Phân tích hiệu quả đầu tư của tỉnh Thái Nguyên

Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN  
Bùi Thị Minh Hằng1, Nguyễn Thị Thanh Huyền2  
Tóm tắt  
Nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả đầu tư của tỉnh Thái Nguyên trong giai  
đoạn 2011-2020. Sử dụng số liệu thứ cấp công bố bởi Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, kết quả nghiên  
cứu cho thấy tổng vốn đầu tư thực hiện có xu hướng giảm dần trong thời gian gần đây. Nếu như trong  
nửa đầu giai đoạn, khu vực FDI chiếm tỷ trọng lớn thì nửa sau giai đoạn đóng góp của khu vực này ngày  
càng giảm cả về giá trị và tỷ trọng. Kết quả này trái ngược với khu vực ngoài nhà nước. Trong khi đó,  
vốn đầu tư có sự mất cân đối theo ngành do chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo.  
Sử dụng hệ số gia tăng vốn-sản lượng ICOR để đánh giá hiệu quả đầu tư, kết quả cho thấy hiệu quả đầu  
tư của tỉnh có xu hướng cải thiện. Xét theo từng khu vực kinh tế thì khu vực ngoài nhà nước duy trì được  
sự ổn định tốt nhất trong 10 năm qua, trong khi đó hiệu quả đầu tư của khu vực FDI mới đạt được khi  
Samsung kết thúc quá trình giải ngân vốn, và khu vực nhà nước đang dần được cải thiện trong những  
năm gần đây. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đã đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu  
quả đầu tư của tỉnh và từng khu vực kinh tế trong thời gian tới.  
Từ khóa: Hiệu quả đầu tư; Tăng trưởng kinh tế; Phát triển; Hệ số ICOR; tỉnh Thái Nguyên.  
AN ANALYSIS OF INVESTMENT EFFICIENCY OF THAI NGUYEN PROVINCE  
Abstract  
This paper aims to analyze the current status and evaluate the investment efficency of Thai Nguyen  
province over the period from 2011 to 2020. Using secondary data published by Thai Nguyen Statistics  
Office, the results show that investment tends to decrease in recent years. As in the first half of the period,  
FDI sector accounted for a large proprotion of total investment; however, the contribution of this sector  
decreased both in value and in proportion in the second half of the period. The results of non-state sector  
were in contrast. Meanwhile, there existed an imbalance of investment by economic activity due to the  
main focus on manufacturing. Using Incremental Capital Output Ratio (ICOR) to evaluate investment  
efficiency, the results reveal that Thai Nguyen’s investment efficiency tends to improve. By economic  
sector, we also find that the non-state sector has maintained the most stable investment during the last  
decade, while the investment efficiency of FDI sector was only achieved when the project of Samsung  
finished its capital implementation process, and that of the State sector has been gradually improved in  
recent years. This paper also proposes several recommendations to improve investment efficiency of the  
province in the coming time.  
Keywords: Investment Efficiency; Economic Growth; Development; ICOR; Thai Nguyen province.  
JEL classification: E22, F21.  
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau này chỉ ra  
rằng nếu chỉ dựa vào mô hình Harrod-Domar để  
khẳng định hiệu quả đầu tư của một nền kinh tế  
thì chưa đủ. Theo Robinson (1962), nếu như tốc  
độ tăng trưởng được xác định bằng tỷ lệ giữa tiết  
kiệm và hệ số gia tăng vốn - sản lượng, thì tốc độ  
tăng trưởng này bị tác động bởi điều kiện khoa học  
kỹ thuật và tỷ lệ tiết kiệm, chứ không phải do đầu  
tư hiệu quả. Lý thuyết đường cong S về tích lũy tư  
bản (S-Curve) của Lim (1996, 2004) cũng cho  
rằng tác động của tích lũy tư bản đến tăng trưởng  
kinh tế còn phụ thuộc vào mức độ phát triển của  
nền kinh tế đó. Trong lý thuyết này, Lim đã chỉ ra  
rằng khi nền kinh tế đang ở giai đoạn chậm phát  
triển với đặc trưng thiếu vốn và dư thừa lao động  
thì hệ số ICOR thấp. Ngoài ra, đầu tư trực tiếp  
nước ngoài sẽ rất thấp do thiếu vắng các chính  
sách khuyến khích đầu tư, đồng thời tỷ lệ giữa vốn  
và sản lượng sẽ là thước đo phản ánh mức độ sử  
dụng lao động nhiều hay ít trong nền kinh tế đó.  
1. Đặt vấn đề  
Vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế  
đã được khẳng định cả trong lý thuyết và thực tiễn.  
Đặt nền móng về mối quan hệ giữa tăng trưởng  
kinh tế và tích lũy tư bản là hai nhà kinh tế học  
Harrod và Domar. Trong nghiên cứu của Harrod  
và Domar (1948), tăng trưởng kinh tế và tốc độ  
tăng trưởng được xác định bằng tỷ lệ giữa tiết  
kiệm với hệ số gia tăng vốn - sản lượng  
(Incremental Capital Output Ratio - ICOR), đồng  
thời hệ số ICOR phản ánh hiệu quả đầu tư của nền  
kinh tế. Mặc dù mối quan hệ này được diễn đạt  
bằng phương trình tương đối đơn giản nhưng rất  
nhiều học giả kế thừa, thảo luận và bổ sung các  
hướng nghiên cứu đánh giá hiệu quả đầu tư. Tiếp  
nối nghiên cứu của Harrod và Domar, các nghiên  
cứu của Solow (1956), Swan (1956), cũng khẳng  
định vai trò của tích lũy tư bản trong tăng trưởng  
kinh tế, đồng thời khẳng định điều kiện cần thiết  
để tăng trưởng là tích lũy tư bản.  
