Rào cản trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Nam Trung Bộ

3
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 03 (71) - 2021  
Rào cản trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài  
vào vùng Nam Trung Bộ  
Châu Ngọc Hòe  
Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ  
Lê Đức Thủy  
Đại học Công nghiệp Hà Nội  
Email liên hệ: [email protected]  
Tóm tắt: Vùng Nam Trung Bộ có nhiều lợi thế trong cạnh tranh thu hút dòng vốn đầu  
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), song thực tế vùng vẫn chưa trở thành điểm hấp dẫn thu hút các  
nhà đầu tư nước ngoài. Bài báo tập trung phân tích thực trạng thu hút dòng vốn FDI vào vùng.  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số đặc trưng chủ yếu của dòng FDI tại vùng như sau: (i) Dòng  
vốn FDI vào vùng NTB còn khá khiêm tốn cả về số dự án và quy mô vốn đầu tư; (ii) Sự phân  
bố dòng FDI giữa các địa phương trong vùng là không đồng đều; (iii) Số lượng các quốc gia,  
vùng lãnh thổ trên thế giới được cấp phép đầu tư tại vùng NTB là khá đa dạng; và (iv) FDI vào  
vùng NTB chủ yếu tập trung ở vào khu vực công nghiệp – xây dựng, dịch vụ du lịch. Trên cơ  
sở đó, bài viết nhận diện một số rào cản trong thu hút dòng vốn FDI vào vùng Nam Trung Bộ  
trong bối cảnh mới.  
Từ khóa: FDI, Nam Trung Bộ, Việt Nam  
Barriers in attracting foreign direct investment inflows to the South Central Vietnam  
Abstract: The South Central Vietnam has numerous competitive advantages in  
attracting foreign direct investment (FDI) inflows; nevertheless, in fact, the region has not  
yet been considered an attractive destination for foreign investors. The article focuses on  
analyzing the current situation of FDI attraction in the region. The research results indicate  
some key characteristics of FDI inflows in the region including: (i) FDI inflows in the region  
are still limited in terms of both the number of projects and size of investment capital; (ii) The  
allocation of FDI flows among localities in the region is uneven; (iii) The number of countries  
and territories in the world licensed to invest in the South Central Vietnam is diverse; and  
(iv) FDI flows in the region are primarily allocated in industrial parks, construction areas, and  
tourism services. Based on the analysis, the article identifies some barriers in attracting FDI  
inflows to the South Central region in the new context.  
Keywords: FDI, South Central Vietnam, Vietnam  
Ngày nhận bài: 06/03/2021  
Ngày duyệt đăng: 15/06/2021  
1. Đặt vấn đề  
Vùng Nam Trung Bộ (NTB) gồm 8 tỉnh/thành phố từ Đà Nẵng kéo dài đến Bình Thuận,  
có diện tích 44.377 km2, chiếm 13,4% diện tích Việt Nam; có dân số khoảng 9,28 triệu người  
(năm 2019), chiếm khoảng 9,63% dân số Việt Nam. Đặc biệt, năm ở vị trí trung độ của cả nước,  
vùng NTB có nhiều ưu thế vượt trội so với các địa phương khác trong phát triển kinh tế biển,  
4
Châu Ngọc Hòe, Lê Đức Thủy  
hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Mặc dù vùng NTB có lợi thế rất lớn trong cạnh tranh thu  
hút dòng vốn FDI, song thực tế vùng vẫn chưa trở thành điểm hấp dẫn thu hút các nhà đầu  
tư nước ngoài. Tính đến 2019, vùng NTB thu hút được 1.496 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng  
vốn đăng ký đạt 26,02 tỷ USD, chiếm 4,85% tổng số dự án và 7,18% tổng vốn đăng ký cả nước.  
Trong đó, vốn FDI thực hiện chiếm tỷ lệ rất thấp, giai đoạn 2005-2016, tổng vốn FDI thực hiện  
đạt khoảng 4 tỷ USD, tỷ lệ giải ngân FDI chỉ vào khoảng 14,24%. Do vậy, khu vực kinh tế FDI có  
mức đóng góp rất thấp trong cơ cấu GDP toàn vùng. Năm 2001, tỷ lệ này là 3,5%, thì đến năm  
2016 tỷ lệ này cung chỉ tăng lên mức 5,4%, và nhỏ hơn rất nhiều so với tỷ lệ bình quân chung  
của cả nước (18,59%). Điều này hàm ý răng, quy mô và đóng góp của khu vực kinh tế FDI tại  
vùng NTB còn rất nhỏ bé, đây là hạn chế rất lớn của vùng trong tận dụng “ngoại lực” để phát  
triển kinh tế trong điều kiện năng lực nội sinh chưa tạo nên “cú huých” đủ mạnh nhăm thúc  
đẩy tăng trưởng kinh tế cao cho vùng.  
Bài viết tập trung phân tích thực trạng dòng vốn FDI vào vùng NTB trong thời gian qua,  
nhận diện xác thực bản chất, xu hướng vận động của dòng vốn FDI vào vùng. Trên cơ sở đó, bài  
viết nhận diện một số rào cản trong thu hút dòng vốn FDI vào vùng NTB trong bối cảnh mới.  
2. Thực trạng FDI tại vùng Nam Trung Bộ  
2.1. Thực trạng vận động dòng vốn FDI vào vùng Nam Trung Bộ  
Mặc dù Việt Nam dần trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế, song dòng  
vốn FDI vào vùng NTB còn khá khiêm tốn cả về số dự án và vốn đăng ký đầu tư. Tính đến 2019,  
vùng NTB thu hút được 1.496 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 26,02 tỷ USD,  
chiếm 4,85% tổng số dự án và 7,18% tổng vốn đăng ký cả nước. Như vậy, lượng vốn FDI chảy  
vào vùng NTB rất thấp, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của vùng, đặc biệt là lợi thế về  
phát triển du lịch, kinh tế biển và nhiều khu kinh tế quan trọng của cả nước; chưa tương xứng  
với tư cách là vùng kinh tế động lực cho miền Trung và Tây Nguyên.  
