Tập huấn Xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN MÔI TRƯỜNG HỌC VÀ SỬ DỤNG NGOẠI NGỮ
1
1. Mô tả chương trình bồi dưỡng
Chương trình bồi dưỡng được thực hiện theo nhiệm vụ “xây dựng, phát
triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ, phát động phong trào giáo viên cùng
học tiếng Anh với học sinh”. Chương trình này giúp cán bộ quản lý và giảng
viên/giáo viên hiểu, áp dụng và chủ động, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt
động dạy, học và sử dụng tiếng Anh cho đơn vị và địa phương.
2. Mục tiêu
Sau khi được bồi dưỡng, cán bộ quản lý, chuyên viên Sở và giảng
viên/giáo viên có thể:
2.1. Mục tiêu chung
- Hiểu được tầm quan trọng của các hoạt động xây dựng, phát triển môi
trường học và sử dụng ngoại ngữ ngoài lớp học;
- Áp dụng các hoạt động trong cuốn Sổ tay “Xây dựng, phát triển môi
trường học và sử dụng ngoại ngữ” để đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt
động ngoại khóa;
- Xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ phù hợp với
điều kiện thực tế của đơn vị, địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hiểu được nội dung, quy trình tổ chức triển khai hoạt động;
- Phối hợp hiệu quả với các bên liên quan trong việc tổ chức triển khai các
hoạt động;
- Lập kế hoạch hành động cho từng hoạt động;
- Phát triển kỹ năng tổ chức sự kiện thông qua trải nghiệm các hoạt động;
- Đánh giá việc triển khai và điều chỉnh nội dung các hoạt động phù hợp
với điều kiện thực tiễn của từng địa phương.
3. Đối tượng
- Cán bộ quản lý (chuyên viên Sở/Phòng, đại diện BGH trường/BCN
khoa);
- Giảng viên/giáo viên tiếng Anh.
4. Thời lượng: 01 ngày (8 giờ)
5. Hình thức
- Trực tiếp: các chuyên gia trực tiếp bồi dưỡng tại các địa phương;
2
- Trực tuyến: cán bộ quản lý, chuyên viên, giảng viên/giáo viên được tiếp
cận với các bài giảng và nguồn học liệu trực tuyến.
6. Nội dung
Thời gian
Nội dung
1. Giới thiệu tổng quan về cơ sở lý luận
Tầm quan trọng của các hoạt động xây dựng,
phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ
ngoài lớp học cho người học
2. Giới thiệu tổng quan về cuốn Sổ tay
- Mục đích, ý nghĩa, yêu cầu
- Cấu trúc
Thành phần
Cán bộ quản
lý, chuyên
viên, giảng
viên/ giáo
viên
Sáng
(08:00-
11:30)
- Nội dung
- Phương thức triển khai
3. Giới thiệu chung về 10 hoạt động
4. Hướng dẫn tổ chức thực hiện một số hoạt
động
5. Sự phối hợp của các bên liên quan trong việc
tổ chức triển khai các hoạt động
6. Lập kế hoạch hành động cho 10 hoạt động
- Làm việc nhóm (mỗi nhóm 01 hoạt động)
- Thuyết trình nhóm
Chiều
(13:30-
17:00)
Giảng viên/
giáo viên
- Thảo luận
7. Yêu cầu đối với người tham gia tập huấn
- Tham gia đầy đủ chương trình bồi dưỡng;
- Tham gia tích cực các hoạt động thảo luận, tương tác;
- Có sản phẩm trình bày/thuyết trình.
8. Tài liệu tập huấn
- Cuốn Sổ tay hướng dẫn xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng
ngoại ngữ;
- Tài liệu phát tay (hand-out);
- Bản in nội dung bài giảng;
- Video clip và hình ảnh minh họa các hoạt động.
3
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
MÔI TRƯỜNG HỌC VÀ SỬ DỤNG NGOẠI NGỮ
4
MỤC LỤC
1. CƠ SỞ PHÁP LÝ..............................................................................................6
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN.............................................................................................7
giáo dục mở........................................................................................................7
cộng đồng học tập ..............................................................................................9
ngoài lớp học.................................................................................................11
ngữ ................................................................................................................13
3. CƠ SỞ THỰC TIỄN.......................................................................................16
4.1. Giải pháp................................................................................................17
4.2. Các nguyên tắc ..........................................................................................18
4.3. Qui trình ....................................................................................................29
5. KẾT LUẬN.....................................................................................................33
5
1. CƠ SỞ PHÁP LÝ
Nghiên cứu xây dựng và phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ
đựợc thực hiện trên các cơ sở pháp lý sau:
- Căn cứ Quyết định số 1400/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Về việc
phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai
đoạn 2008 – 2020" phê duyệt ngày 30 tháng 9 năm 2008;
- Căn cứ Quyết định số 66/2008/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 12 năm 2008
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Quy định Chương trình giáo dục
thường xuyên về tiếng Anh thực hành;
- Căn cứ Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tưởng Chính phủ
về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế;
- Căn cứ Thông tư số 01/ 2014/ TT-BGDĐT, ngày 24 tháng 01 năm 2014
ban hành “Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam”. Theo đó, với
bậc 3, người học: “có thể hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát
biểu chuẩn mực, rõ ràng về các chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học,
giải trí, v.v... Có thể xử lý hầu hết các tình huống xảy ra khi đến khu vực có sử
dụng ngôn ngữ đó. Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen
thuộc hoặc cá nhân quan tâm. Có thể mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện,
giấc mơ, hy vọng, hoài bão và có thể trình bày ngắn gọn các lý do, giải thích ý
kiến và kế hoạch của mình”.
