghiêm Xuân Khoát và Laura Mariana CISMAS (2019), Lê Thị Thu Trang (2015), Võ  
Thanh Thu và cộng sự (2018) đánh giá tác động của hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU  
EVFTA đến các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nhìn chung các hiệp định thương mại tự do  
như CPTPP và EVFTA được dự đoán sẽ có lợi cho Việt Nam. Đối với các mặt hàng xuất khẩu,  
Việt Nam sẽ được hưởng lợi lớn nhờ vào việc cắt giảm thuế đặc biệt là với các mặt hàng chủ lực  
như dệt may, da giày, thủy sản, nông sản.  
2.2. Các nghiên cứu về tác động của các hiệp định thương mại tự do tới xuất khẩu hàng dệt  
may của Việt Nam  
Dệt may là ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu luôn có  
xu hướng tăng theo từng năm. Hàng dệt may Việt Nam luôn nổi tiếng về chất lượng và giá cả  
nên luôn tạo ra được giá trị thương mại lớn. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, việc tham gia ký  
kết các FTA song phương hay đa phương sẽ rất có lợi cho thương mại Việt Nam nói chung và  
ngành dệt may nói riêng. Hiện Việt Nam tham gia 16 FTAs, với trên 50 đối tác thương mại, trong  
đó có những thị trường xuất khẩu trọng điểm của dệt may Việt Nam (ví dụ EU, Nhật Bản...).  
Trong các FTA này, sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam đều được hưởng ưu đãi thuế quan  
ở các mức độ khác nhau tùy thị trường và thời điểm. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về xuất khẩu  
dệt may của Việt Nam đặc biệt là khi tham gia vào EVFTA, điển hình như: Vũ Thanh Hương;  
Nguyễn Thị Minh Phương (2016), Lê Thị Thu Trang (2015), Vũ Thanh Hương (2018), Võ Thanh  
Thu và cộng sự (2018), Nhìn chung các bài nghiên cứu này đều cho thấy ngành dệt may của Việt  
Nam sẽ được hưởng lợi lớn khi tham gia các hiệp định thương mại tự do từ việc được hưởng  
những ưu đãi rất lớn về thuế. Tuy nhiên chúng ta cần phải làm tốt các nguyên tắc về nguồn gốc  
xuất xứ cũng như là nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể hưởng trọn vẹn ưu đãi từ các hiệp  
định này.  
2.3. Các phương pháp đã được sử dụng để đánh giá tác động của một hiệp định thương mại  
tự do tới xuất khẩu của một quốc gia  
Trong quá trình nghiên cứu một hiệp định thương mại tự do FTA chúng ta sẽ có 2 giai đoạn  
tương ứng với trước khi hiệp định có hiệu lực, khi hiệp định đang trong quá trình đàm phán và  
402  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
thảo luận và giai đoạn 2 là sau khi hiệp định có hiệu lực. Việc chúng ta đánh giá tác động của  
một FTA thực chất là một phương pháp nhằm xem xét và đo lường chi phí, lợi ích, ảnh hưởng  
của các thay đổi chính sách, từ đó cung cấp bằng chứng có khoa học cho việc dự báo để ra quyết  
định kinh doanh và hoạch định chính sách. Ứng với giai đoạn 1, trước khi hiệp định có hiệu lực  
thì chúng ta thường đánh giá tác động tiềm tàng của hiệp định này, giai đoạn này chính sách có  
thể thay đổi trong tương lai. Vì vậy, ta dự đoán trước các cơ hội, lợi ích và thách thức có thể  
mang lại nhằm chuẩn bị các giải pháp nhằm tận dụng tối đa lợi ích mà hiệp định có thể mang lại.  
