Nhận diện một số biến đổi văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
IDENTIFYING SOME TRADITIONAL CULTURAL CHANGES OF
ETHNIC MINORITIES IN THE CURRENT CONTEXT
Ngo Thi Trinh
Vietnam Academy for Ethnic Minorities
Email: [email protected]
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
08/10/2021
23/10/2021
27/10/2021
05/11/2021
30/11/2021
DOI:
he traditional culture of each ethnic group has a particularly important position in the construction
and development of the country. Because traditional culture is the typical values for a culture,
T
creating the identity of a nation and handed down through many generations throughout history. However,
in recent years, along with the development of the economy, especially the tourism economy, the increase
in cultural exchanges and contact between ethnic groups, between countries, traditional cultures of some
ethnic groups has been lost a lot, many cultural values of ethnic minorities have also undergone great
changes in both positive and negative directions. In this article, we will focus on researching and identifying
traditional cultural changes in the lives of ethnic minorities in our country, in order to understand traditional
culture and its changes in economy development, culture exchange and acculturation. Research results
will provide data for policy makers to develop policies to preserve and promote traditional cultural values
of the nation.
Keywords: Culture; Cultural preservation; National cultural values; Cultural change.
1. Đặt vấn đề
hưởng không nhỏ đến tiến trình xây dựng và phát
triển bền vững của đất nước. Vì vậy, chúng ta cần
phải có những giải pháp đồng bộ, phù hợp nhằm
bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền
thống của đồng bào các DTTS.
Văn hóa truyền thống là một di sản quý báu của
mỗi dân tộc. Trong quá trình xây dựng và phát triển
đất nước, chúng ta phải coi trọng việc bảo tồn các
giá trị văn hóa truyền thống vì “văn hóa là mục tiêu
và động lực để xây dựng, phát triển bền vững…”.
Chính vì vậy, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII)
của Đảng ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
“xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc”. Thực hiện chủ trương đó, nhiều
giá trị văn hóa truyền thống, di sản văn hóa các dân
tộc thiểu số (DTTS) được bảo tồn, phát huy; một
số phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu
số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm
linh của nhân dân được quan tâm. Công tác quản lý
Nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn
hóa từng bước được hoàn thiện; đội ngũ làm công
tác văn hóa, văn nghệ ngày càng trưởng thành. Tuy
nhiên, hiện nay cùng với quá trình hội nhập, phát
triển kinh tế-xã hội thì các giá trị văn hóa truyền
thống của đồng bào các DTTS đang dần bị mai một
và biến đổi một cách nhanh chóng. Điều đó đã ảnh
2. Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về biến đổi giá trị văn hóa truyền
thống đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, nghiên
cứu, trong đó phải kể đến một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu như: Nguyễn Hồng Tâm (2017), Luận
án “Sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Thái
ở Mai Châu, Hòa Bình trong phát triển du lịch dưới
góc độ văn hóa học”, tác giả đã hệ thống hóa được
một số lý luận về biến đổi văn hóa truyền thống,
đóng góp cho việc xác định biểu hiện của biến đổi
văn hóa truyền thống, đồng thời xác định được
phương thức biến đổi văn hóa truyền thống trong
phát triển du lịch. Kết quả này có đóng góp mới
cho chuyên ngành nghiên cứu văn hóa học trong
mối quan hệ với hoạt động phát triển du lịch.Về mặt
thực tiễn, Luận án đã trình bày được thực trạng về
biến đổi văn hóa truyền thống, phân tích được một
số yếu tố tác động dẫn đến biến đổi văn hóa, đưa ra
122
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
xu hướng và xác định được những vấn đề đặt ra về bán, trao đổi cũng tạo thêm cho sự biến đổi nguồn
biến đổi văn hóa truyền thống của cộng đồng người lương thực, thực phẩm. Mặc dù, nhiều nơi vẫn duy
Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, trong phát trì được nhiều món ăn riêng biệt, độc đáo của mỗi
triển du lịch đóng góp cho việc nghiên cứu, đề xuất vùng, mỗi dân tộc, nhưng đã xuất hiện nhiều món
những khuyến nghị nhằm phát huy những giá trị ăn mới, tạo nên sự phong phú, đa dạng cho bữa
tiên tiến và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống ăn. Sự phong phú, đa dạng của các món ăn chính
của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình là sự đan xen và là sản phẩm tổng hợp nhiều loại
trong bối cảnh phát triển du lịch. Tác giả Lâm Nhân nguyên liệu. Sở thích và khẩu vị các món ăn không
trong bài viết “Vấn đề lưu và biến đổi văn hóa của còn là điểm chung của mọi người mà được phân
người Chơ-ro ở Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay” chia thành nhiều nhóm khác nhau, do điều kiện kinh
(Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các tế, xã hội khác nhau. Cư dân ở thành thị khác với
giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong quá cư dân nông thôn… Các loại thức ăn có mùi vị đa
trình đổi mới và hội nhập, năm 2009), đã đề cập đến dạng, là sản phẩm của các ngành công nghiệp thực
một số vẫn đề nổi cộm trong đời sống người Chơ- phẩm, trở thành những món ăn hàng ngày, đã đem
ro hiện nay. Bài viết đã chỉ ra nhiều nguyên nhân lại những khẩu vị mới cho người cao tuổi.