- Căn cứ Quyết định số 2080/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Phê
duyệt điều chỉnh, bổ sung Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân giai đoạn 2017 – 2025” ban hành ngày 22/12/2017 đã chỉ đạo 8 nội
dung định hướng, trong đó có đề cập: Tạo bước đột phá về chất lượng dạy và
học ngoại ngữ cho các cấp học và trình độ đào tạo, khuyến khích đưa ngoại ngữ
vào nhà trường từ bậc mầm non và các hoạt động xã hội. Đẩy mạnh dạy ngoại
ngữ tích hợp trong các môn học khác và dạy các môn học khác bằng ngoại ngữ;
Tạo môi trường học ngoại ngữ trong nhà trường, gia đình và xã hội để giáo
viên, giảng viên, thành viên gia đình và người học (học sinh, sinh viên...) cùng
6
học ngoại ngữ; Ưu tiên hỗ trợ nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ đối
với các khu vực khó khăn.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ theo xu
hướng giáo dục mở
Ngày 4/11/2013, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu mục
tiêu tổng quát: “Xây dựng nền giáo dục mở (GDM), thực học, thực nghiệp,
dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức GD hợp lý, gắn với xây
dựng xã hội học tập; ...”. Trong khoản 4 mục III, về nhiệm vụ, giải pháp ghi rõ:
“Hoàn thiện hệ thống GD quốc dân theo hướng hệ thống GDM, học tập suốt đời
và xây dựng xã hội học tập”. Trong phần mục tiêu Nghị quyết 29 nêu rõ: “Nền
GDM là nền GD được thiết kế sao cho tổ chức và hoạt động của nó có khả năng
thích ứng với những đổi thay và yêu cầu mới của môi trường kinh tế-xã hội.
Những đặc điểm đó là: mở về hệ thống, mở về cơ hội tiếp cận và mở về nguồn
lực.
Ngày 16/5 tại Hà Nội, Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam đã tổ chức
hội thảo khoa học quốc gia: “Hệ thống giáo dục mở trong bối cảnh Tự chủ giáo
dục và Hội nhập quốc tế”. Phát biểu tại hội thảo, phó thủ tướng Vũ Đức Đam
nhấn mạnh: "Đây là hội thảo quốc gia đầu tiên về giáo dục mở. Các nhà khoa
học cần thống nhất các triết lý về giáo dục, khái niệm mở. Mặc dù đang tranh
luận nhưng chúng ta vẫn phải làm. Cái gì đã trở thành xu thế thế giới thì chúng
ta phải làm". TS Vũ Ngọc Hoàng cho biết, đặc điểm đầu tiên và bắt đầu của nền
giáo dục mở chính là sự thoáng mở đầu vào để tạo cơ hội cho người học dễ tiếp
cận khi họ thật sự muốn học. Bên cạnh đó, hệ thống GD mở phải thể hiện ở sự
đa dạng, linh hoạt và dân chủ về loại hình và phương thức giáo dục, đào tạo
(Hồng, 2018).1
1
Hồng, H. (2018). Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Kiên quyết dỡ bỏ rào cản phát triển giáo dục mở. Dân Trí. Truy xuất từ
7
TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến cho rằng đặc trưng cơ bản của giáo dục dưới
tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 là mở, suốt đời, tương tác, cá thể hóa,
chuẩn bị những con người canh tân và sáng tạo (Phạm, 2018).
Các cách hiểu về giáo dục mở rất rộng và không hoàn toàn giống nhau ở
mỗi quốc gia (“Open Education Definitions”, n.d. đoạn 1, 5, 9, 10, 11)2. Cape
Town Nam Phi tuyên bố giáo dục mở dựa trên các công nghệ mở để tạo điều
kiện học hợp tác, linh hoạt và chia sẻ mở về giảng dạy cho các nhà giáo dục
hưởng lợi từ ý tưởng tốt nhất của đồng nghiệp…. Trường đại học Thomas
Edition State nhận định giáo dục mở là ý tưởng cho rằng tri thức con người chỉ
có thể phát triển thông qua chia sẻ và cộng tác miễn phí. Tài nguyên giáo dục
mở là sách giáo khoa, video, các khóa học và các hoạt động khác được tạo ra để
mở rộng kiến thức và có sẵn miễn phí cho công chúng trên internet. Chúng có
khả năng tùy biến rất lớn. Theo Ủy ban Châu Âu, mục đích của giáo dục mở là
mở rộng quyền truy cập và sự tham gia của mọi người bằng cách loại bỏ các rào
cản và làm cho việc học dễ tiếp cận, phong phú và có thể tùy chỉnh cho tất cả
mọi người, cung cấp nhiều cách dạy, học, xây dựng và chia sẻ kiến thức, tạo ra
nhiều con đường đến giáo dục chính quy và không chính quy, và kết nối cả hai.
Sổ tay Giáo dục mở cho rằng đầu tiên và quan trọng nhất, giáo dục mở là việc
loại bỏ các rào cản đối với giáo dục. Điều này có thể thông qua việc loại bỏ các
yêu cầu truy cập, cho phép sử dụng nội dung và dữ liệu một cách tự do và hợp
pháp. Tuy nhiên, nó cũng phản ánh những thay đổi về văn hóa như động thái mở
ra các phương cách học tập mới: vai trò truyền thống giáo viên- học sinh mờ
nhạt hoặc bị loại bỏ, chuyển sang vai trò người cố vấn- người học. Tổ chức
Creative Commons New Zealand nhận định phong trào giáo dục mở hoạt động
để làm cho tài nguyên giáo dục dễ tiếp cận hơn và giá cả phải chăng hơn.
