Nghệ thuật diễn xướng dân gian trong phát triển du lịch cộng đồng: Một nghiên cứu xuyên ngành tại tháp Bà Po Nagar – Nha Trang

Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 1(50)-2021  
NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN TRONG PHÁT TRIỂN  
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG: MỘT NGHIÊN CỨU XUYÊN NGÀNH  
TẠI THÁP BÀ PO NAGAR – NHA TRANG  
Nguyễn Thị Thanh Xuyên(1)  
(1) Viện khoa học xã hội vùng Trung Bộ  
Ngày nhận bài 25/12/2020; Ngày gửi phản biện 30/12/2020; Chấp nhận đăng 15/02/2021  
Tóm tắt  
Quá trình phát triển của du lịch tâm linh, tín ngưỡng dẫn đến sự xuất hiện của một  
số sản phẩm du lịch dựa trên nguồn lực nghi lễ, diễn xướng dân gian. Với nghiên cứu  
trường hợp tại tháp Bà Po Nagar, thành phố Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) bằng phương  
pháp điền dã dân tộc học (quan sát tham gia và phỏng vấn sâu), bài viết này cung cấp  
khung phân tích để giải thích phương thức tham gia của các chủ thể, cách thức khai thác  
sản phẩm du lịch và đánh giá tính hiệu quả của mô hình du lịch dựa vào cộng đồng. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy các sản phẩm du lịch này phản ánh cách tiếp cận mới về khai  
thác nguồn lực nghi lễ, diễn xướng, thể hiện vai trò, sự đóng góp của cộng đồng. Quá  
trình xây dựng sản phẩm du lịch diễn xướng dân gian hàm chứa giá trị văn hóa và liên  
kết tộc người. Những yếu tố này cần được làm rõ để đánh giá sự thành công và hạn chế  
của sản phẩm diễn xướng dân gian nhìn từ mô hình du lịch cộng đồng. Qua đó, nghiên  
cứu này đề xuất sự cần thiết phải tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng  
sản phẩm du lịch với tư cách là chủ thể thực hành và bảo tồn văn hóa.  
Từ khóa: du lịch cộng đồng, nghi lễ, sản phẩm du lịch, tháp Bà Po Nagar – Nha Trang  
Abstract  
FOLK PERFORMING ARTS IN THE COMMUNITY-BASED TOURISM  
DEVELOPMENT: A TRANSDISCIPLINARY STUDY AT PO NAGAR  
TOWER – NHA TRANG  
The tourism product based on exploring folk performing art resources is a new  
factor that has arisen from the spiritual tourism development process. This study is at  
Po Nagar tower, Nha Trang city, Khanh Hoa province, using the ethnographic  
fieldwork includes participant observation and in-depth interview. This article provides  
a framework to explain the participation manner of the subjects, how to explore tourism  
products, and to evaluate the effectiveness of the community-based tourism model.  
These tourism products present a new approach to exploring folk performing art  
resources via the community role and contribution. Building the tourism product  
process of folk performing arts implies the renewal of traditional cultural values in the  
11  
new context. These findings contribute to consider the success and restriction of the  
community-based tourism model for exploring tourism products. Therefore, this study  
suggests that should enhance community involvement in cultural practicer and  
preserver position for building the tourism product.  
1. Đặt vấn đề  
Trong bối cảnh gia tăng nhu cầu du lịch và sản phẩm du lịch, sự xuất hiện của các  
sản phẩm du lịch từ nguồn lực nghi lễ, diễn xướng tạo nên diện mạo mới cho du lịch  
tâm linh. Sự góp mặt của các loại hình sản phẩm du lịch này thể hiện xu hướng đáp ứng  
nhu cầu trải nghiệm của du khách đối với thực hành văn hóa của cộng đồng địa phương.  
Đồng thời, quá trình xây dựng sản phẩm từ nguồn lực nghi lễ/lễ hội chứng tỏ tầm quan  
trọng của phương thức khai thác, quản lý nguồn lực văn hóa dựa trên sự tham gia của  
cộng đồng địa phương. Cách tiếp cận mới này không những mang lại giá trị tích cực và  
sức hút cho điểm đến du lịch, mà còn đem lại cơ hội phát triển cộng đồng trên khía cạnh  
kinh tế, xã hội.  
Tháp Bà Po Nagar Nha Trang (tọa lạc tại phường Vĩnh Phước, thành phố Nha  
Trang, tỉnh Khánh Hòa), trong quá khứ là trung tâm tôn giáo ở xứ Kauthara (vương  
quốc Champa), hiện nay là di tích xếp hạng cấp quốc gia, là trung tâm hành hương của  
người Chăm và người Việt cùng thờ cúng nữ thần Thiên Y A Na/nữ thần xứ sở, và cũng  
là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của thành phố Nha Trang. Những động  
thái mới của quá trình khai thác sản phẩm du lịch dựa trên nguồn lực nghi lễ, diễn  
xướng nhằm đáp ứng nhu cầu du khách và bảo tồn văn hóa thể hiện mối quan tâm và  
định hướng phát triển du lịch bền vững đối với di sản văn hóa thờ Mẫu, là một hướng  
tiếp cận mới nhằm hội nhập thực hành nghi lễ thờ Mẫu vào hoạt động du lịch, tôn vinh  
và quảng bá văn hóa thờ Mẫu. Việc nghiên cứu, đánh giá quá trình khai thác sản phẩm  
du lịch dựa trên nguồn lực nghi lễ/lễ hội tại một địa điểm di sản như tháp Bà Po Nagar  
nhằm sáng tỏ nhận thức mới về thực hành thờ Mẫu, yếu tố văn hóa tộc người, vai trò và  
vị trí của các nhóm tín đồ thờ Mẫu nhìn từ quá trình tham gia của cộng đồng trong khai  
thác sản phẩm du lịch. Tiếp theo, vấn đề quan trọng nhất cần đặt ra là tại sao sự tham  
gia của cộng đồng trở nên quan trọng khai thác sản phẩm du lịch? Điều này liên quan  
đến việc xác định vai trò và vị trí của chủ thể thực hành, bảo tồn nguồn lực văn hóa. Từ  
đó, đánh giá sự phát triển cộng đồng trên ba khía cạnh là lợi ích kinh tế, chính trị và bảo  
tồn văn hóa, tác động tích cực tới hình ảnh của điểm đến du lịch và góp phần thúc đẩy  
mục tiêu phát triển du lịch di sản bền vững.  
