Sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội và lòng trung thành thương hiệu: Nghiên cứu thực nghiệm với các thương hiệu mỹ phẩm

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
SỰ GẮN KẾT KHÁCH HÀNG VỚI CỘNG ĐỒNG THƯƠNG HIỆU TRÊN MẠNG XÃ  
HỘI VÀ LÒNG TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM  
VỚI CÁC THƯƠNG HIỆU MỸ PHẨM  
CUSTOMER ENGAGEMENT WITH BRAND COMMUNITY ON SOCIAL NETWORK  
AND THEIR LOYALTY: AN EMPIRICAL STUDY WITH COSMETIC BRANDS  
ThS. Trương Đình Quốc Bảo  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
Tóm tắt  
Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm định thang đo sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu  
trên mạng xã hội tại Việt Nam và xem xét ảnh hưởng của sự gắn kết này đến lòng trung thành thương hiệu.  
Nghiên cứu này đề xuất một mô hình nhân tố bậc hai để đo lường sự gắn kết khách hàng theo quan điểm tâm lý  
học tổ chức. Nghiên cứu ứng dụng thang đo sự gắn kết được đề xuất bởi So và cộng sự (2014) bao gồm 5 thành  
phần sự nhiệt tình, tình cảm gắn bó, sự chú tâm, sự say mê và sự tương tác. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 262  
đáp viên tại thành phố Đà Nẵng bằng một thang đo CE gồm 21 chỉ báo. Nghiên cứu đã kiểm định thành công  
thang đo sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội với 16 chỉ báo và 5 thành phần  
như đề xuất. Kết quả cũng cho thấy, sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu là nhân tố dự đoán ý  
định trung thành thương hiệu của khách hàng. Với việc kiểm định thành công thang đo sự gắn kết thương hiệu  
với cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội tại Việt Nam, nghiên cứu này đã cung cấp một bằng chứng thực  
nghiệm và góp phần làm phong phú thêm lĩnh vực nghiên cứu về sự gắn kết thương hiệu. Các nhà quản trị  
thương hiệu có thể nhận thấy vai trò của cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội và hành vi gắn kết của khách  
hàng và lòng trung thành thương hiệu. Qua đó, các nhà quản trị thương hiệu có những chiến lược xây dựng,  
quản trị và phát triển thương hiệu của mình.  
Từ khóa: sự gắn kết khách hàng, sự gắn kết thương hiệu, cộng đồng thương hiệu, lòng trung thành  
thương hiệu.  
Abstract  
This study aims to validate the scale of customer engagement (CE) with brand community on social  
network in Vietnam and investigate the impact of customer engagement to brand loyalty. This study offers a  
novel second-order factor model of customer engagement that derives from organizational psychology. We  
adapt the customer engagement scale of So et al. (2014) including five dimensions: identification, enthusiasm,  
attention, absorption, and interaction. We collect questionnaires from 262 respondents in Danang city with a  
26-items scale of CE. The results support the five-dimensional factor structure of customer engagement with  
brand community on social network. CE also a factor that predicts intention to loyalty with brand. This study  
provides an empirical evidence and contributes to the theory of customer engagement. Brand managers can  
recognize the important role of brand community, especially online brand community to customer engagement  
and their brand loyalty. Thus, brand managers may have a suitable strategy for building, managing and  
developing their brand.  
Key words: customer engagement, brand engagement, brand community, brand loyalty.  
1. Giới thiệu  
Cùng với sự phát triển bùng nổ của Internet và mạng xã hội, chiến lược bán hàng, xây dựng  
thương hiệu trên mạng xã hội là một phần không thể thiếu trong chiến lược kinh doanh hiện đại. Hiện  
nay, người tiêu dùng có thể tham gia vào các cộng đồng trực tuyến (ví dụ: có thể là một group trên  
Facebook, hay một tài khoản Instagram của thương hiệu) để tương tác với thương hiệu và người sử  
dụng khác. Sự gắn kết của khách hàng đối với các cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội được quan  
tâm những năm gần đây vì những lợi ích không thể chối bỏ của nó đến kết quả kinh doanh của doanh  
nghiệp. Cụ thể đó là sự tăng trưởng doanh số, khuyến khích khách hàng tương tác, phản hồi với  
231  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
thương hiệu. Vì vậy hiểu được hành vi gắn kết này của khách hàng là rất cần thiết và quan trọng trong  
chiến lược phát triển thương hiệu và xây dựng mối quan hệ với khách hàng.  