Từ các cách hiểu đa dạng của các tổ chức trên thế giới và định hướng chỉ
đạo của các nhà lãnh đạo và các nhà nghiên cứu giáo dục của Việt Nam về giáo
dục mở, chúng tôi cũng xây dựng các nội dung cụ thể về khái niệm giáo dục mở
trong bối cảnh dạy và học ngoại ngữ trước khi bắt tay vào xây dựng bộ Sổ tay.
Giáo dục mở là về việc:
2
8
- Tháo bỏ mọi rào cản để mọi người học trong cộng đồng có thể dễ dàng
tham gia, những người chưa có ý định học cũng có cơ hội nghe, xem, nhìn, tạo
ra bầu không khí thiện cảm, dễ tiếp cận với ngoại ngữ trong mọi tầng lớp xã hội.
- Mọi giáo viên/ người dùng có thể linh hoạt sử dụng và tùy chỉnh sản phẩm
này trong bối cảnh địa phương, đồng thời đóng góp thêm kinh nghiệm với cộng
đồng sử dụng.
- Không giới hạn nội dung của mỗi hoạt động trong sổ tay mà kết hợp đa lĩnh
vực, kĩ năng và kiến thức
- Không giới hạn học tập trong lớp học với thầy/cô, bút, giấy, phấn, bảng, v.v
mà tăng cường các hoạt động ngoài lớp học và ngoài giờ học, mọi nơi, mọi lúc
và với các đối tượng thay đổi.
- Đa dạng, linh hoạt về phương pháp, mô hình dạy và học để đạt mục tiêu
thực học, thực dạy;
- Khích lệ sự chung tay và kết nối tiềm năng giáo dục của các lực lượng xã
hội, khích lệ tiềm năng giáo dục từ đội ngũ giáo viên, không dừng lại ở khả năng
dạy học mà còn khơi gợi khả năng tự giáo dục, tự phát triển nghiệp vụ từ mỗi cá
nhân.
- Hướng đến mục tiêu sâu rộng là phát triển con người toàn diện và hình
thành thói quen học tập suốt đời.
2.2. Xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ theo mô
hình cộng đồng học tập
Trọng tâm của giáo dục đang thay đổi và phải thay đổi từ dạy sang học; từ
các chương trình và phương pháp học hướng ngoại do chuyên gia chi phối sang
các cách thức lấy người học làm trung tâm, dựa trên trải nghiệm, các phương
cách liên kết để có được kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho cuộc sống ở
thế giới chúng ta hiện đang sống và thế giới đang thay đổi nhanh chóng mà
những người trẻ tuổi của chúng ta sẽ sống và làm việc (Poulsen, 1994).
Ngôn ngữ theo cách nhìn của hậu cấu trúc luận là một loại vốn xã hội, do
vậy người học ngôn ngữ luôn là những cá nhân trong các hoàn cảnh xã hội nhất
định… Khía cạnh xã hội này của quá trình học ngoại ngữ dẫn đến một hệ quả là
không một lý thuyết đơn lẻ nào đủ sức lý giải được quá trình học ngoại ngữ
được diễn ra như thế nào, đồng thời không có một phương pháp giảng dạy ngoại
9
ngữ đơn lẻ nào mang lại hiệu quả cho mọi điều kiện giảng dạy và với mọi đối
tượng người học (Lê, 2013).
Do con người luôn trong các hoàn cảnh xã hội nên mô hình cộng đồng
thực hành (community of practice) là mô hình học tập phổ biến trên thế giới.
Một mặt, một cộng đồng thực hành (community of practice) là một bối cảnh
sống có thể giúp người mới tham gia cộng đồng tiếp cận với năng lực và cũng
mời gọi người tham gia chia sẻ những năng lực gắn liền với trải nghiệm cá nhân.
Mặt khác, một cộng đồng thực hành là môi trường giúp cá nhân có thể khám phá
những nhận thức hoàn toàn mới mà không bị trở thành kẻ ngốc hoặc bị mắc kẹt
trong ngõ cụt. (Wenger, 1998). Nói cách khác, cộng đồng thực hành là một
nhóm những người có chung mối quan tâm hoặc đam mê về việc họ làm và học
cách làm điều đó tốt hơn khi họ tương tác thường xuyên. Định nghĩa này phản
ánh bản chất xã hội cơ bản việc học của con người. Cộng đồng thực hành rất
rộng (“What is a community of practice”, n.d. đoạn 1)3 Ví dụ như cộng đồng
những người lái xe, cộng đồng những người quan tâm đến dịch thuật, cộng đồng
những người yêu cây cảnh, v.v. Trong cộng đồng thực hành, học tập diễn ra
thông qua sự tham gia của chúng ta vào các hành động và tương tác, nhưng nó
gắn kết sự tham gia này trong văn hóa và lịch sử. Thông qua các hành động và
tương tác cục bộ này, việc học tập tái tạo và biến đổi cấu trúc xã hội của chính
cộng đồng học tập đó. (Wenger, 1998).
Khi bàn đến quá trình học tập, giáo sư Ngô Bảo Châu cho rằng trừ khi bạn
có một ý chí sắt đá, dù có được cung cấp tất cả mọi tài liệu trên đời, dù được
theo dõi miễn phí các bài giảng, ở nhà một mình bạn vẫn không thể học được.
