Nghiên cứu pháp luật hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tạo tác động xã hội (Social impact business- Sib) ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP TẠO  
TÁC ĐỘNG XÃ HỘI (SOCIAL IMPACT BUSINESS- SIB) Ở MỘT SỐ  
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM  
LEGAL RESEARCH SUPPORTING SOCIAL IMPACT BUSINESS (SIB) IN SOME  
COUNTRIES IN THE WORLD AND EXPERIENCE FOR VIETNAM  
Đỗ Nhật Quang  
Lê Yến Nhi  
Nguyễn Hữu Tuấn Thành  
TÓM TẮT: Trên thực tế, doanh nghiệp tạo tác động xã hội (SIB) tại Việt Nam  
không phải là một mô hình kinh doanh quá mới, mà là một mô hình đang phát triển  
mạnh và nhận được rất nhiều sự quan tâm. Sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng  
những nghiên cứu cụ thể về SIB góp phần ghi nhận sự tồn tại của các doanh nghiệp,  
các doanh nhân trong khu vực này như là một trong những nhân tố chủ chốt giúp đạt  
được các mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc. Bài viết này được  
thực hiện nhằm nghiên cứu so sánh quy định pháp luật hỗ trợ phát triển doanh nghiệp  
tạo tác động xã hội (SIB) ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó liên hệ và rút ra bài  
học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện quy định hỗ trợ liên  
quan tới doanh nghiệp SIB.  
Từ khóa: Pháp luật, doanh nghiệp, tạo tác động xã hội.  
ABSTRACT: In fact, social impact business (SIB) in Vietnam is not a new  
business model, but one that is thriving and receiving a lot of attention. The increase  
in both quantity and quality of specific studies on SIB contributes to recognizing the  
existence of businesses and entrepreneurs in this region as one of the key factors in  
achieving the goals of Sustainable Development Goals (SDGs) of the United Nations.  
This article is conducted to study and compare the legal regulations supporting the  
development of social impact businesses (SIBs) in some countries around the world,  
Sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội; Email: [email protected]  
 Sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội  
 Sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội  
142  
thereby relating and drawing lessons from experience for Vietnam in the development  
and completion of supporting regulations related to SIB enterprises.  
Keywords: Law, business, social impact.  
1. Pháp luật về doanh nghiệp tạo tác động xã hội của một số quốc gia trên thế giới  
1.1. Doanh nghiệp tạo tác động xã hội theo quy định của pháp luật Brazil  
Ở Brazil, các doanh nghiệp SIB là các công ty tìm cách tạo tác động tích cực  
thông qua việc phát triển hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực kinh tế và xã hội.  
Đƣợc thành lập vào năm 2017 bởi Nghị định 9.244, Chiến lƣợc Quốc gia của Đầu tƣ  
và Tác động Kinh doanh sửa đổi bổ sung sắc lệnh liên bang 9.977, từ năm 2019. Cũng  
từ năm đó, luật tiểu bang gần đây của Rio Grande do Norte và Rio de Janeiro là những  
luật đầu tiên ở cấp tiểu bang đƣợc ban hành về doanh nghiệp SIB. Các nguyên tắc về  
SIB cũng đƣợc thiết lập tại các đạo luật này nhƣ: Thúc đẩy các giá trị nhân phẩm của  
con ngƣời, các giá trị xã hội của công việc và doanh nghiệp tự do; Thúc đẩy văn hóa  
doanh nhân và giáo dục; Thiết lập một môi trƣờng pháp lý thuận lợi; Ủng hộ các chính  
sách công có giá trị lợi ích khu vực; Hỗ trợ mối quan hệ tín dụng.1 Ngoài ra Ủy ban  
Đầu tƣ và Tác động Kinh doanh còn có các cơ chế đánh giá tác động nhằm đo lƣờng  
tính tạo tác động xã hội của các doanh nghiệp này mang lại. Có thể kể đến nhƣ:  
Cơ chế 1 - Tác động đến Cuente: Tác động đƣợc tạo ra đối với khách hàng của  
doanh nghiệp. Việc đo lƣờng dựa trên phần lớn đối tƣợng là các khách hàng của doanh  
nghiệp tạo tác động xã hội. Các cơ quan, tổ chức sẽ tiến hành đo lƣờng tác động dựa  
trên việc có thể khảo sát khách hàng qua phiếu khảo sát, hoặc phỏng vấn trực tiếp.  
