Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ 2013 tới 6 tháng đầu 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC
TỪ 2013 TỚI 6 THÁNG ĐẦU 2017
Ths Tạ Thị Thanh Hà
Khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh, Đại học Hải Phòng
Tóm tắt: Kể từ sau khi chính thức gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được
những thay đổi đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ. Nổi bật
trong đó là việc lần đầu tiên Việt Nam đạt mức xuất siêu (năm 2014) lên tới 2.368.057 tỷ
đồng. Tuy nhiên, các thị trường xuất nhập khẩu chủ đạo của Việt Nam vẫn là thị trường châu
Á. Đặc biệt trong đó, thị trường xuất nhập khẩu không thể không kể đến là thị trường Trung
Quốc (bao gồm CHND Trung Hoa và đặc khu hành chính Hong Kong). Bài viết này sẽ đi sâu
vào phân tích thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn
2013 – 6 tháng đầu 2017. Đồng thời bài viết cũng xác định những xu hướng trong quan hệ
thương mại với Trung Quốc để có các chính sách quản lý phù hợp và kịp thời.
Từ khóa: xuất nhập khẩu, kinh tế, thương mại, Việt Nam, Trung Quốc
1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cán cân thanh toán quốc tế (balance of payment –BOP) là bản ghi chép tất cả những
giao dịch bằng tiền của quốc gia này với các quốc gia còn lại trên thế giới trong một thời gian
nhất định (thường là 1 năm)[1,2]. BOP cung cấp thông tin để đánh giá thực trạng và khả năng
thu chi tài chính của cả quốc gia trong một thời kỳ nhất định với phần còn lại của thế giới về
thương mại, đầu tư, dịch vụ và các giao dịch khác. Cán cân thanh toán quốc tế là căn cứ để
hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô về xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, đầu tư, lãi suất và
là cơ sở để tiến hành các dự báo xu hướng vận động của nền kinh tế vào từng quốc gia và thế
giới. BOP có thể rơi vào 1 trong 3 trạng thái: cân bằng, thặng dư và thâm hụt. BOP có vai trò
rất quan trọng tới ổn định nền kinh tế vĩ mô. BOP bao gồm cán cân vãng lai, cán cân vốn,
thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước và mục sai số.
Tài khoản vãng lai (current account) ghi chép dòng hàng hóa và dịch vụ chạy ra và
vào của một quốc gia [1,3]. Các khoản thu nhập từ đầu tư, cả lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân
đều được ghi chép vào tài khoản vãng lai. Tài khoản vãng lai gồm 3 tiểu mục là tài khoản
giao dịch thương mại, tài khoản thu nhập và tài khoản giao dịch chuyển tiền.
Tài khoản giao dịch thương mại ghi chép tất cả các giao dịch thương mại trao đổi, mua
bán hàng hóa, dịch vụ giữa nước này với nước khác. Tài khoản giao dịch thương mại được thể
hiện bằng chênh lệch của xuất khẩu và nhập khẩu, chênh lệch này gọi là cán cân thương mại
hàng hóa. Nếu xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu thì gọi là thâm hụt cán cân thương mại. Ngược
lại, nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu thì gọi là thặng dư cán cân thương mại. Với đa số quốc
gia, cán cân thương mại hàng hóa là thành phần chủ yếu của tài khoản vãng lai, Việt Nam
cũng không là ngoại lệ.
2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1.
Giới thiệu chung về quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Trung Quốc:
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền
sông”. Quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hoá, thương mại giữa hai nước đã hình
thành từ lâu là một tất yếu khách quan. Đối với nhân dân hai nước, quan hệ láng
giềng, quan hệ giao lưu văn hoá và thương mại đã trở thành một quan hệ truyền
thống bền vững. Từ khi bình thường hóa quan hệ từ năm 1991 đến nay, quan hệ thương mại
giữa Việt Nam và cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa đã phát triển nhanh chóng. Năm
2008, trong chuyến thăm Trung Quốc của nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, hai bên Việt
Nam – Trung Quốc đã cùng nhất trí thiết lập và phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược
toàn diện. Hai nước đã xác lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, triển khai hàng
chục cơ chế hợp tác đa dạng ở mọi cấp, mọi ngành. Từ đó tới nay, Trung Quốc (bao gồm đặc
khu hành chính Hong Kong) luôn là đối tác hàng hóa quan trọng, xếp hàng đầu trong tổng số
các thị trường châu Á của Việt Nam.
516
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Tính chung tất cả các thị trường trên thế giới theo quốc gia và vùng lãnh thổ, trong 6
tháng đầu năm 2017, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ
và EU). Đồng thời đây cũng là thị trường là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam và là
thị trường nhập khẩu hàng đầu của các doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam trong rất nhiều
năm qua.