Bài viết này trình bày hai sản phẩm du lịch diễn xướng dân gian tại tháp Bà Po  
Nagar Nha Trang là diễn xướng múa dân gian của người Chăm và diễn xướng múa  
bóng của người Việt. Trong đó, diễn xướng múa dân gian của người Chăm là sản phẩm  
du lịch thành công và diễn xướng múa bóng của người Việt đang ở trong giai đoạn thử  
12  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 1(50)-2021  
nghiệm. Từ việc phân tích quá trình khai thác, tính hiệu quả và so sánh giữa hai sản  
phẩm du lịch trên nhằm đánh giá lại mô hình du lịch dựa trên sự tham gia của cộng  
đồng, nhờ đó, nhận diện những điểm mạnh và hạn chế của mô hình này, đặc biệt là sự  
đóng góp của cộng đồng trong việc xây dựng và thành công của sản phẩm du lịch.  
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Luận điểm du lịch dựa vào cộng đồng  
2.1.1. Khái niệm cộng đồng  
Cộng đồng là tập hợp của nhóm người có cùng mục tiêu và mục đích chung hoặc  
cùng chia sẻ những nhiệm vụ chung (Joppe, 1996). Các tiêu chí xác định cộng đồng có  
thể dựa trên đặc điểm địa lý, tương tác và mối liên kết xã hội (Hillery, 1955). Khái niệm  
cộng đồng có ba chiều kích thông thường như sau: Chức năng xã hội, vùng không gian  
và được người bên ngoài thừa nhận (Murphy, 1985). Như vậy, những người có cùng  
mục tiêu và chia sẻ những mối quan tâm chung có thể thuộc về một cộng đồng là định  
nghĩa phù hợp với bối cảnh nghiên cứu của bài viết, chẳng hạn tín đồ thờ Mẫu, bao gồm  
ông/bà đồng Tứ Phủ hoặc người múa bóng, cộng đồng người Việt và người Chăm tham  
gia hành hương là những người liên kết với nhau dựa trên đức tin vào Nữ thần/Thánh  
Mẫu, cùng hành hương và thờ cúng Thiên Y A Na.  
Cộng đồng địa phương và nguồn lực văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ, thể hiện  
như sau: Văn hóa không chỉ được xem như một lĩnh vực mà còn được xem như một  
nguồn lực của cộng đồng, liên kết chặt chẽ với sự đồng thuận và đối thoại trong cộng  
đồng đó (Hawkes, 2001). Hawkes (2001) đặt ra ba vấn đề quan trọng để xác định vai trò  
của cộng đồng trong việc nhận thức và đánh giá nguồn lực văn hóa như sau: 1) Cộng  
đồng tham gia như thế nào trong hoạt động đề xuất các giải pháp đánh giá?; 2) Những  
nhóm xã hội khác nhau chịu ảnh hưởng từ những đề xuất trên, từ đó phản ánh giá trị văn  
hóa xã hội của họ như thế nào?; 3) Phải chăng việc lập kế hoạch có sự tham gia cải  
thiện cơ hội tham gia và tương tác của cộng đồng?  
2.1.2. Du lịch dựa vào cộng đồng  
Theo Giampiccoli và Mtapuri (2012), có ba loại hình du lịch liên quan đến cộng  
đồng, bao gồm CBT (community-based tourism: Du lịch dựa trên cộng đồng), CBPT  
(community-based partnership tourism: Du lịch hợp tác dựa trên cộng đồng), CT  
(community tourism: Du lịch cộng đồng). Ba loại hình du lịch này phân biệt ở mức độ  
quản lý của cộng đồng và cách tiếp cận, cụ thể CBT và CBPT dựa trên cách tiếp cận  
phát triển đa tuyến, trong đó CBT có đặc điểm là cộng đồng kiểm soát và quản lý doanh  
nghiệp du lịch; CBPT có đặc điểm là cộng đồng cam kết hợp tác với cơ quan tư nhân về  
du lịch; CT dựa trên tiếp cận tân tự do, đặc điểm dễ nhận diện là tài sản, nguồn lực của  
cộng đồng được xem như một nguồn đầu tư của lĩnh vực tư nhân. Giampiccoli &  
Mtapuri (2012) chia thành sáu bậc thang phát triển của ba loại hình CBT, trong đó, CBT  
13  
ở bậc thang cao nhất gắn với “trao quyền”:  
Thấp nhất: Khai thác (CT) Cung cấp lao động (CT) Hợp tác (bất lợi cho  
cộng đồng) (CBPT) Hợp tác công bằng (CBPT) Hợp tác thuận lợi cho cộng đồng  
(CBPT) Trao quyền (CBT): Cao nhất  
Như vậy, CBT là loại hình du lịch nảy sinh trong bối cảnh chủ nghĩa tân tự do và  
phát triển đa tuyến, hiện nay CBT được sử dụng như công cụ phát triển cộng đồng, bao  
gồm sự trao quyền và tự tương trợ, phát triển nhờ sức mạnh nội tại (self-reliance)  
(Giampiccoli & Mtapuri).  
Trên thực tế, việc xác định tiêu chí của CBT phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh  
chính trị và việc triển khai các dự án chương trình phát triển. Zapata et al. (2011) cho  
rằng CBT có ba tiêu chí như sau: Diễn ra tại cộng đồng, sở hữu bởi cộng đồng và quản  
lý bởi cộng đồng. Trong đó, CBT có hai cách tiếp cận, từ trên xuống (top-down) và từ  
dưới lên (bottom-up). Thông qua nghiên cứu trường hợp tại Nicaragua, Zapata và nnk.  
(2011) phân biệt giữa hai cách thức tiếp cận CBT dựa trên nhiều yếu tố khác nhau. CBT  
tiếp cận từ trên xuống được thành lập và sáng tạo bởi doanh nghiệp đến từ bên ngoài  
cộng đồng và được sự hỗ trợ và duy trì của các tổ chức bên ngoài, tập trung vào thị  
trường quốc tế với sự phụ thuộc rất lớn vào các tổ chức điều phối. Trong khi đó, CBT  
tiếp cận từ dưới lên thường mang lại nhiều việc làm cho cộng đồng với lợi ích kinh tế và  
hình thành liên kết thị trường nội địa với mô hình kinh tế phi chính thức.  