67  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển nhanh, môi  
trường kinh doanh được cải thiện và chi phí lao  
động rẻ là những yếu tố thu hút các nhà đầu tư  
trong nước và nước ngoài. Ở giai đoạn phát triển  
cuối cùng, nền kinh tế vẫn tiếp tục tích lũy tư bản  
nhưng do chi phí sản xuất nội địa cao cùng với tốc  
độ tăng trưởng vốn chậm lại nên dòng vốn sẽ đẩy  
sang nước kém phát triển hơn. Chính vì vậy, khi  
đánh giá hiệu quả đầu tư của nền kinh tế, bên cạnh  
chỉ số ICOR vốn dĩ được coi như tiêu chí đầu tiên  
để phân tích, thì mức độ phát triển kinh tế và mức  
độ đầu tư cho khoa học kỹ thuật cũng là căn cứ  
quan trọng cần đề cập tới.  
nghệ cao của Tập đoàn Samsung tại khu công  
nghiệp Yên Bình – Phổ Yên vào năm 2013 (Vũ  
Thành Tự Anh & cộng sự, 2020; Nguyễn Thị Thu  
Thương, 2020). Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh  
bình quân đầu người đạt 88,7 triệu đồng năm 2020.  
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cũng trong năm  
này xếp hạng 11/63 tỉnh thành cả nước (VCCI &  
USAID, 2021). Nhờ đẩy mạnh thu hút đầu tư, cải  
cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường  
kinh doanh, hoạt động đầu tư phát triển của tỉnh đã  
có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh  
tế chung của tỉnh (Nguyễn Thị Thanh Huyền,  
2020). Mặc dù nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tăng  
trưởng kinh tế, đầu tư, xuất - nhập nhẩu của Thái  
Nguyên phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu  
tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên lại thiếu vắng  
nghiên cứu so sánh và đánh giá hiệu quả đầu tư của  
khu vực này với các khu vực kinh tế khác của tỉnh,  
cũng như phân tích hiệu quả đầu tư của tỉnh trong  
thời gian qua. Vì vậy, nghiên cứu này không chỉ  
phân tích bức tranh tổng thể về hoạt động đầu tư  
phát triển của tỉnh Thái Nguyên mà còn đánh giá  
hiệu quả đầu tư và so sánh hiệu quả đầu tư của từng  
khu vực kinh tế đặt trong bối cảnh phát triển kinh  
tế xã hội của tỉnh trong một thập kỷ qua.  
Đứng từ góc độ quản lý nhà nước ở Việt  
Nam, có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả đầu  
tư ở cấp độ quốc gia và địa phương. Diệp Gia Luật  
(2015) sử dụng mô hình ARDL để phân tích chất  
lượng và hiệu quả đầu tư ở Việt Nam trong giai  
đoạn 2005-2012. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm  
cho thấy hiệu quả đầu tư vào giáo dục, viễn thông  
và giao thông vận tải là rõ rệt khi nghiên cứu  
chứng minh tác động tích cực của nội dung đầu tư  
này đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nghiên  
cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả đầu tư ở Việt Nam  
còn nhiều hạn chế như sử dụng vốn đầu tư công  
dàn trải, đầu tư của khu vực tư nhân bị lấn át,  
nhiều dự án đầu tư công chưa mang lại lợi ích như  
kỳ vọng. Trong khi đó, Đinh Tuấn Minh và Tô  
Trung Thành (2012) sử dụng lý thuyết ủy thác-đại  
diện để lý giải nguyên nhân yếu kém trong đầu tư  
công ở Việt Nam, từ đó đề xuất cần xem xét lại cơ  
chế quản trị đầu tư công hiện nay. Ở phạm vi địa  
phương, Nguyễn Thị Bích Hạnh (2019) phân tích  
hiệu quả đầu tư của tỉnh Phú Thọ và cho thấy hiệu  
quả đầu tư của tỉnh còn ở mức tương đối thấp so  
với mức trung bình của cả nước. Nguyên nhân chủ  
yếu do quy mô kinh tế của tỉnh chỉ ở mức trung  
bình, tích lũy đầu tư từ nội bộ nền kinh tế còn hạn  
chế. Tại Cần Thơ, Mai Văn Nam (2008) cũng chỉ  
ra rằng mặc dù thành phố tập trung phát triển công  
nghiệp và thương mại – dịch vụ nhưng hiệu quả  
đầu tư của thành phố chưa cao, đầu tư còn dàn trải.  
Hệ số ICOR của Cần Thơ cũng rất thấp, thậm chí  
ICOR ngành công nghiệp và nông ngihệp mang  
giá trị âm trong nhiều năm. Nghiên cứu cho rằng  
việc đưa ra những chính sách ưu đãi thu hút và cải  
thiện môi trường đầu tư, đầu tư trọng tâm trọng  
điểm là những biện pháp ưu tiên nhằm đẩy mạnh  
thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của địa  
phương này.  
