Tài liệu Hội và tự do hiệp hội

MỤC LỤC  
I. Giới thiệu............................................................................. 7  
II. Từ hội đến quyền tự do hiệp hội.................................. 10  
III. Quyền tự do hiệp hội trong luật nhân quyền  
quốc tế............................................................................. 17  
IV. Quan hệ giữa tự do hiệp hội với một số quyền tự  
do khác............................................................................ 27  
V. Pháp luật về tự do hiệp hội của một số quốc gia...... 33  
VI. Pháp luật về tự do hiệp hội của Việt Nam............... 43  
VII. Một số khuyến nghị cho việc vận động chính sách  
và pháp luật bảo vệ tự do hiệp hội........................... 53  
Phụ lục 1. Quy định về tự do hiệp hội trong một số  
văn kiện quốc tế.................................................................. 55  
Phụ lục 2. Hệ thống văn bản điều chỉnh một số  
hình thức tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam................ 70  
Phụ lục 3. Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về các  
quyền tự do hội họp ôn hòa và hiệp hội, Maina Kiai... 74  
Tài liệu tham khảo.................................................................. 123  
5
6
I. GIỚI THIỆU  
Cùng với xu hướng mở rộng các quyền tự do, dân  
chủ, cũng như nhằm triển khai Hiến pháp 2013, việc xây  
dựng Luật về Hội đã được đưa vào chương trình lập  
pháp của Quốc hội (Nghị quyết số 70/2014/QH13, ngày  
30/5/2014, về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh  
năm 2014 và 2015). Theo đó, Luật về Hội sẽ được Quốc  
hội (khóa XIII) thảo luận và cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10  
vào cuối năm 2015.  
Tự do hiệp hội đã được ghi nhận trong Hiến pháp đầu  
tiên của Việt Nam (năm 1946) và tiếp tục được ghi nhận  
trong tất cả các bản Hiến pháp tiếp theo. Luật về quyền  
lập hội đã được ban hành lần đầu ở Việt Nam vào năm  
19571. Trải qua nhiều thay đổi, khuôn khổ pháp luật về  
hội, cũng như điều kiện thực tế có nhiều biến đổi. Việc  
có một khung pháp lý tuân thủ nguyên tắc tôn trọng, bảo  
đảm và thực hiện quyền tự do hiệp hội, phù hợp với yêu  
cầu thực tế và các chuẩn mực quốc tế về quyền con  
người mà Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện là một nhu  
___________________________  
1 Luật số 102-SL/L-004 ngày 20-5-1957.  
7
cầu chính đáng của người dân. Cuộc thảo luận xung  
quanh quan điểm và cách thức tiếp cận trong xây dựng  
luật về hội đã bắt đầu từ những năm 19902, vẫn chưa có  
kết quả cụ thể.  
Trong tài liệu này, các tác giả trình bày quan điểm về  
cách tiếp cận dựa trên quyền để có khuôn khổ pháp lý tốt  
đảm bảo quyền tự do hiệp hội, góp phần vào cuộc thảo  
luận xung quanh việc xây dựng Luật về Hội ở Việt Nam.  
Quan điểm này được đưa ra trên cơ sở tham chiếu chuẩn  
mực về tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế, cũng  
như tham khảo một số thực hành tốt trong luật pháp của  
một số quốc gia khác. Những câu hỏi chính các tác giả đặt  
ra và đi tìm câu trả lời là: 1) Tự do hiệp hội trở thành một  
quyền như thế nào?; 2) Luật nhân quyền quốc tế quy định như  
thế nào về quyền tự do hiệp hội?; 3) Hội được điều chỉnh như thế  
nào trong pháp luật các quốc gia (bao gồm Việt Nam)?; và 4)  
Một số khuyến nghị cho việc vận động chính sách và pháp luật  
bảo vệ tự do hiệp hội.  