Cơ chế 2 - Tác động đến Chuỗi: Tác động đƣợc tạo ra đối với doanh nghiệp, tổ  
chức từ khâu cung ứng nguyên vật liệu của nhà cung cấp đến khi tiến hành đƣa các sản  
phẩm ra thị trƣờng . Việc đánh giá dựa trên đến chuỗi cung ứng của doanh nghiệp tạo  
tác động xã hội, từ việc cung ứng nguyên vật liệu của nhà cung cấp đến khi doanh  
nghiệp tiến hành đƣa các sản phẩm ra thị trƣờng.  
Cơ chế 3 - Tác động đến dịch vụ: Tác động đƣợc tạo ra trực tiếp bởi sản phẩm  
hoặc dịch vụ đƣợc cung cấp, nhƣng khách hàng thì không phải là đối tƣợng bị ảnh  
hƣởng hoặc tác nhân tạo ra tác động. Đối tƣợng đánh giá tác động là các chất lƣợng  
1
arisse Stephan & Fabricio Oliveira, "Social Impact Business: Considerations on Its Nature and Regulation in  
Brazil" (2019) 62: Volume 62 Boletim Ciencias Economicas 247.  
143  
dịch vụ, cũng nhƣ những sản phẩm mà các doanh nghiệp tạo tác động xã hội này đƣợc  
đƣa ra thị trƣờng.  
Ủy ban đầu tƣ và tác động kinh doanh sẽ đánh giá tác động đối với các doanh  
nghiệp tạo tác động xã hội dựa trên một hay nhiều cơ chế đánh giá tác động tùy theo  
mục đích. Với những mô hình doanh nghiệp sau khi đánh giá mà vẫn “đạt chuẩn” thì  
Chính phủ Brazil sẽ tiếp tục phê duyệt gói hỗ trợ đối với các doanh nghiệp này từ  
“Quỹ tạo tác động xã hội” của Brazil. Mặt khác, với các doanh nghiệp sau khi tiến  
hành đánh giá mà kết quả cho rằng việc tạo tác động của các công ty, doanh nghiệp  
này không hiệu quả thì các doanh nghiệp này sẽ bị cắt giảm hoặc hủy bỏ gói hỗ trợ do  
Chính phủ phê duyệt.  
1.2. Doanh nghiệp tạo tác động xã hội theo quy định của pháp luật Hàn Quốc  
Thuật ngữ “doanh nghiệp tạo tác động xã hội” tại Hàn Quốc không đƣợc chính  
thức ghi nhận theo một đạo luật của quốc gia mà nó là sự phát triển linh hoạt từ khái  
niệm “doanh nghiệp xã hội” theo Luật Phát triển Doanh nghiệp xã hội (SEPA)- đƣợc  
ban hành ngày 03/01/2007. Tính đến năm 2012, đạo luật này đã trải qua 07 lần sửa  
đổi, bổ sung. Các hình thức doanh nghiệp tạo tác động xã hội khác nhau tại Hàn Quốc  
bao gồm: Doanh nghiệp tạo tác động xã hội đƣợc chứng nhận, doanh nghiệp tạo tác  
động xã hội liên quan đến NBLS2 và một số hình thức khác.  