Hình 1 cho thấy, gia nhập WTO của Việt Nam vào năm 2006 đã có tác động tích cực đến  
dòng vốn FDI vào NTB. Trong đó, tổng vốn FDI đăng ký tại vùng tăng vọt ngay sau khi Việt  
Nam gia nhập WTO, điều này hàm ý răng các dự án FDI quy mô lớn đã tìm đến với NTB nhăm  
khai thác cơ hội từ quá trình hội nhập quốc tế. Cụ thể, giai đoạn 1997 - 2006, quy mô bình  
quân 1 dự án FDI là khá thấp và khá ổn định, vốn đăng ký bình quân của một dự án vùng NTB  
năm 1997 đạt 10,31 triệu USD, thì năm 2006 con số này cung chỉ đạt mức 11,04 triệu USD. Tuy  
nhiên, ngay từ năm đầu tiên gia nhập WTO, quy mô bình quân dự án FDI toàn vùng đã tăng  
lên mức 17,14 triệu USD, sau đó tăng nhanh lên mức 41,73 triệu USD/dự án vào năm 2008.  
Điều này hàm ý răng, gia nhập WTO có tác động tích cực đến thu hút FDI vào vùng NTB. Cần  
lưu ý, mặc dù con số vốn đăng ký bình quân/dự án FDI là khá lớn song hầu hết các dự án FDI  
tham gia vào vùng NTB giai đoạn sau khi gia nhập WTO đều có quy mô trung bình. Trong đó,  
việc xuất hiện các siêu dự án tại Quảng Nam, Quảng Ngãi đã góp phần đưa tổng FDI vào vùng  
tăng vọt (bắt đầu từ năm 2006 với dự án thép vào Quảng Ngãi với mức vốn 556 triệu USD), quy  
mô bình quân một dự án FDI vào vùng nhờ đó cung gia tăng cao ngất ngưỡng.  
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu  
đã có ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn FDI vào vùng. Mặc dù số dự án FDI vào vùng NTB  
vẫn có chiều hướng gia tăng song tổng vốn đăng ký có sự sụt giảm đáng kể trong giai đoạn  
2011-2016 và tăng trở lại trong giai đoạn 2017-2020 (hình 1). Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký  
bình quân một dự án FDI đã sụt giảm đáng kể, năm 2016 chỉ đạt mức 18,67 triệu USD/dự án,  
5
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 03 (71) - 2021  
bình quân giai đoạn 2011 - 2016 gần 25 triệu USD/dự án. Đến năm 2019, quy mô vốn đăng ký  
trung bình mỗi dự án có sự giảm xuống đáng kể, chỉ đạt 17,4 triệu USD/dự án, nhưng vẫn cao  
hơn mức trung bình chung của cả nước (11,76 triệu USD/dự án).  
Hình 1. Vốn FDI lũy kế tính đến năm 2019 vùng NTB  
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 1995-2019)  
Có thể khẳng định, dòng vốn FDI vào vùng NTB có sự biến động mạnh theo thời gian  
(hình 2). Đặc biệt năm 2008, toàn vùng có 53 dự án FDI đăng ký mới, song tổng vốn đăng ký mới  
lên đến 11,5 tỷ USD, gấp 1,5 lần tổng vốn đăng ký của cả giai đoạn 1997-2007. Đây cung là năm  
đánh dấu nhiều dự án đầu tư quy mô lớn vào các địa phương nội vùng như Phú Yên (trung bình  
550 triệu USD/dự án), Quảng Ngãi (trung bình 773 triệu USD/dự án), Ninh Thuận (trung bình  
680 triệu USD/dự án). Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra khiến thu hút FDI vào  
vùng gặp nhiều khó khăn, các dự án vào vùng chủ yếu có quy mô nhỏ. Nếu như năm 2008, quy  
mô vốn trung bình một dự án FDI tại vùng NTB đạt 217,7 triệu USD, thì năm 2009 quy mô vốn  
trung bình trên 1 dự án mới giảm nhanh còn 36,9 triệu USD và tiếp tục giảm mạnh trong thời  
gian sau đó. Năm 2017, có sự gia tăng trở lại về quy mô vốn đăng ký, và vốn bình quân trên một  
dự án, do tỉnh Khánh Hòa thu hút được 4 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt trên 2,6 tỷ USD.  
Đến năm 2019, toàn vùng có 187 dự án cấp mới, với tổng vốn đăng ký mới chỉ đạt 1,27 tỷ USD.  
Hình 2. FDI vùng NTB đăng ký mới hàng năm  
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 1995-2019)  
6
Châu Ngọc Hòe, Lê Đức Thủy  
Mặc dù, số vốn FDI đăng ký đầu tư vào vùng NTB đạt được trên 26 tỷ USD, trong đó hàng  
năm có nhiều dự án lớn hàng tỷ USD, tuy nhiên vốn FDI thực hiện ở vùng NTB còn khá khiêm  
tốn. Cả giai đoạn 2005-2016, tổng vốn FDI thực hiện đạt khoảng 4 tỷ USD, tỷ lệ giải ngân FDI  
chỉ vào khoảng 14,24%. Kết quả này cho thấy tỷ lệ giải ngân FDI của vùng NTB thấp hơn rất  
nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước trong cùng kỳ so sánh (giai đoạn 2005-2016, tỷ lệ giải  
ngân bình quân của cả nước là 43,7%). Đặc biệt, tỷ lệ giải ngân vốn FDI có sự khác biệt khá  
lớn giữa các địa phương nội vùng, theo đó tỷ lệ giải ngân của Khánh Hòa là 53,2%, Đà Nẵng là  
45%, Quảng Nam là 37,46%, các địa phương còn lại có tỷ lệ giải ngân dưới 20%. Có 3 nguyên  
nhân chủ yếu khiến vốn FDI thực hiện thấp tại vùng NTB trong thời gian qua: (i) Do các công ty  
mẹ ở chính quốc gặp khó khăn trong kinh doanh do khủng hoảng kinh tế thế giới nên dừng  
hoạt hoặc thu hẹp hoạt động đầu tư ở nước ngoài; (ii) Do có nhiều dự án FDI đầu cơ băng việc  
chọn những vị trí đất đắc địa để chờ cơ hội sang nhượng kiếm lời(1); và (iii) Do các vấn đề về  
thủ tục hành chính, trợ giúp sau cấp phép, giải phóng và bàn giao mặt băng là những trở lực  
chính kéo theo sự kém hấp dẫn môi trường đầu tư của vùng.  