Thông tin trong tài liệu này được đưa ra trên cơ sở  
tham khảo, đối chiếu và phân tích các văn kiện trong hệ  
thống luật quốc tế về nhân quyền, bao gồm các văn bản  
của Liên Hợp Quốc (LHQ), một số văn kiện liên quan của  
___________________________  
2
Ví dụ, xem: Đỗ Kim Cuông, Dự thảo “Luật về Hội”: Cần xác định cho rõ đối tượng áp dụng luật,  
8
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các văn bản liên quan  
trong pháp luật Việt Nam. Tài liệu cũng tham chiếu đến  
các nghiên cứu về chủ đề này trong luật nhân quyền quốc  
tế, cũng như khuôn khổ pháp luật về hội ở một số quốc  
gia. Bên cạnh các phân tích so sánh pháp lý, nghiên cứu  
cũng sử dụng một số tài liệu nghiên cứu xã hội, triết học  
và lịch sử cho phần II và III, với quan niệm rằng chuẩn  
mực pháp lý mang tính lịch sử và là biểu hiện của các  
quan niệm xã hội luôn biến đổi.  
9
II. TỪ HỘI ĐẾN QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI  
1. Hiệp hội là một đặc tính và nhu cầu tự nhiên của  
con người  
Mỗi con người, bên cạnh đặc tính cá thể, còn có đặc tính  
xã hội (đặc tính cộng đồng). Đặc tính xã hội đến từ nhu  
cầu tự nhiên của con người, con người cần đến xã hội để  
học tập, lao động và phát triển. Tự do hiệp hội là đặc tính  
xã hội của con người, là nhu cầu tự nhiên của con người  
muốn được quy tụ, được tập trung trong một tổ chức với  
những mối liên hệ gần gũi, chặt chẽ. Việc các cá nhân liên  
kết, tập hợp lại với nhau thành nhóm để hướng đến lợi  
ích, mục đích hay sự quan tâm chung thường được gọi là  
lập hội.  
Trong tiếng Việt, theo cách hiểu thông thường, danh từ  
"hội" có hai nghĩa gần nhau dùng để chỉ: 1) cuộc vui tổ  
chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc  
nhân dịp đặc biệt; 2) tổ chức quần chúng rộng rãi của những  
người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt  
động3. Chữ “hội” có thể hiểu đơn giản là tụ họp lại, gặp  
nhau4. Trong tiếng Anh, ý niệm “hội” thể hiện qua hai  
khái niệm “association” chỉ hình thức tổ chức của các cá  
___________________________  
3 Trung tâm Từ điển học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2011, tr.716.  
4 Trần Văn Chánh, Từ điển Hán Việt.  
10  
nhân có cùng mối quan tâm) hay “society” chỉ một cộng  
đồng có tổ chức5. Cả hai khái niệm này đều có từ gốc La-  
tinh là socius/socielis hàm ý là sự liên hệ, giao lưu, đồng  
hành giữa con người với nhau và hình thành nên xã hội  
(“society”). Như vậy về mặt ngôn ngữ chúng ta thấy có  
sự tương đồng thú vị về việc hiệp hội như một hành vi xã  
hội tự nhiên của con người, nói cách khác là một trong  
các hành vi tự nhiên tạo nên xã hội loài người.  
Trong các xã hội cổ xưa đã xuất hiện nhiều hình thức  
hội đa dạng. Ở Phương Tây, Plato đã mô tả các “câu lạc  
bộ” là những nơi các thị dân Hy Lạp cổ đại lui tới để  
thưởng thức nghệ thuật, nghe giảng về thiên văn học và  
khoa học9.  