Bởi vì ngồi theo dõi bài giảng trên mạng một mình không phải là một cuộc chơi
thú vị: không có địch thủ, không có đồng đội, không có lộ trình, không thấy mục
tiêu, không thấy giải thưởng. Học một mình, bạn có thể tập trung cao độ trong
một hai ngày cho đến một tuần. Nhưng bạn cần có tập thể, có lớp học, có thầy
giáo để duy trì nỗ lực học tập. Con người nói chung không có khả năng duy trì
nỗ lực của mình trong một thời gian dài. Thiếu tranh biện con người nhanh
3
What is a community of practice? (n.d). Truy xuất tại https://wenger-trayner.com/resources/what-is-a-community-of-practice/
10
chóng lạc vào con đường chủ quan, con đường luôn dẫn đến cái đích là sự bế tắc
(Vũ, 2013).4
Như vậy, cần chú trọng hơn nữa đến học tập trong cộng đồng, đồng thời
cần tìm kiếm và kết hợp linh hoạt các phương pháp phù hợp để tối đa hiệu quả
cho cả người dạy và người học trong cộng đồng đó.
Một loạt các hoạt động tập trung hẹp đòi hỏi rất ít thao tác tư duy (ví dụ:
các bài luyện máy móc; học quy tắc; dạng bài chuyển đổi đơn giản) thường dẫn
đến tiếp thu nông cạn và nhanh quên trừ khi được liên kết với các hình thức kích
thích hoạt động liên quan đến tinh thần và tình cảm. Một loạt các hoạt động đòi
hỏi khả năng phân tích, sáng tạo, đánh giá và diễn tập có thể dẫn đến việc học
sâu hơn và lâu bền hơn (Tomlinson, 2011).
Học tập không chỉ là ghi nhớ. Nó liên quan đến việc sử dụng tâm trí và
vận động cơ thể, hợp tác, thảo luận và khám phá. Người học cần tham gia [hoạt
động học tập] về mặt cảm xúc, trí tuệ, thể chất và xã hội (British Council,
2018)5.
Như vậy các cơ sở lý luận nêu trên đặt ra tính cấp thiết của việc tổ chức
các mô hình học tập cộng đồng, theo hướng giáo dục mở (ngoài lớp học, đa
dạng phương pháp và hình thức, dễ tiếp cận và tăng cường chia sẻ, v.v)
2.2.1 Lợi ích của xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ
ngoài lớp học
Thứ nhất, môi trường học và sử dụng ngoại ngữ ngoài lớp học tạo một
môi trường thuận lợi và tích cực giúp người học có điều kiện hình thành, rèn
luyện các kĩ năng thực hành tiếng, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc
sống thông qua các hoạt động phong phú, đa dạng, hấp dẫn. Hơn nữa, môi
trường thực hành tiếng tích cực ngoài lớp học sẽ giúp người học từng bước nâng
cao sự tự tin, năng động, hứng thú trong việc học và sự dụng ngoại ngữ nói
chung và tiếng Anh nói riêng. Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến mức độ thành
thạo, lưu loát trong giao tiếp của người học.
4
Vũ, B.N. (2013, tháng 3). GS Ngô Bảo Châu và những ý niệm về giáo dục. Báo điện tử của đài tiếng nói Việt Nam. Truy xuất từ
5 British Council. (2018). Ten trends and innovations in English language teaching for 2018. Truy xuất tại
https://www.britishcouncil.org/voices-magazine/ten-trends-innovations-english-language-teaching-2018
11
Thứ hai, môi trường học và sử dụng ngoại ngữ ngoài lớp học góp phần
tích cực trong việc tạo dựng cách học và định hướng phong cách học của người
học nhằm đẩy nhanh hiệu quả, chất lượng không chỉ trong dạy tiếng mà còn
trong việc sử dụng ngôn ngữ trên mọi khía cạnh và lĩnh vực của đời sống, giúp
họ thể hiện năng lực, niềm yêu thích, đam mê của chính mình qua đó nâng cao
nhận thức, thái độ học tập tích cực.
Thứ ba, nội dung, hình thức hoạt động của môi trường học và sử dụng
ngoại ngữ ngoài lớp học có tác dụng bổ sung tích cực lượng kiến thức nền, đặc
biệt là kiến thức về văn hóa của các quốc gia trong khu vực và thế giới – một
trong những điều hết sức cần thiết đối với HSSV giúp họ mở rộng tri thức, định
hướng nghề nghiệp tương lai và là cầu nối trong việc giao lưu văn hoá và phát
triển nền kinh tế của đất nước với bạn bè thế giới.
Thứ tư, môi trường học và sử dụng ngoại ngữ ngoài lớp học không chỉ tạo
môi trường bền vững đối với việc học và sử dụng ngôn ngữ mà còn tạo điều
kiện thuận lợi cho người học mở rộng mối quan hệ với bạn bè, gắn bó với cộng
đồng, chia sẻ kinh nghiệm học tập, bổ sung kỹ năng sống, phát triển các kỹ năng
mềm…nhằm hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện cho người học.
Có thể nói, trong xã hội hiện đại, con người phải tiếp tục học tập không
ngừng để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động. Sự biến động này tạo
nên một xã hội, một cộng đồng học tập suốt đời. Hơn nữa, bản chất của ngôn
ngữ là công cụ giao tiếp cộng đồng. Học một ngôn ngữ, trước hết là để giao tiếp
với người khác trong cộng đồng, và ngược lại hoạt động giao tiếp thường xuyên
trong cộng đồng giúp cho năng lực ngôn ngữ của con người phát triển và hoàn
thiện không ngừng. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong thực hiện mục tiêu
đổi mới toàn diện dạy và học ngoại ngữ nhằm phát triển năng lực sử dung ngôn
ngữ ở người học và phù hợp với quan điểm dạy- học ngoại ngữ hiện nay là quan
điểm hành động. Quan điểm giáo học pháp này đòi hỏi một sự tương tác cao của
người học trong cộng đồng học.