Tuy nhiên, các nghiên cứu đi trước trên thế giới chưa có sự thống nhất về cách thức đo lường  
sự gắn kết thương hiệu và chỉ được đo lường ở các đối tượng nghiên cứu riêng lẻ. Các nghiên cứu  
trước phần lớn cũng được làm tại các nước phương Tây, chưa có nhiều nghiên cứu tại khu vực Châu Á  
nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Đáp lại những lời kêu gọi cần có thêm những nghiên cứu thực  
nghiệm tại các thị trường mới nổi và đa dạng các chủng loại thương hiệu, nghiên cứu này thực hiện  
nghiên cứu sự gắn kết khách hàng với đối tượng là các thương hiệu mỹ phẩm và cộng đồng thương  
hiệu trực tuyến. Để làm rõ được khái niệm cũng như nghiên cứu ảnh hưởng của sự gắn kết đến lòng  
trung thành với thương hiệu, nghiên cứu này đặt ra hai mục tiêu: Thứ nhất, hiệu lực thang đo sự gắn  
kết khách hàng với thương hiệu trên mạng xã hội cho thị trường Việt Nam. Thứ hai, nghiên cứu ảnh  
hưởng của sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội đối với lòng trung  
thành thương hiệu.  
2. Cơ sơ lý thuyết  
2.1. Sự gắn kết khách hàng  
Sự gắn kết khách hàng được cho là sự tương tác được lặp đi lặp lại giữa khách hàng và một  
doanh nghiệp (tổ chức) mà qua đó gia tăng sự đầu tư (về tâm lý, cảm xúc, hành vi) của khách hàng có  
với thương hiệu và tổ chức đó (Hollebeek, Glynn, & Brodie, 2014). Lý thuyết về sự trao đổi xã hội có  
thể được viện dẫn để giải thích cho sự đầu tư này, một cá nhân đánh giá những chi phí và lợi ích (hữu  
hình và vô hình) mà họ nhận được khi xây dựng mối quan hệ với thương hiệu/tổ chức. Theo lẽ thường  
tình, khách hàng tối thiểu phải cảm thấy sự cân bằng trong giá trị mà họ nhận được với chi phí mà họ  
bỏ ra trong một khoảng thời gian của mối quan hệ này (Brodie, Hollebeek, Jurić, & Ilić, 2011;  
Hollebeek, 2011a). Ví dụ, khách hàng có thể đầu tư sự chú ý và sự nhiệt tình của mình vào việc tương  
tác với thương hiệu qua đó họ có thể nhận được những lợi ích như có được thông tin mới về thương  
hiệu, cách thức sử dụng sản phẩm, những chương trình khuyến mãi hay những giá trị tăng thêm từ  
thương hiệu.  
Phần lớn các nghiên cứu đi trước đều ủng hộ định nghĩa sự gắn kết khách hàng là một khái  
niệm nhiều chiều (hay đa tiêu thức), trong đó nhiều tác giả cho rằng nó bao gồm các thành phần lý trí,  
cảm xúc và hành vi (Bowden, 2009; Brodie & cộng sự, 2011; Brodie, Ilic, Juric, & Hollebeek, 2013;  
Dessart, Veloutsou, & Morgan-Thomas, 2015; So, King, & Sparks, 2014). Định nghĩa về hành vi gắn  
kết khách hàng, Van Doorn & cộng sự (2010) cho rằng hành vi gắn kết khách hàng bao gồm sự hoạt  
hóa, hình thức, phạm vi, mức độ ảnh hưởng của sự gắn kết và mục tiêu của khách hàng. Định nghĩa  
này nhằm phân biệt sự gắn kết với sự lôi cuốn (involvement), một khái niệm hay được đem ra so sánh  
với khái niệm sự gắn kết. Ủng hộ cho việc phân biệt hai khái niệm này, So & cộng sự (2014) cho rằng  
sự lôi cuốn dường như chỉ giới hạn ở thành phần nhận thức (hay lý trí), trong khi sự gắn kết là sự kết  
hợp giữa 3 thành phần nhận thức (lý trí), cảm xúc và hành vi (Hollebeek, 2011b; Vivek, Beatty, &  
Morgan, 2012).  