Trong xã hội Việt Nam truyền thống cũng như hiện  
nay, các hội có hình thức rất đa dạng như phường hội, câu  
lạc bộ, quỹ từ thiện, hội, nhóm... Từ những thế kỷ trước,  
các phường hội nghề nghiệp (nghề thủ công, nghệ thuật  
và thương mại) đã xuất hiện ở khu vực thành thị.7 Đến thế  
kỷ 19, đã xuất hiện các hình thức hiệp hội mang đậm tính  
“xã hội dân sự” như mạng lưới dạy học, truyền giảng và  
thảo luận các vấn đề đạo đức, vấn đề xã hội của Hội  
___________________________  
5 Từ điển Merriam-Webster trực tuyến tại: http://www.merriam-webster.com.  
6 Plato, Protagoras, 315c-371d, Roderick T. Long dẫn trong Civil Society in Ancient Greece: The Case  
7 Philippe Papin, Lịch sử Hà Nội, NXB Mỹ thuật, 2009, trang 94.  
8 Vũ Thế Khôi, Từ Hội Hướng thiện Đền Ngọc Sơn đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Tạp chí  
Xưa và Nay. Số 283.,2007, trang 10-11.  
11  
Hướng Thiện đền Ngọc Sơn.8 Từ thế kỷ 20, sinh hoạt của  
các hội đoàn càng phong phú, có nhiều hội, nhóm như hội  
cứu tế, công hội, nông hội, hội khuyến học, hội Khai Trí,  
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Hiện nay, thông tin từ  
Liên hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (2010) cho biết,  
có khoảng 1700 tổ chức phi chính phủ Việt Nam đã đăng  
ký hoạt động.9  
Ngày nay, tại các quốc gia đều hiện diện nhiều hình  
thức hội đoàn, hiệp hội đa dạng. Các hội có thể không có  
(không cần) tư cách pháp nhân hoặc có tư cách pháp nhân  
(để thuận tiện cho việc giao dịch, ký hợp đồng). Cũng cần  
lưu ý rằng quan niệm về “tư cách pháp nhân” có sự khác  
nhau tại các quốc gia.  
Các hội đó có thể là các câu lạc bộ, hội nghề nghiệp, các  
tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn, tổ chức tôn  
giáo, chính đảng hoặc công ty. Do sự đa dạng của các  
nhóm, pháp luật các quốc gia thường có quy định điều  
chỉnh riêng một số nhóm, hội bằng các luật riêng như: luật  
về doanh nghiệp - công ty, luật về công đoàn - nghiệp  
đoàn, luật về các đảng phái chính trị.  
Như vậy, tự do hiệp hội là một đặc tính tự nhiên của  
con người. Những người theo quan điểm luật tự nhiên  
cũng coi tự do hiệp hội là một quyền tự nhiên của con  
___________________________  
9 Hiệp hội liên minh các tổ chức khoa học và công nghệ, Bản tin phát triển #1, tháng 10, (2010), tr. 7  
(Andrew Wells-Dang dẫn trong Không gian Xã hội Dân sự Việt Nam đang mở rộng. Tạp chí Tia sáng  
ngày 05/9/2014: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=7858).  
12  
người, có trước bất kỳ sự chấp thuận nào của nhà nước.  
Từ góc độ pháp lý, quyền tự do hiệp hội dần dần, đặc biệt  
là từ sau năm 1945, được pháp luật các quốc gia và luật  
nhân quyền quốc tế ghi nhận và bảo vệ.  
2. Vai trò của tự do hiệp hội  
Quyền tự do hiệp hội có ý nghĩa quan trọng đối với  
thúc đẩy các quyền con người khác (dân sự, chính trị,  
kinh tế, xã hội và văn hóa), cũng như đối với phát triển  
quốc gia. Thông qua việc lập hội, các cá nhân liên kết lại  
cùng nhau bảo vệ quyền sống, quyền an toàn về thân thể,  
quyền tự do ngôn luận, báo chí, đi lại (các quyền dân sự).  
Các hội nghề nghiệp (ngư nghiệp, nông nghiệp, dệt  
may...), cũng như các hội, nhóm cung cấp các dịch vụ y tế,  
giáo dục, các hội từ thiện... góp phần đáng kể thúc đẩy  
các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Trong lĩnh vực kinh tế -  
lao động, việc thành lập công đoàn giúp bảo vệ các quyền  
cơ bản của công nhân về tiền lương, thời gian làm việc,  
nghỉ ngơi, an toàn lao động... Tuyên bố về những người  
bảo vệ nhân quyền của LHQ (1998) khẳng định để thúc  
đẩy và bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản, mọi  
người phải có quyền tự do hiệp hội ở cả cấp độ quốc gia  
và quốc tế.  
