Tìm hiểu quyền con người, quyền tự do ngôn luận trong pháp luật quốc tế và Việt Nam
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT
TÌM HIEÅU QUYEÀN CON NGÖÔØI, QUYEÀN TÖÏ DO NGOÂN LUAÄN
TRONG PHAÙP LUAÄT QUOÁC TEÁ VAØ VIEÄT NAM
Đại tá, S. Nguyễn Hữu Tình *
Tóm tắt nội dung: Quyền con người, quyền tự do ngôn luận đã và đang được hầu hết
các nước trên thế giới bảo vệ và đảm bảo thực hiện theo tôn chỉ đây là một trong những quyền
cơ bản nhất của con người. Ngày nay với sự phát triển vượt bật của nền tri thức nhân loại, tự
do ngôn luận hơn bao giờ hết đang được quan tâm và bảo vệ bằng các quy định pháp lý mang
tính bắt buộc chung thể hiện tính liên kết chặt chẽ của cộng đồng quốc tế.
*****
uyền con người - một trong Hồng Đức - Quốc Triều Hình Luật (1470 - 1497)
những giá trị cao quý của nhân thời Hậu Lê cũng đã đề cập đến quyền lợi của
Q
loại, là kết tinh của nền văn hoá nhóm người yếu thế dễ bị tổn thương trong xã
toàn thế giới. Qua các giai đoạn phát triển của hội lúc bấy giờ như: phụ ngữ, trẻ em, người già
các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, vấn đề không nơi nương tựa… mang tính nhân văn sâu
quyền con người đã được nhân loại quan tâm sắc, được các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh
từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau như qua giá cao.
các thuyết tư tưởng, thuyết tôn giáo, chính trị,
Cùng với sự phát triển như vũ bão về mọi
pháp lý… nó được cụ thể hoá thành các quy tắc mặt của nhân loại vấn đề quyền con người ngày
thành văn hoặc bất thành văn. Theo các nhà càng được nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn.
nghiên cứu khoa học trên thế giới, vấn đề quyền Khoảng thời gian sau chiến tranh Thế giới thứ
con người được khởi thuỷ sơ khai từ khi trên trái 2, sự kiện quyền con người được pháp điển hoá
đất xuất hiện nền văn minh cổ đại mà đại biểu trong Tuyên ngôn toàn Thế giới về quyền con
tiêu biểu nhất đó là nền văn minh rực rỡ Trung người do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông
Đông (xuất hiện từ những năm 3.000 - 1.500 qua và công bố theo Nghị quyết số 217A(III)
TCN). Trong thời kỳ này nhà vua Hammurabi ngày 10/12/1948 đánh dấu một bước ngoặc
xứ Babilon đã ban hành một đạo luật lấy tên là quan trọng, tạo ra nền tảng chung về các chuẩn
Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1.780 TCN) mực, tiêu chí pháp lý trong bảo đảm, bảo vệ và
với những mục đích: “… ngăn ngừa những kẻ thực thi các quyền của con người, mở ra một
mạnh áp bức kẻ yếu, … làm cho người cô quả kỷ nguyên văn minh, khuyến nghị các quốc gia
có nơi nương tựa ở thành Babilon, … đem lại trên thế giới tiến tới xây dựng một “Nền văn hoá
hạnh phúc chân chính và đặt nền thống trị
---------------------------------------------------------------
* Trưởng Khoa QLNN về TTATXH,
Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II.
nhân từ”1. Ở Việt Nam có thể kể đến Bộ Luật
1 Bộ Luật Hammurabi, Điều 226.
14
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN
nhân quyền”.
