Giáo trình môn Quản trị học

MỤC LỤC  
i
ii  
iii  
iv  
v
vi  
vii  
viii  
CHƢƠNG 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ QUẢN TRỊ HỌC  
1.1. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU QUẢN TRỊ HỌC  
1.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu của quản trị học  
Là các mối quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của các tổ chức. Những  
quan hệ này có thể là quan hệ giữa tổ chức với môi trường như khách hàng, những nhà  
cung cấp, các nhà phân phối, các đối thủ cạnh tranh, các tổ chức liên doanh liên kết, các  
cơ quan nhà nước, các tổ chức khác, hay mối quan hệ giữa các cá nhân và tập thể lao  
động trong tổ chức...  
- Quản trị học nghiên cứu các mối quan hệ con người nhằm tìm ra những quy luật  
và cơ chế vận dụng quy luật đó trong quá trình tác động lên con người, thông qua đó mà  
tác động lên các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn, vật tư năng lượng, trang  
thiết bị, công nghệ và thông tin một cách có hiệu quả.  
- Quản trị học sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên  
cứu sâu các môn học về quản trị tổ chức theo lĩnh vực hoặc theo ngành chuyên môn hoá:  
quản trị marketing, quản trị sản xuất, quản trị nhân lực, quản trị tài chính... hoặc quản trị  
các doanh nghiệp, quản trị các tổ chức xã hội...  
1.1.2. Nội dung của nghiên cứu của quản trị học  
1.1.2.1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của khoa học quản trị  
Quản trị mang tính khoa học, vì chỉ có nắm vững và tuân thủ đúng đòi hỏi của các  
quy luật khách quan xảy ra trong quá trình hoạt động của các tổ chức mới đảm bảo cho  
việc quản trị đạt được kết quả mong muốn. Toàn bộ nội dung của việc nhận thức và vận  
dụng quy luật được nêu trong phần cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản trị học,  
bao gồm tổ chức và quản trị trong các tổ chức, vận dụng các quy luật trong quản trị,  
nguyên tắc quản trị.  
1.1.2.2. Quá trình ra quyết định quản trị và đảm bảo thông tin cho các quyết định  
Quản trị chính là quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Nguyên  
liệu để ra quyết định là thông tin quản lý có được thông qua quá trình thu thập dữ liệu,  
chọn lọc dữ liệu, xử lý thông tin, bảo quản thông tin, cung cấp thông tin cho những người  
ra quyết định.  
1.1.2.3. Các chức năng quản trị  
Đây chính là những nội dung cốt lõi của tập bài giảng, tra lời câu hỏi làm quản trị  
cụ thể là làm gì? Những chức năng quản trị sẽ thể hiện công nghệ của hoạt động quản trị.  
1
Trong tập bài giảng này, chức năng quản trị sẽ được nghiên cứu theo cách tiếp cận  
phổ biến nhất, đó là theo quá trình quản trị với bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức,  
lãnh đạo và kiểm ra.  
1.1.2.4. Đổi mới hoạt động quản trị tổ chức  
Quá trình hoạt động của tổ chức trong điều kiện biến đổi phức tạp, nhanh chóng,  
với những xu thế không thể đảo ngược của môi trường đặt ra những thách thức lớn lao  
đối với các nhà quản trị. Hoàn thiện, đổi mới không ngừng hoạt động quản trị là cứu cánh  
đảo bảo sự tồn tại và phát triển không ngừng của các tổ chức. Phân tích kinh tế, quản trị  
rủi ro, đổi mới các phương pháp là công cụ quản trị, hướng tới chất lượng và hiệu quả là  
những yếu tổ được quan tâm trong tất cả các nội dung của quản trị.  
1.1.3. Các phƣơng pháp nghiên cứu quản trị học  
Ngoài các phương pháp chung sử dụng cho nhiều ngành khoa học như phương  
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp toán, phương pháp thông kê, tâm  
lý và xã hội học...., quản trị học lấy phương pháp phân tích hệ thống làm phương pháp  
nghiên cứu chủ yếu của mình.  