Những phân tích gần đây về sự gắn kết khách hàng cho thấy, khái niệm sự gắn kết là một khái  
niệm đa tiêu thức gồm ba thành phần: nhận thức (sự tập trung và sở thích của khách hàng với một  
thương hiệu/tổ chức cụ thể), cảm xúc (cảm giác tự hào hoặc được truyền cảm hứng từ một thương  
hiệu/tổ chức cụ thể), và hành vi (nỗ lực và năng lượng cần thiết của khách hàng nhằm tương tác với  
một thương hiệu/tổ chức cụ thể) (Kuvykaitė & Tarutė, 2015). Tuy nhiên, sự gắn kết khách hàng không  
phải luôn luôn tồn tại từ việc kết hợp 3 thành phần này độc lập mà có thể trùng lắp với nhau dựa trên  
nền tảng là 3 thành phần trên. Cụ thể, So & cộng sự (2014) cũng cho rằng khái niệm sự gắn kết khách  
hàng là một khái niệm đa tiêu thức, tuy nhiên bao gồm 5 thành phần là sự nhiệt tình, tình cảm gắn bó,  
sự chú tâm, sự say mê và sự tương tác. Mặc dù có sự khác nhau về số lượng, tuy nhiên bản chất của  
khái niệm không thay đổi. So & cộng sự (2014) khi phát triển khái niệm sự gắn kết khách hàng cũng  
xuất phát từ định nghĩa của Hollebeek (2011b) gồm 3 thành phần và phát triển cụ thể hơn. Trong đó,  
232  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
sự tương tác đại diện cho thành phần hành vi của sự gắn kết khách hàng, tình cảm gắn bó đại diện cho  
thành phần cảm xúc của sự gắn kết khách hàng, trong khi đó sự say mê, sự nhiệt tình và sự chú tâm đại  
diện cho thành phần nhận thức của sự gắn kết khách hàng. Phân tích kĩ lưỡng, định nghĩa của 3 thành  
tố sự say mê, sự nhiệt tình và sự chú tâm của So & cộng sự (2014) đề xuất, có thể nhận thấy chúng có  
đặc điểm của cả thành phần nhận thức và cảm xúc.  
2.2. Thành phần của khái niệm sự gắn kết khách hàng  
Nghiên cứu này dựa trên đề xuất của So & cộng sự (2014) về khái niệm sự gắn kết khách hàng  
gồm 5 thành phần sự nhiệt tình, tình cảm gắn bó, sự chú tâm, sự say mê và sự tương tác. Định nghĩa  
của từng thành phần như sau:  
Sự nhiệt tình đại diện cho “sự phấn khích hoặc nhiệt tình” của một cá nhân và sự quan tâm của  
họ đến một thương hiệu (Vivek & cộng sự, 2012). Bên cạnh đó, So & cộng sự (2014, p. 308) cũng cho  
rằng sự nhiệt tình “đại diện cho mức độ hứng thú và ưa thích mạnh mẽ của một cá nhân liên quan đến  
sự tập trung vào sự gắn kết… và phân biệt nó với các khái niệm tương tự như sự hài lòng”.  
Sự chú tâm liên quan đến mức độ tập trung của khách hàng, có ý thức và vô thức, về thương  
hiệu. Sự chú ý liên tục với một thương hiệu có thể dẫn tới sự gắn kết cao hơn (Scholer & Higgins,  
2009).  
Sự say mê được phân tích sâu hơn từ khái niệm của sự chú tâm, liên quan đến mức độ tập trung  
cao độ của khách hàng với thương hiệu (Schaufeli, Salanova, González-Romá, & Bakker, 2002). Sự  
say mê là một đặc điểm tích cực, ở đó khách hàng sẽ hoàn toàn say mê với thương hiệu, phần lớn họ sẽ  
không nhận thức được bao nhiêu thời gian họ đã bỏ ra để dành cho thương hiệu (Patterson, Campbell,  
Busch-Vishniac, & Guillaume, 2011).  
Sự tương tác là thành tố nền tảng của sự gắn kết, bao gồm sự chia sẻ và trao đổi những ý tưởng,  
suy nghĩ, cảm nhận về các kinh nghiệm họ có với thương hiệu hoặc với các khách hàng khác của  
thương hiệu (Vivek, Beatty, Dalela, & Morgan, 2014). Sự tương tác được ủng hộ bởi lý thuyết về sự  
gắn kết khách hàng, trong đó sự tương tác có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, online hoặc offline.  
Tình cảm gắn bó liên quan đến việc khách hàng có sự đồng cảm với một số thương hiệu hơn là  
các thương hiệu khác, đặc biệt với các thương hiệu có hình ảnh phù hợp với hình ảnh cá nhân của họ  
(Bagozzi & Dholakia, 2006).  
2.3. Sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu  
Sự gắn kết khách hàng với thương hiệu có thể tồn tại thông qua việc tham gia và gắn kết với  
các cộng đồng thương hiệu. Các cộng đồng này có thể là các cộng đồng trực tiếp (offline – tiếp xúc  
trực tiếp), ví dụ các cộng đồng của các fan hâm mộ một người nổi tiếng hay một thương hiệu nào đó  
(cộng đồng fan bóng đá của câu lạc bộ Manchester United hay cộng đồng người sử dụng xe máy  
Harley Davidson là một ví dụ điển hình), hoặc là cộng đồng gián tiếp (online) thông qua các cộng  
đồng trên Internet, trong đó mạng xã hội chiếm một vị trí quan trọng trong việc hình thành các cộng  
đồng này.  