dẫn đến những biến đổi trong đời sống của người
Chơ-ro như: Chịu ảnh hưởng to lớn của văn hoá các
dân tộc khác; sự giao lưu, tiếp xúc giữa các vùng,
các dân tộc; do tự ti và nhận thức sai lệch về văn
hoá dân tộc của mình và có xu hướng chối bỏ nó để
tiếp nhận một cách dễ dãi những giá trị văn hoá từ
những dân tộc có trình độ phát triển kinh tế-xã hội
cao hơn, mà họ coi là hiện đại...
Nhìn chung, nghiên cứu về biến đổi văn hóa
truyền thống của đồng bào các DTTS đã được nhiều
tác giả quan tâm nghiên cứu. Những kết quả nghiên
cứu này được kế thừa và làm rõ hơn trong bài viết
“Nhận diện một số biến đổi văn hóa truyền thống
của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong
bối cảnh hiện nay”.
4.1.2. Những biến đổi về trang phục
Mặc là một yếu tố văn hóa đặc thù. Trong văn
hóa mặc, ngoài các yếu tố chung là đồ che thân,
làm ấm cơ thể thì cái riêng của trang phục mang
tính xã hội và tính thẩm mỹ, đậm bản sắc tộc người.
Sự biến đổi cái mặc diễn ra không mạnh và nhanh
như văn hóa ăn uống nhưng thực tế cũng có sự tiếp
biến, giao thoa rất lớn. Xưa kia trang phục truyền
thống được đồng bào sử dụng thường xuyên, sau
đó thưa dần. Trang phục truyền thống hầu hết được
cất giữ trong rương, hòm, chỉ sử dụng vào các dịp
lễ hội hay trong cưới xin, lễ nghi hay trong ngày
hội diễn. Một bộ phận người cao tuổi còn duy trì
việc mặc trang phục truyền thống nhưng đã biến
đổi nhiều về chất liệu, chỉ còn giữ một phần kiểu
dáng. Thường ngày họ ăn mặc theo phổ thông (áo
sơ mi, quần âu đồng bộ). Quá trình phát triển thời
gian qua đã làm cho văn hóa vật chất các dân tộc
có nhiều thay đổi. Ở khu vực Tây Nguyên, người
Ê-đê, người Mnông, Gia-rai… không còn sử dụng
trang phục truyền thống, kiến trúc nhà cửa cũng mô
phỏng theo kiến trúc của người miền xuôi. Đối với
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, giá trị văn hóa
bậc nhất Tây Nguyên, việc bảo tồn và gìn giữ còn
gặp khá nhiều khó khăn.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu nội dung “Nhận diện một số biến
đổi văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc
thiểu số ở nước ta trong bối cảnh hiện nay”, tác giả
đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp. Trên
cơ sở thu thập, nghiên cứu, tập hợp và khái quát
hóa các nội dung liên quan đến các vấn đề biến đổi
văn hóa của cộng đồng; phương pháp phân tích nội
dung được sử dụng để phân tích, làm rõ nội hàm và
biểu hiện của biến đổi văn hóa.