Bảng 2.1. Tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam-Trung Quốc
2013
2014
2015
2016
6T 2017
Chỉ tiêu
XK NK XK NK XK NK XK NK XK NK
Tỷ trọng so với tổng kim
ngạch của VN (%)
13 29 13 30 15 31 12.4 28.6 17 28
Thứ hạng trong tổng số
các thị trường
5
1
3
1
4
1
2
1
3
1
Nguồn: Tính toán từ số liệu Tổng cục Hải quan
Các số liệu thống kê trong bảng 1 ghi nhận thực trạng mặc dù tỷ trọng kim ngạch của
hàng hóa xuất khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn tăng qua các năm (trừ năm 2016, tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 0,6% so với 2015). Nhưng tốc độ tăng của
tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng khoảng ½ tốc độ tăng của tỷ trọng kim ngạch hàng hóa
nhập khẩu với bình quân khoảng 29%/năm.
2.2.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam – Trung Quốc từ
n m 2016 tới 6 tháng đầu 2017
Bảng 2.2. Trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam – Trung
Quốc (bao gồm Hong Kong)
Đơn vị tính: triệu USD
Xuất khẩu
Nhập khẩu
N m
T ng
%
T ng
%
Trị giá
17.291
Trị giá
37.935
2013
2014
2015
2016
39,57
31,79
20.193
23.821
28.048
19.645
16,78
17,97
17,74
-
44.684
51.649
51.515
32.581
17,79
15,59
(0,26)
-
6m 2017
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Theo số liệu thống kê từ bảng trên, có thể thấy kim ngạch thương mại hai chiều giữa 2
nước Việt Nam – Trung Quốc luôn không ngừng được tăng lên qua các năm. Trị giá kim
ngạch xuất khẩu trung bình tăng khoảng 23,3%/năm, trong khi tốc độ tăng trung bình của kim
ngạch nhập khẩu đạt khoảng 16,23%/năm. Ngoại trừ năm 2016, kim ngạch xuất khẩu tăng
17,74% so với 215, nhưng kim ngạch nhập khẩu giảm 0,26% so với năm trước đó. Tuy nhiên,
không khó để nhận ra trong suốt các năm qua cán cân thương mại hàng hóa luôn bị thâm hụt
nghiêng về phía Việt Nam với mức thâm hụt rất cao. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng đều
trong giai đoạn nghiên cứu, nhưng mức tăng của kim ngạch xuất khẩu là rât nhỏ so với kim
ngạch nhập khẩu. Năm 2016, nhập khẩu giảm bớt 134,445 triệu USD, xuất khẩu tăng thêm
4.226,579 triệu USD, nhờ đó mà cán cân thương mại được cải thiện 4.361 triệu USD với năm
2015.
Số liệu thống kê sơ bộ của tổng cục Hải quan cho thấy, tính đến hết tháng 6/2017,
tổng kim ngạch buôn bán 2 chiều giữa Việt Nam – Trung Quốc đạt 52.286 triệu USD, tăng
517
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
14,57% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc
là 19.645 triệu USD, tăng 16,34% so với cùng kỳ và tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu có
nguồn gốc từ thị trường này là 32.581 triệu USD, tăng 13,6% so với cùng thời gian 1 năm
trước đó.
DVT: triệu USD
60 000
50 000
40 000
30 000
20 000
kim ngạch xuất khẩu
10 000
kim ngạch nhập khẩu
cán cân thương mại
2013
2014
2015
2016
- 10 000
- 20 000
- 30 000
- 40 000
Biểu đồ 2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa v cán cân thƣơng mại qua các
n m
2.3.
nhóm hàng:
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam – Trung Quốc theo
Theo số liệu thống kê chính thức trong Niên giám thống kê (bản vắn tắt) của Tổng
Cục Hải Quan, năm 2016, trong số 10 nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, có tới
6 nhóm mặt hàng xuất chủ yếu sang thị trường Trung Quốc. Các mặt hàng đó là dệt may, giày
dép, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, gỗ, máy móc thiết bị phụ tùng… Nhìn chung,
với các mặt hàng này Trung Quốc là 1 trong 5 thị trường nhập khẩu hàng đầu của nước ta. Cá
biệt có 2 nhóm mặt hàng là máy móc sản phẩm điện tử và linh kiện, Trung Quốc (đã bao gồm
Hong Kong) là thị trường nhập khẩu số 1 (tỉ trọng trong tổng ngành hàng là 29.7%), gỗ và sản
phẩm là thị trường lớn thứ 2 (tỉ trọng 14.6% trong tổng ngành hàng). Các mặt hàng này đều
chứng kiến tốc độ tăng rất lớn so với năm 2015, có tốc độ tăng cao nhất là nhóm mặt hàng
máy móc, thiết bị, phụ tùng (55,8%), và thủy sản 51,4%. Trung Quốc hiện là thị trường nhập
khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam nhưng gần đây tốc độ tăng đã có dấu hiệu
chậm lại (năm 2016 tăng khoảng 4.6% so với 2015).