Khác với các hình thức cộng đồng trực tuyến trong giai đoạn đầu (diễn đàn-forum) phần lớn do  
thương hiệu lập ra và quản trị, cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội có thể được lập ra và quản trị  
bởi doanh nghiệp hoặc bởi chính khách hàng. Nó cho phép sự tương tác hai chiều giữa khách hàng và  
thương hiệu (Hennig-Thurau & cộng sự, 2010; Vivek & cộng sự, 2012). Mạng xã hội được định nghĩa  
là “nhóm các ứng dụng dựa vào nền tảng Internet mà được xây dựng dựa trên nền tảng ý tưởng và  
công nghệ Web 2.0 và cho phép người dùng tạo ra và trao đổi những nội dung của họ” (Kaplan &  
Haenlein, 2010, p. 61). Vì vậy, Facbook, Youtube, Instagram, Zalo, … được xem như là một nền tảng  
mạng xã hội. Những nền tảng này cho phép khách hàng (người dùng) bình luận, đánh giá, chia sẻ, và  
tạo ra các nội dung trực tuyến có thể được tìm thấy thông qua các công cụ tìm kiếm trực tuyến. Như  
233  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
vậy, có thể nhận thấy tầm quan trọng của mạng xã hội đối với việc hình thành các cộng đồng thương  
hiệu trên mạng xã hội và sự gắn kết của khách hàng với cộng đồng trực tuyến này là rất quan trọng.  
3. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
Điểm mới của nghiên cứu đó là thang đo sự gắn kết khách hàng được đo lường như là một  
nhân tố bậc hai được cấu thành từ 5 nhân tố thành phần đã đề xuất ở trên. Theo đề xuất của So & cộng  
sự (2014), chúng tôi xử lý nhân tố sự gắn kết của khách hàng với cộng đồng thương hiệu theo một mô  
hình nhân tố bậc hai, cấu tạo từ 5 thành phần nhân tố bậc 1. Ý định trung thành với thương hiệu là một  
biến số kết quả được nhiều tác giả trước đề xuất khi nghiên cứu về sự gắn kết khách hàng với thương  
hiệu. Ý định trung thành với thương hiệu được định nghĩa bởi Zeithaml, Berry, & Parasuraman (1996)  
đó là dự định của khách hàng sẽ nói những điều tích cực về thương hiệu, giới thiệu thương hiệu với  
người khác và bạn bè, và mua thương hiệu trong thời gian sắp tới. Nghiên cứu trước cho thấy sự cam  
kết của khách hàng với cộng đồng thương hiệu dẫn đến các hành vi xã hội có cường độ cao bên trong  
cộng đồng (Kang, Lee, Lee, & Choi, 2007), và nâng cao khả năng họ giới thiệu cộng đồng cho người  
khác. Muniz & O'guinn (2001) cho rằng, những trao đổi xã hội bên trong các cộng đồng thương hiệu  
cung cấp các cơ hội cho các thành viên bộc lộ sự khác biệt của bản thân với những người khác và thể  
hiện kiến thức và sự sùng bái của họ với thương hiệu. Hành vi này được hiểu sẽ làm gia tăng lòng  
trung thành của thành viên với thương hiệu của cộng đồng đó, đây là tư tưởng chủ yếu của việc hình  
thành các cộng đồng thương hiệu (Laroche, Habibi, & Richard, 2013). Chính vì vậy, với các lập luận  
trên nghiên cứu này đề xuất hai giả thuyết,  
H1: Sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu là một khái niệm đa tiêu thức bao gồm  
5 thành phần sự nhiệt tình, tình cảm gắn bó, sự chú tâm, sự say mê và sự tương tác.  
H2: Sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu ảnh hưởng tích cực đến ý định trung  
thành với thương hiệu.  
Giả thuyết được mô hình hóa như Hình 1.  
Sự nhiệt tình  
Tình cảm gắn bó  
H2  
Sự gắn kết khách  
hàng với cộng  
Ý định trung  
thành với  
thương hiệu  
Sự chú tâm  
Sự say mê  
đồng thương hiệu  
Sự tương tác  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này là một nghiên cứu định lượng được thực hiện trên mẫu 262 đáp viên tại thành  
phố Đà Nẵng. Đối tượng khảo sát là những người tham gia vào các Group, like các Fan-Page hay theo  
dõi các kênh mạng xã hội của các thương hiệu mỹ phẩm trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook,  
Instagram, Youtube. Độ tuổi của đáp viên từ 18 đến 28 tuổi, với 70.3 % từ 20 đến 22 tuổi, 96,6% là nữ  
giới, và 90% đang học đại học. Thời gian tham gia mạng xã hội mỗi ngày từ 1 đến 3 giờ là 37.4%; từ 3  
đến 5 giờ là 38.9%. 61,5% người tham gia khảo sát đang đi làm việc bán thời gian.  