Bảng 1. FDI vùng NTB lũy kế đến năm 2019 (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực)  
Tổng vốn đăng ký  
Địa phương  
Số dự án  
(Triệu USD)  
362.850,44  
CẢ NƯỚC  
Đà Nẵng  
Quảng Nam  
Quảng Ngãi  
Bình Định  
30.827  
774  
218  
61  
5.534,68  
6.125.24  
1.842,83  
797,35  
86  
Phú Yên  
47  
113  
51  
1.989,36  
4.298,52  
1.707,73  
3.729,64  
25.025,34  
7,2%  
Khánh Hoà  
Ninh Thuận  
Bình Thuận  
Nam Trung Bộ  
NTB/cả nước %  
146  
1.496  
4,8%  
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, 2019)  
2.2. Thực trạng FDI vùng Nam Trung Bộ theo quốc gia đầu tư  
Tính đến cuối năm 2016, có khoảng 50 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới được cấp  
phép đầu tư tại vùng NTB. Các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư chủ yếu vào NTB vẫn tập trung  
ở ba khu vực chính là châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ. Các quốc gia châu Á chiếm 60,53% tổng số dự  
án FDI và 53,2% tổng vốn đăng ký FDI toàn vùng, các quốc gia đến từ châu Âu chiếm 21,38%  
số dự án và 35,47% tổng vốn đăng ký, các quốc gia đến từ khu vực Bắc Mỹ chiếm 8,43% số dự  
án và 7,65% tổng vốn đăng ký, các khu vực còn lại có số vốn đăng ký thấp. Đến thời điểm hiện  
tại, có 05 quốc gia đăng ký đầu tư vào vùng NTB trên 1 tỷ USD là Anh, Hàn Quốc, Trung Quốc,  
Singapore, Hoa Kỳ. Trong đó, vốn đầu tư vào NTB nhiều nhất đến từ nước Anh (bao gồm quần  
đảo Vigin thuộc Anh) với 61 dự án, có tổng vốn đăng ký là 4,12 tỷ USD, chiếm 20,55% tổng  
vốn FDI toàn vùng. FDI đến từ Anh chủ yếu tập trung đầu tư vào Phú Yên (với 3,2 tỷ USD), Đà  
Nẵng (với 0,53 tỷ USD). Tính đến cuối năm 2016, Hàn Quốc đã đầu tư vào NTB với 148 dự án,  
tổng vốn đăng ký đạt 2,65 tỷ USD.  
7
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 03 (71) - 2021  
Trong những năm gần đây, Trung Quốc dần trở thành đối tác đầu tư lớn vào Việt Nam,  
tính đến tháng 6/2018 tổng vốn đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam là 3,29 nghìn dự án, với  
tổng vốn đăng ký lên đến 31,2 tỷ USD. Ở vùng NTB, Trung Quốc cung là đối tác đầu tư lớn tại  
vùng với 90 dự án, với tổng vốn đăng ký đạt 2,9 tỷ USD, chiếm 16,71%. Trong đó, riêng Hong  
Kong đã đầu tư 41 dự án vào vùng, với tổng vốn đăng ký là 436,9 triệu USD. Vốn đầu tư của  
Trung Quốc chủ yếu tập trung vào Bình Thuận, với 8 dự án, có tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD.  
Singapore là đối tác đầu tư quan trọng đối với Việt Nam và vùng NTB. Tính đến tháng  
6/2018, Singapore đầu tư vào Việt Nam hơn 2 nghìn dự án, với tổng vốn đăng ký lên đến 45  
tỷ USD. Trong đó, Singapore đầu tư 46 dự án vào vùng NTB với tổng vốn đăng ký lên đến 1,8  
tỷ USD. FDI từ Singapore chủ yếu tập trung ở Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Đặc biệt,  
Singapore đã đầu tư vào kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp tại Quảng Ngãi để thu hút  
các doanh nghiệp nước ngoài. Đây là hình thức đầu tư rất quan trọng cho sự phát triển vùng  
NTB cần được chú trọng thu hút. Ngoài ra, các quốc gia Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Đài Loan,...  
cung là những đối tác đầu tư quan trọng tại vùng NTB. Tính đến 12/2016, Hoa Kỳ đầu tư vào  
vùng NTB 1,06 tỷ USD, Nhật Bản là 775,8 triệu USD, Nga là 555,9 triệu USD, Đài Loan là 441,7  
triệu USD,...  
Kết quả thu hút FDI vào vùng NTB theo đối tác phản ánh răng, quá trình hội nhập kinh  
tế và thu hút FDI của vùng có bước phát triển đáng kể. Đến nay, có hơn 50 quốc gia, vùng lãnh  
thổ đã tìm đến đầu tư vùng NTB, trong đó có rất nhiều dự án đầu tư lớn góp phần thúc đẩy  
phát triển kinh tế - xã hội vùng. Điều này cung phản ánh răng, độ mở của nền kinh tế vùng  
NTB đang từng bước tăng lên trong thời gian qua. Đồng thời, các chính sách thu hút đầu tư,  
môi trường đầu tư của vùng từng bước cải thiện đã tạo ra sự quan tâm của nhiều nhà đầu  
tư trên thế giới. Tuy nhiên, hiện NTB vẫn chưa là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư có tiềm lực tài  
chính và công nghệ đến từ các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Úc, Canada, EU.  