trong pháp luật quốc tế, cũng như Việt Nam đã
Đề cập đến vấn đề quyền con người, đây có những quy định cụ thể để bảo vệ và đảm bảo
là một phạm trù đa diện có thể tiếp cận từ nhiều thực thi quyền này của con người. Cụ thể trong
khía cạnh khác nhau như: chủ thể thực thi, chủ Tuyên ngôn toàn Thế giới về quyền con người
thể được bảo vệ, phương thức thực hiện… Tuy của Liên Hợp quốc cũng đã ghi nhận và khuyến
nhiên tính đến thời điểm hiện tại định nghĩa được nghị các nước thực hiện: “Mọi người đều có
vận dụng nhiều nhất đó là định nghĩa quyền con quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể
người của Văn Phòng Cao uỷ Liên Hợp quốc cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can
(Office of High Commissioner for Human Right thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và
- OHCHR). Theo đó thì: “Quyền con người truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất
là những bảo đảm pháp lý toàn cầu, có tác kỳ phương tiện truyền thông nào, và không
dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống có giới hạn về biên giới”3; Trong Công ước
lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm quốc tế về các quyền dân sự và chính trị - 1966
tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép mà Việt Nam tham gia ký kết ngày 24/9/1982
và tự do cơ bản của con người”2.
cũng có quy định và bắt buộc các nước thành
Từ nhận định trên có thể thấy rằng, viên thực hiện nghiêm túc: “1. Mọi người đều
quyền con người mang tính chất phổ biến rộng có quyền giữ quan điểm của mình mà không
về phạm vi cũng như đối tượng áp dụng và bị ai can thiệp; 2. Mọi người có quyền tự do
thi hành, đó là quyền không thể tước bỏ cũng ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm
không thể phân chia một cách cơ học mà nó có kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin,
mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhau. Quyền ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức
con người bao gồm những quyền tuyệt đối và tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in,
quyền cơ bản được phân định ước lệ thành các hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua
nhóm tương ứng về: dân sự, chính trị, kinh tế, bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào
văn hoá, xã hội… và được thể hiện cụ thể như: tuỳ theo sự lựa chọn của họ….”4. Ở nước ta,
quyền được sống, tự do đi lại, an toàn cá nhân, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, lãnh
bình đẳng trước pháp luật… Trong đó đặc biệt đạo và dẫn dắt cách mạng đi từ thắng lợi này
phải kể đến quyền tự do ngôn luận, đây là quyền đến thắng lợi khác, với việc đề cao nguyên tắc
cơ bản có mối liên hệ mật thiết đến việc bảo tập trung dân chủ, Đảng và Nhà nước đã luôn
đảm thực thi các quyền khác của con người.
đặt quyền và lợi ích của nhân dân lên hàng đầu,
Tự do ngôn luận mang tính gần gũi, gắn cũng như tôn trọng các quyền thiêng liêng của
chặt với đời sống sinh hoạt của mỗi con người, con người. Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ
về thực tế tự do ngôn luận là việc con người có đã thừa nhận tự do ngôn luận là một quyền cơ
quyền tự do lựa chọn biểu đạt cũng như chia bản của con người, gần nhất là trong Hiến pháp
sẻ các thông tin bằng nhiều phương pháp khác năm 2013 có quy định: “Công dân có quyền tự
nhau như: sử dụng ngôn ngữ nói, báo chí, tài do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
liệu, internet… Nhận thấy tự do ngôn luận là một tin, hội họp, lập hội, biểu tình....”5
3. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948,
trong những quyền cơ bản của con người nên
Điều 19.
4. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
2. OHCHR, Freequently Asked Question on a Human
năm 1966, Điều 19.
Rights-based Approach to Development Cooperation,
5. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013,
New York anh Geneva, 2006, tr.1.
Chương II, Điều 25.