234  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Thang đo sự gắn kết thương hiệu trong nghiên cứu này được ứng dụng từ thang đo của So và  
cộng sự (2014) bao gồm 5 nhân tố lớn: Tình cảm gắn bó (identification) được đo lường bởi 5 chỉ báo  
của Ashforth và Mael (1989); Sự nhiệt tình (enthusiasm) được đo lường bởi 4 chỉ báo của (Vivek &  
cộng sự, 2014), sự chú tâm (attention) được đo lường bởi 4 chỉ báo của (Vivek & cộng sự, 2014), sự  
say mê (absorption) được đo lường bởi 4 chỉ báo của Sachaufei et al. (2002) và sự tương tác  
(interaction) được đo lường bởi 4 chỉ báo của Wiertz và de Ruyter (2007). Thang đo được điều chỉnh  
để phù hợp với đối tượng nghiên cứu là cộng đồng thương hiệu trực tuyến (xem bảng 1). Lòng trung  
thành được đo lường bởi thang đo gồm 4 chỉ báo của Zeithaml và ctg (1996).  
Bảng 1: Thang đo sử dụng trong nghiên cứu  
Kí hiệu  
Phát biểu chỉ báo  
Tình cảm gắn bó  
Khi có ai đó chỉ trích cộng đồng, tôi cảm thấy như là một sự công kích cá Ashforth và Mael  
Nguồn  
ID1  
nhân  
(1989) trích từ (So &  
cộng sự, 2014)  
ID2  
ID3  
Tôi quan tâm đến những gì người khách nghĩ về cộng đồng  
Tôi cảm thấy sự thành công và phát triển của cộng đồng cũng chính là sự  
thành công, phát triển của bản thân tôi  
ID4  
ID5  
Khi người khác khen ngợi cộng đồng, tôi cảm thấy đó như là một thành  
tựu cá nhân  
Khi nói về cộng đồng, tôi thường dùng “chúng tôi nói” hơn là “họ nói”  
Sự nhiệt tình  
EN1  
EN2  
EN3  
EN4  
Tôi dùng nhiều thời gian rảnh của mình để nghĩ về cộng đồng này  
Tôi coi trọng cộng đồng này  
Tôi đam mê với cộng đồng này  
Một ngày của tôi sẽ không như bình thường nếu tôi không một lần ghé  
vào cộng đồng  
Vivek & cộng sự  
(2014)  
Sự chú tâm  
AT1  
AT2  
AT3  
AT4  
Tôi thích nghe những thông tin cập nhật từ cộng đồng  
Tôi dành nhiều sự chú ý của mình về những thứ liên quan đến cộng đồng  
Mọi thứ liên quan đến cộng đồng chiếm được sự quan tâm của tôi  
Tôi tập trung nhiều vào cộng đồng này  
Vivek & cộng sự  
(2014)  
Rothbard (2001)  
Sự say mê  
AB1  
AB2  
Khi tôi tham gia tương tác trong cộng đồng, tôi tập trung vào nó mà ít suy Sachaufei et al.  
nghĩ tới những thứ khác  
(2002)  
Khi tôi tương tác trong cộng đồng, tôi như ở một nơi khác, quên mọi thứ  
xung quanh  
AB3  
AB4  
Thời gian như trôi nhanh hơn khi tôi tương tác trong cộng đồng  
Khi đang tương tác trong cộng đồng, thật khó để làm tôi bị xao nhãng  
Sự tương tác  
IN1  
IN2  
IN3  
IN4  
Nhìn chung, tôi thích tham gia vào các cuộc thảo luận trong cộng đồng Wiertz và de Ruyter  
này  
(2007)  
Tôi là người thích tương tác với những người có cùng quan điểm trong  
cộng đồng này  
Tôi là một người thích tham gia tích cực vào các cuộc thảo luận trong  
cộng đồng này  
Nói chung, tôi hoàn toàn thoải mái trao đổi ý tưởng với những người  
khác trong cộng đồng này  
Ý định trung thành với thương hiệu  
BIL1  
BIL2  
BIL3  
BIL4  
Tôi sẽ nói những điều tốt đẹp về thương hiệu này với mọi người  
Tôi sẽ giới thiệu thương hiệu này cho những người cần lời khuyên của tôi  
Tôi sẽ khuyến khích người thân và bạn bè của tôi mua thương hiệu này  
Tôi dự kiến sẽ mua nhiều sản phẩm của thương hiệu này trong thời gian  
tới  
Zeithaml và ctg  
(1996)  
235  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
5. Phân tích kết quả  
Thang đo được kiểm định theo một quy trình khoa học từ phân tích nhân tố EFA, phân tích  
nhân tố khẳng định CFA, phân tích độ tin cậy và kiểm định giả thuyết thông qua phân tích mô hình cấu  
trúc tuyến tính SEM.  