Nghiên cứu này được kết cấu thành bốn phần.  
Sau phần đặt vấn đề với tổng quan một số nghiên  
cứu trong và ngoài nước về hiệu quả đầu tư, phần  
phương pháp nghiên cứu mô tả phương pháp và các  
tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư. Phần kết quả  
nghiên cứu cung cấp bức tranh tổng thể về tình hình  
đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và  
phân tích hiệu quả đầu tư của tỉnh. Cuối cùng là kết  
luận và kiến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu  
quả đầu tư của tỉnh trong thời gian tới.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Để đánh giá hiệu quả đầu tư trên địa bàn tỉnh  
Thái Nguyên, chúng tôi sử dụng hệ số ICOR. Đây  
là chỉ tiêu cơ bản được nhiều nghiên cứu sử dụng  
để phân tích hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, chúng  
tôi sử dụng các chỉ tiêu khác phản ánh hiện trạng  
đầu tư, mức độ đầu tư so với quy mô kinh tế của  
tỉnh (tỷ lệ giữa vốn đầu tư so với GRDP) trong bức  
tranh tổng thể về phát triển kinh tế của tỉnh trong  
thời gian qua.  
Cụ thể, hệ số ICOR được xác định bằng tỷ lệ  
giữa vốn đầu tư thực hiện trong kỳ so với mức tăng  
giá trị GRDP trên địa bàn tỉnh trong kỳ nghiên cứu  
tương ứng. Hệ số này cho biết cần bao nhiêu đồng  
vốn đầu tư thực hiện tăng thêm để tăng một đồng  
tổng sản phẩm trên địa bàn. Cụ thể như sau:  
Là một tỉnh thuộc khu vực trung du miền núi  
phía Bắc, Thái Nguyên đạt được kết quả tăng  
trưởng kinh tế vượt bậc trong những năm gần đây,  
đặc biệt là sau khi thu hút được dự án Tổ hợp công  
퐼
퐼
푡
퐼퐶푂푅 =  
=
(1)  
∆퐺푅퐷푃  
퐺푅퐷푃 −퐺푅퐷푃  
푡 푡−1  
68  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
Phương pháp số tương đối cũng có thể được  
áp dụng bằng cách chia cả tử và mẫu của (1) cho  
GRDP để xác định ICOR theo tốc độ tăng trưởng  
GRDP. Như vậy, hệ số ICOR cũng cho biết để  
tăng 1% GRDP thì cần tăng bao nhiêu phần trăm  
vốn đầu tư.  
không còn gây tác động đột biến như trong những  
năm đầu nữa (Vũ Thành Tự Anh & cộng sự,  
2020). Bên cạnh đó, số lượng các công trình trọng  
điểm có yếu tố vốn nước ngoài trên địa bàn tỉnh  
không nhiều khiến tỷ trọng vốn của khu vực FDI  
đã giảm mạnh từ 76,6% năm 2015 xuống 30%  
năm 2019 và chỉ còn 28,1% năm 2020.  
퐼 /퐺푅퐷푃  
푡
푡
퐼퐶푂푅 =  
(2)  
푇ố푐 độ 푡ă푛푔 퐺푅퐷푃  
Số liệu cũng cho thấylượng vốn đầu tư của  
khu vực Nhà nước trên địa bàn tỉnh không có sự  
biến động mạnh, duy trì xu hướng tăng đều từ từ  
3,9 nghìn tỷ (2013) lên 7,7 nghìn tỷ (2020). Cơ  
cấu vốn của khu vực Nhà nước trong tổng vốn đầu  
tư phát triển chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn, đặc biệt  
là từ năm 2014 trở lại đây. Tuy nhiên nếu tính tỷ  
lệ vốn đầu tư phát triển bình quân mỗi doanh  
nghiệp theo từng khu vực, lượng vốn đầu tư bình  
quân khối doanh nghiệp Nhà nước ở mức khá cao  
(Bảng 2). Mặc dù chỉ có khoảng 30 doanh nghiệp  
Nhà nước đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Thái  
Nguyên nhưng tỷ lệ vốn đầu tư cho các doanh  
nghiệp này tương đối lớn.  
Trong khi đó, trái với xu hướng giảm dần của  
khu vực FDI, lượng vốn đầu tư phát triển của khu  
vực ngoài nhà nước ngày càng tăng mạnh, đặc biệt  
kể từ khi tuyến đường cao tốc Hà Nội – Thái  
Nguyên bắt đầu được đầu tư. Thậm chí, đầu tư của  
khu vực này còn vượt khu vực FDI từ năm 2019  
cả về giá trị (trên 22 nghìn tỷ) và tỷ trọng (54,5%).  
Sự tăng trưởng này nhờ đóng góp từ vốn của dân  
cư (33,6%) và doanh nghiệp (20,9%) trên địa bàn  
tỉnh. Sự gia tăng cả về giá trị và tỷ trọng có thể  
được giải thích bởi số lượng các doanh nghiệp  
ngoài Nhà nước được thành lập mới ngày càng  
tăng trong những năm gần đây, khi chính quyền  
tỉnh có nhiều thay đổi trong cơ chế chính sách hỗ  
trợ thành lập doanh nghiệp mới và tạo điều kiện  
thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong nước.  