Các nghiên cứu của Okazaki (2008) và Mayaka, Croy, và Wolfram Cox (2019)  
làm rõ mức độ tham gia của cộng đồng trong mô hình CBT. Mô hình CBT của về du  
lịch sinh thái tại Palawan (Philippines) do Okazaki (2008) xây dựng gồm 4 hợp phần  
chính như sau: Mức độ tham gia của công dân, phân chia quyền lực, tiến trình hợp tác  
và tạo dựng vốn xã hội. Mô hình CBT này tỏ ra hiệu quả trong việc nhận diện bối cảnh  
xung đột đất đai, quyền về đất đai và văn hóa của cộng đồng trước tác động của du lịch.  
Điều này liên quan đến các yếu tố như tính quản trị, vốn xã hội, mạng lưới liên kết, hiệu  
quả của sự hợp tác, đặc biệt là mức độ tham gia của cộng đồng ở giai đoạn cung cấp  
thông tin chưa mang lại kết quả tối ưu cho cộng đồng. Do đó, CBT là một giải pháp tốt  
để cải thiện xung đột, tăng cường hiệu quả quản trị, đồng thời đẩy mạnh trao quyền cho  
cộng đồng khi tham gia vào dự án du lịch (Okazaki, 2008).  
Mô hình CBT do Mayaka, Croy, và Wolfram Cox (2019) đề xuất trong nghiên  
cứu du lịch cộng đồng tại Kenya là sự kết hợp giữa sự tham gia, quyền lực và yếu tố  
kiểm soát kết quả. Bên cạnh yếu tố truyền thống của mô hình CBT là mức độ tham gia  
của cộng đồng và sự phân chia quyền lực, hợp tác giữa nhân tố bên trong và bên ngoài,  
mô hình CBT này còn cung cấp quan điểm của người trong cuộc thông qua mô tả và  
giải thích bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của cộng đồng. Qua đó, nhóm tác giả cung  
cấp một số giải pháp dành cho các bên liên quan như nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nhà  
quản lý, các bên tham gia khác và cộng đồng. Nhờ đó, có thể ứng dụng mô hình CBT  
trong nhiều không gian và bối cảnh khác nhau.  
14  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 1(50)-2021  
2.2. Khung phân tích đánh giá sản phẩm du lịch nhìn từ mô hình CBT  
Từ việc tích hợp luận điểm lý thuyết nghiên cứu phát triển cộng đồng trong giải  
thích vấn đề nghệ thuật diễn xướng và văn hóa thờ cúng, đồng thời vận dụng phương  
pháp điền dã dân tộc học để giải thích hoạt động khai thác sản phẩm du lịch tại tháp Bà  
Po Nagar Nha Trang theo nhiều góc độ đa dạng và đa chủ thể. Với tiếp cận xuyên  
ngành, nghiên cứu này cung cấp một khung phân tích có giá trị liên kết luận điểm lý  
thuyết du lịch cộng đồng với góc nhìn của nhân học văn hóa và nghệ thuật diễn xướng  
nhằm xây dựng cách giải thích vấn đề đang nảy sinh của mô hình du lịch dựa vào cộng  
đồng tại tháp Bà Po Nagar là tính đa văn hóa, đa tộc người, tính cố kết tộc người, sự  
phân hóa và mạng lưới liên kết giữa các chủ thể trong khai thác giá trị văn hóa; đặc biệt,  
sáng tỏ kinh nghiệm thành công và hạn chế của mô hình này khi chưa phát huy đầy đủ  
vai trò của cộng đồng và trao quyền cho cộng đồng. Do vậy, không thể sử dụng một  
cách tiếp cận đơn nhất mà cần đặt vấn đề nghiên cứu trong một khung phân tích đa  
chiều, đa góc độ và đa chủ thể, nhằm mang lại nhận thức mới về việc khai thác sản  
phẩm du lịch diễn xướng dân gian dựa trên quan điểm và đóng góp của cộng đồng.  
Khung phân tích dưới đây thể hiện góc nhìn đa chủ thể cùng quy chiếu về cùng  
một hệ tọa độ để giải thích sản phẩm du lịch diễn xướng dưới ba chiều kích như sau:  
– Phương thức tham gia của các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng sản  
phẩm du lịch.  
– Cách thức khai thác nguồn lực nghi lễ diễn xướng.  
– Đánh giá tính hiệu quả của sản phẩm du lịch và tác động đến cộng đồng.  
Sơ đồ: Khung phân tích đánh giá sản phẩm du lịch nhìn từ mô hình CBT  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt là điền dã dân tộc học với hai công cụ chính  
là quan sát tham gia và phỏng vấn sâu. Trên phương diện nghiên cứu đa chủ thể, bao  
15  
gồm nhà quản lý, các bên liên quan (chuyên gia, chủ doanh nghiệp địa phương), nghệ  
nhân người Chăm, người trình diễn hầu đồng/múa bóng. Đối tượng phỏng vấn cụ thể  
như sau: Cán bộ quản lý Trung tâm Bảo tồn Di tích tỉnh Khánh Hòa; cán bộ quản lý di  
tích tháp Bà Po Nagar, Ban hào lão; Ban quản lý đình Cù Lao; cán bộ hưu trí (nguyên  
cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích, chuyên gia); đại diện của nhóm múa Chăm (nghệ  
nhân); chủ cơ sở sản xuất mỹ nghệ ở làng Mỹ Nghiệp; đại diện của nhóm hầu đồng Tứ  
Phủ (9 điện thờ); đại diện của nhóm múa bóng (11 nhóm, phân bố tại các huyện Diên  
Khánh, Ninh Hòa, Nha Trang).  
Quan sát tham gia: Thực hiện điền dã trong thời gian diễn ra lễ hội (tháng ba âm  
lịch, năm 2019), quan sát và ghi chép diễn trình tổ chức nghi lễ của người Chăm và  
người Việt; quan sát sự trình diễn của các loại sản phẩm du lịch như gốm Chăm, dệt thổ  
cẩm và diễn xướng múa Chăm, diễn xướng múa bóng thử nghiệm.  
Thông qua kết quả phỏng vấn sâu và quan sát tham gia, nhằm cung cấp thông tin  
về quá trình khai thác và kết quả của sản phẩm du lịch diễn xướng dân gian, qua đó thể  
hiện tiếng nói và cách nhìn nhận của người tham gia và các bên liên quan khác đối với  
đánh giá mô hình CBT.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Sản phẩm diễn xướng múa dân gian của người Chăm  
3.1.1. Bối cảnh và quá trình liên kết hợp tác phát triển sản phẩm du lịch  
Vào năm 2005, Trung tâm Bảo tồn Di tích và Hội Bảo trợ tháp Bà đã triển khai kế  
hoạch thúc đẩy sự trưng bày hình ảnh văn hóa của cộng đồng Chăm thông qua việc mời  
gọi người Chăm đến trình diễn nghi lễ trong dịp lễ hội kết hợp trưng bày các sản phẩm  
văn hóa vật chất như gốm và thổ cẩm. Sự xuất hiện của sắc màu văn hóa Chăm qua  
trình diễn nghi lễ tạ ơn tại tháp Bà Po Nagar thể hiện giá trị văn hóa tộc người và đoàn  
kết dân tộc, một trong những nét văn hóa hiếm có, rất ít khi hiện hữu tại những tháp  
Chăm do người Việt tiếp quản từ nhiều thế kỉ trước.  