Trong lĩnh vực chính trị, quyền tự do hiệp hội cũng có  
vai trò rất thiết yếu đối với việc hiện thực hóa quyền bầu  
cử, ứng cử và quyền tham gia quản lý đất nước. Ủy ban  
13  
Nhân quyền LHQ khẳng định quyền tự do biểu đạt, hội  
họp và hiệp hội là những điều kiện quan trọng cho việc  
thực hiện hiệu quả quyền bầu cử và phải được bảo vệ  
đầy đủ (Bình luận chung số 25, đoạn 12). Báo cáo viên  
LHQ về tự do hội họp và hiệp hội Maina Kiai, trong năm  
2013, đã có một nghiên cứu với những khuyến nghị  
riêng về mối quan hệ giữa quyền hội họp, hiệp hội và  
bầu cử. Theo đó, các đảng phái chính trị, một loại hiệp  
hội, được khẳng định có vai trò làm phương tiện chính  
yếu để các cá nhân có thể tham gia một cách hòa bình  
vào các hoạt động xã hội.10  
Đối với các nhóm dễ bị tổn thương (người khuyết tật,  
người lao động nhập cư, người đồng tính, song tính và  
chuyển giới (LGBT)...), quyền tự do hiệp hội càng có vai  
trò quan trọng để chống lại sự phân biệt, kỳ thị, cũng như  
để bảo vệ các quyền khác khi mà tiếng nói của những cá  
nhân thuộc những nhóm này rất dễ bị xã hội hoặc nhà  
nước bỏ qua.  
Các hội, hiệp hội có vai trò trung tâm trong xã hội dân  
sự, không có tự do hiệp hội thì hầu như xã hội dân sự  
không tồn tại. Đời sống hiệp hội là một chỉ số của xã hội  
dân chủ. Đời sống hiệp hội cũng giúp gia tăng vốn xã hội,  
lòng tin trong xã hội thường tỷ lệ thuận với mức độ ràng  
___________________________  
10  
Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về tự do hội họp hòa bình và hiệp hội, Maina Kiai, 2013,  
A/68/299, đoạn 9.  
14  
buộc, gần gũi của các quan hệ xã hội, cũng như sự trưởng  
thành của xã hội dân sự.  
3. Bảo vệ quyền tự do hiệp hội bằng luật pháp  
Là một quyền con người, quyền tự do hiệp hội (the  
right to freedom of association - hay “tự do lập hội“ - có thể  
gây hiểu lầm là chỉ liên quan đến việc thành lập ra các  
hội), luôn đứng trước nguy cơ bị xâm phạm, giới hạn tùy  
tiện bởi các cơ quan công quyền và các chủ thể khác  
trong xã hội.  
Pháp luật các quốc gia đã ghi nhận, bảo vệ quyền này,  
tiếp theo đó và ở quy mô rộng hơn, luật nhân quyền của  
một số khu vực (mà tiên phong là Công ước Nhân quyền  
châu Âu 1950, tại Điều 11) và của LHQ đã xác lập nên  
khuôn khổ pháp lý bảo vệ quyền tự do hiệp hội.  
Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm quyền tự do hiệp hội là sự  
phát triển của tự do ngôn luận. Hiến pháp Hoa Kỳ, Tu  
chính án thứ nhất (First Amendment), không đề cập đến  
quyền tự do hiệp hội mà chỉ đề cập đến tự do ngôn luận  
và hội họp. Chính Tòa án Tối cao, thông qua án lệ từ vụ  
NAACP v. Alabama ex rel. Patterson (1958) đã kết luận rằng  
quyền tự do hiệp hội phát sinh từ quyền tự do biểu đạt.  