Số liệu về vốn đầu tư thực hiện và tổng sản  
phẩm trên địa bàn tỉnh được tính theo giá so sánh  
2010. Số liệu được lấy từ Niên giám Thống kê các  
năm từ 2011 đến 2020 do Cục Thống kê tỉnh Thái  
Nguyên công bố.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1.Thực trạng vốn đầu tư phát triển  
Thực trạng vốn đầu tư phát triển của tỉnh  
Thái Nguyên trong giai đoạn 2011-2020 được thể  
hiện trong Bảng 1. Số liệu thống kê cho thấy tổng  
vốn đầu tư phát triển của tỉnh có xu hướng tăng  
mạnh, từ 14,9 nghìn tỷ năm 2011 lên mức cao nhất  
88,91 nghìn tỷ đồng vào năm 2015. Tuy nhiên từ  
2016, tỉnh không duy trì được xu hướng tăng này  
mà thay vào đó là xu hướng giảm dần, chỉ còn  
41,3 nghìn tỷ vào năm 2020. Giá trị cao kỷ lục vào  
năm 2015 được lý giải bởi khu vực kinh tế có vốn  
đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Cụ thể, từ năm  
2013 vốn đầu tư của khu vực FDI có sự tăng  
trưởng mạnh mẽ khi Tập đoàn Samsung đầu tư  
xây dựng nhà máy Samsung chuyên sản xuất điện  
thoại di động và các sản phẩm điện tử công nghệ  
cao. Hoạt động đầu tư của Samsung đã đẩy lượng  
vốn khu vực FDI tăng mạnh cả về giá trị và tỷ lệ  
đóng góp, đồng thời cũng làm cho tổng vốn đầu  
tư phát triển tỉnh Thái Nguyên tăng mạnh. Đến  
năm 2015, khi Dự án này kết thúc quá trình giải  
ngân vốn thì tổng vốn đầu tư phát triển của tỉnh  
đạt 88,9 nghìn tỷ đồng. Như vậy, tổ hợp đầu tư  
của Samsung khi đã đạt công suất thiết kế thì  
Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển của tỉnh Thái Nguyên  
Giá trị (Tỷ đồng)  
Cơ cấu (%)  
Tổng vốn đầu tư phát  
triển (Tỷ đồng)  
14.910,0  
13.260,2  
30.915,7  
52.917,8  
88.907,6  
53.236,1  
58.959,9  
Năm  
2011  
KVNN  
6.334,3  
4.219,0  
3.875,3  
4.928,4  
4.286,8  
4.196,5  
4.391,1  
6.402,1  
6.267,7  
7.720,0  
KVNNN  
8.096,1  
KVFDI  
479,6  
KVNN  
42,5  
31,8  
12,5  
9,3  
4,8  
7,9  
7,4  
KVNNN KVFDI  
54,3  
66,5  
47,5  
16,6  
18,6  
33,0  
33,0  
39,3  
54,5  
53,2  
3,2  
1,7  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
8.821,2  
220,0  
14.697,3  
8.790,1  
12.343,0  
39.199,3  
68.085,4  
31.451,5  
35.113,1  
20.968,8  
12.116,8  
11.598,3  
39,9  
74,1  
76,6  
59,1  
59,6  
46,5  
30,0  
28,1  
16.535,4  
17.588,1  
19.455,7  
17.751,0  
22.047,8  
21.984,4  
45.121,9  
40.423,2  
41.302,7  
14,2  
15,5  
18,7  
Ghi chú: KVNN = Khu vực nhà nước; KVNNN = Khu vực ngoài nhà nước; KVFDI = Khu vực FDI.  
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2011-2020.  
69  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
Bảng 2: Tỷ lệ vốn đầu tư bình quân mỗi doanh nghiệp  
Số doanh nghiệp theo loại hình  
Tỷ lệ VĐT/DN (Tỷ đồng/DN)  
Năm  
Nhà nước  
Ngoài NN  
1.987  
1.981  
2.046  
1.970  
1.984  
2.095  
2.783  
3.311  
3.529  
3.646  
FDI  
Nhà nước  
Ngoài NN  
4,1  
FDI  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
31  
30  
29  
30  
29  
30  
30  
29  
25  
26  
10  
13  
204,3  
140,6  
133,6  
164,3  
147,8  
139,9  
146,4  
220,8  
250,7  
296,9  
48,0  
16,9  
4,5  
15  
7,2  
822,9  
2063,1  
1745,8  
593,4  
433,5  
194,2  
118,8  
117,2  
19  
4,5  
39  
8,3  
53  
8,4  
81  
7,0  
108  
102  
99  
5,4  
6,2  
6,0  
Ghi chú: VĐT = Vốn đầu tư; DN = Doanh nghiệp.  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2011-2020.  