Bên cạnh đó, tháp Bà Po Nagar tọa lạc giữa trung tâm thành phố Nha Trang, tiện lợi  
cho việc tham quan của khách du lịch và là điểm đến ưu tiên của các đoàn lữ hành, sắc  
màu văn hóa Chăm là nét độc đáo trong bối cảnh đô thị náo nhiệt, giúp tạo ấn tượng mạnh  
mẽ cho du khách. Nắm bắt xu hướng này, từ năm 2007, đội ngũ quản lý lãnh đạo của  
Trung tâm Bảo tồn Di tích và Ban quản lý tháp Bà Po Nagar đã lên kế hoạch liên kết với  
cộng đồng Chăm làng Mỹ Nghiệp nhằm tái hiện hình ảnh văn hóa của người Chăm diễn  
ra hằng ngày trên tháp, không chỉ giới hạn trong dịp lễ hội tháng ba âm lịch mỗi năm.  
Một trong những chức sắc Chăm có uy tín dẫn dắt nhóm hành hương tại tháp Bà Po  
Nagar là ông Đ. ở làng Mỹ Nghiệp (Ninh Phước, Ninh Thuận). Với địa vị là chức sắc, nên  
ông Đ. có vai trò và tiếng nói quan trọng đối với cộng đồng Chăm ở làng Mỹ Nghiệp, đồng  
thời cũng có uy tín trong tổ chức nghi lễ tạ ơn của người Chăm ở tháp Bà Po Nagar. Người  
16  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 1(50)-2021  
con trai kế nghiệp ông Đ là chủ sở hữu của cơ sở sản xuất thổ cẩm ở làng Mỹ Nghiệp (ông  
X.D). Cũng giống như cha mình, ông X.D cũng có uy tín với cộng đồng người Chăm.  
Thông qua những người có uy tín này, Ban quản lý tháp Bà Po Nagar đã thiết lập mối liên  
kết với họ, qua đó kêu gọi sự hợp tác của cộng đồng người Chăm để chọn lựa những sản  
phẩm thủ công mỹ nghệ trưng bày tại tháp Bà Po Nagar trong dịp lễ hội. Sau một thời gian,  
được sự chấp thuận của Ban quản lý tháp, ông X.D đã mở rộng mạng lưới kinh doanh sản  
phẩm thổ cẩm tại tháp Bà Po Nagar. Tại đây, thổ cẩm là một loại hàng lưu niệm (đồ dùng  
được làm từ thổ cẩm Chăm). Tuy nhiên, đây chỉ là bước đầu của việc liên kết với cộng  
đồng Chăm thông qua doanh nghiệp sản xuất có uy tín. Bước tiếp theo là xây dựng sản  
phẩm du lịch mang tính trình diễn để phục vụ khách du lịch hằng ngày.  
3.1.2. Phương thức xây dựng sản phẩm du lịch của các bên liên quan  
Hai bên liên quan trực tiếp là nhà quản lý (lãnh đạo Trung tâm Bảo tồn Di tích và  
thành viên Ban Quản lý tháp Bà PoNagar) và chủ sở hữu cơ sở sản xuất thổ cẩm làng  
Mỹ Nghiệp đã đề xuất, lên kế hoạch và xây dựng sản phẩm du lịch trình diễn là múa  
dân gian Chăm. Quan điểm của nhà quản lý là mong muốn tái hiện hình ảnh văn hóa và  
cuộc sống hằng ngày ở làng Chăm thông qua diễn xướng dân gian và nghệ thuật múa, kết  
hợp với nghệ nhân chơi nhạc cụ dân gian truyền thống. Hình thức nghệ thuật này vừa đảm  
bảo tính thẩm mĩ, tính giải trí đồng thời phải chuyển tải hồn cốt văn hóa truyền thống của  
người Chăm. Những tiết mục múa truyền thống có độ dài vừa phải, cô đọng nhưng đủ sức  
để lan tỏa sắc màu văn hóa Chăm cho khách du lịch nhưng không mất tính thiêng liêng  
hướng đến tôn thờ nữ thần xứ sở Bà Po Nagar. Do vậy, nhà quản lý không yêu cầu dàn  
dựng sân khấu, không cần đến những người được đào tạo nghệ thuật bài bản mà hướng đến  
tính chân thực, bình dị với hình ảnh của những cô gái người Chăm biểu diễn dưới chân  
tháp. Tóm lại, tiêu chí xây dựng sản phẩm du lịch mang tính diễn xướng của nhà quản lý là  
tính chân thực, tính thẩm mĩ và giải trí kết hợp nhưng không đánh mất tính thiêng liêng và  
nghiêm túc trong không gian tín ngưỡng. Do đó, họ đã đặt ra một số yêu cầu về nhân sự và  
đào tạo trực tiếp tại làng Chăm Mỹ Nghiệp do ông X.D. phụ trách thực hiện.  
“Tôi cho rằng muốn văn hóa thể hiện hay hơn thì phải cần tộc người gốc, dân tộc gốc, đó cũng là  
điều các du khách cần, cho nên tôi có ý mời người Chăm. Tiếp theo nữa tôi muốn múa của người Chăm  
tại tháp Bà không phải là múa nghệ thuật với ánh đèn sân khấu, đèn màu, cái múa của người Chăm là  
múa dâng lên Mẫu, dâng lên thần linh. Do đó, diễn xướng múa Chăm tại tháp Bà không có sân khấu, chỉ  
trải một tấm thảm thôi, đó là bản sắc của người Chăm” (PVS, ông T., Hưu trí, chuyên gia, Nha Trang).  