4.1.3. Biến đổi về nghệ thuật
4. Kết quả nghiên cứu
Các nhạc cụ, bài hát truyền thống đã bị mai một,
điển hình như: Dân tộc Thái, tỷ lệ người biết hát bài
hát truyền thống có 3,0%; tỷ lệ người biết sử dụng
nhạc cụ truyền thống 0,9%. Người Hoa, tỷ lệ người
biết múa điệu múa truyền thống 1,6%; tỷ lệ người
biết hát bài hát truyền thống 5,5%; tỷ lệ người biết
sử dụng nhạc cụ truyền thống 0,4%. Người Mông,
tỷ lệ người biết múa điệu múa truyền thống 9,8%; tỷ
lệ người biết hát bài hát truyền thống 10,4 %; tỷ lệ
người biết sử dụng nhạc cụ truyền thống 1,3 % (Uy
ban Dan toc & Tong cuc Thong ke, 2020).
4.1. Những biến đổi văn hóa truyền thống
4.1.1. Biến đổi trong lĩnh vực ẩm thực
Ẩm thực là một lĩnh vực quan trọng trong đời
sống văn hóa, sinh hoạt của mỗi tộc người. Trước hết
là biến đổi về nguồn lương thực, thực phẩm. Những
bữa cơm truyền thống của các dân tộc dần dần đã
bị biến đổi, các món ăn truyền thống được chế biến
bằng nhiều gia vị truyền thống dần dần ít xuất hiện
trong bữa ăn và thay vào đó là những món ăn đơn
giản. Do sự khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên thiên
nhiên của con người đã làm thay đổi môi trường.
Nguồn lương thực, thực phẩm truyền thống giảm,
nhất là từ nguồn săn bắt hái lượm. Một số loại thực
vật làm thực phẩm dần biến mất. Bên cạnh đó, sự
tác động của khoa học kỹ thuật làm biến đổi nhiều
loại giống cây trồng, vật nuôi. Các sản phẩm từ mua
4.1.4. Những biến đổi về nhà ở
Sự biến đổi của văn hóa truyền thống được
biểu hiện ở sự biến đổi của kiến trúc nhà ở được
biểu hiện ở tất cả các dân tộc thiểu số trêm phạm
vi cả nước. Ở khu vực Tây Nguyên, các dân tộc
Volume 10, Issue 4
123
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
Tây Nguyên có những loại kiến trúc nhà ở độc đáo, dân tộc không còn nói được tiếng mẹ đẻ của mình.
phù hợp với tập quán và điều kiện thiên nhiên, môi Hiện tượng này phổ biến ở các nhóm DTTS như:
trường nơi họ sinh sống. Nếu người Mnông ở phía Mạ (20,1%); Khơ-mú tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên
Nam Tây Nguyên có ngôi nhà trệt mái vòm thì các biết đọc, viết chữ dân tộc mình (0%); tỷ lệ người từ
dân tộc còn lại như Ê-đê, Gia-rai, Xơ-Đăng vùng 15 tuổi trở lên biết đọc, viết chữ dân tộc mình của
Bắc Tây Nguyên sinh sống trong ngôi nhà sàn dài. người Co là 0,8%; người Kháng, tỷ lệ người từ 15
Trong quá trình phát triển nông thôn mới, kiến trúc tuổi trở lên biết đọc, viết chữ dân tộc mình (0%);
nhà ở của đồng bào Tây Nguyên đã có nhiều thay người La Chí, La Ha, Phù Lá, người Hà Nhì (0%)...
đổi dẫn đến giá trị văn hóa truyền thống bị biến đổi (Uy ban Dan toc & Tong cuc Thong ke, 2020).
theo kiểu kiến trúc hiện đại. Hiện nay, các ngôi làng
của người Ê-đê, Mnông ở các tỉnh như Gia Lai, Đắk
Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước không còn
nữa, thay vào đó là các ngôi nhà sàn bê tông khô
cứng. Nó không còn nét thơ mộng và phù hợp với
cảnh sơn thuỷ hữu tình của một thắng cảnh nổi tiếng
Tây Nguyên như trước đây... Ở khu vực phía Bắc,
các tộc người Mông, Dao, Thái, Tày kiến trúc nhà ở
truyền thống đều đã bị biến đổi theo hướng hiện đại.