Số liệu Bảng 3 cho thấy khi phân theo khoản  
mức vốn FDI cao nhất. Trong những năm tiếp  
theo, dù lượng vốn có xu hướng giảm nhưng đầu  
tư XDCB luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các  
khoản mục đầu tư khác. Lượng vốn đầu tư mua  
sắm tài sản cố định (TSCĐ) không qua XDCB  
chiếm khoảng 9-18% dao động theo từng năm, và  
vốn đầu tư sửa chữa nâng cấp TSCĐ, bổ sung vốn  
lưu động chiếm tỷ lệ không đáng kể.  
mục đầu tư, trong cả giai đoạn 2011-2020 đầu tư  
trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào xây dựng  
cơ bản (XDCB), gồm xây mới, mở rộng hoặc cải  
tạo cơ sở sản xuất kinh doanh và mua sắm lắp đặt  
máy móc thiết bị. Năm 2015, lượng vốn đầu tư  
XDCB đạt mức cao nhất là 70,9 nghìn tỷ, chiếm  
79,8% tổng vốn đầu tư thực hiện; đây cũng là năm  
Bảng 3: Vốn đầu tư phát triển phân theo khoản mục (Đơn vị tính: Tỷ đồng)  
Trong đó  
Sửa chữa,  
TSCĐ không nâng cấp  
Tổng  
vốn đầu tư  
phát triển  
Mua sắm  
Bổ sung  
vốn lưu  
động  
Năm  
Đầu tư  
XDCB  
Đầu tư  
khác  
qua XDCB  
2.926,9  
(19,6)  
TSCĐ  
726,2  
(4,9)  
14.910,0  
(100)  
9.396,8  
(63,0)  
1.219,5  
(8,2)  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
-
-
-
13.260,2  
(100)  
30.915,7  
(100)  
52.917,8  
(100)  
88.907,6  
(100)  
53.236,1  
(100)  
58.959,9  
(100)  
45.121,9  
(100)  
40.423,3  
(100)  
8.571,6  
(64,6)  
19.679,2  
(63,7)  
48.223,5  
(91,1)  
70.918,5  
(79,8)  
35.504,2  
(66,7)  
30.044,1  
(51,0)  
36.935.4  
(81,9)  
32.607,9  
(80,7)  
1.949,1  
(14,7)  
2.785,3  
(17,9)  
2.805,0  
(5,3)  
9.837,6  
(11,1)  
5.750,1  
(10,8)  
6.342,6  
(10,7)  
4.012,2  
(8,9)  
3.533,3  
(8,7)  
545,2  
(4,1)  
956,3  
(4,2)  
911,2  
(1,7)  
1.182,1  
(1,3)  
585,1  
(1,1)  
3.357,5  
(5,7)  
2.852,6  
(6,3)  
2.670,1  
(6,6)  
1.828,8  
(13,8)  
6.254,4  
(11,6)  
544,1  
(1,0)  
5.951,6  
(6,7)  
11.194,5  
(21,0)  
19.051,7  
(32,3)  
1.262,7  
(2,8)  
1.607,1  
(4,0)  
1.519,4  
(3,7)  
434,0  
(0,8)  
1.017,8  
(1,1)  
202,2  
(0,4)  
163,9  
(0,3)  
59,0  
(0,1)  
13,9  
(0,0)  
19,8  
41.302,7  
(100)  
26.053,8  
(63,1)  
7.024,9  
(17,0)  
6.684,7  
(16,2)  
(0,0)  
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc đơn thể hiện tỷ trọng, đơn vị %.  
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2011-2020.  
tổng khối lượng vốn đầu tư toàn tỉnh trong những  
năm từ 2014 đến 2016 (Bảng 4). Điểm đáng lưu ý  
là công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng lớn  
nhất trong lĩnh vực công nghiệp chủ yếu do hoạt  
động đầu tư điện, điện tử của tập đoàn Samsung.  
Số liệu thống kê cũng cho thấy giá trị và tỷ  
trọng vốn đầu tư phát triển có sự mất cân đối rõ  
rệt và tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp và  
xây dựng. Giá trị và tỷ trọng của vốn đầu tư của  
ngành công nghiệp và xây dựng chiếm trên 80%  
70  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
Vốn đầu tư từ các hoạt động khai khoáng, sản xuất  
và phân phối điện, cung cấp nước và xây dựng chỉ  
chiếm tỷ lệ nhỏ. Ngành dịch vụ có sự tăng trưởng  
cả về giá trị và tỷ trọng do tập trung phát triển các  
dịch vụ hỗ trợ ngành công nghiệp và giao thông  
vận tải. Trong khi đó, lĩnh vực nông lâm thủy sản  
chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, hầu như không đáng kể.  
Bảng 4: Vốn đầu tư phát triển phân theo khu vực kinh tế (Đơn vị tính: Tỷ đồng)  
Công nghiệp và xây dựng  
Nông, lâm nghiệp và  
thủy sản  
Trong đó,  
Công nghiệp chế  
biến, chế tạo  
Năm  
Dịch vụ  
Tổng số  
Giai đoạn  
2011-2013  
2014  
2.101,1  
(4,9)  
18.839,7 (44,3)  
-
21.609,5 (50,8)  
441,7 (0,8)  
508,3 (0,6)  
519,6 (1,0)  
769,4 (1,3)  
1.485,7 (3,3)  
1.215,5 (3,1)  
1251,3 (3,0)  
45.223,8 (85,5)  
76.735,7 (86,3)  
43.438,5 (81,6)  
42.181,4 (71,5)  
28.166,5 (62,4)  
20.410,0 (50,5)  
21.053,0 (51,0)  
43.399,1 (82,0)  
71.821,4 (80,8)  
35.811,4 (67,3)  
39.658,5 (67,3)  
25.148,7 (55,7)  
17.243,2 (42,6)  
17.980,1 (43,5)  
7.252,3 (13,7)  
11.662,6 (13,1)  
9.278,0 (17,4)  
16.009,1 (27,2)  
15.469,7 (34,3)  
18.806,8 (46,5)  
18.998,4 (46,0)  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc đơn thể hiện tỷ trọng, đơn vị %. “-” Không có thông tin.  