Để nghiên cứu, quản trị được phân tích thành các chức năng quản trị. Hai tiêu chí  
cơ bản để hình thành các chức năng quản trị là quá trình quản trị và các lĩnh vực hoạt  
động quản trị.  
1.2. TỔ CHỨC VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC  
1.2.1. Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của tổ chức  
1.2.1.1. Khái niệm  
Tổ chức là một tập hợp của hai hay nhiều người cùng hoạt động trong những hình  
thái cơ cấu nhất định để đạt được những mục đích chung.  
Ví dụ: một gia đình, một doanh nghiệp, một trường đại học...  
Trong thực tế, các tổ chức tồn tại trong xã hội vô cùng phong phú và đa dạng;  
nhưng cần phân biệt hai loại chính: tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức. Tổ  
chức chính thức được xã hội công nhận vì quá trình hoạt động của nó tạo ra giá trị gia  
tăng cho xã hội, còn tổ chức phi chính thức chỉ mang lại lợi ích cho các thành viên tham  
gia mà không hoàn toàn mang lại lợi ích cho xã hội, đôi khi còn tạo ra những tác động  
tiêu cực đến xã hội như những băng nhóm xã hội đen, nhóm cấu kết gây tham ô, tham  
nhũng...  
2
1.2.1.2. Những đặc điểm cơ bản của tổ chức  
Phần lớn các tổ chức đều mang những đặc điểm chung sau:  
- Mọi tổ chức đều mang tính mục đích. Mỗi loại hình tổ chức đều có những mục  
đích riêng, có thể là khác nhau. Tuy nhiên, nếu tổ chức không có mục đích thì không có  
lý do để tồn tại.  
- Mọi tổ chức đều là những đơn vị xã hội, bao gồm nhiều người (một tập thể).  
Mỗi người lại đảm nhận một vai trò khác nhau để góp phần hoàn thành mục đích chung  
của tổ chức.  
- Mọi tổ chức đều có hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt mục đích.  
Tổng thể những hoạt động đó được xây dựng thành một kế hoạch để giúp cho việc hoàn  
thành mục đích một cách dễ dàng hơn.  
- Mọi tổ chức đều phải thu hút và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được  
mục đích của mình. Vì các nguồn lực đều có hạn, các nguồn lực bao gồm: nhân lực, tài  
lực, vật lực và thông tin; nên để hoạt động có hiệu quả các tổ chức phải tìm ra cách thức  
phân bổ nguồn lực tối ưu trong quá trình thực hiện.  
- Mọi tổ chức đều hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các tổ chức khác.  
Đây là một thực tế đang diễn ra, một tổ chức muốn tồn tại và phát triển phải thiết lập  
được những mối quan hệ tốt để tạo ra những giá trị gia tăng. Ví dụ: một doanh nghiệp  
luôn có các mối quan hệ với nhà cung ứng, khách hàng, các cơ quan quản lý nhà nước.  
- Mọi tổ chức đều cần những nhà quản trị, chịu trách nhiệm liên kết, phối hợp  
những con người bên trong và bên ngoài tổ chức cùng những nguồn lực khác để đạt được  
mục đích với hiệu quả cao.  
1.2.2. Các hoạt động cơ bản của tổ chức  
Mặc dù có như khác biệt về mục đích tồn tại, lĩnh vực hoạt động, quy mô hoạt  
động. Nhưng các tổ chức thương có chung các hoạt động cơ bản như sau:  
- Tìm hiểu và dự báo những xu thế biến động cảu môi trường. Kết quả của quá  
trình này sẽ trả lời được những câu hỏi: Môi trường đòi hỏi gì ở tổ chức? Môi trường tạo  
ra cho tổ chức những cơ hội và thách thức nào?  