Kết quả phân tích nhân tố sử dụng phép quay Promax và phương pháp trích nhân tố Principal  
Axis Factoring cho thấy, các chỉ báo ID4, ID5, EN1, AB2, và IN1 bị loại bỏ vì có trọng số factor  
loading nhỏ hơn 0.5. Các chỉ báo còn lại được nhóm thành 6 nhân tố đúng như đề xuất ban đầu  
(KMO=0.915, Bartlett's Test=3272.389, .sig=0.000). Phân tích nhân tố khẳng định CFA cho thấy chỉ  
số mô hình tốt, phù hợp với dữ liệu thị trường (Chi-square/df=1.720; p-value=0.000; GFI=0.906;  
TLI=0.957; CFI=0.965; RMSEA=0.053).  
Bảng 2: Phân tích độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích và tương quan nội tại  
CR  
0.828  
AVE  
0.615  
IN  
0.784  
0.345  
0.686  
0.653  
0.654  
0.723  
AT  
BIL  
AB  
EN  
ID  
IN  
AT  
BIL  
AB  
EN  
ID  
0.864  
0.886  
0.874  
0.892  
0.796  
0.614  
0.660  
0.700  
0.734  
0.567  
0.783  
0.663  
0.174  
0.367  
0.268  
0.813  
0.332  
0.606  
0.505  
0.836  
0.541  
0.728  
0.857  
0.700  
0.753  
Số in đậm ở đường chéo là căn bậc hai của AVE và số in thường dưới đường chéo là giá trị tuyệt đối của chỉ số  
tương quan nội tại  
Thang đo sự gắn kết khách hàng được kiểm định độ tin cậy tổng hợp (CR) và chỉ số hiệu lực  
hội tụ AVE. Bảng 3 cho thấy độ tin cập tổng hợp của từng nhân tố cao (>0.70) và AVE lớn hơn 0.50,  
do đó thang đo đạt được độ tin cậy. Anderson & Gerbing (1988) cho rằng thang đo cũng đạt giá trị hội  
tụ khi các trọng số chuẩn hóa đều cao (>0.05) và giá trị phân biệt khi AVE lớn hơn bình phương tương  
quan giữa các nhân tố (xem bảng 2), do vậy thang đo đạt được giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Kết  
quả cho thấy, sự gắn kết khách hàng là một khái niệm đa tiêu thức, tức là một nhân tố bậc hai bao gồm  
5 thành phần (dimensions) với các chỉ số kiểm định mô hình tốt (Chi-square/df= 2.333; GFI= 0.868;  
TLI=0.920; CFI=0.931; RMSEA=0.071). Chúng tôi quan sát thấy sự gắn kết khách hàng với cộng  
đồng thương hiệu giải thích các thành phần (nhân tố bậc 1) như sau: sự nhiệt tình (beta chuẩn  
hóa=0.79, Critical ratio, CR=5.967, p<0.000), tình cảm gắn bó (beta chuẩn hóa=0.85, Critical ratio,  
CR=5.851, p<0.000), sự chú tâm (beta chuẩn hóa=0.45, Critical ratio, CR=5.679, p<0.000), sự say mê  
(beta chuẩn hóa=0.70, Critical ratio, CR=5.679, p<0.000) và sự tương tác (beta chuẩn hóa=0.88,  
Critical ratio, CR=5.895, p<0.000). Do đó, giả thuyết H1 được chấp nhận  
Nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê của sự gắn kết khách hàng đối với  
thương hiệu trên mạng xã hội ảnh hưởng tích cực (beta= 0.71, .sig=0.000, R2=51%) đến lòng trung  
thành thương hiệu. Do đó, giả thuyết H2 được chấp nhận.  
6. Kết luận  
Nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng của sự gắn kết khách hàng đối với lòng trung thành  
thương hiệu. Nghiên cứu cũng hiệu lực thành công thang đo sự gắn kết khách hàng với thương hiệu  
trên mạng xã hội tại thị trường Việt nam, một lĩnh vực còn mới và ít được nghiên cứu. Kết quả cho  
thấy 5 thành phần của sự gắn kết khách hàng có tầm quan trọng không giống nhau, trong đó sự tương  
tác (thuộc về nhân tố hành vi) là thành phần mạnh nhất trong các thành phần của sự gắn kết khách  
hàng, đây cũng là thành phần cơ bản nhất. Điều này cho thấy, sự tương tác giữa khách hàng với  
thương hiệu và các khách hàng khác trong cộng đồng rất quan trọng với sự gắn kết của họ với cộng  
đồng thương hiệu. Tình cảm gắn bó (thuộc nhân tố cảm xúc) là thành phần mạnh thứ hai (beta=0.85)  
cho thấy vai trò của yếu tố cảm xúc trong sự gắn kết khách hàng. Như vậy khách hàng rất quan tâm  
236  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
đến hình ảnh của thương hiệu, họ tìm thấy sự tương đồng về hình ảnh của mình với hình ảnh thương  
hiệu, đây cũng chính là lý do khách hàng có tình cảm và bảo vệ thương hiệu (Bagozzi & Dholakia,  
2006). Các thành phần còn lại (sự nhiệt tình, sự say mê và sự chú tâm) là các thành phần thuộc nhân tố  
nhận thức (lý trí) lần lược là thành phần mạnh thứ ba, tư và năm của sự gắn kết thương hiệu cho thấy  
khách hàng bỏ nhiều nỗ lực (tâm trí và thời gian) trong việc gắn kết với cộng đồng thương hiệu.  