Những tiêu chí trên đã được sự đồng thuận của người có uy tín trong cộng đồng  
Chăm làng Mỹ Nghiệp, từ đó tạo nên bước đột phá để phát triển sản phẩm du lịch. Khởi  
đầu kinh doanh sản phẩm thổ cẩm từ năm 2002, đến năm 2005 sau sự thành công của trình  
diễn nghệ thuật múa Chăm và hàng thổ cẩm, ông X.D bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng  
đội diễn xướng múa Chăm. Được trao quyền trong việc chọn lựa nhân sự, ông X.D tuyển  
chọn đạo diễn, vũ công và các nghệ nhân trong làng Chăm; trong đó khó khăn nhất là người  
tham gia múa, bao gồm những em gái trẻ từ 14 đến 18 tuổi, nhanh nhẹn, khéo léo và có sức  
khỏe. Bên cạnh những tiêu chí trên, việc lựa chọn người tham gia cũng hướng đến ưu tiên  
17  
những em gái thuộc gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và không có điều kiện đi học.  
Do đó, tham gia vào đội diễn xướng múa Chăm là một cơ hội để các em có việc làm với thu  
nhập ổn định. Có thể thấy rằng, sự đồng thuận giữa nhà quản lý và người đại diện cộng  
đồng1 là tiền đề để thiết lập mối liên kết và kế hoạch xây dựng sản phẩm du lịch. Bên cạnh  
đó, sự ủng hộ của cộng đồng và tham gia của nghệ nhân dựa trên tinh thần bảo tồn văn hóa  
truyền thống đã góp phần thúc đẩy và duy trì sản phẩm diễn xướng này qua thời gian dài.  
Từ đó, diễn xướng múa Chăm đã trở thành thương hiệu của tháp Bà Po Nagar.  
“Mỗi lần khách du lịch lên tháp Bà Po Nagar mà không có đoàn múa Chăm là họ cứ hỏi, họ rất  
thích đoàn múa Chăm. Mỗi lần người Chăm lên cúng, nghe thấy tiếng trống và kèn Sanarai khởi lên thì  
khách du lịch rất phấn khích muốn nhảy múa chung với đội múa. Hiện nay, cộng đồng người Chăm có  
đời sống nâng lên, vào lễ hội người ta đi cúng nhiều lắm, nhiều người lớn tuổi 50-60 tuổi cũng đi, thấy  
con cháu mình múa trên đó họ phấn khích lắm” (PVS, ông X.D, người Chăm, kinh doanh, Ninh Thuận).  
3.1.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch  
Diễn xướng múa Chăm phục vụ du lịch là một loại hình nghệ thuật diễn xướng  
tổng hợp, vừa có tính nghệ thuật vừa truyền tải ý nghĩa văn hóa tín ngưỡng của cộng  
đồng Chăm. Trong đó, một số diễn xướng dân gian cách điệu từ loại hình múa lu, múa  
quạt và múa Apsara. Trong đó múa lu, múa quạt là những hình thức diễn xướng thể hiện  
cuộc sống hằng ngày, mô tả sinh hoạt dân dã, bình dị, gắn với phần hội trong hoạt động  
nghi lễ ở làng Chăm.  
Tính chất quan trọng nhất tạo nên sự độc đáo của loại hình diễn xướng này là  
chúng được trình diễn trong không gian tín ngưỡng thiêng liêng với hàm ý tôn trọng  
thần linh xứ sở và không đơn thuần là hoạt động giải trí thông thường. Điều này cũng  
phù hợp với tinh thần phát triển bền vững của tháp Bà Po Nagar, đề cao giá trị tín  
ngưỡng và khai thác sản phẩm du lịch trong giới hạn cho phép, không ảnh hưởng xấu  
đến thực hành văn hóa thờ cúng của cộng đồng các tộc người.  
3.1.4. Hiệu quả của sản phẩm du lịch diễn xướng múa Chăm  
Hiệu quả của sản phẩm du lịch diễn xướng múa Chăm từ góc nhìn của người tham  
gia với một số tác động tích cực đến phát triển cộng đồng như sau:  
Góp phần mang lại lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị cho người tham gia  
Những người tham gia vào nhóm múa Chăm gồm có một số nghệ nhân và các em  
gái thực hiện hình thức hợp đồng với Trung tâm Bảo tồn Di tích và được trả lương hàng  
tháng. Vì họ diễn xướng hàng ngày và những lúc du khách yêu cầu, do đó họ tham gia  
vào đội múa toàn thời gian như một loại hình công việc ổn định. Ngoài tiền lương hàng  
tháng, còn có tiền tip của du khách.  
“Đối với các em đó giống kiểu đi làm việc, thay vì đi làm ở chỗ khác, ở đây là “đất của mẹ”1 thì  
về đây làm. Nếu không có tiền để hỗ trợ gia đình thì chắc các em ấy không làm và không thành lập được  
đội múa. Yếu tố kinh tế vẫn quan trọng” (PVS, ông D, cán bộ, Nha Trang).  
Mức độ thụ hưởng từ tiền lương tăng dần theo thời gian, góp phần đảm bảo kinh  
tế cho người tham gia. Điều này còn cho thấy sự phát triển theo hướng tích cực của sản  
18  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 1(50)-2021  
phẩm du lịch. Đặc biệt từ năm 2016 đến nay, lượng khách và doanh thu của tháp Bà Po  
Nagar gia tăng, nhờ đó thu nhập của các thành viên trong nhóm múa Chăm cũng tăng  
hơn trước. Mặc dù mức độ thụ hưởng có thể dao động qua thời gian song chế độ hợp  
đồng lao động rất thỏa đáng cho người tham gia. Bên cạnh đó, theo quan điểm của  
những thành viên trong đội diễn xướng, phần lớn là những em gái trẻ có gia cảnh khó  
khăn và một số những nghệ nhân không có điều kiện kinh tế khá giả thì với mức lao  
động và thụ hưởng nhờ trình diễn múa Chăm đã mang lại sự ổn định về kinh tế.  
“Nói chung thì ăn ở họ lo, tiền lương thì 3 triệu/tháng, lương 3 triệu mới tăng đây thôi, trước đây  
có khoảng mấy trăm ngàn. Mình cũng có thêm tiền khách boa, bồi dưỡng, cũng nhờ cái đó thôi” (PVS,  
ông C, nghệ nhân người Chăm, Ninh Thuận).  