Bảng 2. FDI vùng NTB theo đối tác đầu tư (lũy kế đến 12/2016)  
Dự án  
Vốn đăng ký  
TT  
Quốc gia  
Số dự án Tỷ trọng (%) triệu USD Tỷ trọng (%)  
Anh  
4,01  
1
2
3
61  
4124,19  
2650,7  
20,55  
15,11  
16,75  
(bao gồm Vigin thuộc Anh)  
Hàn Quốc  
Trung Quốc  
(bao gồm Hong Kong)  
Singapore  
Hoa Kỳ  
Nhật Bản  
Nga  
Đài Loan  
148  
90  
15,21  
9,25  
2937,54  
4
5
6
7
8
9
46  
65  
164  
28  
64  
2
4,73  
6,68  
16,86  
2,88  
6,58  
0,21  
0,72  
1,75  
1,54  
1,75  
2,36  
1824,6  
1063,6  
775,8  
555,9  
441,7  
409  
278,5  
277,4  
243  
10,41  
6,06  
4,42  
3,17  
2,52  
2,33  
1,59  
1,58  
1,39  
1,33  
1,11  
Ukraina  
10 Bỉ  
7
11 Canada  
12 Ấn Độ  
13 Đức  
17  
15  
17  
23  
232,5  
195,4  
14 Malaisia  
8
Châu Ngọc Hòe, Lê Đức Thủy  
15 Bahamas  
16 Hà Lan  
17 Islands  
18 Pháp  
19 Úc  
20 Thái Lan  
21 Khác  
2
16  
5
45  
48  
28  
82  
0,21  
1,64  
0,51  
4,62  
4,93  
2,88  
8,43  
190,1  
187,2  
162,2  
155,6  
153,5  
148,7  
530,1  
1,08  
1,07  
0,92  
0,89  
0,88  
0,85  
3,02  
(Nguồn: Niên giám thống kê các địa phương NTB năm 2016)  
2.3. Thực trạng FDI vùng Nam Trung Bộ theo ngành nghề đầu tư  
Hình 3 cho thấy, đến cuối năm 2016, FDI vào vùng NTB chủ yếu tập trung ở vào khu vực  
công nghiệp – xây dựng với 429 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt 10,3 tỷ USD, chiếm  
43,95% tổng số dự án và 58,74% tổng vốn đăng ký toàn vùng. Lĩnh vực nông, lâm, thủy sản  
có số dự án và vốn đăng ký thấp nhất, với 54 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 375  
triệu USD, chỉ chiếm 5,53% số dự án và 2,14% tổng vốn đăng ký toàn vùng. Khu vực dịch vụ có  
493 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn 6,86 tỷ USD.  
Trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, FDI tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công  
nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 67,55% tổng vốn đăng ký của ngành và chiếm 39,7% tổng  
vốn FDI toàn vùng. Các lĩnh vực khai khoáng, sản xuất phân phối điện nước và xây dựng có số  
vốn đăng ký khá thấp. Lĩnh vực sản xuất và phân phối điện, nước có số vốn FDI cải thiện đáng  
kể trong thời gian gần đây và đạt mức 2,78 tỷ USD, chiếm 27,02 % tổng vốn khu vực công  
nghiệp – xây dựng và chiếm 15,87% vốn đăng ký toàn vùng. Số vốn đăng ký lĩnh vực này chủ  
yếu tập trung vào sản xuất điện, gồm nhiệt điện và năng lượng sạch (gió, mặt trời).  
Hình 3. Cơ cấu FDI vùng NTB theo ngành nghề đầu tư lũy kế đến 2016  
(Nguồn: Niên giám thống kê các địa phương NTB năm 2016)  
9
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 03 (71) - 2021  
Trong lĩnh vực dịch vụ, vốn FDI chủ yếu tập trung chủ yếu vào khu vực du lịch (khách  
sạn, nhà hàng) chiếm 29,21% số dự án trong ngành, nhưng chiếm đến 61,71% tổng vốn đăng  
ký. Trong đó, tổng vốn đăng ký đầu tư vào lĩnh vực khách sạn, nhà hàng đạt 4,24 tỷ USD, chiếm  
đến 24,15% tổng vốn FDI đăng ký toàn vùng NTB. Lĩnh vực bất động sản cung đã khẳng định  
được những thành quả trong thu hút FDI, tổng vốn FDI đăng ký vào lĩnh vực này đạt 1,67 tỷ  
USD, chiếm 24,38% tổng vốn FDI trong lĩnh vực dịch vụ và chiếm 9,54% tổng vốn FDI đăng ký  
toàn vùng. FDI vào lĩnh vực bất động sản chủ yếu tập trung ở thành phố Đà Nẵng (80,77%) và  
tỉnh Quảng Nam (19,23%).  
Như vậy, FDI tập trung mạnh vào ngành dịch vụ nhăm khai thác tiềm năng du lịch, dịch  
vụ của vùng(2), tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo nhăm khai thác thế mạnh về công  
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, hóa dầu, chế biến thủy sản, cây công nghiệp, khai thác lợi thế  
ưu đãi của các khu kinh tế tại vùng. Lĩnh vực nông nghiệp vùng gặp rất khó khăn thu hút FDI.  
Nguyên nhân là ngành nông nghiệp có rủi ro cao, chi phí đầu tư cho các dự án nông nghiệp là  
lớn song thời gian thu hồi vốn lâu dài, đầu ra nông sản còn nhiều khó khăn. Đây cung là khó  
khăn chung của cả nước trong thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp.  