12
2.2.2 Các thành tố xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ
- Thành viên (membership);
- Những mối liên kết cảm hứng và các sự kiện chung (shared events and
emotional connections);
- Sự ảnh hưởng (influence);
- Sự thỏa mãn nhu cầu của mỗi thành viên (fulfillment of individuals needs).
Thành viên: Người học có thể là một nhóm bạn, một lớp học, một khối
lớp hoặc học sinh toàn trường; sinh viên của một khoa đào tạo, một trường ĐH,
CĐ, vv. Xem xét rộng hơn thì thành viên tham gia xây dựng, phát triển môi
trường học và sử dụng ngoại ngữ còn được hiểu là những người có nhu cầu và
cảm hứng gắn bó với cộng đồng, giúp đỡ các thành viên trong cộng đồng và
được giúp đỡ từ các thành viên khác thuộc cộng đồng cũng như được tham gia
vào xây dựng, duy trì và phát triển cộng đồng mình tham gia. Đây chính là yếu
tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của cộng đồng học.
Những mối liên kết cảm hứng và các sự kiện chung: Những người tham
gia trong cộng đồng học có nhu cầu, mong muốn, sở thích chung đối với việc
học và sử dụng ngôn ngữ trên cơ sở tự nguyện. Các hoạt động, sự kiện trong
cộng đồng học được tổ chức chung cho nhóm đối tượng có cùng sở thích, mong
muốn đó.
Sự ảnh hưởng: Là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá thể trong cộng đồng
học đối với việc hình thành phong cách học, chiến lược học tối ưu ở người học.
Qua tương tác, chia sẻ, các thành viên hỗ trợ lẫn nhau, học hỏi từ nhau thông
qua các hoạt động/sự kiện chung người học sẽ dần hình thành thái độ, động cơ
học tập.
Sự thỏa mãn nhu cầu của mỗi thành viên: Sở thích, mong muốn tham gia
các hoạt động của cộng đồng học của người học được thỏa mãn. Nói cách khác,
những hoạt động trong cộng đồng học cần đảm bảo tính hấp dẫn, lôi cuốn, hiệu
quả đối với quá trình học và sử dụng ngôn ngữ ở người học nhằm thỏa mãn
mong muốn, sở thích chung của người học, tạo một môi trường cho việc ứng
dụng, áp dụng phương pháp cộng đồng cộng cảm tự học, tự hướng dẫn, tự tạo
động lực và một xã hội học tập suốt đời.
13
2.2.3. Một số vấn đề về nhận thức trong xây dựng, phát triển môi trường học
và sử dụng ngoại ngữ
Để xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ có hiệu quả
góp phần nâng cao chất lượng học tiếng cũng như thực hiện chủ trương xậy
dựng một xã hội học tập suốt đời, thì ý chí chính trị là chưa đủ. Cần phải dựa
những hiểu biết khoa học và cân nhắc những điều kiện thực tế.
Thực tế cho thất những hoạt động ngoại khóa nhằm xây dựng môi trường
học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng chưa có đóng góp nhiều cho
việc nâng cao chất lượng học ngoại ngữ. Một trong những nguyên do đó là các
trường chưa xem xét các điều kiện khác như văn hóa học, thái độ và động lực
của người học, phương pháp học trong cộng đồng của người học, các hoạt động
trong cộng đồng học, sự hỗ trợ của giáo viên và đội ngũ chuyên gia cho hoạt
động học trong cộng đồng học. Ngoài ra, còn tồn tài quan điểm, nhận thức cứng
nhắc về việc tính chuẩn, tính đúng trong hành ngôn ở người học và sử dụng
ngoại ngữ.
Văn hóa học: Văn hóa học làm nền tảng cho cộng đồng học tập là văn hóa
hợp tác. Mọi thành viên đều có ý thức cộng đồng. Ý thức cộng đồng đó xuất
phát từ ý thức về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng, sự
gắn kết giữa các thành viên với nhau, sự tin cậy, sự tương tướng và có chung
những kỳ vọng và mục đích, đó là tiến bộ trong học tập. Trong cộng đồng học
thì GV vừa là người học, vừa là người hướng dẫn người học về cách học và nội
dung học.
Thái độ và động lực của người học: Nếu học một ngoại ngữ mà không có
mục tiêu hay động cơ cụ thể thì khả năng thất bại là rất cao. Do vậy, yếu tố tiên
quyết để xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ thành công
là thái độ và động lực của người học. Việc tham gia vào môi trường này là việc
làm mang tính tự giác, do vậy người học cần phải có thái độ tích cực và động
lực mạnh mẽ. Để tạo được điều này cho người học thì chính bản thân người học
phải tự nhận thấy việc tham gia vào môi trường học và sử dụng ngoại ngữ là vui
vẻ và bổ ích, nghĩa là người học phải có cả động lực nội sinh và động lực ngoại
sinh. Thái độ và động lực của người học được hình thành và chịu ảnh hưởng của
hoạt động học, nhất là sự hỗ trợ mà họ nhận được trong cộng đồng học tập để họ
14
có thể cảm nhận được sự tiến bộ của họ trong thành tích học tập nhờ tham gia
vào các hoạt động học trong môi trường học tập.