- Tìm kiếm và huy động các nguồn vốn cho hoạt động của tổ chức.  
- Tìm kiếm các yếu tố đầu vào của quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ của tổ  
chức như nguyên vật liệu, năng lượng, máy móc, nhân lực.... và chọn lọc, thu hút các yếu  
tố đó.  
- Tiến hành tạo ra các sản phẩm và dịch vụ của tổ chức - quá trình sản xuất.  
3
             
- Chung cấp các sản phẩm và dịch vụ của tổ chức cho các đối tượng phục vụ của  
tổ chức - các khách hàng.  
- Thu được lợi ích cho tổ chức và phân phối lợi ích cho những người tạo nên tổ  
chức và các đối tượng tham gia vào hoạt động của tổ chức.  
- Hoàn thiện, đổi mới các sản phẩm, dịch vụ, các quy trình hoạt động cũng như tạo  
ra các sản phẩm và dịch vụ mới, các quy trình hoạt động mới.  
- Đảm bảo chất lượng các hoạt động và các sản phẩm, dịch vụ của tổ chức.  
Khi hợp nhóm các lĩnh vực hoạt động, có thể tóm lược các lĩnh vực hoạt động  
cơ bản như sau:  
- Lĩnh vực marketing;  
- Lĩnh vực tài chính;  
- Lĩnh vực sản xuất;  
- Lĩnh vực nhân sự;  
- Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển;  
- Lĩnh vực đảm bảo chất lượng...  
1.3. QUẢN TRỊ  
1.3.1. Khái niệm quản trị  
Thuật ngữ quản trị được giải thích bằng nhiều cách khác nhau và có thể nói là  
chưa có một định nghĩa nào được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn. Mary Parker  
Follett cho rằng “Quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”. Định  
nghĩa này nói lên rằng những nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tổ chức bằng  
cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ không phải hoàn thành công  
việc bằng chính mình.  
Koontz và O‟Donnell định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con  
người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và  
trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà  
trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các  
nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.  
Theo quan điểm của James Stoner và Stephen Robbins định nghĩa: “Quản trị tổ  
chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động  
của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều  
kiện môi trường luôn biến động”.  
4
         
Quá trình quản trị  
Kết quả:  
Lập kế hoạch  
Các nguồn lực:  
- Đạt mục đích  
- Đạt mục tiêu:  
+ Sản phẩm  
+ Dịch vụ  
- Mục tiêu đúng  
- Hiệu quả cao  
- Nhân lực  
- Tài lực  
- Vật lực  
Phối hợp  
hoạt động  
Tổ chức  
Kiểm tra  
- Thông tin  
Lãnh đạo  
Hình 1.1. Sơ đồ lôgíc của khái niệm quản trị tổ chức  
Từ quá trình trong định nghĩa này nói lên rằng các công việc hoạch định, tổ chức,  
lãnh đạo và kiểm tra phải được thực hiện theo một trình tự nhất định. Khái niệm trên  
cũng chỉ ra rằng tất cả những nhà quản trị phải thực hiện các hoạt động quản trị  
nhằm đạt được mục tiêu mong đợi. Những hoạt động này hay còn được gọi là các chức  
năng quản trị bao gồm:  
- Hoạch định: Nghĩa là nhà quản trị cần phải xác định trước những mục tiêu và  
quyết định những cách tốt nhất để đạt được mục tiêu;  
- Tổ chức: Đây là công việc liên quan đến sự phân bổ và sắp xếp nguồn lực con  
người và những nguồn lực khác của tổ chức. Mức độ hiệu quả của tổ chức phụ thuộc vào  
sự phối hợp các nguồn lực để đạt được mục tiêu;  
- Lãnh đạo: Thuật ngữ này mô tả sự tác động của nhà quản trị đối với các thuộc  
cấp cũng như sự giao việc cho những người khác làm. Bằng việc thiết lập môi trường  
làm việc tốt, nhà quản trị có thể giúp các thuộc cấp làm việc hiệu quả hơn;  
- Kiểm tra: Nghĩa là nhà quản trị cố gắng để đảm bảo rằng tổ chức đang đi đúng  
mục tiêu đã đề ra. Nếu những hoạt động trong thực tiễn đang có sự lệch lạc thì những nhà  
quản trị sẽ đưa ra những điều chỉnh cần thiết.  