Ví dụ: Dân tộc Mông, sống ở vùng xa xôi, nơi có
những cánh rừng già rộng lớn, người Mông thường
khai thác gỗ rừng tự nhiên để làm nhà. Nhà người
Mông thường là nhà trệt, mái thấp, thưng ván bằng
gỗ và mái gỗ, lợp bằng mái gianh. Những căn nhà
này cũng rất ít khi có cửa sổ và chỉ có hai cửa chính,
một cửa trước và một cửa bên hông nhà, gần khu
vực bếp nấu dành cho phụ nữ. Cách kiến trúc nhà
như vậy giúp đồng bào Mông tránh được gió lớn và
không khí giá lạnh trên vùng núi cao. Thế nhưng,
hiện nay người Mông đã lợp bằng ngói, bằng tấm
pro xi măng và tấm tôn. Lợp pro xi măng và lợp tôn
mất ít công hơn lợp ngói vì không phải chẻ nhiều
thanh gỗ làm mái...
4.1.6. Biến đổi hôn nhân
Lễ cưới là một trong những nghi lễ vô cùng quan
trọng, phản ánh đậm nét đời sống văn hóa vật chất,
tinh thần của một dân tộc. Quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường,
giao lưu, tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ ở các
tỉnh phía Bắc khiến nhiều phong tục, tập quán, trong
đó có lễ cưới của người các DTTS đang có sự biến
đổi rất rõ rệt. Chẳng hạn như lễ cưới của người Tày
ở tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn đang có sự biến đổi.
Tập quán cưới xin truyền thống của người Tày nói
chung, người Tày ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn
nói riêng trước đây được tiến hành với các bước,
các nghi lễ với thủ tục nghiêm ngặt, trang trọng, đôi
khi rườm rà, phức tạp với 6 bước: Lễ dạm hỏi, so lá
số, mừng hợp số, ăn hỏi, sêu tết, cưới, thì nay đơn
giản hơn nhiều.
Nhìn chung, quá trình phát triển kinh tế-xã hội
sẽ phá vỡ cấu trúc hạ tầng kinh tế cũ, kéo theo sự
thay đổi của văn hóa. Các lễ hội văn hóa dân gian
được xem như là bản sắc độc đáo và vốn quý của
các dân tộc có nguy cơ ngày càng mai một và bị
biến đổi trước sự giao thoa và hội nhập của làn sóng
âm nhạc hiện đại. Nhiều nhạc cụ dân tộc bị hiện đại
hóa cùng với việc sinh hoạt văn hóa dân gian bị suy
giảm. Bên cạnh đó, âm nhạc, vũ đạo, trang phục
(vốn được coi là bản sắc của đồng bào DTTS) cũng
đứng trước nguy cơ biến đổi, giống như đàn tính
tẩu (của người Tày, Thái), đàn tơ rưng, cồng chiêng
(của các DTTS ở khu vực Tây Nguyên), khèn (của
người Mông), những nhạc cụ điển hình của các dân
tộc, hiện nay có ít người biết sử dụng. Tương tự, các
loại hình nghệ thuật (múa sạp, múa chiêng của đồng
bào Mường, Thái; múa trống, múa xúc tép của dân
tộc Cao Lan; múa chèo thuyền, múa hoa sen của
đồng bào Khmer ở Nam Bộ…), những di sản văn
hóa tinh thần đặc biệt của các dân tộc, đang dần ít
xuất hiện trong đời sống của đồng bào và thay vào
đó là những văn hóa hiện đại được tiếp nhận từ bên
ngoài vào pha trộn với văn hóa truyền thống.