Doanh nghiệp SIB của Hàn Quốc là một trƣờng hợp điển hình của doanh nghiệp  
do chính phủ định hƣớng vì nó có phát triển dƣới lợi ích của các chính sách phát triển  
do chính phủ lãnh đạo, chủ yếu do chính phủ đại diện chứng nhận và hỗ trợ chi phí  
nhân sự. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp tạo tác động xã  
hội, chính phủ Hàn Quốc kết hợp cùng chính quyền các địa phƣơng đã ban hành thêm  
nhiều dự luật và sắc lệnh về kinh tế xã hội góp phần khuyến khích các doanh nghiệp  
tạo tác động xã hội, đặc biệt đối với những khu vực có dân số đông. Hỗ trợ cho các  
doanh nghiệp tạo tác động xã hội ở Hàn Quốc có thể đƣợc tách thành chính phủ trung  
ƣơng và các cấp chính quyền địa phƣơng nhƣ sau: Ở cấp chính quyền trung ƣơng, các  
doanh nghiệp tạo tác động xã hội đƣợc chứng nhận đƣợc hỗ trợ quản lý, hỗ trợ đào  
2
Đạo luật NBLS (The National Basic Livelihood Security) ra đời và có hiệu lực vào năm 2000. Đạo luật này  
quy định một khoản trợ cấp đƣợc trao cho bất kỳ hộ gia đình nào sống trong tình trạng nghèo đói tuyệt đối, đƣợc  
xác định theo cấu trúc gia đình. NBLS bao gồm bảy loại hỗ trợ tiền tệ và phi tiền tệ, trong mối quan hệ với một  
số lĩnh vực (y tế, giáo dục, nhà ở, …)  
144  
tạo, hỗ trợ chi phí cơ sở vật chất, ƣu tiên mua hàng, miễn thuế, hỗ trợ đóng bảo hiểm  
xã hội, tài trợ cho việc cung cấp dịch vụ xã hội doanh nghiệp, miễn giảm trách nhiệm  
lao động và giảm thuế cho các công ty liên kết; Tại cấp chính quyền địa phƣơng, với  
một số thay đổi theo logic, các chính sách khác nhau đƣợc thực hiện để giúp các doanh  
nghiệp tạo tác động xã hội sơ bộ dựa trên khu vực đáp ứng các yêu cầu chứng nhận ở  
giai đoạn đầu bằng tƣ vấn quản lý, chi phí nhân sự cho việc tuyển dụng mới và chuyên  
nghiệp, chi phí kinh doanh phát triển, ƣu tiên mua hàng và hỗ trợ chuyên nghiệp. Các  
doanh nghiệp SIB đƣợc cấp giấy chứng nhận sẽ đƣợc miễn giảm tiền thuế thu nhập  
doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân trong vòng 03 năm kể từ năm doanh nghiệp  
có thu nhập đầu tiên. Ngoài ra, Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (KDB) và SK Group  
đã hợp tác để tạo ra một quỹ trị giá 44 triệu đô la (50 triệu won) để giúp đỡ các công ty  
khởi nghiệp có tác động xã hội ở Hàn Quốc.  
Chƣơng trình Thúc đẩy Doanh nghiệp Xã hội do chính phủ định hƣớng và thiết  
kế (SEPP) tại Seoul, Hàn Quốc đƣợc coi nhƣ mô hình tiêu biểu đại diện cho sự hỗ trợ  
và khuyến khích đối với các doanh nghiệp SIB. SEPP chủ yếu cung cấp ba hình thức  
hỗ trợ cho doanh nghiệp tạo tác động xã hội tƣơng lai: (i) hỗ trợ tài chính; (ii) giáo  
dục; và (iii) những cơ hội gắn liền với mạng xã hội. Lợi ích lớn nhất là hỗ trợ trả lƣơng  
khi các doanh nghiệp sử dụng lao động có thu nhập thấp và những ngƣời nhập cƣ.  