2.4. Thực trạng phân bổ FDI giữa các địa phương vùng Nam Trung Bộ  
Hình 4 chỉ ra răng, sự phân bố dòng FDI giữa các địa phương trong vùng là không đồng  
đều, FDI tập trung chủ yếu ở những địa phương có nền công nghiệp phát triển như Đà Nẵng,  
Quảng Nam, Bình Thuận, trong khi đó Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận gặp  
nhiều khó khăn trong thu hút FDI. Nhìn chung, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế  
thế giới năm 2008, một số dự án FDI quy mô lớn gặp khó khăn trong triển khai thực hiện tại  
vùng. Điển hình như Quảng Ngãi, tính đến năm 2006, Quảng Ngãi thu hút được nhiều dự án  
FDI quy mô lớn chiếm đến 24,55% tổng vốn FDI đăng ký toàn vùng, thì đến năm 2016 tỷ lệ  
này chỉ còn 5,95%. Tại tỉnh Phú Yên có nhiều thay đổi vượt bậc trong thu hút đầu tư sau khi gia  
nhập WTO, số vốn đăng ký tăng nhanh và đạt mức cao nhất trên 8 tỷ USD (2013), tuy nhiên  
trước tác động của các cuộc khủng hoảng trên thế giới, vốn đăng ký đã giảm xuống mức 4,7 tỷ  
USD ở năm 2016, chiếm 26,39% vốn đăng ký toàn vùng.  
Tính đến cuối năm 2019, FDI vào vùng NTB tập trung chủ yếu vào tỉnh Quảng Nam  
(chiếm 23,5% tổng vốn FDI đăng ký toàn vùng) và thành phố Đà Nẵng (21,3% tổng vốn FDI  
đăng ký toàn vùng). Trong khi đó, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận gặp nhiều khó  
khăn trong thu hút FDI, nhất là FDI vào Bình Định chỉ chiếm 3,1% tổng vốn FDI đăng ký toàn  
vùng. Hình 4 cho thấy sự phân bố dòng FDI giữa các địa phương trong vùng là không đồng  
đều, có sự biến động đáng kể qua từng giai đoạn. Nếu như đến năm 2000, FDI tập trung vào  
các địa phương Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Khánh Hòa thì đến năm 2010 FDI có sự chuyển dịch  
sang các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên; đến cuối năm 2018 dòng vốn FDI dịch  
chuyển trở lại các địa phương Đà Nẵng, Quảng Nam và Khánh Hòa.  
Có thể khẳng định răng, nguồn vốn FDI vào Đà Nẵng khá ổn định ở mức cao và tăng  
dần về quy mô qua các năm, trong khi đó các địa phương Bình Định, Ninh Thuận luôn gặp  
khó khăn trong thu hút FDI qua các giai đoạn. Dòng vốn FDI vào các địa phương Quảng Nam,  
Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Phú Yên và Bình Thuận có rất nhiều biến động, có những giai đoạn  
thu hút được rất nhiều dự án có quy mô vốn đăng ký lớn, song số dự án lớn rút vốn cung khá  
lớn. Điển hình như Quảng Ngãi, tính đến năm 2006, Quảng Ngãi thu hút được nhiều dự án FDI  
quy mô lớn chiếm đến 24,55% tổng vốn FDI đăng ký toàn vùng, thì đến năm 2016 tỷ lệ này chỉ  
còn 5,95%; Quảng Nam thu hút hơn 5 tỷ USD vốn đăng ký giai đoạn 2010-2013, năm 2014 có  
10  
Châu Ngọc Hòe, Lê Đức Thủy  
sự rút vốn đăng ký của một số dự án lớn (giảm xuống còn 1,7 tỷ USD vốn đăng ký còn hiệu lực)  
và luy kế đến năm 2017 lượng vốn FDI đăng ký còn hiệu lực tăng lên 5,8 tỷ USD; Khánh Hòa có  
sự ổn định trong thu hút FDI trong giai đoạn 1997-2016, năm 2017 có sự đăng ký đầu tư của  
nhiều dự án lớn khiến tổng vốn FDI đăng ký còn hiệu lực tăng lên hơn 4 tỷ USD; Phú Yên có  
nhiều thay đổi trong thu hút đầu tư sau khi gia nhập WTO, số vốn đăng ký tăng nhanh và đạt  
mức cao nhất trên 8 tỷ USD (2013), tuy nhiên trước tác động của các cuộc khủng hoảng trên  
thế giới, vốn đăng ký đã giảm xuống mức 4,7 tỷ USD ở năm 2016, các dự án lớn tiếp tục rút vốn  
đầu tư và mức vốn FDI đăng ký còn hiệu lực giảm xuống còn 1,99 tỷ USD vào cuối năm 2019.  
Kết quả phân bổ vốn FDI theo không gian địa lý tại vùng NTB cho thấy răng, sự phân bố  
FDI giữa các địa phương trong vùng không đồng đều, chưa đảm bảo yếu tố bền vững trong  
thu hút FDI. Đặc biệt, sự rút vốn của nhiều dự án lớn trong vùng cung chỉ ra những tồn tại lớn  
trong công tác quản lý và thu hút hoạt động FDI. Ngoài ra, những tác động tiêu cực của cuộc  
khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến các nhà đầu tư lớn cơ cấu lại hoạt động kinh doanh toàn  
cầu, qua đó rút vốn đầu tư tại các dự án tại vùng.  
Hình 4. Cơ cấu dự án và vốn đăng ký lũy kế của FDI phân theo địa phương  
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 1997-2018)  
Hình 5. Cơ cấu vốn FDI thực hiện giai đoạn 2005-2016 theo địa phương  
(Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh Nam Trung Bộ giai đoạn 2005-2016)  
11  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 03 (71) - 2021  
Hình 5. mô tả phân bổ vốn FDI thực hiện tại vùng NTB trong thời gian qua. Theo đó, Đà  
Nẵng là địa phương có số vốn FDI thực hiện lớn nhất vùng trong giai đoạn 2005-2016, chiếm  
34,4% tổng vốn FDI toàn vùng. Các địa phương như Quảng Nam, Quảng Ngãi và Khánh Hòa  
đều có tỷ lệ vốn thực hiện đạt trên 15% so với tổng FDI thực hiện toàn vùng, các địa phương  
còn lại có số vốn thực hiện khá thấp. Như vậy, cơ cấu FDI đăng ký và thực hiện tại vùng theo  
phân bố không gian có sự khác biệt khá lớn, phản ánh được chất lượng thu hút FDI của các  
địa phương trong vùng.  