4.1.5. Biến đổi về ngôn ngữ
Tiếng nói của các dân tộc thiểu số có vai trò
quan trọng trong giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày của
cộng đồng ở các địa phương, nhất là những vùng
cao, vùng sâu, vùng xa. Ở các vùng thấp, vùng cận
thành thị, sự giao lưu nhiều tộc người và sự phát
triển mọi mặt của đời sống xã hội đã làm cho những
nhóm dân tộc thiểu số ở đây không sử dụng hoặc
ít sử dụng tiếng mẹ đẻ. Thực tế cho thấy, ở các địa
phương này, ngoài sự tiếp thu các loại văn hóa khác
thì việc tiếp thu ngôn ngữ phổ thông ngày càng diễn
ra mạnh mẽ. Các thế hệ trẻ hàng ngày được học tập
bằng tiếng Việt, được nghe, nhìn và thưởng thức
văn hóa nghệ thuật cũng bằng tiếng Việt. Trong đời
sống hàng ngày, ngôn ngữ phổ thông đã chiếm quá
nửa với tư cách là phương tiện giao tiếp. Trong giao
tiếp với các thành viên trong gia đình, người ta cũng
chuyển dần sang tiếng Việt. Một số bộ phận thanh
thiếu niên, sau khi đi học tập hay đi công tác trở
về nhà không muốn nói tiếng mẹ đẻ vì cảm thấy
ngượng nghịu, có thể là do ít sử dụng nên vốn tiếng
mẹ đẻ bị mai một, cũng có thể dùng tiếng Việt để
diễn đạt ý của mình phong phú hơn.
Trước sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, kỹ thuật làm thủ công các sản phẩm dân
gian truyền thống cũng có nguy cơ tiêu vong không
còn. Các mặt hàng sản xuất bằng thủ công (vốn là
niềm tự hào, là minh chứng cho óc sáng tạo, sự khéo
léo của người Việt Nam, như: dệt thổ cẩm; thêu hoa
văn; chế tác nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu đá, đồng,
tre, nứa…) hiện nay do thiếu đầu ra, lại vấp phải sự
cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp bán sẵn
Hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống các
dân tộc thiểu số bị mai một, biểu hiện rõ nhất là
sự mai một của ngôn ngữ mẹ đẻ, thậm chí nhiều
124
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
hàng loạt, nên cũng dần bị mai một. Việc chuyển văn hóa của dân tộc mình trước sự giao thoa văn
đổi tập quán canh tác làm nương rẫy sang trồng hóa và dưới những tác động mạnh mẽ của đời sống
cây công nghiệp (cà phê, cao su, ca cao…) đã góp xã hội và tôn giáo.
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhưng dẫn đến sự
suy giảm những sinh hoạt cồng chiêng gắn với hoạt
động sản xuất truyền thống. Không gian buôn làng,
khu nhà mồ, bến nước… (không gian văn hóa cồng
chiêng) đã bị thu hẹp hoặc thay thế bằng nhà xây
kiên cố, giếng khoan. Đời sống và sinh hoạt hiện
đại làm thay đổi nhận thức về tính thiêng và tính
cộng đồng của văn hóa cồng chiêng, nhiều hộ gia
đình đã bán đi những bộ chiêng, ché quý.