Bởi lẽ, nếu không có sự tập hợp lên tiếng thì quyền biểu  
___________________________  
11  
NAACP - Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (National Association for the  
Advancement of Colored People).  
15  
đạt bị giảm hiệu quả đáng kể, tiếng nói của một cá nhân  
rất khó có thể được lắng nghe, tiếp nhận.  
Do tính chất thiết yếu, đa dạng của hội,pháp luật quốc  
gia, khu vực và quốc tế đều đóng vai trò nhất định trong  
việc bảo vệ quyền tự do hiệp hội. Trong khi phạm vi của  
luật quốc tế bảo vệ quyền tự do hiệp hội rất rộng (sẽ được  
làm rõ hơn trong Phần III), pháp luật các quốc gia về hội  
thường chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh một số loại hội  
nhất định (sẽ được làm rõ trong Phần IV và Phần V).  
16  
III. QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI TRONG  
LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ  
1. Khái quát  
Như nêu trên, quyền tự do hiệp hội được bảo vệ bởi  
nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, trong đó đặc biệt quan  
trọng là Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR, 1948) và  
Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966).  
Cạnh đó, quyền tự do hiệp hội được bảo vệ trong nhiều  
văn kiện như Công ước về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ  
(CEDAW, 1979 - Điều 7 về quyền tham gia vào các tổ chức  
phi chính phủ, hiệp hội của phụ nữ), Công ước về quyền trẻ  
em (CRC, 1989 - Điều 15 về quyền tự do hiệp hội và hội  
họp của trẻ em)... Tuy nhiên, quy định của các công ước  
này tương đối khái quát. Riêng trong lĩnh vực lao động,  
quyền tự do công đoàn được quan tâm bảo vệ tại Công  
ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966  
- Điều 8), cũng như trongmột số điều ước của Tổ chức lao  
động quốc tế (ILO) (bao gồm Công ước số 87 về quyền tự  
do hiệp hội và bảo về quyền tổ chức, 1948; Công ước số 98  
về quyền tổ chức và thoả ước lao động tập thể, 1949...).12  
___________________________  
12  
Việt Nam chưa gia nhập công ước nào của ILO về quyền tự do hiệp hội, công đoàn. Tuy nhiên,  
cần lưu ý rằng theo Tuyên ngôn về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lĩnh vực lao động (1998)  
của ILO, mọi thành viên của ILO (bao gồm Việt Nam) dù chưa phê chuẩn các Công ước liên quan,  
cũng có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và hiện thực hóa các nguyên tắc liên quan đến các quyền cơ  
bản nêu trong các Công ước về quyền tự do hiệp hội (và một số quyền cơ bản khác như xóa bỏ lao  
động cưỡng bức, lao động trẻ em, phân biệt đối xử).  
17  
Theo Đại diện đặc biệt của LHQ về những người bảo vệ  
nhân quyền (trong văn bản số A/95/401, đoạn 46) thì: Khái  
niệm “hội” nhắc đến bất kỳ nhóm cá nhân hoặc bất kỳ thực thể  
pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ,  
thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung.13  
Trong báo cáo của mình, Báo cáo viên về tự do hội họp và  
hiệp hội của LHQ Maina Kiai lặp lại và sử dụng định  
nghĩa này.  
Quyền tự do hiệp hội được bảo vệ tại Điều 29 Tuyên ngôn  
quốc tế nhân quyền (UDHR, 1948) và Điều 22 Công ước quốc tế  
về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966). Tuy nhiên sự  
bảo vệ này chỉ giới hạn ở các nhóm hình thành vì mục đích  
“công” (public), còn các nhóm chỉ vì lợi ích riêng tư, chẳng  
hạn như nhóm gia đình, được bảo vệ bởi Điều 17 ICCPR.14  
Trong vụ việc P.S. kiện Đan Mạch (mã số 397/90), Ủy ban  
Nhân quyền LHQ (cơ quan giám sát việc thực thi ICCPR) đã  
kết luận rằng khiếu nại của người cha liên quan đến sự vi  
phạm quyền của mình được tụ họp (to associate) với con trai  
không làm phát sinh vấn đề liên quan đến Điều 22.  