Trong 6 tháng đầu năm nay, bên cạnh các nhóm mặt hàng xuất khẩu truyền thống sang
Trung Quốc như thủy sản, dệt may, giày dép,…nhóm hàng nông sản ghi nhận Trung Quốc lần
đầu tiên là thị trường nhập khẩu chính hàng rau quả với kim ngạch đạt 1,8 tỷ USD, tăng mạnh
60% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm đến 76% kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của cả
nước.
518
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
DVT: triệu USD
5625
2015 2016
4357
1019
975
1112
714
905
824
754
683
351
670
giày dép
dệt may
máy tính, sp
máy móc thiết
bị
thủy sản
gỗ và sp gỗ
điện tử
Biểu đồ 2.2. Kim ngạch xuất khẩu 6 nhóm hàng chính của Việt Nam sang Trung
quốc n m 2015 - 2016
Việt Nam nhập khẩu rất nhiều các mặt hàng từ thị trường nước ngoài. Tuy nhiên trong
tổng số 10 nhóm mặt hàng nhập khẩu chính của nước ta, có đến 9 nhóm mặt hàng nhập khẩu
nguồn gốc từ Trung Quốc. Các mặt hàng đó là: điện thoại và linh kiện điện thoại, sắt thép, vải
may, nguyên phụ liệu dệt may và gia dày, kim loại thường và các sản phẩm từ chất dẻo.
DVT: triệu USD
2015
2016
máy móc máy tính, điện thoại sắt thép vải các chất dẻo xăng dầu nguyên kim loại
thiết bị sp điện tử và linh các loại
loại
phụ liệu thường
dệt may
kiện
Biểu đồ 2.3. Kim ngạch nhập khẩu 9 nhóm hàng chính từ thị trƣờng Trung Quốc
của Việt Nam n m 2015-2016
Nếu như các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc là các sản phẩm hàm
lượng công nghệ thấp như dệt may, giày da, gỗ, thủy sản thì các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu
lại là thành phẩm (chất dẻo, sắt thép các loại, kim loại thường) hoặc các sản phẩm công nghệ
519
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
cao (máy móc thiết bị, điện thoại và linh kiện điện thoại, máy tính và sản phẩm điện tử).
Trong năm 2016, nhóm mặt hàng xăng dầu các loại và điện thoại mặc dù tỷ trọng nhập khẩu
trong ngành hàng vẫn cao (59,8% và 8,9%) nhưng tốc độ tăng bị giảm so với 2015 (giảm
50,6% và 3,6%). Trong 6 tháng đầu năm nay, các mặt hàng nhập khẩu truyền thống như máy
móc thiết bị, máy tính, sản phẩm điện tử đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái, cụ thể: mặt hàng
máy móc thiết bị tăng 24,5% (tương ứng 7,24 tỷ đồng), máy tính sản phẩm điện tử tăng
20,7% (tương ứng 4,38 tỷ đồng) , điện thoại và linh kiện tăng 20,3% (tương ứng 4,62 tỷ
đồng), riêng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sắt thép lại giảm 28,5% so với cùng kỳ (tương
ứng 5,18 tỷ đồng) và mặt hàng xăng dầu thay vì nhập từ Trung Quốc, xăng dầu các loại được
nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Singapore, Hàn Quốc, Malaysia.
3.
KẾT LUẬN
Kể từ khi bình thường hóa quan hệ thương mại tới nay, lợi ích thương mại song
phương giữa Việt Nam và Trung Quốc là điều dễ dàng nhận thấy: Việt Nam là đối tác thương
mại lớn nhất của Trung Quốc trong khối ASEAN, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính
của các doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù vậy, trong rất nhiều năm qua, nhóm mặt hàng xuất
nhập khẩu chủ yếu giữa 2 nước vẫn không thay đổi đáng kể: Việt Nam vẫn dựa vào xuất khẩu
khoáng sản, nguyên liệu thô và nông sản sang nước bạn, và nhập khẩu lại từ Trung Quốc các
mặt hàng công nghiệp và hàng tiêu dùng.