Sự biến đổi theo hướng mai một văn hóa truyền
thống của các dân tộc có nhiều nguyên nhân, nhưng
nguyên nhân cơ bản nhất vẫn là quy luật phát triển
của lịch sử, văn hóa, cụ thể như:
Trước xu thế giao lưu và hội nhập, một bộ phận
giới trẻ thiếu tự tin, thiếu tự hào về bản sắc văn hóa
dân tộc mình. Họ quan niệm rằng, nói tiếng DTTS,
mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình là lạc
hậu. Thậm chí, một số người còn muốn “Kinh hóa”,
chỉ đến khi muốn nhận các chế độ ưu đãi về học tập
việc làm thì mới nhận mình là DTTS…
4.2. Một số giải pháp hạn chế sự biến đổi văn
hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở nước ta
Trước những vấn đề nêu trên, trong thời gian
tới, chúng ta cần tiếp tục thực hiện tốt một số giải
pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp, các
ngành, người dân trong việc bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa gắn với chuyển đổi nghề, thực
hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn và chuyển đổi nghề với
sự phát triển kinh tế-xã hội trong chiến lược phát
triển bền vững của quốc gia và địa phương. Phải
huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và
toàn dân nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống gắn với chuyển đổi nghề; động viên,
khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu bản sắc văn
hóa dân tộc. Cấp ủy, chính quyền địa phương phải
giải quyết hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn
hóa dân tộc với phát triển kinh tế-xã hội; tôn vinh
các giá trị văn hóa dân tộc là di sản vô cùng quý báu
được trao truyền từ đời này đến đời khác để giáo
dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý
thức trách nhiệm, góp phần tăng cường sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, cần phải phát huy vai trò của cộng đồng
trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
gắn với chuyển đổi nghề. Bởi vì cộng đồng là chủ
thể sáng tạo ra những giá trị văn hóa, là nhân tố quyết
định trong quá trình quản lý, bảo tồn và phát huy giá
trị di tích, vì vậy cần phải tạo ra sự gắn kết giữa cộng
đồng và giá trị văn hóa. Cần tuyên truyền cho người
dân thấy rõ giá trị văn hóa truyền thống để họ tự hào
về những giá trị mà cha ông đã để lại. Đồng thời, có
cơ chế chính sách kinh tế-xã hội cụ thể phù hợp, từ
dạy nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo công ăn việc
làm… đến tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịch,
nghề truyền thống, sản phẩm truyền thống của địa
phương… đem lại thu nhập cho người dân.
Thứ nhất, do tác động của xu hướng toàn cầu
hóa, xu hướng giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ,
sự xuất hiện nhiều loại hình giải trí mới nên giới trẻ
không còn tha thiết với văn hóa dân tộc (như tham
gia các hoạt động biểu diễn, trình diễn văn hóa dân
tộc). Lớp trẻ chưa thật sự yêu thích, quan tâm đến
văn hóa truyền thống độc đáo, đặc sắc của dân tộc
mình, trong khi nhiều nghệ nhân giỏi do tuổi tác
cao, lần lượt qua đời.
Thứ hai, sự biến đổi trong đời sống kinh tế của
cộng đồng dẫn đến nhu cầu tinh thần hưởng thụ văn
hóa truyền thống không còn được duy trì. Đối với
đồng bào các DTTS vùng Tây Bắc, phía Tây các
tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, rừng
không chỉ là không gian kinh tế (sinh tồn), mà còn
là không gian văn hóa. Văn hóa các DTTS gắn với
rừng, là kết quả của quá trình ứng xử của con người
với môi trường tự nhiên và xã hội. Trong thời gian
qua, không gian sinh tồn của các DTTS ngày càng
bị thu hẹp nghiêm trọng, môi trường văn hóa suy
giảm với tốc độ nhanh. Nguyên nhân vốn rừng
ngày càng giảm là do tăng dân số, do di dân, do yêu
cầu phát triển kinh tế (phát triển cây công nghiệp,
xây dựng các khu công nghiệp, xây dựng các công
trình thủy điện). Rừng bị mất, không chỉ ảnh hưởng
nghiêm trọng đến phát triển kinh tế, mà còn phá vỡ
cấu trúc văn hóa truyền thống, làm đứt gãy truyền
thống văn hóa các DTTS. Khi vốn rừng thu hẹp,
tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, con người mất
nguồn sống, văn hóa truyền thống mất cơ sở tồn tại,
người DTTS tự đánh mất chính mình.
Thứ ba, quá trình di dân thời gian qua khiến cho
bản sắc văn hóa cũng bị pha loãng dần, sự biến đổi
của đời sống xã hội khiến nhiều nét văn hóa biến
đổi theo.