Còn với giai đoạn sau khi hiệp định có hiệu lực, chính sách đã chính thức thực thi, lúc này chúng  
ta đi đánh giá tác động thực tế mà hiệp định mang lại sau một thời gian tham gia hiệp định, việc  
đánh giá trong giai đoạn này nhằm xem xét và kiểm tra mục tiêu đề ra, tìm ra các vướng mắc để  
có thể có các giải pháp tháo gỡ kịp thời. Về phương pháp đánh giá tác động của hiệp định FTA  
đến xuất khẩu của một quốc gia, tác giả L. Sheng (2018) (Muhammad Aamir Khan và cộng sự  
(2018), Philip D.Adams (2005) sử dụng mô hình cân bằng tổng thể CGE cho bài nghiên cứu của  
mình. Lê Thị Thu Trang (2015), Vũ Thanh Hương; Nguyễn Thị Minh Phương (2016) sử dụng  
các chỉ số thương mại đánh giá tác động của EVFTA đến các ngành cụ thể trong đó có dệt may.  
Trong khi đó Vũ Thanh Hương (2016) Võ Thanh Thu và cộng sự, (2018) sử dụng mô hình  
SMART. Đối với mô hình SMART, ưu điểm của mô hình là số liệu đầu vào đơn giản hơn mô  
hình CGE và đánh giá tốt tác động của sự thay đổi thuế đến các giá trị về tạo lập thương mại,  
chệch hướng thương mại. Thêm vào đó, ưu điểm nữa của mô hình là giúp tập trung quan sát, đưa  
ra những nhận định về thương mại đối với từng ngành hàng cụ thể và từng quốc gia, khiến việc  
đưa ra nhận xét và khuyến nghị mang tính ứng dụng cao hơn.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp phân tích dữ liệu  
Mô hình SMART là một mô hình phân tích thị trường được phát triển trong cơ sở dữ liệu  
“World Integrated Trade Solutions – WITS” và sử dụng nhiều cơ sở dữ liệu khác về thương mại,  
thuế quan của World Bank, doanh nghiệp để thực hiện những mô phỏng về thương mại.  
Mô hình này được sử dụng để ước lượng những tác động đến thương mại do sự thay đổi  
trong thuế quan, SMART cho phép phân tích và đưa ra kết quả về thay đổi dòng thương mại như  
kim ngạch xuất nhập khẩu, tác động tạo lập và chệch hướng thương mại; thay đổi giá cả thế giới,  
doanh thu thuế.  
Mô hình SMART yêu cầu ba tham số làm đầu vào: (1) độ co giãn của cầu nhập khẩu; (2)  
co giãn thay thế nhập khẩu và (3) co giãn cung xuất khẩu. Những độ co giãn này dựa trên ba giả  
định quan trọng: (1) giả định về nhu cầu nhập khẩu do Armington đề xuất, (2) quá trình tối ưu  
hóa hai giai đoạn của người tiêu dùng, và (3) giả định về co giãn cung xuất khẩu vô hạn. SMART  
thiết lập giả định rằng đối với một mặt hàng nào đó, các quốc gia sẽ cạnh tranh để xuất khẩu  
sang một thị trường khác. Mức độ phản ứng của mỗi quốc gia về lượng hàng hóa xuất khẩu đối  
với những thay đổi về giá cả chính là độ co giãn của cung xuất khẩu. Mô hình SMART giả định  
rằng độ co giãn của cung xuất khẩu là vô hạn, nghĩa là đường cung xuất khẩu nằm ngang và tại  
một mức giá nào đó, một nước có thể xuất khẩu vô hạn hàng hóa sang nước khác. Bài nghiên  
cứu này sử dụng giá trị mặc định của mô hình SMART với độ co giãn của cung xuất khẩu là 99,  
và giá trị của độ co giãn thay thế áp đặt cho tất cả hàng hóa được đặt ở mức 1,5.  