Do với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu về lĩnh vực quản trị đã đưa ra  
những định nghĩa khác nhau và không hoàn toàn đồng nhất, thậm chí có thể trái ngược  
nhau. Tuy nhiên, có một cách định nghĩa về khái niệm quản trị được coi là bao quát được  
nội hàm về khái niệm quản trị và được sử dụng rộng rãi, sẽ được thống nhất sử dụng trong  
5
   
tài liệu này: “Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm  
đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường”.  
- Với nghĩa trên, quản trị có phạm vi hoạt động vô cùng rộng lớn, được chia thành  
3 dạng:  
+ Quản trị giới vô sinh: nhà xưởng, ruộng đất, hầm mỏ, máy móc thiết bị, sản  
phẩm...  
+ Quản trị giới sinh vật: vật nuôi, cây trộng.  
+ Quản trị xã hội loài người: doanh nghiệp, gia đình, các tổ chức xã hội...  
Chủ thể  
quản trị  
Mục tiêu  
Đối tượng  
quản trị  
Hình 1.2. Sơ đồ logic của khái niệm quản trị  
- Tất cả các dạng quản trị đều mang những đặc điểm chung sau đây:  
+ Để quản trị được tồn tại một hệ thống quản trị bao gồm hai phân hệ: Chủ thể  
quản trị là tác nhân tạo ra các tác động quản trị nhằm dẫn dắt đối tượng quản trị đi đến  
mục tiêu (có thể là một người, một bộ máy quản trị gồm nhiều người, một thiết bị); chủ  
thể quản trị có thể là một người, một bộ máy gồm nhiều người, một thiết bị. Đối tượng  
quản trị tiếp nhận các tác động của chủ thể quản trị; có thể là những yếu tố thuộc giới vô  
sinh, sinh vật hoặc con người.  
+ Phải có một hoặc một tập hợp mục đích thống nhất cho cả chủ thể và đối tượng  
quản trị. Đạt mục đích theo cách tốt nhất trong hoàn cảnh môi trường luôn biến động và  
nguồn lực hạn chế là lý do tồn tại của quản trị.  
+ Quản trị bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin nhiều chiều. Quản trị  
là một quá trình thông tin. Chủ thể quản trị phải liên tục thu thập dữ liệu về môi trường và  
về hệ thống, tiến hành chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, bảo quản thông tin, truyền tin và  
6
   
ra các quyết định. Còn đối tượng quản trị phải tiếp nhận các tác động quản trị của chủ thể  
cùng các đảm bảo vật chất khác để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.  
+ Quản trị bao giờ cũng có khả năng thích nghi. Đứng trước những thay đổi của  
đối tượng quản trị cũng như môi trường cả về quy mô và mức độ phức tạp, chủ thể quản  
trị không chịu bó tay mà vẫn có thể tiếp tục quản trị có hiệu quả thông qua việc điều  
chỉnh, đổi mới cơ cấu, phương pháp, công cụ và hoạt động của mình.  
1.3.2. Bản chất của quản trị  
Khi nghiên cứu về bản chất của quản trị, chúng ta cần xem xét trên 2 phương diện:  
1.3.2.1. Phương diện tổ chức - kỹ thuật của quản trị  
Trên phương diện này, quản trị chính là việc tìm câu trả lời cho 4 câu hỏi:  
* Thứ nhất: Làm quản trị là làm gì?  