Tỷ lệ giải ngân vốn FDI (vốn thực hiện/vốn đăng ký) cung có sự khác nhau rất lớn giữa  
các địa phương vùng NTB. Tỷ lệ giải ngân FDI bình quân toàn vùng chỉ đạt 14,24% trong giai  
đoạn 2005-2016. Thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân chung của cả nước. Trong đó, chỉ  
có Đà Nẵng đạt tỷ lệ giải ngân khá cao, tiệm cận mức chung của cả nước trong cùng giai đoạn  
là 41,2%, tiếp đến là Quảng Nam với tỷ lệ giải ngân 34,74%. Trong khi đó, các địa phương còn  
lại có tỷ lệ giải ngân thấp (Hình 6). Điều này tiếp tục khẳng định đóng góp khá hạn chế của FDI  
trong tăng trưởng kinh tế các địa phương vùng NTB trong thời gian qua.  
Hình 6. Tỷ lệ vốn FDI thực hiện/đăng ký giai đoạn 2005-2016 theo địa phương  
(Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh NTB giai đoạn 2005-2016)  
3. Một số rào cản trong thu hút FDI vào vùng Nam Trung Bộ  
3.1. Chất lượng thể chế nhiều địa phương nội vùng chưa đáp ứng tốt nhu cầu của  
doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp FDI  
Thời gian qua, nhiều nghiên cứu định lượng sử dụng chỉ số tổng hợp về năng lực cạnh  
tranh cấp tỉnh PCI hoặc các chỉ số thành phần của PCI do VCCI thực hiện để đo lường chất  
lượng thể chế cấp tỉnh, nhất là vai trò của chính quyền địa phương trong thiết lập môi trường  
kinh doanh, thu hút FDI (Vu và cộng sự (2007); Malesky (2008)). Ở phương diện này, chúng  
tôi ghi nhận một sự khác biệt đáng kể về chất lượng thể chế của nhiều địa phương nội vùng  
trong thu hút đầu tư (bảng 3). Có thể thấy, ngoài một số địa phương như Đà Nẵng, Quảng  
Nam, Quảng Ngãi có chất lượng thể chế khá tốt, các tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận thường được  
xếp ở nữa sau về chỉ tiêu PCI. Bên cạnh đó, sự cải thiện chất lượng PCI của các địa phương  
theo thời gian cung có sự khác biệt lớn. Trong đó, trong giai đoạn 2007-2017 các địa phương  
Quảng Nam, Quảng Ngãi có sự cải thiện điểm số PCI đáng kể, trong khi đó các địa phương còn  
12  
Châu Ngọc Hòe, Lê Đức Thủy  
lại có sự thay đổi thấp. Chi tiết hơn, mặc dù Đà Nẵng được xếp hạng PCI rất cao, nhưng về chỉ  
tiêu thành phần về cạnh tranh bình đẳng lại bị xếp hạng thấp là 37/63; Quảng Nam có chỉ số  
PCI khá cao song xếp hạn về sự phát triển dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp vẫn còn ở mức thấp  
(37/63); các địa phương từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận có rất nhiều chỉ tiêu được xếp ở nữa  
sau của 63 tỉnh thành.  
Bảng 3. Xếp hạng năng lực cạnh tranh năm 2017 của các tỉnh vùng NTB so với cả nước  
Đà  
Quảng Quảng Bình  
Phú Khánh Ninh  
Yên Hòa Thuận Thuận  
Bình  
Chỉ tiêu  
Nẵng Nam  
Ngãi  
Định  
Xếp hạng PCI  
Điểm PCI  
Gia nhập thị trường  
Tiếp cận đất đai  
Tính minh bạch  
Chi phí thời gian  
2
7
25  
18  
47 23 38 24  
63,16 64,08 60,59 63,36 61,60 63,34  
70,11  
65,41  
12  
5
5
20  
5
41  
33  
7
37  
12  
8
17  
54  
55  
37  
18  
24  
9
33  
38  
22  
18  
13  
17  
23  
41  
13  
4
25  
42  
32  
38  
Chi phí không  
chính thức  
11  
26  
23  
7
32  
22  
38  
24  
Cạnh tranh  
bình đẳng  
Tính năng động  
Dịch vụ Hỗ trợ  
doanh nghiệp  
Đào tạo lao động  
37  
6
22  
7
60  
39  
23  
33  
14  
16  
11  
56  
30  
16  
18  
53  
31  
38  
55  
39  
46  
14  
37  
48  
26  
20  
52  
42  
28  
10  
36  
10  
43  
61  
12  
3
37  
28  
5
Thiết chế pháp lý và  
ANTT  
8
(Nguồn: VCCI, 2018)  
3.2. Gánh nặng các quy định của pháp luật sau khi gia nhập thị trường có thể làm cản  
trở FDI vào vùng NTB nói riêng và Việt Nam nói chung  
Mặc dù các biện pháp giảm bớt gánh nặng về các quy định cho doanh nghiệp được  
thực hiện mạnh mẽ, nhưng kết quả đạt được vẫn còn khá hạn chế, thời gian tìm hiểu và thực  
hiện các quy định của pháp luật Việt Nam đối với hệ thống doanh nghiệp FDI vẫn còn khá lớn.  
Theo điều tra của VCCI (2018), các DN FDI cho răng vẫn còn nhiều thủ tục hành chính phiền  
hà đối với hoạt động kinh doanh của họ như bảo hiểm xã hội (28%), đăng ký đầu tư (24%), các  
loại thuế, phí (30%), bảo vệ môi trường (18%), hải quan (25%), phòng cháy (21%),...  
Tại vùng NTB, gánh nặng quy định của pháp luật sau đầu tư đối với DN cung còn khá lớn,  
doanh nghiệp FDI phải mất nhiều thời gian phải chờ để hoàn thiện các thủ tục gia nhập thị  
trường (bảng 4). Đặc biệt, các địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa và Bình Thuận  
có tỷ lệ doanh nghiệp phải chờ hơn 1 tháng để hoàn thiện thủ tục chính thức hoạt động khá  
cao (hình 7). Điều này cho thấy gánh nặng quy định đang là tồn tại, rào cản lớn có thể làm nhụt  
lòng nhà đầu tư nước ngoài hiện tại và nhà đầu tư tương lai tìm đến với vùng NTB.  