1.3. Doanh nghiệp tạo tác động xã hội theo quy định của pháp luật Singapore  
Các doanh nghiệp SIB ở Singapore có vai trò gánh vác cùng nhà nƣớc các nhiệm  
vụ xã hội, môi trƣờng là rất lớn. Về lĩnh vực kinh tế, việc thúc đẩy sự phát triển của  
các doanh nghiệp phù hợp với các nguyên tắc đặt ra đã tạo đƣợc động lực to lớn cho  
các doanh nghiệp đang nỗ lực vƣơn mình phát triển. Bên cạnh mục tiêu này còn có vai  
trò thúc đẩy đối với nhiều cá nhân khác, các cá nhân có dự tính đầu tƣ vào các doanh  
nghiệp hoặc đang làm chủ của doanh nghiệp sẽ quyết đoán hơn trong dự định kinh  
doanh của mình bởi những doanh nghiệp này theo đuổi mục tiêu lãi suất vốn hạn chế.  
Ngoài ra còn có vai trò thúc đẩy đƣợc sự hợp tác trong các cấp từ địa phƣơng đến quốc  
gia và xa hơn nữa là vƣơn tới tầm quốc tế. Đồng thời, thúc đẩy giáo dục đƣợc cho là  
một trong những vai trò hàng đầu của các doanh nghiệp SIB.  
Phần lớn số vốn để duy trì hoạt động của các doanh nghiệp này đƣợc đóng góp từ  
vốn nhân (80%) của những ngƣời sáng lập, gia đình hoặc bạn bè. Điều này cho thấy sự  
145  
phụ thuộc mạnh mẽ vào tài sản cá nhân cũng nhƣ cam kết của các doanh nghiệp xã  
hội. Bên cạnh vốn cá nhân, nguồn vốn tài trợ phổ biến thứ hai là các khoản tiền tài trợ,  
tiếp theo là vốn chủ sở hữu, tài trợ và quyên góp, và cuối cùng là các khoản cho vay.  
Các khoản tài trợ bao gồm khoản tài trợ từ Công ty VentureForGood, DBS Foundation  
Social Enterprise dẫn đầu tài trợ và các khoản tài trợ khác. Ngoài ra, có vô số các lựa  
chọn tài chính có sẵn cho doanh nghiệp xã hội ở Singapore, bao gồm cả các khoản  
vay, trợ cấp tài trợ và đầu tƣ của xã hội.  
Các doanh nghiệp tạo tác động xã hội ở Singapore đƣợc hình thành và liên kết  
với nhau trong một môi trƣờng gọi là hệ sinh thái doanh nghiệp. Nói một cách cụ thể  
hơn đó là các doanh nghiệp hay công ty hoạt động trong môi trƣờng hệ sinh thái. Nó  
mô tả cách những ngƣời tham gia hoạt động trong hệ sinh thái và các doanh nghiệp tạo  
tác động xã hội tƣơng tác, hợp tác và đồng phát triển trong mối quan hệ đôi bên cùng  
có lợi.  
Các doanh nghiệp SIB ở Singapore hoạt động theo chu kỳ, đóng góp lớn vào  
công cuộc phát triển xã hội. Doanh nghiệp SIB tìm cách đạt đƣợc các kết quả xã hội  
bên cạnh sự thành công, bền vững về tài chính. Các lĩnh vực sau đây có tầm quan  
trọng trong các mục tiêu vì con ngƣời. Có thể kể đến nhƣ cung cấp cơ hội việc làm  
chiếm tới 46%, cung cấp giáo dục (21%), cung cấp phát triển kỹ năng (19%), đặc biệt  
là khóa đào tạo và cố vấn để nâng cao phát triển bản thân, khả năng lãnh đạo và kỹ  
năng sống của cá nhân. Bên cạnh đó còn cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho cải  
thiện sức khỏe tinh thần và hạnh phúc (15%) hay nâng cao năng lực cho các tổ chức  
trong các lĩnh vực xã hội (14%), cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe / xã hội sản  
phẩm và dịch vụ chăm sóc (7%).  