Bên cạnh lợi ích kinh tế, người tham gia cũng thể hiện quyền cộng tác và góp ý,  
tư vấn cho nhà quản lý trong chọn lựa nhân sự và kế hoạch thực hiện. Với phương thức  
khai thác sản phẩm du lịch tại tháp Bà Po Nagar, có thể thấy rằng nhà quản lý chỉ trực  
tiếp tác động đến người đại diện cộng đồng, và để cho họ tự do lựa chọn nhân sự phù  
hợp. Nhà quản lý không tham khảo và lấy ý kiến trực tiếp của các thành viên trong cộng  
đồng mà để cho cộng động tự quyết định nhờ sự chủ động dẫn dắt của người có uy tín là  
ông X.D. Như vậy, trong một phạm vi hạn chế của tính chất hợp tác giữa các bên liên  
quan, cộng đồng được trao quyền chủ động tìm kiếm cơ hội và chọn lựa người tham gia  
dựa trên tiêu chí do chính họ đề ra.  
Bảo tồn văn hóa của cộng đồng  
Quá trình tái tạo, phục dựng diễn xướng dân gian không chỉ quảng bá hình ảnh văn  
hóa Chăm mà còn góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống. Đặc biệt, diễn xướng múa Chăm  
với nhiều người trẻ tuổi tham gia trình diễn có tác động tích cực đến quan niệm và nhận  
thức của thành viên trong cộng đồng về giá trị và ý nghĩa của văn hóa truyền thống.  
NPV: Vì sao chú tham gia vào đội múa?  
NTL: Thì nói chung mình không muốn văn hóa của mình mai một, mình muốn văn hóa của mình  
để cho khách thập phương hiểu biết. (PVS, ông C, nghệ nhân Chăm, Ninh Thuận).  
NPV: Người Chăm trong cộng đồng nói thế nào?  
NTL: Người Chăm họ đồng ý lắm, đó là cách hay giúp bảo tồn điệu múa Chăm và con cháu múa  
Chăm múa trên tháp là chỗ thiêng liêng, họ rất thích, họ không phàn nàn gì hết. (PVS, ông T, người  
Chăm, Ninh Thuận).  
3.2. Sản phẩm diễn xướng múa bóng của người Việt  
3.2.1. Kế hoạch khai thác và liên kết  
Kế hoạch khai thác diễn xướng múa bóng khởi đầu từ năm 2019 với mục đích đa  
dạng hóa loại hình sản phẩm du lịch và góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống theo chủ  
trương của Ban lãnh đạo nhiệm kì mới. Trước tiên, kế hoạch khai thác thử nghiệm múa  
bóng đặt ra mục tiêu liên kết với các nhóm múa bóng trong tỉnh Khánh Hòa. Nhà quản  
lý dự kiến liên kết với năm nhóm múa bóng (2 nhóm ở Nha Trang, 2 nhóm ở huyện  
Diên Khánh và 1 nhóm ở huyện Ninh Hòa). Trong đó, Trung tâm Bảo tồn Di tích đã  
19  
liên kết với nhóm múa bóng Kim Thuyền Suối Đỗ (K.T.S.Đ.) tại huyện Diên Khánh để  
lên kế hoạch tập luyện, trình diễn thử nghiệm tại tháp Bà Po Nagar trong một vài buổi  
nhằm đánh giá phản ứng của khách du lịch và cộng đồng múa bóng, sau đó tìm kiếm  
một lộ trình phát triển phù hợp và lâu dài hơn.  
Năm nhóm múa bóng dự kiến được chọn để liên kết phát triển sản phẩm diễn  
xướng theo một số tiêu chí như sau:  
– Năm nhóm múa bóng này có thời gian thành lập sớm, trung bình khoảng trên 15  
năm. Trong đó, có 3 nhóm múa bóng còn giữ lại một số nét diễn xướng truyền thống  
(múa dâng lễ cho thần thánh hoặc sử dụng nhạc cụ, âm nhạc cổ truyền) và 2 nhóm múa  
bóng đã dung hợp với hầu đồng Tứ Phủ.  
– Người đứng đầu các nhóm múa bóng này là những người có uy tín trong cộng  
đồng múa bóng, có thể tập hợp và kêu gọi sự tham gia của thành viên, cũng như truyền  
tải những nội dung của kế hoạch khai thác diễn xướng để tạo sự đồng thuận trong cộng  
đồng múa bóng. Trong đó, người đứng đầu nhóm múa bóng K.T.S.Đ với vị thế chủ  
quản cơ sở thờ Mẫu quan trọng hàng đầu của phái Thiên Tiên ở Khánh Hòa và được  
cộng đồng múa bóng tôn trọng.  
– Các nhóm múa bóng này đáp ứng yêu cầu diễn xướng phù hợp với tiêu chí  
thuần phong mĩ tục, tiêu chí nghệ thuật kết hợp với tâm linh, không có biểu hiện biến  
tướng trong trình diễn. Các nhóm này đã được Ban quản lý đánh giá cao khi trình diễn  
tại tháp Bà Po Nagar vào dịp lễ hội tháng ba âm lịch hằng năm.  
3.2.2. Kết quả  
Khác với kì vọng về sản phẩm du lịch diễn xướng múa bóng của nhà quản lý, vì  
trên thực tế, khi tách hẳn yếu tố thiêng liêng ra khỏi múa bóng, phần còn lại là biểu diễn  
như dâng hương, dâng hoa, dâng rượu diễn ra trong thời gian ngắn với những động tác  
đơn điệu, nhàm chán, không liên tục, do đó không thể chuyển tải bản sắc văn hóa của  
nghệ thuật diễn xướng múa bóng. Trong khi đó, nghi lễ múa bóng trong lễ hội tại tháp  
Bà Po Nagar hoặc các miếu làng thường diễn ra trong thời gian dài, với đầy đủ yếu tố  
linh thiêng, nghệ thuật, thể hiện đầy đủ ý nghĩa cả đời sống tâm linh cũng như tái hiện  
hoạt động sản xuất truyền thống. Bên cạnh đó, trong một nhóm múa bóng, thông thường  
người tham gia có độ tuổi khác nhau và rất đa dạng, bao gồm nhiều thế hệ (người già,  
trung niên, thiếu niên và trẻ em). Do vậy, nếu không tuân theo thứ tự và lớp lang trình  
diễn của nghệ thuật múa bóng truyền thống thì không thể diễn tả nét đẹp và ý nghĩa văn  
hóa, tâm linh của múa bóng. Với sự hạn chế thời gian trình diễn dẫn đến không thể biểu  
lộ cảm xúc tâm linh và khó thể hiện tính nghệ thuật. Cũng chính bởi yếu tố tâm linh và  
nghệ thuật hòa quyện vào nhau như một phức hợp tồn tại trong diễn xướng múa bóng,  
cho nên, để phát triển thành một sản phẩm diễn xướng thì cần phải đầu tư nghiên cứu và  
thử nghiệm trong thời gian dài. Kết quả cuối cùng là sản phẩm múa bóng đang dừng lại  
để nhà quản lý tiếp tục nghiên cứu và thăm dò dư luận.  