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
15
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT
Trong sự vận động phát triển của các và đang tham gia vào những công việc của Nhà
quốc gia trên thế giới đã mặc nhiên thừa nhận nước với tư cách là người làm chủ đất nước như:
và bảo đảm thực thi các quyền của con người tham gia đóng góp xây dựng Hiến pháp, pháp
trong đó có quyền tự do ngôn luận như một hiện luật; ứng cử, bầu cử; thực hiện cơ chế giám sát
tượng xã hội tất yếu. Với sự nỗ lực trong quá hoạt động của Quốc hội, tổ chức Đảng, cũng
trình xây dựng xã hội XHCN - một xã hội mà con như các cơ quan quyền lực nhà nước, tổ chức
người được đặt vào vị trí trung tâm, Việt Nam ta chính trị - xã hội; khiếu nại, tố cáo khi phát hiện
đã được cộng đồng thế giới nhìn nhận là một những biểu hiện sai trái của cơ quan nhà nước…
trong các quốc gia đảm bảo tốt các quyền con đúng như tinh thần của Hiến Pháp đã ghi nhận:
người. Với sự cố gắng của toàn Đảng và toàn “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
dân trong quá xây dựng đất nước, hiện tại Việt do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà
Nam đã là thành viên hầu hết các tổ chức bảo nước thuộc về Nhân dân…”6. Pháp luật Việt
vệ quyền con người như: tổ chức y tế thế giới Nam nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm quyền
(WHO), tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)… tự do ngôn luận của con người, nó được ghi nhận
đặc biệt Việt Nam còn là thành viên hội đồng cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật
nhân quyền (2014 - 2016) góp phần vào việc như: luật hình sự, luật dân sự, luật hành chính…
bảo vệ và nâng cao nhân quyền trên phạm vi và trong các phạm trù, chuẩn mực về đạo đức,
toàn thế giới. Với vị trí quan trọng trên trường truyền thống của dân tộc.
quốc tế trong vấn đề bảo vệ nhân quyền, hơn
Bên cạnh đó, khi nhìn nhận cơ chế đảm
bao giờ hết Việt Nam luôn ý thức được trách thực hiện nội dung của quyền tự do ngôn luận
nhiệm trong vấn đề bảo đảm thực thi quyền con cần đặt trong mối quan hệ với phạm vi bảo đảm
người nói chung cũng như quyền tự do ngôn và thực thi quyền này. Thực tế tất cả các quốc
luận nói riêng.
gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều xem
Trong thời kỳ toàn cầu hoá như hiện nay, tự do ngôn luận là một quyền cơ bản của con
Việt Nam đã và đang vận động theo xu hướng người, đó tuyệt nhiên không phải là một quyền
tiến bộ của các nước phát triển trên thế giới, vấn tuyệt đối như một số người vẫn nhầm tưởng. Bởi
đề bảo vệ tự do ngôn luận được tôn trọng và lẽ khi giới hạn ngôn luận vượt ra khỏi phạm vi
đảm bảo thực hiện với vai trò là một trong những của mình nó sẽ xung đột hoặc xâm phạm đến
quyền cơ bản nhất của con người. Trong các các giá trị về quyền khác của con người như: các
hoạt động xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá… phát biểu mang tính chất thù hằn, hạ thấp giá trị
mỗi cá nhân được tự do thông tin, đưa ra những tốt đẹp về quốc tịch, nhân phẩm, tôn giáo, ngôn
luận điểm, ý kiến thể hiện tư duy và nhận thức ngữ… Những phát biểu đi ngược lại sự tiến bộ
về một hay nhiều vấn đề cụ thể. Nhà nước mà của nhân loại có thể ảnh hưởng đến quyền và
đại diện trực tiếp là các cơ quan lập pháp, hành lợi ích của cá nhân, một nhóm người hay cả một
pháp, tư pháp được giao quyền và trách nhiệm quốc gia dân tộc.
trong việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận đã
Để tránh các trường hợp lợi dụng tự do
thực hiện một cách đầy đủ nhất chức trách ngôn luận vào các mục đích tiêu cực như gây
nhiệm vụ của mình. Có thể thấy rằng Đảng và chiến, ủng hộ chiến tranh, diệt chủng… Tất cả
Nhà nước ta đã tạo ra môi trường pháp lý cơ bản các nước cũng như các quốc gia đang thành lập
nhất để con người thực hiện quyền tự do ngôn
6. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013,
luận, công dân cũng như các tổ chức xã hội đã
Điều 2, Khoản 2.
16
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN
trên thế giới đều đã ban hành các quy định hạn cách đầy đủ nhất nói riêng cũng như quyền con
chế đối với quyền tự do ngôn luận theo “nguyên người nói chung, đúng như quan điểm của Chủ
tắc gây hại” (“harm principle”) hoặc “nguyên tịch Hồ Chí Minh về con người: “Con người là
tắc xúc phạm” (“offense principle”), hai nguyên mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự
tắc này có thể được áp dụng bằng các các quy nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính
phạm pháp luật cụ thể hoặc sự lên án của dư bản thân con người”.
luận xã hội.