2. Pháp luật về doanh nghiệp tạo tác động xã hội của Việt Nam  
Luật Doanh nghiệp 2014 số 68/2014/QH13 đã đánh dấu một bƣớc phát triển lớn  
của DNXH khi xác định các tiêu chí của một DNXH đƣợc quy định tại Điều 10, cụ  
thể: “Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: a)Là doanh nghiệp được  
đăng ký thành lập theo quy định của Luật này; b)Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết  
vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; c)Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận  
hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường  
như đã đăng ký”. Tuy nhiên vì những lí do khác nhau mà tên gọi “doanh nghiệp tạo  
146  
tác động xã hội” đƣợc ƣa chuộng hơn, việc cân bằng giữa mục tiêu giải quyết vấn đề  
xã hội và tạo ra lợi nhuận đƣợc cho là cách tiếp cận phù hợp với điều kiện kinh tế - xã  
hội của Việt Nam hiện nay. Thực tế cho thấy một bộ phận doanh nghiệp tạo tác động  
xã hội không muốn đƣợc gọi là doanh nghiệp xã hội vì: Thứ nhất họ muốn theo đuổi  
mô hình lợi nhuận; Thứ hai việc đặt sứ mệnh xã hội lên trên hết đƣợc cho rằng là chƣa  
phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay; Thứ ba, trong xã hội, các doanh nghiệp xã  
hội không có đƣợc hình ảnh tích cực nhƣ khái niệm nhân văn vốn có của nó.  
Mặc dù không có chính sách cụ thể về hỗ trợ doanh nghiệp xã hội (SE), nhƣng  
việc công nhận về pháp lý đã đƣa ra một khái niệm chung giúp thu hút sự quan tâm  
của xã hội, chính phủ và khu vực tƣ nhân vào mô hình này. Một số chính sách ƣu đãi  
về cơ sở vật chất, thuế dành riêng cho các ngành mà SIB đang vận hành nhƣ cung cấp  
các dịch vụ xã hội giáo dục, đào tạo, thể thao và văn hóa, y tế hoặc nông nghiệp và  
môi trƣờng. Hợp tác xã và doanh nghiệp sử dụng ngƣời thuộc nhóm ngoài lề xã hội  
nhƣ ngƣời khuyết tật hoặc đầu tƣ vào các khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn  
cũng đƣợc hƣởng ƣu đãi. Chính phủ bắt đầu đặt ƣu tiên cao vào phát triển bền vững và  
kinh doanh vì phát triển bền vững, bao gồm Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội Việt  
Nam và SDGs của Liên hợp quốc. Năm 2012, Việt Nam công bố Chiến lƣợc phát triển  
bền vững. Năm 2017, Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện  
chƣơng trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững. Đầu năm 2018, lần đầu tiên Việt  
Nam tổ chức Hội nghị toàn quốc về phát triển bền vững 2018 thể hiện cam kết của  
Chính phủ với phƣơng pháp tiếp cận đa đối tác và đa ngành vì phát triển bền vững.  
Các trƣờng đại học ở Việt Nam đƣợc đánh giá là khá tích cực trong việc cung cấp cho  
sinh viên nguồn tài trợ để tổ chức các cuộc thi, đào tạo và cung cấp nguồn vốn để thử  
nghiệm và mở rộng quy mô, phát triển ý tƣởng khởi nghiệp của sinh viên. Bên cạnh  
đó, một số hoạt động về đầu tƣ và hỗ trợ tài chính cũng đƣợc triển khai nhƣng chƣa  
thực sự sôi động và đổi mới.  
3. Kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hỗ  
trợ Doanh nghiệp SIB  
3.1. Về chính sách hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn và các nguồn tài chính khác  
Phần lớn các doanh nghiệp SIB đều có quy mô nhỏ và trong giai đoạn đầu tăng  
trƣởng, khả năng có lãi để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn hạn chế. Việc giảm  
147  
thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp SIB là cách hiệu quả để thu hút ngƣời tiêu dùng  
chi trả nhiều hơn cho sản phẩm và dịch vụ của khu vực SIB. Nhiều SIB đủ điều kiện  
đƣợc hƣởng ƣu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc các chƣơng trình hỗ trợ của  
Chính phủ hoặc đƣợc miễn trừ thuế nhƣng không biết đến chính sách đó hoặc không  
biết cách xử lý các thủ tục hành chính liên quan. Việc minh bạch và đơn giản hóa thủ  
tục là các cách thức quan trọng hỗ trợ SIB có thể tiếp cận đƣợc các nguồn lực này.  
Các quỹ đầu tƣ mạo hiểm thƣờng đầu tƣ để mở rộng quy mô của các SME, bây  
giờ có thể mở rộng lĩnh vực đầu tƣ của họ vào khu vực SIB. Một số giải pháp dài hạn  
từ phía Chính phủ bao gồm phát hành trái phiếu xã hội, hoặc ƣu tiên phát triển niêm  
yết các SIB trên thị trƣờng chứng khoán. Các ngân hàng phát triển quốc tế hiện tại  
cũng đang ƣu tiên đầu tƣ và cho vay đối với các doanh nghiệp kinh doanh với ngƣời  
có thu nhập thấp, và đây có thể là thông lệ tốt mà các ngân hàng phát triển trong nƣớc  
nên áp dụng. Ngoài ra, SDGs cần đƣợc thúc đẩy nhƣ công cụ quan trọng trong đo  
lƣờng tác động xã hội giúp thu hút đầu tƣ tác động cho SIB.  
3.2. Chính sách hỗ trợ phát triển thị trường và mở rộng quy mô SIB  
Nhà nƣớc có thể đƣợc coi là một trong những thực thể tiêu dùng sản phẩm và  
dịch vụ lớn nhất, vì vậy rất quan trọng trong việc gia tăng các cơ hội tham gia quá  
trình mua sắm công cho các SIB thông qua các cơ chế cụ thể nhƣ: (1) Đƣa thêm điều  
khoản về mua hàng xã hội trong các quy chế mua sắm công, ví dụ nhƣ ƣu tiên mua  
sắm từ những doanh nghiệp SIB sử dụng trên 30% nhân viên là ngƣời khuyết tật; (2)  
Chia nhỏ các gói mua sắm công để các SIB quy mô nhỏ và vừa có khả năng tham gia  
đấu thầu hoặc khuyến khích các SIB tham gia vào liên doanh khi đấu thầu; (3) Giảm  
thiểu thủ tục hành chính, hoặc mở ra một trung tâm một cửa cho SIB, giúp có thể tiếp  
cận mọi thông tin có liên quan cho hoạt động đấu thầu công khai.  
Hiện đang tồn tại một tiềm năng vô cùng lớn trong phát triển liên kết giữa SIB  
với khu vực tƣ nhân nói chung thông qua việc khuyến khích các doanh nghiệp lớn  
thực hiện thể hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng việc mua „sản phẩm xã hội‟ của  
SIB, tham gia vào các chƣơng trình ƣơm tạo để xây dựng năng lực kinh doanh và quản  
trị cho SIB và mở ra cơ hội kinh doanh từ doanh nghiệp đến doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ  
ở Hàn Quốc, các doanh nghiệp tƣ nhân vừa và lớn đầu tƣ rất nhiều vào các SIB (nhƣ  
148  
Huyndai, POSCO, SK, LG Electronics) nhƣ một phần của hoạt động trách nhiệm xã  
hội của họ.  