20  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 1(50)-2021  
NPV: Hiện tại mình đã dừng lại rồi, nhưng trong tương lai mình có tiếp tục không, múa bóng có  
triển vọng về sản phẩm du lịch không?  
NTL: Cái này vẫn tiếp tục, có một hướng vẫn phải phát triển, vẫn phải làm. Hướng của lãnh đạo  
Trung tâm này đều mong muốn có. Thời gian dừng lại để nghe ngóng, phát triển bền vững thì phải lâu  
dài. Mà đã xác định làm thì mức độ thành công dự đoán phải đạt 70 - 80% thì mới triển khai một cách  
quyết liệt. (PVS, ông N, cán bộ, Nha Trang).  
NPV: Khi du lịch phát triển, việc đưa diễn xướng múa bóng ra khách du lịch có nên hay không?  
NTL: Đây là văn hóa của đất nước Việt Nam mình, đó là một truyền thống, nền múa bóng từ xưa  
đến giờ nên phải giữ. Tất cả đoàn tâm linh cũng muốn đem tâm để đền đáp cho tâm linh. Điều đó đẹp chứ  
không có gì xấu cả. (PVS, ông D, Người múa bóng, Nha Trang).  
3.3. Một số nhận xét và vấn đề đặt ra về hai sản phẩm du lịch  
Hai nghiên cứu trường hợp sản phẩm du lịch trên thể hiện sự khác biệt về văn hóa  
tộc người, sản phẩm du lịch, mức độ thành công, bền vững hoặc thử nghiệm tạm thời.  
Tuy nhiên, cách thức khai thác, mối liên kết giữa nhà quản lý và các bên tham gia có  
nhiều đặc điểm giống nhau: Nhà quản lý liên kết với người đại diện cộng đồng, trao  
quyền cho cộng đồng trong chọn lựa nhân sự và trình diễn trên cơ sở đáp ứng các yêu  
cầu cơ bản do nhà quản lý đặt ra. Những điểm giống nhau này là cơ sở để phân tích mô  
hình CBT cùng với sự tham gia của cộng đồng, mức độ trao quyền gắn với lợi ích chính  
trị của cộng đồng. Thông qua phân tích sản phẩm du lịch để đánh giá mô hình CBT  
nhằm khẳng định và lý giải bản chất thực sự của mô hình này. Phân tích mô hình CBT  
từ sản phẩm du lịch thể hiện sự thận trọng bởi vì không phải bất kì sự khai thác du lịch  
nào có yếu tố cộng đồng cũng phản ánh giá trị thực chất của mô hình CBT.  
Từ hai trường hợp này, có thể nhận thấy một số lý do tạo nên thành công cho sản  
phẩm du lịch mang tính trình diễn như sau: 1) Sự tham gia ổn định, bền vững của cộng  
đồng là yếu tố quan trọng đầu tiên có tính chất quyết định; 2) Loại hình diễn xướng dựa trên  
nghi lễ cần được chuyển đổi sang yếu tố nghệ thuật. Yếu tố thứ hai phụ thuộc vào khuyến  
nghị của nhà chuyên môn am hiểu nghi lễ diễn xướng truyền thống. Đối với diễn xướng  
múa bóng, vấn đề liên quan trực tiếp là sự liên kết giữa nhà quản lý và cộng đồng còn yếu  
và thiếu, do đó giữa các bên chưa đạt được sự đồng thuận và am hiểu về nghi lễ múa bóng  
và nghệ thuật diễn xướng múa bóng. Bên cạnh đó, cộng đồng múa bóng là những người  
không chuyên, họ vừa lao động kiếm sống vừa tham gia nghi lễ như một loại nhu cầu tâm  
linh. Ngoài ra, nguyên nhân chính là sự thiếu đồng thuận về tính thiêng/tính nghệ thuật.  
Điều này đặt ra một số vấn đề về hậu cảnh văn hóa – xã hội như sự mâu thuẫn, thiếu đồng  
thuận, quan niệm về tính thiêng/tính thế tục của cộng đồng, việc sắp xếp và điều tiết sự  
tham gia diễn xướng theo quan niệm của cộng đồng; qua đó dự báo một số tác động của  
khai thác diễn xướng múa bóng đến nhận thức và bảo tồn văn hóa của cộng đồng.  
3.4. Đánh giá mô hình CBT đối với khai thác nguồn lực nghi lễ diễn xướng  
Về khía cạnh lợi ích, cộng đồng (cụ thể là nhóm múa Chăm) đạt được lợi ích kinh  
tế là nguồn thu nhập như một loại công việc thực sự được trả bằng lương theo hợp đồng.  
Ngoài ra, cộng đồng (nhóm múa Chăm và nhóm múa bóng K.T.S.Đ) cũng có lợi ích về  
21  
mặt chính trị là được tham gia trao đổi ý kiến, hợp tác; người đại diện cộng đồng có uy  
quyền nhất định trong thỏa thuận và tìm kiếm nhân sự, đào tạo trình diễn theo yêu cầu  
của nhà quản lý.  
Mô hình CBT trong khai thác nguồn lực văn hóa phát triển du lịch tại tháp Bà Po  
Nagar là một mô hình đặc biệt, khác với các mô hình CBT được mô tả trong các nghiên cứu  
hiện nay. Mô hình CBT này phản ánh khía cạnh lý thuyết của chủ nghĩa tân tự do là xem  
thực hành văn hóa thờ cúng (nghi lễ, diễn xướng) của cộng đồng như một loại nguồn lực/tài  
sản để khai thác sản phẩm du lịch. Tuy nhiên, khác với ý nghĩa khai thác nguồn lực của  
quan điểm tân tự do, nguồn lực văn hóa này không do các doanh nghiệp tư nhân khai thác  
mà nhà nước trực tiếp quản lý và khai thác (hiện tại, tháp Bà Po Nagar không sử dụng  
nguồn lực xã hội hóa và tài trợ của doanh nghiệp). Đồng thời, mô hình CBT ở tháp Bà Po  
Nagar phản ánh khía cạnh lý thuyết phát triển đa tuyến đó là tạo cơ hội để phát triển cộng  
đồng thông qua lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, mô hình CBT này không thực sự trao quyền cho  
cộng đồng và do cộng đồng quản lý (doanh nghiệp sản xuất thổ cẩm của cộng đồng do nhà  
nước quản lý). Bên cạnh đó, tính chất liên kết giữa nhà quản lý và người đại diện cộng đồng  
là mối liên kết khá phổ biến ở các nước đang phát triển trong chiến lược xây dựng mô hình  
CBT (Giampiccoli & Mtapuri, 2015; Guaraldo Choguill, 1996).  