Với kỷ nguyên giá trị con người được đặt
Xuất phát từ thực tiễn quốc gia, Việt Nam lên hàng đầu hầu hết các nước trên thế giới đều
cũng đã ghi nhận cụ thể trong văn bản pháp luật ý thức được việc xây dựng “Nền văn hoá nhân
cao nhất đó là Hiến pháp: “Công dân có quyền quyền” là một yêu cầu tất yếu thể hiện sự phát
tự do ngôn luận… Việc thực hiện các quyền triển văn minh của mỗi quốc gia. Hiện nay thế
này do pháp luật quy định”7. Trong việc thực giới có khoảng hơn 200 quốc gia và vùng lãnh
hiện quyền tự do ngôn luận của cá nhân, tổ thổ trong đó có 193 quốc gia tham gia tổ chức
chức trên lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội chủ Liên Hợp quốc, với tôn chỉ nhằm: xây dựng một
nghĩa Việt Nam nếu xâm phạm đến khách thể thế giới hoà bình, duy trì an ninh quốc tế; thúc
của các luật như: hành chính, hình sự, dân sự… đẩy tôn trọng quyền con người; thúc đẩy sự hợp
tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm tác của của mỗi quốc gia trong đời sống quốc
Nhà nước sẽ có chế tài áp dụng, nhằm ngăn tế. Là thành viên của tổ chức này nên Việt Nam
chặn ngay những hậu quả xấu gây ra cho xã có những điều kiện để tiếp cận những quy phạm
hội. Điển hình như trong Bộ Luật hình sự sửa pháp luật tiến bộ đảm bảo quyền con người
đổi bổ sung năm 2009 có quy định: “1. Người trong đó có quyền tự do ngôn luận. Việt Nam
nào có một trong những hành vi sau đây đã và đang đẩy mạnh các hoạt động tạo ra môi
nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ trường hợp tác với các tổ chức thế giới, tổ chức
nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến phi nhà nước nhằm thực hiện tốt nhất quyền con
mười hai năm: a) Tuyên truyền xuyên tạc, người. Trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
phỉ báng chính quyền nhân dân; b) Tuyên trong việc thúc đẩy quyền con người cũng đã
truyền những luận điệu chiến tranh tâm đề cao phương châm chủ động, tích cực, cụ thể
lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta
nhân dân; c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các đã khẳng định: “Chủ động tham gia cuộc đấu
tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống tranh chung vì quyền con người, sẵn sàng đối
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu
Nam; 2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt vực có liên quan về vấn đề nhân quyền”. Mặc
nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến dù chưa xây dựng được các Toà án nhân quyền
hai mươi năm”8. Có thể thấy rằng từ khi đất chuyên trách như các nước phát triển trên thế
nước giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam ra giới, nhưng Việt Nam đã tạo ra cơ chế đảm bảo
đời, pháp luật Việt Nam đã tạo ra và dần hoàn thực thi quyền con người nói chung và quyền
thiện hành lang pháp lý cho quyền tự do ngôn tự do ngôn luận nói riêng là các cơ quan lập
luận của con người được bảo đảm thực hiện một pháp, hành pháp, tư pháp từ Trung ương đến
địa phương được sự tín nhiệm cao từ nhân dân.
Đảm bảo tự do ngôn luận ở Việt Nam
trong thời gian qua là cả quá trình cố gắng của
7. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013,
Điều 25.