Tối cần thiết phải tối đa hóa lợi thế cạnh của SIB trong việc tạo ra giá trị trong xã  
hội và tạo tác động. Nhận thức trong cộng đồng và ngƣời tiêu dùng có thể đƣợc nâng  
cao thông qua các chiến dịch đƣợc chạy cùng với các tổ chức hỗ trợ; các tổ chức quốc  
tế; trao các giải thƣởng cho doanh nghiệp; tạo niềm tin trong cộng đồng và khối tƣ  
nhân; hỗ trợ các tổ chức trung gian thực hiện việc đánh giá cấp chứng chỉ cho các SIB  
hoặc các doanh nghiệp lớn có sử dụng các sản phầm tạo tác động (ví dụ nhƣ gắn mác  
chất lƣợng cho SIB).  
3.3. Về nâng cao năng lực  
Chính phủ nên ủng hộ việc phát triển các nền tàng học tập trực tuyến để các SIB  
có thể tiếp cận hoạt động đào tạo một cách độc lập. Đồng thời, Chính phủ có thể phát  
triển một bộ tiêu chí hoặc khuyến nghị bộ tiêu chí, đƣa ra hƣớng dẫn thực hiện đo  
lƣờng tác động xã hội dành cho khu vực SIB. Chính phủ cần hỗ trợ các hoạt động ƣơm  
tạo và tăng tốc cho SIB. Quỹ ƣơm tạo tạo tác động ở Anh với sự đầu tƣ của Big  
Society Capital vào năm 2013 lên đến 10 triệu bảng Anh và Seoul Creative Lab ở Hàn  
Quốc năm 20133 là các ví dụ tiêu biểu. Một phần Quỹ phát triển Khởi nghiệp đổi mới  
sáng tạo của Việt Nam có thể dành tạo quỹ cho việc nhân rộng các vƣờn ƣơm doanh  
nghiệp tạo tác động (nhƣ Trung tâm khởi nghiệp và sáng tạo xã hội (CSIE) - Trƣờng  
Đại học Kinh tế Quốc dân).  
Cần phải kết nối nhiều hơn nữa các sinh viên - doanh nhân trẻ với cộng đồng và  
những ngƣời hƣởng lợi để phát triển các giải pháp khởi nghiệp tạo tác động xã hội  
hiệu quả và bền vững. Những ngƣời tham gia hội thảo cũng đề xuất cần phải có đào  
tạo và nâng cao nhận thức về đổi mới, tinh thần doanh nhân và thúc đẩy chấp nhận rủi  
ro trong giới trẻ. Nên có sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các trƣờng đại học và hệ sinh  
thái khởi nghiệp. Các trƣờng đại học nên cung cấp không gian và hỗ trợ cho các doanh  
nhân trẻ. Hơn nữa, các trƣờng đại học nên hợp tác với các cấu phần khác của hệ sinh  
thái để phát triển các cổng trực tuyến và nền tảng hƣớng dẫn và hỗ trợ các doanh nhân  
xã hội trẻ trong khởi nghiệp tạo tác động.  
3 Cabinet Office, „£10 Million Social Incubator Fund Launches‟, gov.uk, 2012,  
149  
3.4. Về tăng cường phối hợp  
Cần phải thành lập cơ quan chuyên trách về phát triển SIB, sáng tạo xã hội, khởi  
nghiệp vì xã hội. Cơ quan chuyên trách này có thể thuộc Cục Phát triển Doanh nghiệp,  
thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, hoặc Văn phòng 844 liên quan đến khởi nghiệp đổi mới  
sáng tạo của Bộ Khoa học và Công nghệ. KoSEA (Tổ chức Thúc đẩy Doanh nghiệp  
Xã hội Hàn Quốc) là một cơ quan thuộc Bộ Lao động-Xã hội của Hàn Quốc.  