2. Các yếu tố cơ bản của tự do hiệp hội  
Quyền tự do hiệp hội gồm ba cấu thành cơ bản là: 1)  
Quyền thành lập hội; 2) Quyền gia nhập hội; 3) Tự do hoạt  
động, điều hành các hội.  
___________________________  
13  
Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về tự do hội họp hòa bình và hiệp hội, Maina Kiai, 2012,  
A/HCR/20/27, đoạn 51.  
14 Sarah Joseph, ICCPR: Cases, Materials and Commentary, NXB ĐH Oxford, 2004, trang 575.  
18  
a. Quyền thành lập và gia nhập hội  
Điều 22 ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy định  
về quyền tự do hội họp trong Điều 20 UDHR. Khoản 1  
Điều 22 ICCPR xác định: Mọi người có quyền tự do hiệp hội  
với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công  
đoàn để bảo vệ lợi ích của mình. Từ nội dung đó, có thể thấy  
quyền này bao gồm cả ba khía cạnh: (i) thành lập ra các hội  
mới, (ii) gia nhập các hội đã có sẵn, và (iii) hoạt động, điều  
hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các  
nguồn kinh phí.  
Quyền thành lập và gia nhập các hội là nội dung chủ  
yếu của quyền tự do hiệp hội. Quyền này bao hàm cả  
quyền thành lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi  
ích của người lao động. Cũng cần lưu ý là quyền thành lập  
và gia nhập các công đoàn được bảo vệ cả trong ICCPR  
(Điều 22) và ICESCR (Điều 8).  
Trong khi thủ tục thành lập một hội có tư cách pháp  
nhân được quy định khác nhau trong pháp luật của các  
quốc gia, điều quan trọng là các cơ quan nhà nước giải  
quyết thủ tục một cách thiện chí, nhanh chóng và bình  
đẳng. Thủ tục này càng đơn giản, càng tiết kiệm thời gian  
và chi phí thì càng tốt. Một số ví dụ tốt đã được nhắc đến  
là việc thành lập hội không mất chi phí gì (ở Bungary), rất  
nhanh chóng (ở Nhật, việc nộp đơn có thể qua mạng  
Internet)... Chuyên gia của Liên Hợp Quốc khuyến nghị  
19  
rằng một “thủ tục thông báo” (cơ quan công quyền không  
thể từ chối) thì tốt hơn, phù hợp với luật nhân quyền hơn  
là một “thủ tục cho phép trước” (đòi hỏi phải có sự chấp  
thuận của cơ quan nhà nước để thiết lập một pháp nhân).15  
Trong thủ tục thông báo, các hội tự động được trao tư  
cách pháp nhân ngay khi nhà chức trách nhận được thông  
báo bởi các sáng lập viên rằng hội đã được lập ra. Tại hầu  
hết các quốc gia, việc thông báo này được thực hiện bằng  
văn bản, bao gồm một số nội dung thông tin mà luật yêu  
cầu rõ ràng, nhưng đây không phải là điều kiện cho sự tồn  
tại của một hội. Văn bản này cơ bản là một thông báo để  
các cơ quan thống kê có thông tin về hội. Hệ thống thông  
báo này đang được vận dụng ở nhiều quốc gia (Djibouti,  
Maroc, Bồ Đào Nha, Senegal, Thụy Sỹ, Urugoay...).16  
Trong lĩnh vực lao động, Công ước quốc tế về quyền tự  
do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức 1948 (Công ước 87 của  
Tổ chức Lao động thế giới - ILO), tại Điều 2, xác định mọi  
người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền  
thành lập và gia nhập các tổ chức mà họ tự lựa chọn mà  
không phải xin phép trước.  