8. Bộ Luật hình sự, 2009, Điều 88
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
17
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT
toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta. Với những Nhà nước ta.
thành tựu đã đạt được trong vấn đề đảm bảo
Song với sự lãnh đạo tài tình của Đảng
quyền con người nói chung và quyền tự do ngôn Cộng sản Việt Nam, cơ chế quản lý chặt chẽ
luận nói riêng, Việt Nam có quyền tự hào với của Nhà nước, hoạt động tích cực của các tổ
cộng đồng quốc tế về nền chính trị hoà bình, ổn chức chính trị - xã hội, các ban ngành đoàn thể,
định, kinh tế - xã hội với những bước tiến vượt thời gian qua Việt Nam ta đã ngăn chặn kịp thời
bậc, môi trường sống hạnh phúc cho nhân dân các vụ việc lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận với
- nơi mà giá trị con người luôn được đề cao và mục đích chống phá, kêu gọi cộng đồng quốc tế
đảm bảo thực thi. Con người Việt Nam đang là chung tay trong vấn đề bảo đảm các quyền cơ
trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện; bản của con người. Trong thời gian tới để vấn
là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới đề quyền con người nói chung và quyền tự do
với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công ngôn luận nói riêng thực thi đạt hiệu quả cao
bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên Chủ hơn nữa, chúng ta cần phải: Xây dựng cơ chế
nghĩa xã hội.
quản lý với cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
Tuy nhiên cũng có thể thấy rằng trong pháp chặt chẽ từ trung ương đến địa phương;
quá trình hợp tác quốc tế đa phương, cũng như Hoàn thiện hệ thống pháp luật có tính dự báo
sự nổ rộ của công nghệ thông tin, các trang cao đảm bảo điều chỉnh các hành vi vi phạm
mạng xã hội ở Việt Nam hoạt động và phát triển mới; Tuyên truyền phổ biến pháp luật đặc biệt
với tốc độ nhanh như vũ bão. Đây là những điều là quyền con người cho nhân dân với nhiều hình
kiện để các thế lực chống phá hoà bình, kích thức đa dạng, phong phú; Tạo ra sân chơi để thu
động chiến tranh, chia rẽ đoàn kết sắc tộc… lợi hút các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp,
dụng vấn đề quyền con người trong đó có quyền cơ quan, tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động
tự do ngôn luận để truyền bá những quan điểm, bảo vệ quyền con người; Gắn chặt phát triển
tư tưởng đi ngược lại pháp luật quốc tế nói chung kinh tế - xã hội - văn hoá - giáo dục với bảo đảm
cũng như đường lối chính sách của Đảng, và quyền con người.
pháp luật Việt Nam nói riêng. Ở Việt Nam vấn
Ngày nay quyền con người được thế giới
đề lợi dụng tự do ngôn luận với mục đích phi nhìn nhận là thước đo đánh giá sự phát triển
nhân văn gần đây nổi lên như một hiện tượng toàn diện của một quốc gia. Với tình hình phát
nhằm chống phá Đảng và Nhà nước trên tất cả triển kinh tế, xã hội, tình hình an ninh chính trị
các mặt, đặc biệt là mặt trận tư tưởng, các trang đảm bảo, người dân sống trong tự do hoà bình,
mạng xã hội là công cụ được sử dụng khá phổ có thể khẳng định rằng Việt Nam đã và đang
biến của các phần tử xấu tạo ra mối đe doạ lớn đảm bảo tốt nhất vấn đề quyền con người nói
đến tình hình an ninh quốc gia, trật tự an toàn chung và quyền tự do ngôn luận nói riêng. Đảng
xã hội. Điển hình có thể kể đến hoạt động truyền và nhà nước ta đã luôn giữ vững quan điểm phát
bá tư tưởng chống phá cách mạng của tổ chức triển xã hội đi đôi với việc đặt lợi ích của con
lưu vong Việt Tân, chúng đã sử dụng nhiều hình người lên hàng đầu, đúng như tư tưởng của Chủ
thức khác nhau như tổ chức hội họp trái phép, tịch Hồ Chí Minh về nhân dân:
phát tờ rơi, đăng tải các thông tin phản động trên
các trang mạng xã hội nhằm kêu gọi, lôi kéo
các phần tử cơ hội tham gia vào tổ chức chống
chính quyền cách mạng nhằm lật đổ Đảng và
“Nước lấy dân làm gốc
Gốc có vững thì cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”./.
18
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu quyền con người, quyền tự do ngôn luận trong pháp luật quốc tế và Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tim_hieu_quyen_con_nguoi_quyen_tu_do_ngon_luan_trong_phap_lu.pdf