Ngoài ra nên thành lập một mạng lƣới đại diện cho khu vực SIB. Hiệp hội, mạng  
lƣới này sẽ đại diện cho tiếng nói của khu vực SIB, kết nối các thành viên và chia sẻ  
cơ hội, cùng phát triển khu vực. Hai mô hình tổ chức trên thế giới và trong khu vực mà  
Việt Nam có thể tham khảo là mô hình của raiSE của Singapore. Mạng lƣới đại diện  
này có thể đóng các vai trò chính là nâng cao nhận thức của cộng đồng và Chính phủ  
về khu vực này thông qua các chiến dịch truyền thông; là trung tâm ƣơm tạo, nâng cao  
năng lực cho SIB; cấp chứng chỉ SIB với tƣ cách là một tổ chức độc lập... Ngoài ra,  
chúng ta có thể tham khảo mô hình quyền lực công ở Brazil, Ủy ban Đầu tƣ và tác  
động Kinh doanh ở Brazil là cơ quan chịu trách nhiệm chính về việc phát triển SIB  
cũng nhƣ thực hiện một số cơ chế đánh giá tác động đối với các doanh nghiệp SIB ở  
Brazil. Các cơ quan, tổ chức có chức năng cụ thể ở đây là Ủy ban Đầu tƣ và Tác động  
Kinh doanh sẽ đánh giá tác động đối với các doanh nghiệp tạo tác động xã hội sẽ sử  
dụng một hay nhiều cơ chế đánh giá tác động tùy theo mục đích của việc đánh giá.  
4. Kết luận  
Bài nghiên cứu đã thể hiện một cách tƣơng đối đầy đủ và rõ ràng về mô hình  
doanh nghiệp tạo tác động xã hội cũng nhƣ những quy định pháp luật hỗ trợ cho mô  
hình doanh nghiệp này. Thông qua việc nghiên cứu về doanh nghiệp tạo tác động xã  
hội ở các quốc gia điển hình đó là Brazil, Hàn Quốc và Singapore. Đây là một trong số  
các quốc gia mà có sự phát triển hơn cả so với các nƣớc khác trên thế giới thể hiện qua  
vị trí pháp lý cũng nhƣ cách thức tổ chức và hoạt động tƣơng đối chặt chẽ của doanh  
nghiệp này tại quốc gia của mình. Những sự phân tích và nghiên cứu này giúp hình  
dung ra một cách tổng quan nhất đƣợc phác thảo ra để chúng ta có một cái nhìn toàn  
cảnh về doanh nghiệp tạo tác động xã hội. Việc nghiên cứu ra những điểm mới trong  
cách hoạt động cũng nhƣ các quy định pháp luật hỗ trợ mô hình doanh nghiệp tạo tác  
150  
động xã hội sẽ giúp chúng ta có thêm nhiều bài học kinh nghiệm để ứng dụng vào thực  
tiễn Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trƣơng Thị Nam Thắng, Thúc đẩy phát triển Khu vực Doanh nghiệp tạo tác  
động xã hội tại Việt Nam, NXB Công Thƣơng, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân,  
2018.  
2. Clarisse Stephan & Fabricio Oliveira, Social Impact Business:  
Considerations on Its Nature and Regulation in Brazil, 2019.  
3. Government-driven social enterprises in South Korea: lessons from the  
Social Enterprise Promotion Program in the Seoul Metropolitan Government - Kyujin  
Jung Tennesse State University, USA, Hee Soun Jang University of North Texas,  
USA.  
4. Jong Gul Kim, Current Social Enterprise Issues and Policies in Korea, 2013.  
5. Landscape of Social Enterprises in Singapore Roshini Prakash and Pauline  
Tan Social Entrepreneurship in Asia: Working Paper No.1, National University of  
Singapore, page 19, 2014.  
6. State of social Enterprise in Singapore, Singapore Centre for Social  
Enterprise, raiSE Ltd 79 Ayer Rajah Crescent, 2015.  
7. The Singapore Centre for Social Enterprise (raiSE) was set up in 2015 to  
develop the social enterprise sector in Singapore, 2015.  
151  
pdf 10 trang Thùy Anh 15520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu pháp luật hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tạo tác động xã hội (Social impact business- Sib) ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_phap_luat_ho_tro_phat_trien_doanh_nghiep_tao_tac.pdf