Thứ tư, mặc dù nhiều nơi đời sống kinh tế được
cải thiện, nhưng sự chênh lệch về hưởng thụ văn
hóa còn lớn, trong đó vai trò của chủ thể, của người
dân, của cộng đồng chưa được phát huy và đặt đúng
vị trí. Hơn nữa, bản thân đồng bào các DTTS chỉ
mới ý thức, chứ chưa nhận thức sâu sắc về bản sắc
Ba là, xây dựng các mô hình bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa gắn với việc chuyển đổi nghề
trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của các
vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong chương
trình phát triển quốc gia và địa phương. Các mô
hình chuyển đổi nghề gắn với bảo tồn các giá trị
văn hóa truyền thống phải phải phù hợp với thực
tiễn phát triển ở địa phương, đặc biệt phải bảo tồn
và phát huy được những phong tục, tập quán, giá
Volume 10, Issue 4
125
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
trị văn hóa truyền thống của từng địa phương. Đặc thống hiện đang phải đối mặt với sự mất mát các
biệt, mô hình chuyển nghề đó phải vừa bảo tồn và giá trị di sản truyền thống một cách nhanh chóng
vừa phát huy được giá trị văn hóa của địa phương. trước các tác động của một số mô hình chuyển đổi
Trong đó, đặc biệt cần xây dựng mô hình du lịch nghề không hợp lý. Các nghề truyền thống như dệt
cộng đồng nhằm phát huy giá trị văn hóa, giá trị vải, thổ cẩm, đan lát… còn rất ít hoặc đã mất hẳn.
lịch sử của địa phương. Khi xây dựng mô hình, phải Ở nhiều nơi, các dân tộc rất ít người còn chịu ảnh
phát huy vai trò chủ thể của người dân tham gia vào hưởng bởi phong tục tập quán, lễ hội của các dân
các chương trình, dự án, mô hình bảo tồn, phát triển tộc khác sống trên địa bàn.
văn hóa truyền thống gắn với chuyển đổi nghề trên
địa bàn. Khuyến khích, đa dạng các mô hình chuyển
đổi nghề gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
của đồng bào dân tộc thiểu số, như: mô hình phát
triển nghề thủ công, du lịch tìm hiểu văn hóa bản
địa, du lịch trải nghiệm;... các dịch vụ ăn uống, nhà
nghỉ cộng đồng.
- Hiện nay, xuất hiện nhiều xu hướng biến đổi
văn hóa như: Xu hướng giữ gìn, kế thừa và phát huy
các giá trị văn hóa dân tộc phù hợp với điều kiện
phát triển mới; xu hướng tiếp biến văn hóa thông
qua giao lưu trong nước và hội nhập quốc tế; xu
hướng suy giảm bản sắc văn hóa truyền thống của
đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là văn hóa
phi vật thể. Sự biến đổi này đang tác động sâu sắc
đến văn hóa các dân tộc thiểu số, từ đó hình thành
bức tranh sinh động và phức tạp về đời sống văn
hóa các dân tộc thiểu số đương đại.
5. Thảo luận
Từ kết quả nhận diện những biến đổi văn hóa
của các DTTS, cho thấy biến đổi văn hóa truyền
thống đồng bào các DTTS hiện nay đang đặt ra một
số vấn đề như sau:
6. Kết luận
- Kết quả nghiên cứu cho thấy sự biến đổi văn
Văn hóa truyền thống của đồng bào các DTTS
hóa truyền thống ở đồng bào các DTTS đang diễn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã
ra rất mạnh. Vì vậy, khả năng tự bảo tồn, phát huy hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Vì vậy, trong
văn hóa truyền thống của đồng bào rất hạn chế, thời gian qua nhiều địa phương đã thực hiện tốt
nhiều dân tộc bị mai một những số yếu tố văn hóa công tác bảo tồn văn hóa truyền thống. Tuy nhiên,
truyền thống. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống trước những tác động của nền kinh tế thị trường và
của đồng bào tuy phong phú, nhưng chưa được bảo hội nhập quốc tế, nhiều giá trị văn hóa truyền thống
tồn, phát huy đúng mức.
của đồng bào các DTTS cũng bị tác động và có sự
biến đổi theo cả chiều hướng tích cực và hạn chế.
Vì vậy, để góp phần hạn chế sự biến đổi theo hướng
không phù hợp, các địa phương cần thực hiện tốt
công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống, phong tục, tập quán nhằm khai thác
giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh
tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
- Do tác động của nhiều yếu tố đã làm xuất hiện
xu hướng xa rời bản sắc văn hóa và dẫn đến hiện
tượng đứt gãy văn hóa. Xu hướng này hiện nay
ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và miền núi, nhất là ở các cộng đồng
có số dân rất ít người, những vùng điều kiện phát
triển kinh tế-xã hội khó khăn. Nhiều làng xã truyền
Tai lieu tham khao
Can, H. (1994). Suy nghi ve ban sac van hoa dan
toc. Ha Noi: Nxb. Chinh tri quoc gia.