Cả hai thủ tục thông báo và thủ tục cấp phép đều đòi  
hỏi sự nhanh chóng. Việc chậm trễ đăng ký, cấp phép cho  
một hội có thể coi là sự vi phạm quyền tự do hiệp hội.  
___________________________  
15 Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về tự do hội họp và hiệp hội, Maina Kiai, 2012, A/HCR/20/27,  
đoạn 58.  
16 Như trên.  
20  
Mặt khác, nếu từ chối đơn xin thành lập hội thì phải nêu  
rõ lý do và thông báo một cách rõ ràng cho chủ thể đứng  
đơn thành lập. Những cá nhân, tổ chức bị từ chối có  
quyền được khiếu nại, khiếu kiện ra trước một tòa án độc  
lập và không thiên vị. Ủy ban về Tự do Hiệp hội  
(Freedom of Association Committee) của ILO đã có phán  
quyết rằng: “Việc không thể đưa ra trước cơ quan tư  
pháp để xem xét hành động của một cơ quan Bộ từ chối  
cho phép thành lập một công đoàn là vi phạm các nguyên  
tắc tự do hiệp hội.”17  
Đồng thời với việc thành lập, các cá nhân có quyền gia  
nhập và rút lui (ra khỏi, rời bỏ) các hội. Tương tự, các hội  
có quyền ngưng hoạt động và tự giải tán. Tuy nhiên, việc  
các cơ quan nhà nước ngưng hoạt động và giải tán hội lại  
phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của luật.  
b. Quyền hoạt động tự do và được bảo vệ khỏi sự can  
thiệp vô lý  
Quyền hoạt động tự do của các hội tương ứng với nghĩa  
vụ của nhà nước trong việc tôn trọng, thực thi và bảo vệ  
quyền này. Luật nhân quyền quốc tế đòi hỏi nhà nước có  
nghĩa vụ thực thi các biện pháp chủ động và thụ động  
nhằm bảo đảm các quyền tự do căn bản của người dân,  
trong đó có quyền tự do hiệp hội.  
___________________________  
17 ILO, Digest of decision and principles of Freedom of Association Committee, 2006, đoạn 274 (dẫn  
theo Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về tự do hội họp và hiệp hội, Maina Kiai, 2012 , A/HCR/20/27,  
đoạn 61).  
21  
Ở mức tối thiểu, nhà nước phải kiềm chế không được  
can thiệp vào các hoạt động bình thường của hội. Trước  
hết, quy chế, điều lệ của các hội được tự quyết bởi các  
thành viên mà không có sự can thiệp của nhà nước. Quyền  
riêng tư của các hội cũng cần được bảo đảm, các cơ quan  
nhà nước không được thay đổi việc bầu chọn ban lãnh đạo  
của các hội, cử người của mình vào ban lãnh đạo hội, yêu  
cầu các hội nộp kế hoạch hoạt động hàng năm.18  
Các nguồn lực về tài chínhcó vai trò đặc biệt đối với  
việc duy trì hoạt động của các hội. Chuyên gia LHQ đã  
khẳng định “khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính là  
một thành tố trọng yếu của tự do hiệp hội”.19 Các  
khuyến nghị của LHQ đều hướng đến việc hạn chế các  
thủ tục phức tạp, mất thời gian với việc nhận tài trợ của  
các hội. Tự do hội họp, triển khai các dự án, hoạt động  
tại các địa bàn khác nhau cũng là thành tố quan trọng  
của tự do hiệp hội.  
Ở mức độ tích cực, nhiều quốc gia có các biện pháp hỗ  
trợ việc thành lập các hội như cung cấp địa điểm mở văn  
phòng, tài trợ tài chính trong giai đoạn đầu hoạt động...  
Nghĩa vụ chủ động đòi hỏi các nhà nước phải tạo dựng  
một môi trường thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động của  
___________________________  
18 Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về tự do hội họp và hiệp hội, Maina Kiai, 2012 , A/HCR/20/27,  
đoạn 65.  