Dù là người đứng đầu trong một tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội hay một hình  
thức tổ chức nào khác thì mọi nhà quản trị đều thực hiện những công việc của mình bao  
gồm: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, trong đó:  
- Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu và những phương thức hành  
động thích hợp để đạt mục tiêu.  
- Tổ chức là quá trình xây dựng những hình thái cơ cấu nhất định để đạt được mục  
tiêu và đảm bảo nguồn nhân lực theo cơ cấu.  
- Lãnh đạo là quá trình chỉ đạo và thúc đẩy các thành viên làm việc một cách tốt  
nhất vì lợi ích của tổ chức  
- Kiểm tra là quá trình giám sát và chấn chỉnh các hoạt động để đảm bảo việc thực  
hiện theo các kế hoạch.  
* Thứ hai: Đối tượng chủ yếu của quản trị là gì?  
Đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản trị là những mối quan hệ con người  
bên trong và bên ngoài tổ chức. Chủ thể quản trị tác động lên con người, thông qua đó  
mà tác động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn, vật tư, máy móc,  
thiết bị, công nghệ, thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động.  
Như vậy, xét về thực chất, quản trị tổ chức là quản trị con người, biến sức mạnh  
của nhiều người thành sức mạnh chung của tổ chức để đi tới mục tiêu.  
* Thứ ba: Quản trị được tiến hành khi nào?  
Trong mỗi tổ chức, quản trị là những quá trình được thực hiện liên tục theo thời  
gian. Trong mối quan hệ với thời gian, quản trị là tập trung những cố gắng tạo dựng  
tương lai mong muốn trên cơ sở của quá khứ và hiện tại. Quản trị là những hành độngc  
có thể gây ảnh hưởng to lớn và lâu dài đối với tổ chức.  
7
* Thứ tư: Mục đích của quản trị tổ chức là gì?  
Nhìn chung, mọi tổ chức đều công khai mục đích của quản trị là tạo ra giá trị gia  
tăng cho tổ chức và các thành viên của nó.  
Để đạt được điều đó, đòi hỏi các nhà quản trị cần phải:  
- Xác định được những mục tiêu đúng (làm đúng việc – effectiveness).  
- Thực hiện mục tiêu với hiệu quả cao nhất (làm việc đúng – efficiency).  
1.3.2.2. Phương diện kinh tế - xã hội của quản trị  
Xét trên phương diện này, bản chất của quản trị chính là việc tìm ra lời giải đáp  
cho những câu hỏi sau:  
- Tổ chức được thành lập và hoạt động vì mục đích gì?  
(Các tổ chức được những thể nhân, pháp nhân, lực lượng khác nhau tạo ra nhằm  
thực hiện những mục đích khác nhau).  
- Ai nắm quyền lãnh đạo và điều khiển tổ chức?  
(Người nắm quyền sở hữu sẽ nắm quyền lãnh đạo tổ chức và họ sẽ quyết định  
những người nắm quyền điều hành tổ chức).  
- Ai là đối tượng và khách thể quản trị?  
(Là những người và những nguồn lực được thu hút vào hoạt động của tổ chức).  
- Giá trị gia tăng nhờ hoạt động quản trị thuộc về ai?  
(Được phân phối theo mục đích của tổ chức).  
Từ những yếu tố trên tạo nên sự khác biệt trong quản trị giữa các tổ chức kinh tế -  
chính trị - xã hội. Điều đó chứng tỏ quản trị tổ chức vừa mang tính phổ biến vừa mang  
tính đặc thù.  
1.4. VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ  
1.4.1. Vai trò  
- Quản trị giúp các tổ chức và các thành viên của nó thấy được hướng đi.  
- Quản trị sẽ phối hợp tất cả các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin)  
của tổ chức thành một chỉnh thể, tạo nên tính trồi để thực hiện mục đích của tổ chức với  
hiệu quả cao (mục đích của quản trị là đạt giá trị gia tăng cho tổ chức).  