13  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 03 (71) - 2021  
Bảng 4. Gánh nặng quy định sau khi gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp FDI  
(Nguồn: VCCI, 2018)  
Hình 7. Tỷ lệ DN phải chờ hoàn tất các thủ tục để chính thức hoạt động theo địa phương  
vùng NTB  
(Nguồn: VCCI, 2018)  
3.3. Gánh nặng về chi phí không chính thức vẫn đang đặt ra các rào cản cho việc thu  
hút FDI vùng NTB  
Với những nỗ lực chính sách, gánh nặng chi phí không chính thức cho khu vực FDI ở  
Việt Nam đã có sự suy giảm đáng kể trong thời gian qua. Tuy nhiên, tỷ lệ DN FDI chi trả chi phí  
không chính thức vẫn còn khá cao (bảng 5). Mặc dù tỷ lệ chi phí không chính thức so với thu  
nhập hàng năm của DN cung đã giảm mạnh về mức dưới 1%, song vẫn còn 6,4% DN FDI có chi  
phí không chính thức lên đến trên 5% thu nhập, trong đó có 2,6% DN có chi phí không chính  
thức lên đến trên 10% thu nhập.  
14  
Châu Ngọc Hòe, Lê Đức Thủy  
Tại vùng NTB, bảng 5 cho thấy, số DN thường xuyên chi trả chi phí không chính thức là  
khá cao (trên 50% số DN). Tình trạng nhung nhiễu khi giải quyết thủ tục hành chính cho DN  
vẫn còn khá phổ biến ở hầu hết các địa phương nội vùng. Số lượng DN chi trả CPKCT để trúng  
thầu và lo ngại tình trạng chạy án vẫn còn là khá lớn. Đặc biệt, các địa phương Quảng Ngãi,  
Ninh Thuận, Bình Thuận có tỷ lệ khá lớn các DN phải chi trả hơn 10% doanh thu cho các khoản  
CPKCT. Rõ ràng, đây là khoản chi phí gánh nặng mà doanh nghiệp FDI phải chịu, có khả năng  
sẽ hạn chế dòng vốn FDI vào Việt Nam và vùng NTB trong thời gian tới.  
Bảng 5. Gánh nặng chi phí không chính thức đối với DN vùng NTB  
Đà  
Quảng Quảng Bình  
Ngãi Định  
Phú Khánh Ninh  
Yên Hòa Thuận Thuận  
Bình  
Chỉ tiêu  
Nẵng Nam  
Tỷ lệ DN thường  
xuyên trả CPKCT  
53.8% 64.8% 58.9% 54.5% 55.3% 55.4% 59.3% 61.9%  
Tình trạng nhung  
nhiễu khi giải quyết 50.0% 60.8% 66.1% 60.2% 57.0% 63.0% 56.5% 54.9%  
TTHC cho DN  
Chi trả hơn 10%  
doanh thu cho các  
khoản CPKCT  
6.5%  
9.8%  
10.3% 6.5% 8.5%  
4.9%  
12.6% 11.2%  
Chi trả CPKCT là  
điều bắt buộc để  
trúng thầu  
48.8% 53.8% 53.6% 41.8% 59.0% 50.0% 60.9% 53.3%  
Lo ngại tình trạng  
chạy án  
28.0% 27.0% 30.6% 22.8% 33.3% 33.3% 28.9% 31.4%  
(Nguồn: VCCI, 2018)  
3.4. Môi trường đầu tư của vùng Nam Trung Bộ còn chưa đảm bảo tính minh bạch  
Nhìn chung, tính minh bạch của môi trường đầu tư của các địa phương vùng NTB đã có  
sự cải thiện đáng kể trong thời gian qua, đặc biệt nhiều địa phương trong vùng đã rất nỗ lực  
để xây dựng hình ảnh năng động, thân thiện trong mắt nhà đầu tư, doanh nghiệp. Tuy vậy,  
tính minh bạch của môi trường đầu tư vùng còn khá hạn chế, mới chỉ đáp ứng được phần nào  
nhu cầu của doanh nghiệp (bảng 6). Các thông tin công khai về mời thầu, vai trò của hiệp hội  
doanh nghiệp trong xây dựng chính sách, độ mở và chất lượng cổng thông tin điện tử,... cung  
chỉ đáp ứng tối đa khoảng 60%.  
Bảng 6. Tính minh bạch môi trường đầu tư vùng NTB  
Đà Quảng Quảng Bình Phú Khánh Ninh Bình  
Chỉ tiêu  
Nẵng Nam Ngãi Định Yên  
Hòa Thuận Thuận  
Thứ hạng Tính minh bạch  
2
8
12  
15  
47  
53  
56  
58  
Tiếp cận tài liệu quy hoạch  
((1 rất dễ, 5 không thể  
2,51  
2,63  
2,60  
2,53 2,36  
2,28  
2,42  
2,27  
15  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 03 (71) - 2021  
Tiếp cận tài liệu pháp lý (1  
(rất dễ, 5 không thể  
3,17  
3,15  
3,17  
3,11 3,08  
2,94  
3,17  
2,95  
Thông tin mời thầu được  
công khai  
48,6% 54,5% 51,7% 55,4% 38,2% 61,3% 53,1% 45,9%  
38,0% 53,6% 44,2% 46,7% 42,4% 51,3% 39,7% 45,2%  
Vai trò của HHDN trong  
việc xây dựng chính sách ,  
quy định của tỉnh  
Độ mở và chất lượng trang  
Web của tỉnh  
36,5  
39,0  
(Nguồn: VCCI, 2018)  
3.5. Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp ở vùng NTB nhìn chung còn chưa đáp ứng tốt nhu  
34,5  
34,5 27,0  
36,0  
32,5  
31,0  
cầu của DN trong vùng  
Các doanh nghiệp FDI, nhất là các dự án quy mô lớn, các tập đoàn đa quốc gia khi đầu  
tư vào địa phương thường có nhu cầu và yêu cầu được hỗ trợ các dịch vụ hỗ trợ chất lượng  
cao, hiệu quả. Tuy nhiên, sự phát triển hạn chế của dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp có thể trở lực  
lớn ảnh hưởng đến thu hút FDI vào vùng NTB trong thời gian đến (bảng 7). Đặc biệt, các tỉnh  
Quảng Ngãi, Ninh Thuận có số lượng các hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức thấp băng 50%  
các địa phương còn lại. Tỷ lệ DN cung cấp dịch vụ hỗ trợ trong vùng NTB là rất thấp, cá biệt  
các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận chiếm dưới 1% trong tổng số DN. Các dịch vụ tìm  
kiếm thông tin thị trường, dịch vụ tư vấn pháp luật cung chưa đáp ứng nhu cầu của DN vùng  
NTB. Các rào cản này có thể hạn chế thu hút FDI vào vùng, nhất là các dự án quy mô lớn, các  
tập đoàn đa quốc gia.  