403  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
3.2. Phương pháp thu thập số liệu  
Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam  
trước và sau khi tham gia Hiệp định EVFTA. Với mô hình SMART, bài nghiên cứu sử dụng số  
liệu được cập nhật mới nhất năm 2018 của các nước EU từ cơ sở dữ liệu về thuế và thương mại  
của World Bank, và kết quả được giả định khi mức thuế là 0% sau 11 năm. Nghiên cứu sử dụng  
phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, các số liệu được thu thập từ các nguồn dữ liệu của Tổng  
cục hải quan, Intergrated Trade Intelligence Portal (WTO), Worldbank, UN. Bài nghiên cứu tiến  
hành đánh giá trên 14 mã HS (HS50-HS63) để thấy được ảnh hưởng của EVFTA đến xuất khẩu  
dệt may của Việt Nam tới các quốc gia trong EU (EU27).  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thực trạng xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2010-2019  
Kết quả từ hình 1 cho thấy giai đoạn 2010 – 2019, giá trị xuất khẩu ngành hàng dệt may  
có sự tăng trưởng đều theo thời gian, với giá trị xuất khẩu năm 2019 đạt 32,8 tỷ USD, tăng 7,7%  
so với năm 2018 và chiếm 12,49% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam nằm trong  
những ông lớn trong ngành công nghiệp may mặc thế giới khi là quốc gia đứng thứ 3 về giá trị  
xuất khẩu ngành hàng này, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Theo báo cáo của Hiệp hội Dệt May  
Việt Nam (Vitas), 9 tháng đầu năm 2020, toàn ngành dệt may Việt Nam đã xuất khẩu được 25,584  
tỷ USD, giảm 12% so với cùng kỳ. Thặng dư thương mại dệt may 9 tháng đạt 13,765 tỷ USD,  
chiếm 53% tỷ lệ giá trị gia tăng, giảm 12,11% so với cùng kỳ. Nguyên chính là do tình hình dịch  
bệnh diễn biến phức tạp, nhu cầu về hàng dệt may trên thế giới giảm đi, nguồn cung nguyên liệu  
dệt may cũng bị cắt giảm đi từ Trung Quốc.  
Nguồn: Tổng cục hải quan  
Hình 1: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2010-2019  
Trong những năm qua, EU cũng là thị trường chiến lược mà sản phẩm dệt may Việt Nam  
nhắm tới. Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang EU có sự tăng trưởng đều với giá trị  
4,33 tỷ USD tăng 4,08% so với năm 2018. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia xuất khẩu nhiều  
nhất vào EU, trong khi EU là thị trường lớn thứ hai của Việt Nam chỉ sau Mỹ. EU chiếm 34%  
tổng nhập khẩu hàng dệt may thế giới với nhu cầu hàng may mặc tăng 3% năm nhưng Việt Nam  
hiện chỉ chiếm khoảng 2,2% thị phần.  
404  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Nguồn: Tổng cục hải quan  
Hình 2: Kim ngạch xuất khẩu dệt may vào EU giai đoạn 2010-2019  
3.2. Kết quả từ mô hình SMART  
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng kịch bản đánh giá tác động của EVFTA đến xuất  
khẩu dệt may của Việt Nam khi mức thuế về 0%. Kết quả được tổng hợp sau khi sử dụng mô  
hình SMART với 26 quốc gia EU (trừ Lucxambua do chưa được cập nhật số liệu trên mô hình).  
Khi thuế quan mặt hàng dệt may về 0%, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 6363, 979  
triệu USD tăng 20,45%. Điều này cho thấy tác động tích cực của việc tham gia hiệp định EVFTA  
đối với mặt hàng dệt may của Việt Nam, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của . Kết quả bảng  
1 cho thấy, xuất khẩu dệt may Việt Nam sẽ tạo ra 479,000 triệu USD giá trị tạo lập thương mại  
chiếm 44,33% tổng tác động, cũng như 601, 601 triệu USD giá trị chệch hướng thương mại. Sự  
gia tăng kim ngạch xuất khẩu này có thể lý giải bởi 2 nguyên nhân chính: một là hàng dệt may  
của Việt Nam thường rẻ hơn so với những quốc gia khác; hai là, khi thuế xuất khẩu giảm đi sẽ  
càng làm giá hàng dệt may giảm và từ đó có tính cạnh tranh cao hơn, điều này sẽ dẫn tơi có thể  
thay thế hàng hóa của nước nhập khẩu (tạo lập thương mại) cũng như là hàng hóa từ các nước  
khác (chệch hướng thương mại).  