- Quản trị giúp các tổ chức thích nghi được mới môi trường, nắm bắt tốt hơn các  
cơ hội, tận dụng các cơ hội và giảm bớt tác động tiêu cực của các nguy cơ liên quan đến  
điều kiện môi trường; thậm chí còn tác động tích cực đến môi trường, góp phần bảo vệ  
môi trường.  
8
Nhìn chung, quản trị cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội. Đối  
với lĩnh vực kinh doanh, quản trị là chìa khoá đi đến sự thành công cũng như thất bại.  
1.4.2. Các chức năng quản trị  
Các chức năng quản trị chính là các loại công việc quản trị khác nhau, mang tính  
độc lập, tương đối, được hình thành trong quá trình chuyên môn hoá hoạt động quản trị.  
Tuỳ thuộc vào từng cách tiếp cận có thể có cách phân chia các chức năng khác  
nhau, có 2 cách tiếp cận:  
1.4.2.1. Các chức năng quản trị phân theo quá trình quản trị  
Theo cách tiếp cận này, các chức năng quản trị gồm 4 chức năng cơ bản:  
- Lập kế hoạch: Là chức năng đầu tiên trong tiến trình quản trị, bao gồm: việc  
xác định mục tiêu hoạt động, xây dựng chiến lược tổng thể để đạt mục tiêu, và thiết lập  
một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động. Lập kế hoạch liên quan đến dự  
báo và tiên liệu tương lai, những mục tiêu cần đạt được và những phương thức để đạt  
được mục tiêu đó. Nếu không lập kế hoạch thận trọng và đúng đắn thì dễ dẫn đến thất bại  
trong quản trị. Có nhiều công ty không hoạt động được hay chỉ hoạt động với một phần  
công suất do không có hoạch định hoặc hoạch định kém.  
- Tổ chức: Đây là chức năng thiết kế cơ cấu, tổ chức công việc và tổ chức nhân  
sự cho một tổ chức. Công việc này bao gồm: xác định những việc phải làm, người nào  
phải làm, phối hợp hoạt động ra sao, bộ phận nào được hình thành, quan hệ giữa các bộ  
phận được thiết lập thế nào và hệ thống quyền hành trong tổ chức đó được thiết lập ra  
sao? Tổ chức đúng đắn sẽ tạo nên môi trường nội bộ thuận lợi thúc đẩy hoạt động đạt  
mục tiêu, tổ chức kém thì công ty sẽ thất bại, dù hoạch định tốt.  
- Lãnh đạo: Một tổ chức bao giờ cũng gồm nhiều người, mỗi một cá nhân có cá  
tính riêng, hoàn cảnh riêng và vị trí khác nhau. Nhiệm vụ của lãnh đạo là phải biết  
động cơ và hành vi của những người dưới quyền, biết cách động viên, điều khiển, lãnh  
đạo những người khác, chọn lọc những phong cách lãnh đạo phù hợp với những đối  
tượng và hoàn cảnh cùng sở trường của người lãnh đạo, nhằm giải quyết các xung đột  
giữa các thành phần, thắng được sức ỳ của các thành viên trước những thay đổi. Lãnh  
đạo xuất sắc có khả năng đưa công ty đến thành công dù kế hoạch và tổ chức chưa  
thật tốt, nhưng sẽ chắc chắn thất bại nếu lãnh đạo kém.  
- Kiểm tra: Sau khi đã đề ra những mục tiêu, xác định những kế hoạch, vạch rõ  
việc xếp đặt cơ cấu, tuyển dụng, huấn luyện và động viên nhân sự, công việc còn lại vẫn  
còn có thể thất bại nếu không kiểm tra. Công tác kiểm tra bao gồm việc xác định thành  
quả, so sánh thành quả thực tế với thành quả đã được xác định và tiến hành các biện pháp  
sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm bảo đảm tổ chức đang trên đường đi đúng hướng để hoàn  
thành mục tiêu.  