Chiến lược/Phương pháp học tập: Các hoạt động học tập diễn ra trong
cộng đồng học tập mang tính tự giác và do người học tự tạo ra. Do vậy, để học
một cách có hiệu quả trong cộng đồng học tập, người học phải có phương pháp
tối ưu để đạt được các mục tiêu và kế hoạch đạt được mục tiêu ấy, tức là họ phải
trở thành những người học tự điều phối việc học của mình (self-regulated
learners), trong khi GV và đội ngũ chuyên gia cho hoạt động trong cộng đồng
học đóng vai trò hỗ trợ, khơi gợi phương pháp học và hướng người học vào
những phương pháp học đó để hỗ trợ tích cực cho khả năng học tập độc lập của
người học.
Tất cả các yếu tố trên đây liên quan và phụ thuộc lẫn nhau, do vậy, tùy
vào tình hình thực tế, cần xây dựng mô hình về cộng đồng học tiếng vừa phù
hợp với điều kiện của trường, vừa phát huy tối đa sự tương tác giữa các yếu tố
kể trên.
Vấn đề phát âm: Nhiều người cho rằng một trong những tiêu chí đánh giá
người nói một ngoại ngữ giỏi là phát âm chuẩn giống người bản xứ. Sự lý tưởng
hóa đối với khả năng phát âm ở người học ngoại ngữ vô hình chung đã tạo ra
những phương pháp dạy và học thiếu sáng tạo, bắt chước, chưa kể đến những
suy nghĩ định kiến đối với người phát âm “không chuẩn”. Quan điểm mới về
dạy và học ngoại ngữ là khả năng sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, trao đổi thông
tin qua đó khả năng phát âm của người sử dụng ngoại ngữ đó sẽ không ngừng
được cải thiện qua môi trường thực hành tiếng tích cực. Nếu như không phải bất
cứ người Việt nào cũng có được phát âm chuẩn tiếng Việt, thì không hễ là người
bản xứ thì phát âm tiếng của họ chuẩn. Do vậy, việc học ngoại ngữ cũng không
nhất thiết phải đạt cho bằng được phát âm chuẩn. Cơ sở khoa học cũng cho thấy,
nếu tiếp cận việc học ngoại ngữ sau tuổi dậy thì thì khả năng có thể bắt chước
được giọng chuẩn của tiếng nước ngoài là rất thấp. Vì thế, vấn đề cơ bản là nói
và người nghe hiểu được mình muốn nói gì.
Vấn đề ngữ pháp: Ngữ pháp vừa liên quan đến kiến thức vừa liên quan
đến kỹ năng ngôn ngữ. Cũng như phát âm, không thể trông đợi sự hoàn chỉnh và
chính xác ngay từ ban đầu, mà sẽ được hoàn thiện dần nếu được vận dụng nó
vào môi trường giao tiếp.
15
Việc thay đổi nhận thức về vấn đề phát âm và ngữ pháp là cần thiết nhằm
tạo tính tự nhiên (naturalness) trong giao tiếp ở người học. Sự sai sót trong quá
trình thực hành là rất tự nhiên và khó tránh khỏi và sẽ dần được hoàn thiện thông
qua tương tác, học hỏi, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cá thể trong môi trường học tập
tích cực của cộng đồng học. Nhận thức được điều này, người dạy và người học
mới có thể cùng nhau tạo nên tập thể học tập lành mạnh, thân ái; nơi đó các cá
nhân không ngại mắc lỗi, không sợ hãi và lo lắng thu mình vì bị chê cười, bị
thành kiến khi sai sót trong quá trình học tập mà mạnh dạn, tự tin áp dụng và thể
hiện những điều học được. Cứ như vậy, người học mới duy trì học tập, dần dần
nuôi dưỡng niềm yêu thích, xây dựng văn hóa học một cách tự nhiên và bền
vững.
3. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Kết quả các nghiên cứu về tình hình dạy và học ngoại ngữ tại Việt Nam
cho thấy người học và người dạy vẫn bị ảnh hưởng nhiều bởi các kỳ thi; số đông
người học chưa tìm thấy động cơ và chiến lược học tập phù hợp, môi trường sử
dụng ngoại ngữ hạn chế, chưa dễ tiếp cận và nhiều sinh viên, học sinh vẫn thiếu
năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Trong bối cảnh đó, một số cơ sở giáo dục và đội ngũ giảng viên, giáo
viên, sinh viên và học sinh đã nỗ lực tìm tòi để sáng tạo ra các hình thức học tập
cộng đồng đa dạng; bù đắp cho thời lượng học tập trên lớp quá ít, hình thức học
tập chưa chú trọng thực hành, tương tác, thiếu gắn kết và chia sẻ giữa các cá
nhân; thu hút được số đông người học tham gia, tạo ra sự thay đổi về nhận thức,
thái độ, phương cách và kết quả học tập ngoại ngữ.
Tuy nhiên, một số nhà trường, thầy cô giáo khác vẫn chưa thật sự chủ
động hoặc thiếu tự tin triển khai các hoạt động học tập cộng đồng ngoài lớp học
do thiếu thời gian chuẩn bị, thiếu kinh nghiệm tổ chức, chương trình môn học
quá tải hoặc chính sách thiếu hỗ trợ từ lãnh đạo các cấp.
4. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔI TRƯỜNG HỌC VÀ
SỬ DỤNG NGOẠI NGỮ Ở VIỆT NAM
Để tháo gỡ những vướng mắc trong đổi mới giáo dục ngoại ngữ, chúng
tôi tiến hành nhiệm vụ Sổ tay nhằm tập hợp những hình thức học và sử dụng
ngoại ngữ hiệu quả đã triển khai trong nước và trên thế giới, phù hợp với các lý
thuyết về học tập ngoại ngữ thích ứng với thời đại công nghệ mới.
16
Bộ sổ tay là nỗ lực bước đầu 1) tạo ra môi trường học và dùng tiếng Anh
tôn trọng bản chất của ngôn ngữ, bản chất tâm lí, xã hội của người học, quá trình
học; tạo bầu không khí giao tiếp, tư duy bằng ngoại ngữ; tạo cảm xúc khao khát
học tập và tầm nhìn rõ ràng cho người học 2) giới thiệu vào các nhà trường và
các cộng đồng học tập bộ tài liệu giàu tính đổi mới, tích hợp kiến thức đa lĩnh
vực, chú trọng giá trị thực hành, đề cao học tập thông qua trải nghiệm, hướng
đến khơi gợi khát vọng tìm tòi và phát triển đa năng lực của người học 3) phát
động xây dựng, mở rộng phong trào học ngoại ngữ trong cộng đồng, tăng cường
sự quan tâm, nâng cao nhận thức của lãnh đạo, người dạy, người học, cha mẹ
học sinh và cộng đồng xã hội nói chung về giáo dục ngoại ngữ.
4.1. Giải pháp
Chúng tôi tiến hành biên soạn
+ 06 bộ tài liệu:
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng và phát triển môi trường dạy và học ngoại
ngữ trong các cơ sở giáo dục đại học;
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng và phát triển môi trường dạy và học ngoại
ngữ trong các trường nghề;
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng và phát triển môi trường dạy và học ngoại
ngữ trong các trường THPT;
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng và phát triển môi trường dạy và học ngoại
ngữ trong các trường THCS;
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng và phát triển môi trường dạy và học ngoại
ngữ trong các trường tiểu học.
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng và phát triển môi trường dạy và học ngoại
ngữ liên trường
+ Bộ tài liệu phát tay (hand-out) và 06 bài giảng Power Point bồi dưỡng
về xây dựng và phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ trong các cấp
học.
+ Lập các cộng đồng xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng
ngoại ngữ trên mạng xã hội để lưu giữ và chia sẻ kết quả thực hiện.
17
4.2. Các nguyên tắc
4.2.1. Nguyên tắc xây dựng các hoạt động trong bộ Sổ tay
- Đảm bảo tính mục đích: Các hoạt động được thiết kế trong cuốn sổ tay
đều nhằm chung một mục đích là hướng đến việc tạo ra môi trường để sử dụng
ngoại ngữ tích cực và hiệu quả cho cả người dạy và người học. Thông qua các
hoạt động, những người tham gia có cơ hội được chia sẻ và thực hành kỹ năng
ngôn ngữ một cách tự nhiên và hào hứng. Các hoạt động không những góp phần
làm tăng hiệu học quả học tập mà còn giúp phát triển các kỹ năng xã hội, cũng
như mang đến những kinh nghiệm bổ ích và quý giá cho cuộc sống sau này.
- Đảm bảo về mặt nội dung: Nội dung hoạt động phải bám sát và hỗ trợ
tích cực cho chương trình chính khóa. Bên cạnh đó hoạt động được thiết kế
phong phú, cân đối giữa các loại hình hoạt động: tập thể, nhóm, cá nhân và quan
trọng nhất là phải đảm bảo phù hợp với lứa tuổi và ngành nghề của đối tượng
tham gia.
- Đảm bảo về mặt hình thức: Tất cả các hoạt động đều được thiết kế một
cách đồng bộ và nhất quán theo mẫu chung, gồm đầy đủ 5 phần chính: Mục tiêu
của hoạt động, Mô tả hoạt động, Cách thức tiến hành, Đánh giá thực hiện và Mô
hình tham khảo (nếu có).
- Đảm bảo tính kế hoạch: các hoạt động phải được lên kế hoạch một
cách chi tiết về nội dung, hình thức và thời gian thực hiện. Các hoạt động được
phân bổ cân đối và phù hợp với thời gian của năm học. Có những hoạt động
được triển khai hàng ngày, nhưng cũng có những hoạt động được triển khai theo
tuần, theo tháng, theo quý, theo kỳ học và theo năm.
- Đảm bảo tính thực tiễn và khả năng ứng dụng: Các hoạt động được
thiết kế phải đảm bảo tính thiết thực và bổ ích, tính khả thi và có khả năng ứng
dụng, thực hành cao. Các hoạt động được thiết kế để có thể triển khai trên diện
rộng, phù hợp với đa số người dạy và người học tại các cơ sở học tập, và phải hỗ
trợ tối đa các hoạt động dạy và học trên lớp.
- Đảm bảo sự thống nhất: Các hoạt động được thiết kế để triển khai phải
thống nhất giữa các cơ sở đào tạo, giữa các tỉnh thành và các vùng miền trong cả
nước. Hoạt động phải huy động được sự chỉ đạo và giúp đỡ từ phía nhà trường,
và có thể cần đến sự hỗ trợ về kinh phí tổ chức từ phía các tổ chức xã hội: các
18
đoàn thể, các doanh nghiệp địa phương và của chính phụ huynh học sinh tham
gia.