Khien, V. D. (2000). Van hoa voi tu cach la mot
khai niem triet hoc va van de xac dinh ban
sac van hoa dan toc. Tap chi Triet hoc, so 4.
Ngoc, P. (2003). Van hoa Viet Nam va cach tiep
can moi. Ha Noi: Nxb. Van hoa - Thong tin.
Dong, P. V. (1995). Van hoa va doi moi. Ha Noi:
Nxb. Chinh tri quoc gia.
Tam, N. H. (2017). Su bien doi van hoa truyen
thong cua nguoi Thai o Mai Chau, Hoa Binh
trong phat trien du lich duoi goc do van hoa
hoc. Luan an tien sy.
Them, T. N. (2001). Tim ve ban sac van hoa Viet
Nam. Nxb. Thanh pho Ho Chi Minh.
Dung, M. N. Nhan dien bien doi van hoa cac
dan toc thieu so o Viet Nam va giai phap bao
vn/nhan-dien-su-bien-doi-van-hoa-truyen-
thong-cac-dan-toc-thieu-so-o-viet-nam-va-
giai-phap-bao-ton-cac-gia-tri/.
Hai, L. V. (2008). Van hoa, triet ly va triet hoc.
Tong cuc Thong ke. (2019). Ket qua dieu tra thu
thap thong tin kinh te-xa hoi 53 dan toc thieu
so nam 2019.
Tra, L. N. (2003). Van hoa Viet Nam dac trung
va tiep can. Ha Noi: Nxb. Giao duc.
Tap chi Triet hoc, so 10.
Hoang, N. H. (2003). Triet hoc - Van hoa gia tri
va con nguoi. Ha Noi: Vien Van hoa & Nxb.
Van hoa - Thong tin.
Huy, D., & Luu, T. (1994). Ban sac dan toc cua
van hoa. Vien Van hoa.
Uy ban Dan toc & Tong cuc Thong ke. (2020).
Ket qua dieu tra thu thap thong tin ve thuc
trang kinh te-xa hoi cua 53 dan toc thieu so
nam 2019
126
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN
NHẬN DIỆN MỘT SỐ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Ngô Thị Trinh
Học viện Dân tộc
Email: [email protected]
Ngày nhận bài:
08/10/2021
Ngày phản biện: 23/10/2021
Ngày tác giả sửa: 27/10/2021
Ngày duyệt đăng: 05/11/2021
Ngày phát hành: 30/11/2021
DOI:
ăn hóa truyền thống của mỗi dân tộc có một vị trí quan đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước. Bởi vì văn hóa truyền thống là những giá trị tiêu biểu cho một nền
V
văn hóa, tạo nên bản sắc của một dân tộc và được lưu truyền qua nhiều thế hệ theo suốt chiều dài lịch sử.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch, sự tăng
cường giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa các tộc người, giữa các quốc gia, văn hóa truyền thống của một số
tộc người đã bị mai một đi nhiều, nhiều giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số cũng đã có biến đổi lớn theo
cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu nhận diện một số biến
đổi văn hóa truyền thống trong trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, nhằm tìm hiểu
văn hóa truyền thống và sự biến đổi của nó trong quá trình phát triển kinh tế, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa.
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cứ liệu cho các nhà hoạch định chính chính sách xây dựng chính sách bảo
tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc..
Từ khóa: Văn hóa truyền thống; Bảo tồn văn hóa; Giá trị văn hóa dân tộc; Biến đổi văn hóa; Đồng
bào các dân tộc thiểu số.
Volume 10, Issue 4
127
Bạn đang xem tài liệu "Nhận diện một số biến đổi văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nhan_dien_mot_so_bien_doi_van_hoa_truyen_thong_cua_dong_bao.pdf