19 Tên của Báo cáo thường niên năm 2013 của Báo cáo viên đặc biệt về tự do hội họp hòa bình và  
hiệp hội, Maina Kiai.  
22  
các hội đoàn. Các cá nhân thực thi quyền tự do hiệp hội  
không phải đối mặt với sự sợ hãi trở thành nạn nhân của  
sự dọa nạt, bôi nhọ, bắt bớ tùy tiện, đối xử vô nhân đạo  
hoặc hạn chế quyền đi lại...  
3. Giới hạn chính đáng đối với quyền tự do hiệp hội  
Giống như một số quyền con người khác như quyền tự  
do ngôn luận, quyền hội họp hòa bình... quyền tự do hiệp  
hội không phải là một quyền tuyệt đối. Các quốc gia có  
thể đưa ra những hạn chế trong việc thực hiện quyền này  
dựa trên những quy định của luật nhân quyền quốc tế,  
đặc biệt là Công ước về các quyền dân sự và chính trị  
(ICCPR, 1966).  
Khoản 2 Điều 22 ICCPR xác định: Việc thực hiện quyền  
này (quyền tự do hiệp hội) không bị hạn chế, trừ những hạn  
chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân  
chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng,  
và để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hay các  
quyền và tự do của người khác. Điều này không ngăn cản việc  
đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này  
đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và  
cảnh sát.  
Quyền tự do hiệp hội thuộc về mọi cá nhân, tức là mọi  
chủ thể, gồm cả trẻ em, người nước ngoài, người lao động  
di trú... Tuy nhiên, theo quy định trên, ICCPR cho phép  
giới hạn quyền này đối với những người làm việc trong  
23  
các lực lượng vũ trang và cảnh sát. Sự hạn chế này, được  
coi là phỏng theo Khoản 2 Điều 11 của Công ước nhân quyền  
châu Âu 1950,20 bắt nguồn từ nhận thức rằng nhiệm vụ  
hàng đầu của các lực lượng vũ trang là duy trì trật tự xã  
hội, cần có sự trung lập, tránh bị lôi cuốn vào các xung đột  
mang tính phe nhóm. Cũng vì lý do này mà một số quốc  
gia hạn chế cả quyền bầu cử, ứng cử của các thành viên lực  
lượng vũ trang.  
Theo khoản 2 Điều 22 nêu trên, việc giới hạn quyền tự  
do hiệp hội, tương tự như giới hạn quyền tự do hội họp  
tại Điều 21, chỉ có thể nhằm các mục đích: 1) Lợi ích an ninh  
quốc gia hoặc an toàn, trật tự công cộng; 2) Bảo vệ sức khỏe và  
đạo đức xã hội; và 3)Bảo vệ các quyền và tự do của người khác.  
Thực tế phổ biến là có những quốc gia thường lạm dụng  
việc viện dẫn những lý do này để hạn chế quyền tự do  
hiệp hội, cũng như nhiều quyền tự do khác của người  
dân. Để hạn chế sự lạm dụng tùy tiện như vậy, LHQ và  
các tổ chức bảo vệ nhân quyền đã thông qua một số văn  
kiện để xác định nội hàm của các khái niệm nêu trên,  
trong đó bao gồm Các nguyên tắc Siracusa về Giới hạn và  
đình chỉ các điều khoản trong Công ước quốc tế về các quyền  
dân sự và chính trị năm 1984, Các nguyên tắc Johannesburg về  
An ninh quốc gia, tự do biểu đạt và tiếp cận thông tin năm  
1995... Theo Đoạn 29 của Các nguyên tắc Siracusa, chỉ có  
___________________________  
20  
Manfred Nowak, UN Covenant on Civil and Political Rights: CCPR - Commentary, N.P.Engel  
Publisher, 2005, trang 508.  
24  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 123 trang Thùy Anh 7420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hội và tự do hiệp hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_hoi_va_tu_do_hiep_hoi.pdf