- Đảm bảo chất lượng về mặt chuyên môn: Các hoạt động khi triển khai
phải có sự quan tâm, giám sát và chỉ đạo sâu sắc của ban giám hiệu, các giáo
viên trong các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên các GV ngoại ngữ tại các cơ sở đào tạo
phải là những người đầu tàu, gương mẫu, chịu trách nhiệm định hướng và đảm
bảo chuyên môn khi triển khai các hoạt động để đảm bảo tính hiệu quả và chất
lượng của hoạt động.
- Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện: Các hoạt động phải huy động được sự
tham gia một cách tự nguyện của cả người dạy và người học, đảm bảo tính dân
chủ trong hoạt động để mọi thành viên tham gia đều có cơ hội được thực hành
ngôn ngữ. Hoạt động phải được thiết kế để thu hút, khích lệ được sự tự nguyện
và chủ động tham gia của người dạy và người học.
- Đảm bảo nguyên tắc có các tiêu chí đánh giá cụ thể: Các hoạt động
phải được thiết kế chặt chẽ, có tiêu chí đánh giá độ hiệu quả của hoạt động rõ
ràng. Việc này giúp ích cho cả người tham gia và người triển khai thực hiện
đánh giá được độ hiệu quả khi tham gia hoạt động.
- Đảm bảo tính linh hoạt: Các hoạt động được thiết kế mang tính chất
gợi mở, tham khảo để người sử dụng có thể dễ dàng triển khai cho phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh thực hiện và đối tượng tham gia tại các cơ sở đào tạo khác
nhau.
4.2.2 Tiêu chí xây dựng các hoạt động
- Thú vị, sinh động, và hấp dẫn: Các hoạt động được xây dựng phải thực
sự thu hút, lôi cuốn người tham gia, tạo cảm hứng cho cả người dạy và người
học. Điều này cũng hoàn toàn thống nhất và đảm bảo với nguyên tắc để người
dạy và người học tham gia một cách tự nguyện.
- Dễ triển khai: Các hoạt động đều được thiết kế một cách rõ ràng, dễ
hiểu để người dạy và người học dễ thực hiện. Do đó, hoạt động có thể thu hút
được đông đảo các thành viên tham gia.
- Chi phí cho hoạt động mang tính khả thi: Các hoạt động được triển
khai bằng cách huy động tối đa sự hỗ trợ của HSSV, phụ huynh và GV trong các
cơ sở đào tạo. Nếu cần nhiều chi phí hơn, các hoạt động phải được thiết kế sao
cho khả thi để có thể thu hút được sự hỗ trợ từ phía các cơ quan, doanh nghiệp.
19
- Thân thiện với môi trường: Tất cả các hoạt động khi thiết kế cần phải
là những hoạt động “xanh”, ví dụ: không sử dụng nhiều giấy, không xả rác gây ô
nhiễm môi trường học đường, hoặc có thể tận dụng nguồn vật liệu tái chế khi
thiết kế các hoạt động, vvv…
- Phù hợp với lứa tuổi: Các hoạt động được lựa chọn đều cân nhắc đến
yếu tố lứa tuổi và được sắp xếp, phân loại theo từng cấp học. Vì vậy, các hoạt
động này sẽ phù hợp với sở thích và nguyện vọng của phần lớn người tham gia.
Qua đó người tham gia sẽ biết vận dụng hiệu quả các kỹ năng trong học tập,
trong cuộc sống và tích lũy được thêm được nhiều kinh nghiệm hữu ích cho
tương lai.
- Bổ ích: Các hoạt động không chỉ giúp người tham gia phát triển năng
lực ngôn ngữ một cách toàn diện mà còn tạo môi trường có ích để phát triển các
kỹ năng mềm cần thiết như: kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng thuyết trình, kỹ
năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo. HSSV đồng thời có cơ hội để tiếp cận và
áp dụng các công nghệ hiện đại vào việc học tập. Ngoài ra, những người tham
gia hoạt động còn có thể nâng cao được sự tự tin khi sử dụng ngoại ngữ, khi
giao tiếp và mở rộng các mối quan hệ.
- Có thể áp dụng rộng rãi: Các hoạt động được thiết kế và triển khai linh
hoạt để có thể áp dụng được trên các vùng, miền khác nhau trong cả nước.
Ngoài ra, các hoạt động khi được lựa chọn cũng đã cân nhắc đến yếu tố về loại
hình của các cơ sở đào tạo khác nhau, nhằm đảm bảo có thể được triển khai cả
trong hệ thống các trường công lập và dân lập.
- Tạo hiệu ứng tích cực: Hoạt động được lựa chọn phải thúc đẩy được
phong trào học ngoại ngữ, không chỉ mang tính bổ trợ cho các hoạt động chính
khóa mà phải thực sự tạo hiệu ứng tích cực, kích thích sự đam mê, làm thay đổi
tư duy học và dùng ngoại ngữ của người dạy và người học, để tạo ra một thói
quen sử dụng ngoại ngữ một cách tự nhiên nhất.
- Phát huy tính chủ động, tích cực sáng tạo: Các hoạt động phải tạo cơ
hội cho người tham gia được thỏa sức sáng tạo, khám phá khả năng tiềm ẩn của
bản thân, chủ động lên kế hoạch thực hiện. Các hoạt động còn tập trung khuyến
khích các ý tưởng mới lạ về nội dung và hình thức triển khai hoạt động nhằm
đem lại lợi ích tốt nhất cho người tham gia.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tập huấn Xây dựng, phát triển môi trường học và sử dụng ngoại ngữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_huan_xay_dung_phat_trien_moi_truong_hoc_va_su_dung_ngoai.docx
MTNN-Liên trường PPT.pptx