Nghiên cứu này cũng chứng minh được sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu trên mạng  
xã hội là khái niệm đa tiêu thức tồn tại như là một nhân tố bậc hai của 5 thành phần sự nhiệt tình, tình  
cảm gắn bó, sự chú tâm, sự say mê và sự tương tác. Ngoài ra, nghiên cứu cũng kiểm định thành công  
ảnh hưởng tích cực của sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội đến ý định  
trung thành thương hiệu. Sự gắn kết với cộng đồng thương hiệu là một yếu tố dự đoán quan trọng đến  
lòng trung thành thương hiệu (giải thích 51% lòng trung thành). Nghiên cứu bổ sung vào cơ sở lý  
thuyết liên quan đến sự gắn kết khách hàng bằng cách khẳng định vai trò của sự gắn kết khách hàng  
với cộng đồng thương hiệu đối với lòng trung thành thương hiệu, và khẳng định lòng trung thành là  
biến kết quả quan trọng của sự gắn kết khách hàng.  
Các nhà quản trị thương hiệu sử dụng nền tảng mạng xã hội có thể gia tăng sự gắn kết của  
khách hàng với thương hiệu và lòng trung thành của họ. Phân tích 5 thành phần của sự gắn kết sẽ giúp  
nhà quản trị thương hiệu có cái nhìn bao quát và cụ thể hơn về những công việc họ cần phải làm để  
khuyến khích khách hàng gắn kết với thương hiệu. Markerter phải hiểu được tầm quan trọng của các  
yếu tố của mạng xã hội như hình ảnh, video, bình luận, đánh giá, chia sẻ có thể được tạo ra bởi chính  
thương hiệu hoặc khách hàng nhằm thúc đẩy 5 thành phần của sự gắn kết khách hàng. Ví dụ, các  
thương hiệu có thể tạo ra các sản phẩm truyền thông (hình ảnh, video) với nội dung hấp dẫn nhằm gia  
tăng sự chú ý, và tương tác của khách hàng. Thêm vào đó, thương hiệu có thể cung cấp những đánh  
giá, tham gia bình luận và thể hiện sự trung thực trên các cộng đồng trực tuyến trên mạng xã hội nhằm  
khuyến khích khách hàng tương tác và trao đổi với thương hiệu.  
Nghiên cứu này mặc dù được triển khai theo một quy trình khoa học bài bản, vẫn có một số  
giới hạn cần đề cập. Thứ nhất, mẫu nghiên cứu chỉ được lấy tại Đà Nẵng và trên đối tượng khách hàng  
sử dụng và tham gia các cộng đồng mỹ phẩm (chủ yếu là nữ) nên chưa thể có tính bao quát. Các  
nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng thang đo đã được kiểm định ở nghiên cứu này để nghiên cứu trên  
các đối tượng khác, và các loại thương hiệu khác qua đó mẫu có thể đại diện hơn. Thứ hai, nghiên cứu  
khảo sát chủ yếu trên nền tảng mạng xã hội facebook, các nền tảng khác như youtube hay instagram và  
các diễn đàn chưa xuất hiện nhiều trong mẫu nghiên cứu, các nghiên cứu tiếp theo nên cân nhắc nghiên  
cứu với các đối tượng này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Anderson, J. C., & Gerbing, D. W. (1988). Structural equation modeling in practice: A review and  
recommended two-step approach. Psychological bulletin, 103(3), 411-423.  
2. Bagozzi, R. P., & Dholakia, U. M. (2006). Antecedents and purchase consequences of customer  
participation in small group brand communities. International Journal of Research in Marketing, 23(1), 45-  
61. doi:10.1016/j.ijresmar.2006.01.005  
3. Bowden, J. L.-H. (2009). The process of customer engagement: A conceptual framework. Journal of  
Marketing Theory and Practice, 17(1), 63-74. doi:10.2753/MTP1069-6679170105  
4. Brodie, R. J., Hollebeek, L. D., Jurić, B., & Ilić, A. (2011). Customer engagement: Conceptual domain,  
fundamental propositions, and implications for research. Journal of Service Research, 14(3), 252-271.  
doi:10.1177/1094670511411703  
5. Brodie, R. J., Ilic, A., Juric, B., & Hollebeek, L. (2013). Consumer engagement in a virtual brand  
community: An exploratory analysis. Journal of Business Research, 66(1), 105-114.  