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên  
số này giảm mạnh xuống chỉ còn 4,58 và có sự  
biến động nhẹ qua từng năm kể từ 2014 đến nay.  
Tuy nhiên, do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch  
Covid-19 khiến nhiều công trình, dự án chưa phát  
huy được tác dụng như kỳ vọng nên hệ số ICOR  
của tỉnh tăng lên 8,4 vào năm 2020, hơn 4 đơn vị  
so với năm 2019. Bình quân giai đoạn 2016-2020  
hệ số ICOR của Thái Nguyên đạt 5,68, thấp hơn  
nhiều so với hệ số 7,65 trong giai đoạn 2011-2015.  
Kết quả này cũng phản ánh xu hướng sử dụng vốn  
đầu tư trên địa bàn tỉnh ngày càng hiệu quả hơn  
trong một thập kỷ qua.  
3.2. Hiệu quả đầu tư của tỉnh Thái Nguyên  
Hiệu quả đầu tư phát triển tỉnh Thái Nguyên  
trong giai đoạn 2011-2020 được phân tích qua hệ  
số ICOR và tỷ lệ đầu tư so với GRDP. Kết quả  
tính toán cho thấy hệ số ICOR của tỉnh Thái  
Nguyên tăng mạnh từ 6,02 năm 2011 lên mức cao  
nhất là 14,42 năm 2013 (Hình 1). Hệ số ICOR cao  
trong trường hợp được giải thích bởi lượng vốn  
đầu tư 2 tỷ đô-la Mỹ của Samsung vào dự án Tổ  
hợp công nghệ cao và tập trung chủ yếu vào đầu  
tư xây dựng cơ bản, khiến tổng lượng vốn đầu tư  
phát triển của Thái Nguyên tăng từ 13,2 nghìn tỷ  
năm 2012 lên 30,9 nghìn tỷ năm 2013. Sau đó hệ  
160.0%  
16.0  
14.0  
12.0  
10.0  
14.4  
140.0%  
133.7%  
120.0%  
100.0%  
80.0%  
60.0%  
40.0%  
20.0%  
0.0%  
104.6%  
8.4  
8.0  
6.0  
4.0  
2.0  
0.0  
7.9  
68.4%  
67.3%  
82.1%  
5.4  
6.0  
48.1%  
4.8  
6.0  
4.4  
34.3%  
4.6  
4.9  
45.1%  
38.2%  
36.3%  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
ICOR Thái Nguyên  
Tỷ lệ Vốn đầu tư/GRDP  
Hình 1. Hệ số ICOR tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2019, giá so sánh 2010  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả.  
phí trong sử dụng nguồn vốn Nhà nước. Sau đó,  
hệ số này có xu hướng giảm trong những năm gần  
đây, phản ánh hiệu quả đầu tư của khu vực nhà  
nước đang dần được cải thiện, ngoại trừ năm 2014  
với giá trị -3,2. Về mặt lý thuyết, hệ số ICOR phản  
ánh để tăng một đơn vị tổng sản phẩm trên địa bàn  
thì cần bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư. Giá trị âm của  
hệ số ICOR cũng phản ánh nghịch lý trong hiệu  
Đánh giá hiệu quả đầu tư theo khu vực sản  
xuất, hệ số ICOR của khu vực nhà nước, ngoài nhà  
nước và khu vực FDI tại tỉnh Thái Nguyên đều có  
sự biến động (Bảng 5). Đối với khu vực Nhà nước,  
ICOR tăng từ 3,7 năm 2011 lên mức cao nhất là  
11,2 vào năm 2013. Điều này được giải thích bởi  
hệ quả của hoạt động đầu tư dàn trải, thiếu trọng  
tâm trọng điểm dẫn tới tình trạng thất thoát và lãng  
71  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
quả đầu tư khivốn đầu tư thực hiện (giá so sánh)  
của khu vực Nhà nước tăng từ 2,96 nghìn tỷ năm  
2013 lên 3,64 nghìn tỷ năm 2014 nhưng đóng góp  
của khu vực này trong giá trị GRDP tỉnh Thái  
Nguyên lại giảm từ 11,62 nghìn tỷ xuống còn  
10,47 nghìn tỷ. Trong những năm gần đây, các  
chính sách thắt chặt chi tiêu công cùng với tăng  
cường kiểm tra giám sát, công khai và minh bạch  
việc đầu tư từ nguồn vốn nhà nước đã góp phần  
nâng cao hiệu quả đầu tư của khu vực này.  
Trong khi đó, hoạt động đầu tư khu vực ngoài  
nhà nước lại có xu hướng ngày càng tốt cả về hiệu  
quả và mức độ đóng góp vào GRDP trong cả giai  
đoạn 2011-2020. Kết quả tính toán cho thấy giá trị  
hệ số ICOR của khu vực này giảm dần trong thời  
gian gần đây, từ 9,3 năm 2015 xuống 5,9 năm  
2019. Tức là để tạo ra một đơn vị tăng trưởng thì  
số đơn vị vốn đầu tư cần thiết ở khu vực này đã  
giảm từ 9,3 xuống còn 5,9. Điều này cho thấy sự  
cải thiện về hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp  
ngoài nhà nước và khu vực dân cư trên địa bàn  
tỉnh Thái Nguyên.  