Bảng 1: Tổng quan sự thay đổi trong xuất khẩu  
hàng dệt may của Việt Nam với các nước EVFTA  
Nội dung  
Giá trị (Nghìn USD)  
5283377.421  
6363979.711  
1080602.29  
479000.772  
601601.497  
20.45  
Giá trị xuất khẩu ban đầu  
Giá trị xuất khẩu khi thuế về 0%  
Tổng giá trị xuất khẩu thay đổi  
Tạo lập thương mại  
Chệch hướng thương mại  
Tăng xuất khẩu (%)  
Giá trị tạo lập/Tổng giá trị xuất khẩu thay đổi (%)  
44.33  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ kết quả mô hình SMART  
405  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Theo kết quả của tác giả từ mô hình SMART ở bảng 2, khi xét trên phương diện quốc gia,  
chúng ta sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ việc xuất khẩu sang Đức và Pháp hay Tây Ban Nha với  
tổng tỷ trọng của ba nước chiếm 62,7% trong tổng giá trị xuất khẩu. Cyprus và Man-ta là 2 thị  
trường mà Việt Nam được hưởng lợi ít nhất khi thuế về 0%, điều này phù hợp với thực tế vì đây  
là các nước có diện tích rất nhỏ, dân số ít, quy mô nền kinh tế nhỏ và nhu cầu nhập khẩu từ Việt  
Nam thấp nên giá trị xuất khẩu không lớn.  
Bảng 2: Sự thay đổi trong xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam theo quốc gia  
Tỷ trọng trong  
STT  
Quốc gia  
Tổng thay đổi xuất khẩu tổng thay đổi Tốc độ phát triển  
(Nghìn USD)  
xuất khẩu (%)  
(%)  
1
Áo  
Bỉ  
45640.36  
4,22  
5,03  
30,19  
0,04  
0,25  
0,004  
1,88  
0,09  
1,22  
20,99  
0,15  
0,10  
1,20  
6,05  
0,008  
0,03  
0,008  
7,82  
4,61  
0,13  
0,16  
0,56  
1,61  
0,1  
20,74  
2
54315.87  
326282.7  
390.159  
20,49  
20,83  
16,96  
16,62  
10,9  
3
Đức  
4
Bun-ga-ri  
Cô roát ti a  
Síp  
5
2664.144  
43.428  
6
7
Đan Mạch  
Exờ-tô-nia  
Phần Lan  
Pháp  
20361.88  
919.219  
19,73  
18,57  
22,05  
19,79  
18,1  
8
9
13136.86  
226774.8  
1626.431  
1050.774  
12966.81  
65349.46  
91.508  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
Hy Lạp  
Hung ga ri  
Ai Len  
18,61  
19,48  
21,34  
13,46  
11,7  
Italia  
Lát-vi-a  
Lit va  
285.909  
Man-ta  
83.258  
21,81  
20,47  
20,57  
7,12  
Hà Lan  
84552.2  
Ba Lan  
49812.18  
1411.846  
1753.123  
6104.845  
17434.13  
3398.287  
124668.8  
19483.33  
1080602.265  
Bồ Đào Nha  
Ru ma ni  
Slô-va-kia  
Séc  
6,45  
20,39  
19,99  
20,68  
21,21  
22,66  
Slô-ve-nia  
Tây Ban Nha  
Thụy Điển  
Tổng  
11,54  
2,01  
100  
Nguồn: Tính toán của tác giả từ kết quả mô hình SMART  
406  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Kết quả bảng 3 cho thầy, trong các mặt hàng dệt may thì 2 nhóm HS 61 (quần áo và hàng  
may mặc phụ trợ, dệt kim hoặc móc) và HS 62 (Quần áo và hàng may mặc phụ trợ, không dệt  
kim hoặc móc) chiếm giá trị nhiều nhất trong tổng thay đổi xuất khẩu của Việt Nam. Đây là 2  
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của dệt may Việt Nam chiếm tổng 93,7 % trong tổng giá trị xuất  
khẩu. Các mặt hàng khác chiếm tỷ trọng nhỏ hoặc không đáng kể là HS 51, HS 53.  