9
   
Ở trên là những chức năng chung nhất đối với mọi nhà quản trị không phân biệt  
cấp bậc, ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức và mội trường xã hội. Tuy nhiên, ở  
những xã hội khác nhau, những lĩnh vực khác nhau, những tổ chức khác nhau, những cấp  
bậc khác nhau, vẫn có sự khác nhau về mức độ quan trọng, sự quan tâm cũng như  
phương thức thực hiện các chức năng chung này.  
1.4.2.2. Các chức năng quản trị phân theo hoạt động của tổ chức  
Theo cách tiếp cận này, các chức năng quản trị gồm:  
- Quản trị lĩnh vực marketing;  
- Quản trị lĩnh vực nghiên cứu và phát triển;  
- Quản trị sản xuất;  
- Quản trị tài chính;  
- Quản trị nguồn nhân lực;  
- Quản trị chất lượng;  
- Quản trị các dịch vụ hỗ trợ cho tổ chức: thông tin, pháp lý, đối ngoại...  
Những chức năng quản trị theo lĩnh vực hoạt động của tổ chức thường là cơ sở để  
xây dựng cơ cấu tổ chức.  
1.4.2.3. Tính thống nhất của các hoạt động quản trị - ma trận các chức năng quản trị  
trong tổ chức  
Theo chiều dọc của ma trận, bất kể lĩnh vực quản trị nào các nhà quản trị cũng  
phải thực hiện các quá trình quản trị. Theo chiều ngang, có thể thấy kế hoạch của một  
hoạt động không tồn tại độc lập mà nó liên quan đến kế hoạch của các hoạt động khác.  
Bảng 1.1. Ma trận về tính thống nhất của các hoạt động quản trị  
Lĩnh vực  
quản trị  
Quản trị  
marketing  
Quản trị Quản trị Quản trị Quản trị  
...  
Quá trình  
quản trị  
R & D  
sản xuất tài chính nhân lực  
Lập kế hoạch  
Tổ chức  
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
Lãnh đạo  
Kiểm tra  
10  
     
1.5. QUẢN TRỊ LÀ MỘT KHOA HỌC, MỘT NGHỆ THUẬT, MỘT NGHỀ  
1.5.1. Quản trị là một khoa học  
- Tính khoa học của quản trị xuất phát từ tính quy luật của các quan hệ quản trị  
trong quá trình hoạt động của tổ chức bao gồm những quy luật kinh tế, quy luật tâm lý,  
công nghệ, xã hội...  
- Tính khoa học của quản trị đòi hỏi các nhà quản trị trước hết phải nắm vững  
những quy luật liên quan đến quá trình hoạt động của tổ chức.  
- Tính khoa học của quản trị đòi hỏi các nhà quản trị phải biết vận dụng các  
phương pháp đo lường định lượng hiện đại, những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ  
thuật như các phương pháp dự đoán, phương pháp tâm lý xã hội học, các công cụ xử lý  
lưu trữ, truyền thông...  
1.5.2. Quản trị là nghệ thuật  
- Tính nghệ thuật của quản trị xuất phát từ tính đa dạng phong phú, tính muôn hình  
muôn vẻ của các sự vật và hiện tượng trong kinh tế - xã hội và trong quản trị.  
- Tính nghệ thuật của quản trị còn xuất phát từ bản chất của quản trị tổ chức, suy  
cho cùng là tác động tới con người với những nhu cầu hết sức đa dạng phong phú, với  
những toan tính tâm tư tình cảm khó có thể cân, đo, đong đếm được.  
- Tính nghệ thuật của quản trị còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và những thuộc tính  
tâm lý cá nhân của từng nhà quản trị, vào cơ may và vận rủi...  