Đối với khu vực FDI, hệ số ICOR có sự biến  
động mạnh trong ba năm đầu. Cụ thể, hệ số mang  
giá trị âm trong hai năm 2011 và 2012, phản ánh  
sự gia tăng vốn đầu tư thực hiện nhưng lại sụt  
giảm về đóng góp trong GRDP. Đến năm 2013,  
do lượng vốn FDI cao đột biến nên hệ số ICOR  
của khu vực này tăng vọt lên 304,7. Sự ổn định  
trong hiệu quả đầu tư của khu vực này chỉ dần đạt  
được kể từ năm 2014 đến nay khi hoạt động đầu  
tư XDCB của Tập đoàn Samsung tại Thái Nguyên  
đã hoàn thành. Xu hướng giảm dần đều về giá trị  
của hệ số ICOR, từ 7,0 năm 2016 xuống còn 2,6  
năm 2019 đã phản ánh tốc độ tiến bộ công nghệ,  
sự chuyên nghiệp và kỹ năng quản lý của các  
doanh nghiệp FDI ngày càng cao, từ đó dẫn tới  
hiệu quả đầu tư của khu vực này ngày càng cao và  
là tốt nhất so với khu vực nhà nước và khu vực  
ngoài nhà nước.  
Bảng 5: Hệ số ICOR tỉnh Thái Nguyên theo khu vực kinh tế, giá so sánh 2010  
Khu vực  
Nhà nước  
Ngoài nhà nước 11,5  
FDI -38,8  
2011  
3,7  
2012  
7,8  
8,3  
-9,3  
2013  
11,2  
8,6  
304,7  
2014  
-3,2  
2,2  
4,4  
2015  
6,7  
9,3  
5,1  
2016  
4,2  
3,5  
7,0  
2017  
6,4  
8,0  
5,4  
2018  
7,8  
5,2  
4,3  
2019  
2020  
9,2  
8,1  
6,8  
5,9  
2,6  
9,1  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả  
không thể không kể đến vai trò đầu tư của Tập  
đoàn Samsung. Tuy nhiên, nếu số liệu thống kê có  
sự bóc tách lượng vốn đầu tư do Samsung trong  
tổng vốn đầu tư phát triển trong từng năm thì việc  
đánh giá hiệu quả đầu tư của các lĩnh vực kinh tế  
khác sẽ rõ ràng hơn. Bên cạnh đó, phân tích hiệu  
quả đầu tư cho thấy hoạt động đầu tư phát triển  
của tỉnh Thái Nguyên còn phụ thuộc rất nhiều vào  
khối doanh nghiệp FDI. Trong khi đó, hiệu quả  
đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã  
chứng minh rằng khu vực này cần có sự quan tâm  
về mặt cơ chế chính sách nhằm khuyến khích đầu  
tư hơn nữa để đảm bảo vai trò đầu tư nước ngoài  
là quan trọng, đầu tư trong nước là quyết định tới  
tăng trưởng và phát triển kinh tế của địa phương.  
Kết quả phân tích cho thấy, để nâng cao hiệu  
quả đầu tư nói chung và đảm bảo sự cân bằng giữa  
đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài trên địa bàn  
thì tỉnh Thái Nguyên cần thực hiện đồng bộ nhiều  
giải pháp. Thứ nhất, tăng cường thu hút đầu tư từ  
các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế không chỉ từ  
Hàn Quốc mà cả các quốc gia khác, đặc biệt là  
trong bối cảnh các cơ hội đầu tư và chính sách ưu  
đãi đầu tư của tỉnh đã dần bão hòa. Hiện nay, có  
một số đối tác đến từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng  
Kông, Nhật Bản và một số quốc gia khác đang thực  
nhiện các dự án trên địa bàn tỉnh bên cạnh Hàn  
Quốc (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2020). Tuy  
nhiên so với tiềm năng, cơ hội của tỉnh thì số lượng  
4. Kết luận và đề xuất giải pháp  
Kết quả phân tích bức tranh tổng thể về đầu  
tư phát triển và hiệu quả đầu tư phát triển tỉnh Thái  
Nguyên trong giai đoạn 2011-2020 có thể rút ra  
một số kết luận sau:  
Thứ nhất, hoạt động đầu tư của tỉnh Thái  
Nguyên có những kết quả đáng ghi nhận cả về giá  
trị và mức độ đóng góp đối với tăng trưởng và phát  
triển kinh tế của tỉnh, tuy nhiên tổng vốn đầu tư  
toàn tỉnh có xu hướng giảm dần trong những năm  
gần đây. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp  
nước ngoài có sự tăng trưởng mạnh nhờ hoạt động  
đầu tư của ngành công nghiệp trong giai đoạn từ  
năm 2013 đến 2015. Hoạt động đầu tư của ngành  
công nghiệp chế biến chế tạo,có sự tăng trưởng  
vượt bậc và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Trong khi đó,  
đầu tư vào nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ,  
hầu như không đáng kể.  
Thứ hai, hiệu quả hoạt động đầu tư của tỉnh  
có xu hướng ổn định dần trong những năm gần  
đây khi các dự án đầu tư đã dần ổn định đi vào quá  
trình sản xuất. Khi phân tích hiệu quả đầu tư thì  
khu vực ngoài nhà nước có sự chuyển biến tích  
cực và đồng đều nhất. Hiệu quả đầu tư của khu  
vực FDI dần ổn định sau khi kết thúc quá trình giải  
ngân vốn đầu tư của Samsung. Trong khi đó, hiệu  
quả đầu tư của khu vực nhà nước là thấp nhất.  