Bảng 3: Sự thay đổi trong xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam theo nhóm sản phẩm  
Tổng xuất khẩu thay đổi  
(Nghìn USD)  
Tỷ trọng trong thay đổi  
tổng xuất khẩu (%)  
Nhóm sản phẩm  
HS50  
HS51  
HS52  
HS53  
HS54  
HS55  
HS56  
HS57  
HS58  
HS59  
HS60  
HS61  
HS62  
HS63  
Tổng  
329.478  
3.004  
0.03  
0.00  
0.17  
0.00  
0.32  
0.22  
0.39  
0.06  
0.05  
0.32  
0.2  
1939.783  
5.512  
3481.499  
2386.054  
4183.263  
596.141  
588.565  
3480.95  
2213.564  
388415.547  
624020.599  
48958.247  
1080602  
35,94  
57,75  
4,55  
100  
Nguồn: Tính toán của tác giả từ kết quả mô hình SMART  
Từ bảng 4 ta thấy chệch hướng thương mại đạt 601,6015 triệu USD trong khi đó tạo lập  
thương mại đạt 479.000 triệu USD. Điều đó cho thấy rằng chúng ta gia tăng xuất khẩu sang các  
nước EU phần lớn là do chúng ta tăng sức cạnh tranh về giá với các nước khác trong nhóm EU  
khi thuế về 0%. Đức, Pháp và Tây Ban Nha tiếp tục là những quốc gia chiếm tỉ lệ lớn nhất trong  
tạo lập thương mại với lần lượt với 29.59%, 20.53% và 11,51%. Trong 27 quốc gia trong liên  
minh Châu Âu, có 5 nước có giá trị tạo lập thương mại lớn hơn chệch hướng thương mại là Bul-  
garia, Croatia, Bồ Đào Nha, Ru-ma-ni, Thụy Điển.  
407  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Bảng 4: Tác động Tạo lập thương mại và Chệch hướng thương mại  
Tỉ lệ của tổng  
Giá trị tạo Tỉ lệ trong Tổng ảnh  
lập thương tổng tạo lập hưởng xuất chệch hướng mại trong tổng  
mại (Nghìn thương mại khẩu (Nghìn thương mại ảnh hưởng  
(Nghìn USD) xuất khẩu (%)  
Giá trị  
tạo lập thương  
TT  
Quốc gia  
USD)  
(%)  
USD)  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Áo  
21720.1  
24125.8  
141718.8  
166.567  
1442.765  
14.135  
4.53  
5.04  
29,59  
0.03  
0.3  
45640.36  
54315.87  
326282.7  
390.159  
2664.144  
43.428  
23920.05  
30190.18  
184563.9  
223.592  
1221.38  
29.293  
45,59  
44.41  
43.43  
74.50  
54.15  
32.55  
42.88  
39.49  
49.20  
43.37  
37.66  
39.90  
43.75  
47.87  
48.34  
39.49  
38.49  
43.22  
46.59  
50.53  
56.58  
41.22  
42.08  
41.10  
44.24  
50.60  
Bỉ  
Đức  
Bun-ga-ri  
Cô roát tia  
Síp  
0.003  
1,82  
0.08  
1,35  
20.53  
0.13  
0.09  
1.18  
6.53  
0.009  
0.02  
0.007  
7.63  
4.85  
0.15  
0.21  
0.53  
1.53  
0.29  
11.51  
2,59  
Đan Mạch  
Exờ-tô-nia  
Phần Lan  
8731.326  
363.041  
6464.282  
98353.27  
612.531  
419.233  
5673.28  
31285.82  
44.239  
20361.88  
919.219  
13136.86  
226774.8  
1626.431  
1050.774  
12966.81  
65349.46  
91.508  
11630.56  
556.177  
6672.577  
128421.5  
1013.9  
10 Pháp  
11 Hy Lạp  
12 Hung ga ri  
13 Ai Len  
14 Italia  
631.541  
7293.532  
34063.64  
47.269  
15 Lát-vi-a  
16 Lít va  
112.895  
32.043  
285.909  
83.258  
173.014  
51.216  
17 Man-ta  
18 Hà Lan  
19 Ba Lan  
20 Bồ Đào Nha  
21 Ru ma ni  
22 Slô-va-kia  
23 SEC  
36543.16  
23207.98  
713.349  
991.925  
2516.436  
7337.149  
1396.534  
84552.2  
49812.18  
1411.846  
1753.123  
6104.845  
17434.13  
3398.287  
124668.8  
19483.33  
1080602  
48009.04  
26604.2  
698.497  
761.198  
3588.409  
10096.98  
2001.753  
69514.86  
9623.182  
601601.5  
24 Slô-ve-nia  
25 Tây Ban Nha 55153.92  
26 Thụy Điển  
9860.144  
Tổng  
479000.8  
Nguồn: Tính toán từ kết quả mô hình SMART  
408  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Đánh giá top 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi EVFTA, kết quả mô hình SMART  
cho thấy, Trung Quốc là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi hiệp định này với giá trị bị ảnh  
hưởng là 262,768 triệu USD. Đứng sau là các nước Bangladesh và Thổ Nhĩ Kỳ với giá trị lần  
lượt là 89,165 triệu USD và 51,011 triệu USD. Trong danh sách này, cả 5 quốc gia đều là những  
nước có ngành công nghiệp dệt may phát triển trên thế giới.  