Bảng 7. Đánh giá dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp vùng NTB 2017  
Đà  
Quảng Quảng Bình  
Phú Khánh Ninh  
Bình  
Chỉ tiêu  
Nẵng Nam  
Ngãi  
Định  
Yên  
Hòa Thuận Thuận  
Số hội chợ thương  
mại do tỉnh tổ chức  
7
10  
5
11  
11  
9
5
9
Tỷ lệ DN CCDV/tổng  
số DN  
1,64% 1,22% 0,87% 0,62% 1,47% 2,24% 0,52% 1,55%  
DN từng sử dụng DV  
tìm kiếm thông tin thị  
trường  
53%  
56%  
54%  
50%  
56%  
41%  
59%  
57%  
DN từng sử dụng DV  
tư vấn pháp luật  
64%  
53%  
59%  
50%  
75%  
54%  
45%  
48%  
55%  
37%  
60%  
50%  
62%  
50%  
61%  
38%  
DN từng sử dụng dịch  
vụ tìm kiếm đối tác  
kinh doanh  
(Nguồn: VCCI, 2018)  
16  
Châu Ngọc Hòe, Lê Đức Thủy  
4. Kết luận  
Vùng NTB có nhiều lợi thế trong cạnh tranh thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước  
ngoài (FDI), song thực tế vùng vẫn chưa trở thành điểm hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư nước  
ngoài. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng thu hút dòng vốn FDI vào vùng. Kết quả  
nghiên cứu chỉ ra một số đặc trưng chủ yếu của dòng FDI tại vùng như sau: (i) Dòng vốn FDI  
vào vùng NTB còn khá khiêm tốn cả về số dự án và quy mô vốn đầu tư; (ii) Sự phân bố dòng  
FDI giữa các địa phương trong vùng là không đồng đều; (iii) Số lượng các quốc gia, vùng lãnh  
thổ trên thế giới được cấp phép đầu tư tại vùng NTB là khá đa dạng; và (iv) FDI vào vùng NTB  
chủ yếu tập trung ở vào khu vực công nghiệp – xây dựng, dịch vụ du lịch. Trên cơ sở đó, bài  
viết nhận diện một số rào cản chủ yếu trong thu hút dòng vốn FDI vào vùng NTB trong bối  
cảnh mới như sau: (1) Chất lượng thể chế nhiều địa phương nội vùng chưa đáp ứng tốt nhu  
cầu của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp FDI; (2) Gánh nặng các quy định của pháp luật  
sau khi gia nhập thị trường có thể làm cản trở FDI vào vùng NTB nói riêng và Việt Nam nói  
chung; (3) Gánh nặng về chi phí không chính thức vẫn đang đặt ra các rào cản cho việc thu  
hút FDI vùng NTB; (4) Môi trường đầu tư của vùng NTB còn chưa đảm bảo tính minh bạch; và  
(5) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp ở vùng NTB nhìn chung còn chưa đáp ứng tốt nhu cầu của  
DN trong vùng.  
Chú thích:  
(1) Tính cả giai đoạn từ năm 1997 - 2016 toàn vùng có 151 dự án FDI rút vốn và thu hồi,  
chiếm 15,3% số dự án đầu tư còn hiệu lực ở vùng NTB.  
(2) Duyên hải miền Trung là nơi duy nhất của Việt Nam tập trung hầu hết các di sản văn  
hóa, di sản thiên nhiên thế giới: Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Cố đô Huế, Phong Nha - Kẻ  
Bàng, Vịnh Cam Ranh, cùng một hệ thống bờ biển du lịch trãi dài từ Bắc xuống Nam. Đây là  
những điều kiện tiền đề để phát triển ngành du lịch vùng mang tầm quốc tế.  
Tài liệu tham khảo  
Anh, V. T. T., Thái, L. V., & Thang, V. T. (2007). Provincial extralegal investment incentives in  
the context of decentralisation in Viet Nam: mutually beneficial or a race to the bottom. UNDP  
Policy Dialogue Paper. Hanoi.  
Cục Đầu tư nước ngoài (1995-2019). Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam  
Cục Thống kê Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh  
Thuận, Bình Thuận (2017). Niên giám thống kê năm 2016. Nxb Thống kê.  
Hoàng Hồng Hiệp và cộng sự (2019). Nghiên cứu những nhân tố tác động đến thu hút  
FDI tại các tỉnh vùng Nam Trung Bộ. Đề tài cấp Bộ 2017-2018. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt  
Nam.  
Malesky, E. J. (2008). Straight ahead on red: how foreign direct investment empowers  
subnational leaders. The Journal of Politics, 70(1), 97-119.  
VCCI (2018). Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2017. QĐXB số: 230B/QĐ-NXBTN  
ngày 16/03/2018.  
pdf 14 trang Thùy Anh 16400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Rào cản trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Nam Trung Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfrao_can_trong_thu_hut_dau_tu_truc_tiep_nuoc_ngoai_vao_vung_n.pdf