Thứ ba, có thể nhận thấy đóng góp vào quá  
trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của tỉnh  
72  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUꢀN TRỊ KINH DOANH SỐ 18 (2021)  
dự án FDI và mức độ đa dạng quốc tịch của các đối  
tác nước ngoài vẫn chưa cao, đặc biệt trong bối  
cảnh hội nhập và mở cửa kinh tế. Thứ hai, ban hành  
các chính sách ưu đãi đầu tư hỗ trợ cho nhóm các  
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà  
nước, bao gồm các loại hình doanh nghiệp, công ty  
trách nhiệm hữu hạn. Các chính sách ưu đãi đầu tư  
cần ưu tiên phát triển nông nghiệp, nhất là nông  
nghiệp công nghệ cao nhằm giảm sự mất cân đối  
trong đầu tư theo ngành. Đồng thời, tỉnh cần  
khuyến khích phát triển các doanh nghiệp quy mô  
lớn, vươn tầm trong nước và quốc tế, đẩy mạnh  
hoạt động nghiên cứu đổi mới và sáng tạo ở cả  
nhóm doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nhà  
nước, gắn kết hoạt động đầu tư nằm trong chuỗi sản  
phẩm hoặc công nghiệp phụ trợ cho các doanh  
nghiệp lớn. Thứ ba, cần nâng cao hiệu quả đầu tư  
của khu vực nhà nước, hạn chế thất thoát, lãng phí  
trong quá trình sử dụng vốn đầu tư. Cuối cùng, các  
chính sách phát triển nguồn lao động trình độ cao  
cần được chú trọng nhằm tận dụng lợi thế có nhiều  
trường đại học và các cơ sở giáo dục dạy nghề trên  
địa bàn. Đây là nguồn cung cấp lao động chất lượng  
cao thuận tiện nhất cho quá trình phát triển của tỉnh.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Hoàng Văn Thắng, Huỳnh Thế du, Đỗ Thiên Anh Tuấn.  
(2020). Báo cáo kết quả nghiên cứu đề án “Nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Thái Nguyên và vai trò  
của Samsung”. Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Đại học Fulbright Việt Nam.  
[2]. Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên. (2015). Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên 2014. Thái Nguyên:  
Công ty CP In Thái Nguyên.  
[3]. Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên. (2021). Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên 2020. Thái Nguyên:  
Công ty CP In Thái Nguyên.  
[4]. Domar, E. (1948). Investment, losses, and monopolies, trong Income, Employment and  
Public Policy—Essays in honor of Alvin H. Hansen. New York: Norton, 33-53.  
[5]. Harrod, R.F. (1948). Towards a Dynamic Economics. London: Macmillan.  
[6]. Nguyễn Thị Bích Hạnh. (2019). Hiệu quả của quản lý nhà nước về đầu tư và phát triển ở tỉnh Phú  
Thọ: nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hùng Vương,  
16 (3), 36-48.  
[7]. Nguyễn Thị Thanh Huyền. (2020). Phân tích môi trường đầu tư tỉnh Thái Nguyên từ góc độ cải cách  
thủ tục hành chính. Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên, 222 (7), 89-95.  
[8]. Lim, C.Y. (1996). The trinity growth theory: The ascendancy of Asia and the decline of the West.  
Accounting and Business Review, 3 (2), 175-199.  
[9]. Lim, C.Y. (2004). Southeast Asia: The Long Road Ahead (2nd Edition). Singapore: World Scientific.  
[10]. Diệp Gia Luật. (2015). Nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam đến năm 2020. Tạp  
chí Phát triển kinh tế, 26 (11), 02-24.  
[11]. Đinh Tuấn Minh, Tô Trung Thành. (2012). Đầu tư công của Việt Nam: Vì sao yếu kém?, trang 329-  
361, trong Nguyễn Đức Thành. (2012). Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2012: Đối diện thách thức  
tái cơ cấu kinh tế. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[12]. Mai Văn Nam. (2008). Hiệu quả đầu tư phát triển ở Thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường  
Đại học Cần Thơ, 9, 86-94.  
[13]. VCCI và USAID. (2021). Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam: Đánh giá chất lượng  
điều hành kinh tế để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. Báo cáo PCI năm 2020. Truy cập tại  
[14]. Robinson, J. (1962). Economic Philosophy. Middlesex: Penguin.  
[15]. Solow, R.M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. Quarterly Journal of  
Economics, 70, 65-94.  
[16]. Swan, T.W. (1956). Economic growth and capital accumulation. Economic Record, 32, 334-61.  
Ngày nhận bài: 28/5/2021  
Thông tin tác giả:  
Ngày nhận bản sửa: 05/8/2021  
Ngày duyệt đăng: 30/09/2021  
1. Bùi Thị Minh Hằng  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Kinh tế & QTKD  
- Địa chỉ email: [email protected]  
2. Nguyễn Thị Thanh Huyền  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Kinh tế & QTKD  
73  
pdf 7 trang Thùy Anh 16060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích hiệu quả đầu tư của tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_hieu_qua_dau_tu_cua_tinh_thai_nguyen.pdf