Bảng 5: Top 5 quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi EVFTA  
STT  
Quốc Gia  
Trung Quốc  
Bangladesh  
Thổ Nhĩ Kỳ  
Campuchia  
Ấn Độ  
Giá trị (Nghìn USD)  
-262768  
1
2
3
4
5
-89165.7  
-51011.2  
-28682.5  
-24715.1  
Nguồn: Tính toán từ kết quả mô hình SMART  
4. Kết luận  
Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá những tác động của EVFTA, đặc biệt là cắt giảm thuế  
quan đến xuất khẩu dệt may Việt Nam thông qua ứng dụng mô hình SMART trên các khía cạnh,  
như: tỉ trọng, tốc độ phát triển, tác động tạo lập thương mại, chệch hướng thương mại. Kết quả  
mô phỏng của mô hình đã khảng định việc xóa bỏ thuế quan của mặt hàng dệt may sẽ dẫn đến  
sự gia tăng lớn trong xuất khẩu dệt may của Việt Nam đến EU, với giá trị tăng thêm dự tính là  
1,08 tỷ USD. Đây là một trong những minh chứng quan trọng cho thấy tiềm năng rất lớn mà hiệp  
định EVFTA có thể mang lại cho ngành dệt may Việt Nam. Kết quả này có thể sẽ mang lại những  
gợi ý chính sách giúp ngành dệt may Việt Nam tận dụng được tối đa cơ hội từ hiệp định EVFTA.  
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu cũng không tránh khỏi những  
hạn chế nhất định, cụ thể: thứ nhất, mô hình đã bỏ qua sự tác động qua lại giữa các thị trường  
cũng như 1 số yếu tố sản xuất như vốn, lao động; thứ hai, dù áp dụng mô hình SMART nhưng  
kịch bản chỉ áp dụng cho xuất khẩu và một mặt hàng dệt may, đồng thời mô hình chưa có số liệu  
đánh giá đối với tác động của EVFTA đến xuất khẩu dệt may vào Lucxambua. Các nghiên cứu  
trong tương lai có thể bao gồm những nội dung hạn chế mà nghiên cứu này đã nêu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Ahmed, S. (2010). India-ASEAN Free TradeAgreement:ASectoralAnalysis. Available  
at SSRN 1698849.  
Anh, N. T. (2018, 12 14). Hiệp định CPTPP: Cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt  
Nam. Retrieved from Trung Tâm WTO và Hội Nhập Phòng Thương Mại và Công Nghiệp  
thuc-duat-ra-doi-voi-viet-nam#  
409  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Armington. (1969). A theory of demand for products distinguished by place of  
production. Staff Papers, 159-178.  
Chung, T. (2019, 07 11). Thị trường xuất khẩu dệt may 5 tháng đầu năm 2019. Retrieved  
dau-nam-2019-714586.html  
Cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt Nam khi tham gia EVFTA. (2020, 5 25).  
va-thach-thuc-%C4%91at-ra-%C4%91oi-voi-viet-nam-khi-tham-gia-evfta-19473-22.html  
D.Adams, P. (2005). Interpretation of results from CGE models such as GTAP. Journal  
of Policy Modeling, 941-959.  