Dù vậy, mô hình CBT này cũng thể hiện một số điểm yếu và khó khăn, hạn chế  
trong khai thác sản phẩm du lịch, đồng thời cũng bộc lộ một số mâu thuẫn, thiếu đồng  
thuận và sự không nhất quán về tính thiêng/tính thế tục của tín ngưỡng, nghi lễ, cũng  
như chưa cung cấp một cách tiếp cận vượt qua sự phân biệt nhị nguyên giữa tính thiêng  
và tính thế tục để nhìn nhận nghi lễ diễn xướng trong một chỉnh thể thống nhất. Bên  
cạnh đó, việc thu thập ý kiến và lắng nghe phản biện của cộng đồng còn khá hạn chế.  
Do vậy, từ việc phân tích những khía cạnh hạn chế này góp phần bổ sung và điều chỉnh  
một số thiếu sót trong mô hình CBT trên, đồng thời cung cấp ý kiến phản biện của cộng  
đồng với vai trò như những chủ thể có tiếng nói và uy quyền nhất định trong khai thác  
và bảo vệ nguồn lực văn hóa do chính cộng đồng sở hữu.  
4. Kết luận  
Thông qua việc xem xét và đánh giá hai loại sản phẩm du lịch tại tháp Bà Po Nagar  
với một sản phẩm thành công và một sản phẩm thử nghiệm, có thể thấy rằng đây là xu  
hướng mới trong nhận diện và khai thác nguồn lực nghi lễ, diễn xướng. Qua đó thể hiện  
tính gắn kết tộc người, sự đa dạng văn hóa, tính chất liên kết, đồng thuận và chia sẻ giữa các  
chủ thể khác nhau trong khai thác và quản lý nguồn lực nghi lễ, diễn xướng. Phương thức  
tham gia của các chủ thể, cách thức xây dựng sản phẩm du lịch và tính hiệu quả/tác động  
đến cộng đồng của sản phẩm du lịch phản ánh rõ nét đặc điểm mô hình du lịch dựa vào  
cộng đồng. Mô hình này phản ánh tính đặc thù của tiếp cận từ trên xuống kết hợp với phân  
chia lợi ích và phát triển cộng đồng, do vậy, chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa tiến  
hành song song với quản lý văn hóa là cách tiếp cận phù hợp với bối cảnh phát triển du lịch  
22  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 1(50)-2021  
tại địa điểm di sản đa tộc người, đa văn hóa. Bên cạnh một số thành công bước đầu của sản  
phẩm du lịch, cũng phản ánh một số hạn chế, điểm yếu là vai trò tham gia của cộng đồng  
chưa được chú trọng đúng mức và hợp lý, chưa đạt được sự đồng thuận về quan điểm tính  
thiêng – tính giải trí/thẩm mĩ, sản phẩm du lịch còn đơn điệu và thiếu sức hút. Do vậy, cần  
thiết phải điều chỉnh cách tiếp cận trong xây dựng sản phẩm du lịch bằng cách nâng cao sự  
tham gia của cộng đồng với vai trò là người thực hành và bảo tồn văn hóa.  
Chú thích:  
(1) Trong nghiên cứu này, người đại diện cộng đồng là người có uy tín và tiếng nói đối với các thành viên  
khác trong nhóm hoặc cộng đồng.  
(2) “Mẹ” là cách nói dân gian thể hiện sự tôn kính và tình cảm đối với nữ thần xứ sở (Po Ina Nagar/Thiên  
Y A Na).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Berstein, J.H. (2017). Xuyên ngành: Một tổng quan về xuất xứ, phát triển và những vấn đề hiện  
nay (Bùi Thế Cường chuyển ngữ). 12(232), 60-77. Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh.  
[2] Giampiccoli, A., & Mtapuri, O. (2012). Community-Based Tourism: An Exploration of the  
Concept(s) from a Political Perspective. Tourism Review International, 16, 29-43. DOI:  
10.3727/154427212x13431568321500  
[3] Giampiccoli, A., & Mtapuri, O. (2015). Between Theory and Practice: A Conceptualization of  
Community Based Tourism and Community Participation. Loyola Journal of Social Sciences,  
XXIX(1), 27-52.  
[4] Guaraldo Choguill, M. B. (1996). A Ladder of Community Participation for Underdeveloped  
Countries. Habitat International, 20(3), 431-444. DOI: 10.1016/0197-3975(96)00020-3  
[5] Hawkes, J. (2001). The fourth pillar of sustainability: Culture’s essential role in public planning  
(Issue  
January  
2001).  
Cultural  
Development  
Network  
(Vic).  
arOfSustainability.pdf  
[6] Hillery, G.A. (1955). Definitions of community: Areas of agreement. Rural Sociology, 20, 111-  
123.  
[7] Joppe, M. (1996). Sustainable community tourism development revisited. Tourism  
Management, 17(7), 475-479. DOI: 10.1016/S0261-5177(96)00065-9  
[8] Mayaka, M., Croy, W. G., & Wolfram Cox, J. (2019). A dimensional approach to community-  
based tourism: Recognising and differentiating form and context. Annals of Tourism Research,  
74(November 2018), 177-190. DOI: 10.1016/j.annals.2018.12.002  
[9] Murphy, Peter E. (1985). Tourism: A community approach. New York: Methuen  
[10] Okazaki, E. (2008). A Community-Based Tourism Model: Its Conception and Use. Journal of  
Sustainable Tourism, 16(5), 511-530. DOI: 10.2167/jost782.0  
[11] Zapata, M. J., Hall, C. M., Lindo, P., & Vanderschaeghe, M. (2011). Can community-based  
tourism contribute to development and poverty alleviation? Lessons from Nicaragua. Current  
Issues in Tourism, 14(8), 725-749. DOI: 10.1080/13683500.2011.559200.  
23  
pdf 13 trang Thùy Anh 12820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghệ thuật diễn xướng dân gian trong phát triển du lịch cộng đồng: Một nghiên cứu xuyên ngành tại tháp Bà Po Nagar – Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghe_thuat_dien_xuong_dan_gian_trong_phat_trien_du_lich_cong.pdf