Hiện nay, cuộc cách mạng sản xuất 4.0 được dự đoán sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi
quốc gia, chính phủ, doanh nghiệp và người dân khắp toàn cầu, cũng như làm thay đổi căn
bản cách chúng ta sống, làm việc và sản xuất. Bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ tư
là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa
quy trình, phương thức sản xuất. Kỷ nguyên mới của đầu tư, năng suất và mức sống gia tăng
tất cả là nhờ vào sự sáng tạo của con người và sẽ tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính
trị, xã hội, kinh tế của thế giới, và quan hệ kinh tế thương mại của Việt-Trung cũng không
nằm ngoài tác động đó. Thực tế mặc dù thương mại song phương liên tục tăng trưởng, nhưng
vấn đề mất cân bằng trong thương mại giữa hai nước đã ngày càng bộc lộ. Việt Nam cố gắng
tăng xuất khẩu sang Trung Quốc để cân bằng cán cân thương mại nhưng kết quả vẫn luôn là
việc thâm hụt cán cân thương mại.
Nguyên nhân khiến thương mại Trung - Việt mất cân bằng đến từ nhiều phương diện
nhưng chủ yếu là do giai đoạn phát triển và nhu cầu bên trong của Việt Nam quyết định. Nhìn
từ phân tích nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu, nguyên nhân khiến mức nhập siêu của Việt
Nam lớn và tăng nhanh là để đáp ứng nhu cầu xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng trong nước,
điều chỉnh và nâng cấp kết cấu kinh tế, tăng xuất khẩu của Việt Nam. Có thể thấy, tăng nhập
khẩu từ Trung Quốc có đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, hơn nữa
cũng chưa có bằng chứng cho thấy nhập siêu với Trung Quốc gây tổn hại thực sự cho kinh tế
Việt Nam.
Muốn giải quyết vấn đề thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa, về ngắn hạn, một mặt
Việt Nam có thể chuyển hướng nhập khẩu sản phẩm công nghệ từ Trung Quốc sang các thị
trường khác như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Mặc dù chi phí nhập khẩu các sản phẩm công nghệ
kỹ thuật cao từ các thị trường nguồn này sẽ tốn kém nhưng thời gian khấu hao sản phẩm sẽ
cao hơn, nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa và cải thiện năng suất lao động. Về dài hạn,
Việt Nam có thể thông qua hợp tác giữa hai nước, kết hợp với tận dụng điều kiện độc đáo của
Việt Nam, hợp tác sản xuất những mặt hàng phù hợp với nhu cầu thị trường Trung Quốc,
hoặc thu hút kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm quản lý của các nước khác để nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa nước mình.
520
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
[1,2] [1,3] PGS.TS Nguyễn Văn Dần (2010), Kinh tế học vĩ mô, NXB Tài
chính
Th.s Ngô Hải Thanh (2017), “Tác động tạo lập và chuyển hướng của thương
mại Việt Nam sau 10 năm gia nhập WTO”, Hội thảo Khoa học Quốc tế “Phát triển kinh tế
Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”
3.
Tổng cục Hải quan Việt Nam, Niêm giám thống kê hải quan về hàng hóa xuất
nhập khẩu năm 2015 (bản tóm tắt), truy cập ngày 20/9/2017 tại website:
4.
Tổng cục Hải quan Việt Nam, Niêm giám thống kê hải quan về hàng hóa xuất
nhập khẩu năm 2016 (bản tóm tắt), truy cập ngày 25/9/2017 tại website:
5.
2015,
Tổng cục Thống kê, Số liệu xuất nhập khẩu chính thức năm 2013, năm 2014,
năm
năm 2016, truy cập ngày 13/9/2017 tại website:
THE REALITY OF BALANCE’S MERCHANDISE TRADE BETWEEN VIET
NAM AND CHINA FROM 2013 TO THE FIRST HALF OF 2017
Abtracts: After 10 years of being an official member of World Trade Organization,
Vietnamese trade has been changed significantly. In 2014, this is the first time our
international merchandise trade was surplus with 2.368.057 billion VND. But it is the fact that
most of Vietnam‟s trading top partners are from Asia. And the second biggest economy in the
world, China (included Hong Kong) is one of the most important import-export markets of
Vietnam. This paper will not only analyze merchandise trade between China and Vietnam
from 2013 to 6 months of 2017 but also identifies some important trends in import-export
relation with China to have appropriate and timely management policies.
Keywords: import, export, economy, trade, Vietnam, China
521
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ 2013 tới 6 tháng đầu 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_can_can_thuong_mai_viet_nam_trung_quoc_tu_2013_to.pdf