Dệt may và "cơn lốc" Covid-19. (2020, 10 15). Retrieved from Vneconomy:  
h t t p s : / / v n e c o n o m y . v n / d e t - m a y - v a - c o n - l o c - c o v i d - 1 9 -  
20201015120129123.htm#:~:text=Theo%20b%C3%A1o%20c%C3%A1o%20c%E1%BB%  
A7a%20Hi%E1%BB%87p,11%25%20so%20v%E1%BB%9Bi%20c%C3%B9ng%20k%E1  
%BB%B3.  
Hoàng, T. (2020, 16 07). Dệt may và dư địa tăng trưởng tại EU khi EVFTA có hiệu  
khi-evfta-co-hieu-luc-d125866.html  
Hoi, H. V. (2012). Agreement on Trans-Pacific partners: Opportunities and challenges  
for Vietnam’s export. Ha Noi: The conference TPP-Foreign Trade University, Hanoi.  
Huong, V. T. (2016). Assessing potential impacts of the EVFTA on Vietnam's  
pharmaceutical imports from the EU: an application of SMART analysis. SpringerPlus,  
5(1), 1503.  
Huong, V. T. (2018). Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU: Tác động tới thương  
mại hàng hóa hai bên và hàm ý cho Việt Nam. Đại Học Quốc Gia Hà Nội.  
Muhammad Aamir Khan, Naseeb Zada, Kakali Mukhopadhyay. (2018). Economic  
implications of the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership  
(CPTPP) on Pakistan: a CGE approach. Journal of Economic Structures, 7.  
Nghiêm Xuân Khoát, Laura Mariana CISMAS. (2019). The EU - VietNam Free Trade  
Agreement (EVFTA) Opportunity And Challenges For VietNam. Ecoforum Journal, 8.  
Quỳnh, H. (2020, 7 2). Gia tăng cơ hội cho doanh nghiệp tận dụng triển vọng từ  
doanh-nghiep-tan-dung-trien-vong-tu-evfta-139880.html  
Sheng, L. (2018). Evaluation of the Potential Impact of CPTPP and EVFTA on  
Vietnam's Apparel Exports: Are We Over-optimistic about Vietnam's Export Potential?.  
International Textile and Apparel Association Annual Conference Proceedings.  
Trang, L. T. (2015). Tác động của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (VEFTA)  
đến thương mại hàng dệt may của Việt Nam. Luận Án Tiến Sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội.  
Vo Thanh Thu, Le Quynh Hoa, Hoang Thu Hang. (2018). Effects of EVFTA on  
410  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Vietnam’s apparel exports: An application of WITS-SMART simulation model. Journal of  
Asian Business and Economic Studies, 04-28.  
Vu Thanh Huong, Pham Cat Lam. (2016). A dynamic approach to assess international  
competitiveness of Vietnam’s garment and textile industry. SpringerPlus.  
Vu Thanh Huong, Pham Minh Tuyet. (2017). An Application of the SMART Model to  
Assess Impacts of the EVFTA on Vietnam’s Imports of Automobiles from the EU. VNU  
Journal of Science: Economics and Business, 33.  
Vũ Thanh Hương; Nguyễn Thị Minh Phương. (2016). Đánh giá tác động theo ngành  
của hiệp định thương mại tự do Việt Nam –EU: sử dụng chỉ số thương mại. Tạp chí khoa học  
ĐHQGHN, 28-38.  
Yến, H. (2019, 12 16). Xuất siêu 16,6 tỷ USD, dệt may Việt Nam xuất khẩu đứng thứ  
v i e t - n a m - x u a t - k h a u - d u n g - t h u - 3 - t h e - g i o i -  
d112988.html#:~:text=Xu%E1%BA%A5t%20si%C3%AAu%2016%2C6%20t%E1%BB%B  
7,%C4%91%E1%BB%A9ng%20th%E1%BB%A9%203%20th%E1%BA%BF%20gi%E1%  
BB%9Bi&text=V%E1%BB%9Bi%20t%E1%BB%95ng%20  
411  
pdf 12 trang Thùy Anh 16020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mô hình Smart đánh giá tác động của Evfta đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_mo_hinh_smart_danh_gia_tac_dong_cua_evfta_den_hoat.pdf