doi:10.1016/j.jbusres.2011.07.029  
237  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
6. Dessart, L., Veloutsou, C., & Morgan-Thomas, A. (2015). Consumer engagement in online brand  
communities: a social media perspective. Journal of Product & Brand Management, 24(1), 28-42.  
doi:10.1108/JPBM-06-2014-0635  
7. Hennig-Thurau, T., Malthouse, E. C., Friege, C., Gensler, S., Lobschat, L., Rangaswamy, A., & Skiera, B.  
(2010). The impact of new media on customer relationships. Journal of Service Research, 13(3), 311-330.  
doi:10.1177/1094670510375460  
8. Hollebeek, L. D. (2011a). Demystifying customer brand engagement: Exploring the loyalty nexus. Journal  
of Marketing Management, 27(7-8), 785-807. doi:10.1080/0267257X.2010.500132  
9. Hollebeek, L. D. (2011b). Exploring customer brand engagement: definition and themes. Journal of  
Strategic Marketing, 19(7), 555-573. doi:10.1080/0965254X.2011.599493  
10. Hollebeek, L. D., Glynn, M. S., & Brodie, R. J. (2014). Consumer brand engagement in social media:  
Conceptualization, scale development and validation. Journal of Interactive Marketing, 28(2), 149-165.  
doi:10.1016/j.intmar.2013.12.002  
11. Kang, I., Lee, K. C., Lee, S., & Choi, J. (2007). Investigation of online community voluntary behavior using  
cognitive map. Computers in Human Behavior, 23(1), 111-126. doi:10.1016/j.chb.2004.03.039  
12. Kaplan, A. M., & Haenlein, M. (2010). Users of the world, unite! The challenges and opportunities of  
Social Media. Business Horizons, 53(1), 59-68. doi:10.1016/j.bushor.2009.09.003  
13. Kuvykaitė, R., & Tarutė, A. (2015). A critical analysis of consumer engagement dimensionality. Procedia-  
Social and Behavioral Sciences, 213(2015), 654-658. doi: 10.1016/j.sbspro.2015.11.468  
14. Laroche, M., Habibi, M. R., & Richard, M.-O. (2013). To be or not to be in social media: How brand  
loyalty is affected by social media? International Journal of Information Management, 33(1), 76-82.  
doi:10.1016/j.ijinfomgt.2012.07.003  
15. Muniz, A. M., & O'guinn, T. C. (2001). Brand community. Journal of Consumer Research, 27(4), 412-432.  
doi:10.1086/319618  
16. Patterson, E. A., Campbell, P. B., Busch-Vishniac, I., & Guillaume, D. W. (2011). The effect of context on  
student engagement in engineering. European Journal of Engineering Education, 36(3), 211-224.  
doi:10.1080/03043797.2011.575218  
17. Schaufeli, W. B., Salanova, M., González-Romá, V., & Bakker, A. B. (2002). The measurement of  
engagement and burnout: A two sample confirmatory factor analytic approach. Journal of Happiness  
studies, 3(1), 71-92. doi:10.1023/A:1015630930326  
18. Scholer, A. A., & Higgins, E. T. (2009). Exploring the complexities of value creation: The role of  
engagement strength. Journal of Consumer Psychology, 19(2), 137-143. doi:10.1016/j.jcps.2009.02.007  
19. So, K. K. F., King, C., & Sparks, B. (2014). Customer engagement with tourism brands: Scale development  
and  
validation.  
Journal  
of  
Hospitality  
&
Tourism  
Research,  
38(3),  
304-329.  
doi:10.1177/1096348012451456  
20. Van Doorn, J., Lemon, K. N., Mittal, V., Nass, S., Pick, D., Pirner, P., & Verhoef, P. C. (2010). Customer  
engagement behavior: Theoretical foundations and research directions. Journal of Service Research, 13(3),  
253-266. doi:10.1177/1094670510375599  
21. Vivek, S. D., Beatty, S. E., Dalela, V., & Morgan, R. M. (2014). A generalized multidimensional scale for  
measuring customer engagement. Journal of Marketing Theory and Practice, 22(4), 401-420.  
doi:10.2753/MTP1069-6679220404  
22. Vivek, S. D., Beatty, S. E., & Morgan, R. M. (2012). Customer engagement: Exploring customer  
relationships beyond purchase. Journal of Marketing Theory and Practice, 20(2), 122-146.  
doi:10.2753/MTP1069-6679200201  
23. Zeithaml, V. A., Berry, L. L., & Parasuraman, A. (1996). The behavioral consequences of service quality.  
Journal of Marketing, 60(2), 31-46. doi:10.2307/1251929  
238  
pdf 8 trang Thùy Anh 19580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự gắn kết khách hàng với cộng đồng thương hiệu trên mạng xã hội và lòng trung thành thương hiệu: Nghiên cứu thực nghiệm với các thương hiệu mỹ phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_gan_ket_khach_hang_voi_cong_dong_thuong_hieu_tren_mang_xa.pdf