1.5.3. Quản trị là một nghề (nghề quản trị)  
Cũng như các lĩnh vực hoạt động khác của con người trong xã hội, quản trị cũng là  
một nghề. Nghĩa là có thể đi học để tham gia các hoạt động quản trị nhưng có thành công  
hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Học ở đâu? Ai dạy nghề? Cách học nghề  
ra sao? Chương trình thế nào? Người dạy có thực tâm truyền hết nghề hay không? Người  
học có mong muốn trở thành nhà quản trị hay không? Năng khiếu và lương tâm nghề  
nghiệp của người học nghề ra sao? Các tiền đề tối thiếu cho sự hành nghề như thế nào?  
Như vậy, muốn quản trị có kết quả thì trước tiên nhà quản trị tương lai phải pháp  
huy phát hiện năng lực, được đào tạo nghề nghiệp, kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh  
nghiệm một cách chu đáo để phát hiện, nhận thức một cách chuẩn xác và đầy đủ các quy  
luật khách quan, đồng thời có phương pháp nghệ thuật thích hợp nhằm tuân thủ đúng các  
đòi hỏi của các quy luật đó.  
11  
   
1.6. VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT VÀ NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN TRỊ  
1.6.1. Vận dụng các quy luật trong quản trị  
1.6.1.1. Khái niệm  
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất yếu, phổ biến, bền vững thường xuyên lặp đi  
lặp lại của các sự vật và hiện tượng trong điều kiện nhất định.  
1.6.1.2. Đặc điểm của các quy luật  
- Con người không thể tạo ra quy luật nếu điều kiện của quy luật chưa có, ngược lại  
cũng không thể xoá bỏ được quy luật nếu điều kiện tồn tại của nó vẫn còn.  
- Các quy luật tồn tại và hoạt động không lệ thuộc vào việc con người có nhận biết  
được nó hay không.  
- Các quy luật đan xen vào nhau tạo thành một hệ thống thống nhất, nhưng khi xử  
lý cụ thể thường chỉ do một hoặc một số quy luật quan trọng chi phối.  
1.6.1.3. Cơ chế sử dụng các quy luật  
- Phải nhận biết được quy luật. Đây là quá trình tuỳ thuộc vào trình độ mẫn cảm,  
nhạy bén của con người. Quá trình này gồm 2 giai đoạn:  
+ Giai đoạn nhận biết qua các đối tượng thực tiễn.  
+ Giai đoạn nhận biết qua các phân tích bằng khoa học, lý luận.  
- Tổ chức các điều kiện chủ quan của tổ chức để xuất hiện các điều kiện khách  
quan mà nhờ đó quy luật phát sinh tác dụng.  
- Tổ chức và thu thập và xử lý thông tin sai phạm, ách tắc do việc không tuân thủ  
đòi hỏi của các quy luật khách quan.  
Để công tác quản trị vận hành đúng theo các quy luật, phù hợp với những đòi  
hỏi của các quy luật khách quan thì yêu cầu phải:  
- Nhận rõ thực trạng của các tổ chức với tư cách là đối tượng quản trị.  
- Phân tích, đúc kết nhằm nhận thức ngày càng đầy đủ hệ thống quy luật khách quan  
mang tính lịch sử, cụ thể đang tác động và ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức.  
- Tìm tòi, sáng tạo ra những biện pháp, hình thức cụ thể, sinh động nhằm vận dụng  
các quy luật khách quan trong thực tiễn quản trị.  
1.6.1.4. Phân loại các quy luật  
a. Các quy luật tự nhiên – kỹ thuật  
Con người đang sống trong môi trường tự nhiên và sự phát triển không ngừng của  
khoa học kỹ thuật. Sự nhận thức đúng đắn về những quy luật vốn có trong tự nhiên cùng  
với việc áp dụng hợp lý các thành tự khoa học kỹ thuật sẽ góp phần bảo vệ môi trường và  
12  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 210 trang Thùy Anh 18200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Quản trị học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mon_quan_tri_hoc.pdf